Xuân Tân Mão

Xuân Tân Mão
Đảng và Chính phủ luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng với tất cả hoạt động, việc làm của người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia (TTg NT Dũng).

19 tháng năm 2013

Hồ Ngọc Nhuận: NHỤC !



NHỤC !

               Hồ ngọc Nhuận

Tòa án của chế độ  ngày 16/5/2013 đã đưa 2 sinh viên Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha ra xử.Trong phiên tòa một ngày, tại Long An . Sau khi giam giữ 2 bị cáo hơn nửa năm.Thuật ngữ dùng cho các cuộc xử , cả  bình thường cả bất bình thường,  gọi đó là kiểu  “làm gọn”, có khi chỉ cần “một cái rụp”… là xong. Kiểu “xử gọn” như  vậy  có đáng gọi là một việc  làm đàng hoàng không ? Và ai làm  một việc không đàng hoàng có phải là  nhục  không ?
Mà về tội gì ? Theo tờ “tuổi trẻ”, tức phải là tờ báo của tuổi của hai bị cáo, thì là “về tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Tin  viết  là  “theo hồ sơ”,  nhưng tờ báo không cho biết “theo hồ sơ” là do được “tiếp cận hồ sơ”, theo đúng tác phong , chức năng nghề báo. Hay được nghe  đọc  lúc xử. Hay là không đọc, cũng không nghe,mà chỉ quen tay viết vậy … Vì toàn bộ bản tin về vụ án chỉ  vỏn vẹn được gói gọn không quá 250 chữ, nằm lọt giữa trang 2. Cho một  bản án tổng cộng 14 năm tù, cộng 2,  và 6 năm quản chế. Tin về một bản án nặng nề , với một tội danh  không nhẹ  là “chống phá Nhà nước”, lại  được đem nhét  giữa  trang 2 . Thua cả môt tin xe đụng… Báo chí cho tuổi trẻ muốn cho tuổi trẻ thấy gì ? Và nhất là tờ báo tự cảm thấy gì ? Mà về một bản án được  mọi người Việt Nam trong ngoài nước quan tâm, lại đi loan tin  theo kiểu phải vạch  mãi  để tìm mới lòi ra để đọc ?
Về  phiên tòa, thân phụ Phương Uyên cho biết ông và các thân nhân khác không được cho vào dự khán, chỉ có bà mẹ Phương Uyên được vào.Lại bị bao vây che chắn bởi một đám  thân nhân lạ hoắc, không ai khác hơn là công an mật thám trá hình.Có người  đến ngóng tin bên ngoài  tòa án đã bị công an thường phục hốt về đồn.Xử án, ở đâu cũng vậy, thông thường là để làm gương , chớ không phải để trả thù.Để làm gương  nên có khi còn chọn một pháp đình thật rộng, khi pháp đình quen thuộc không đủ chỗ cho mọi người.Còn ở đây là để làm gì ? Mà lại lén lén, lút lút…như đem giấu ?
Về cái cách  chế độ nầy đã bắt Phương Uyên  cũng vậy, cũng thật đáng xấu hổ . Bắt như bắt cóc.Bắt đi mất tích rồi chối quanh hơn cả chục ngày mới chịu thừa nhận. Để đưa ra một lô chứng cứ tội phạm và lời thú tội có là công an cũng không thể tin là đứng đắn.Không thể nghĩ một chế độ tự nhận là Nhà nước  pháp quyền mà lại đi hành xử pháp quyền như… vậy .
Còn lãnh đạo Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ chí Minh nữa ? Trước một loạt  đối xử không đàng hoàng đối với một thành viên Ban chấp hành Đoàn thuộc cấp mà vẫn ngậm miệng nín khe là làm sao ? Để làm gì và đang làm gì ? Hay là đang sợ đoàn viên, đang sợ thanh niên cả nước theo gương Phương Uyên và Nguyên Kha, không thể tiếp tục nhẫn nhục  và chịu nhục trước họa mất nước ?
Nhắc lại chuyện nầy, từ khâu bắt người cho tới khi xử, cho tới nay, trong ngoài nước, ai cũng   thấy  không thể chịu nổi  những  việc làm  đáng xấu hổ của không ít người của chế độ.
Tôi cũng không thể chịu nổi, nhất là trước những hành động quá ác đối với tuổi trẻ, nên đã cùng  với hơn 150 người khác  đứng tên trong kiến nghị  gởi  Chủ tịch Nước đề ngày 30/10/2012 yêu cầu can thiệp trả tự do cho Phương Uyên .
Cho tới nay, ông Chủ tịch Nước vẫn cứ nín khe.
Nhưng tôi  và các bạn tôi đã được  tưởng thưởng .
Hãy nghe chàng trai 24 tuổi Đinh Nguyên Khang nói  : Tôi không hề chống dân tộc tôi, tôi chỉ chống đảng cộng sản. Mà chống đảng thì không phải là tội"
Hãy nghe Nguyễn Phương Uyên 21 tuổi nói : "Việc tôi làm thì tôi chịu . Xin nhà cầm quyền đừng làm khó dễ mẹ hay gia đình của chúng tôi. Chúng tôi làm để thức tỉnh mọi người trước hiểm họa Trung Quốc xâm lược đất nước và cuối cùng là chúng tôi làm xuất phát từ cái tấm lòng yêu nước nhằm chống cái xấu để làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp tươi sáng hơn". 
Cám ơn Phương Uyên . Cám ơn Nguyên Khang . Cám ơn những cô gái, những chàng trai yêu nước Việt Nam ./. 



( 19/5/2013, Hồ ngọc Nhuận )

bản gốc của tác giả



http://static9.nguyentandung.org/files/2013/05/nguyen-phuong-uyen-truoc-toa.jpg



....lời nói sau cùng của Phương Uyên mới làm cho cả phòng xử án bàng hoàng và không khí chùng xuống. Đứng trước vành móng ngựa của cộng sản để nói lời nói sau cùng thì Phương Uyên dũng cảm tuyến bố: "Việc tôi làm thì tôi chịu xin nhà cầm quyền đừng làm khó dễ mẹ hay gia đình của chúng tôi. Chúng tôi làm để thức tỉnh mọi người trước hiểm họa Trung Quốc xâm lược đất nước và cuối cùng là chúng tôi làm xuất phát từ cái tấm lòng yêu nước nhằm chống cái xấu để làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp tươi sáng hơn". Giữa một rừng công an hùng hổ mà Phương Uyên dám tuyên bố như vậy chứng tỏ bản lĩnh của Phương Uyên như thế nào. Khác xa chuyện an ninh điều tra ép cung nhục hình để đưa ra một Phương Uyên theo ý của an ninh là hành động chỉ để nhận 100 USD và máy chụp hình kỹ thuật số từ phản động hải ngoại...

(từ Facebook LTH)

Nói với BBC sau phiên tòa, ông Nguyễn Duy Linh, cha của sinh viên Phương Uyên, nói ông bị "sốc" vì mức án "quá nặng".
Ông nói chỉ có người mẹ của Phương Uyên được phép vào dự phiên xử, còn ông và người thân khác chỉ đứng ở ngoài.

“Tầm hơn 10 giờ, lúc đó phiên tòa gần đến giờ nghỉ trưa, tôi và một số bạn ngồi trước sảnh của phiên tòa đợi để hỏi thăm một số điều, có mấy nhân viên mặc thường phục và dân phòng xông vào bắt tôi lên xe và chở về đồn công an Phường 1, thành phố Tân An, Long An và nói lý do tình nghi chụp hình khu vực tòa án. Đến khoảng hơn 17 giờ, tức chừng sáu giờ giam giữ tôi thì họ thả ra mà không đưa ra lý do gì hết.”

luật sư Hà Huy Sơn cho biết một số điểm mà ông nói là không theo đúng qui định của luật pháp Việt Nam tại phiên xử:
“Tôi tham dự phiên tòa và thấy quá trình tố tụng có những điều sai. Sai cơ bản là theo luật Việt Nam những chứng cứ không được xuất trình tại tòa để xem xét.”


Blogger Huỳnh Công Thuận : « Họ nói họ ‘‘mời’’ chứ không phải bắt. (…) Đang ngồi bấm điện thoại, thì nó giựt, đẩy lên xe, đứng cho u cái đầu luôn. (…) Vô đó thì hỏi chuyện tào lao, vớ vẩn, không có chuyện gì hết trơn. Riêng chị Bùi Hằng, thì chị bị giữ lâu vì chị mang theo mấy bản "Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền", chị phát, thì nó ghép tội chị phát mấy tờ đó mà không có xin phép (...).
(Về phiên tòa) Gần như thân nhân, người nhà không ai vô được hết. Ba cô bé Uyên cũng không vô được trong tòa án luôn. Mà ở trỏng nó sắp xếp bà con dòng họ… nhưng mà toàn là người lạ hoắc, còn những người ruột, có giấy mời đàng hoàng, ba ruột, cậu ruột của Phương Uyên không được vô, chỉ có mẹ.
Phiên tòa bữa nay mấy anh em nói lại là rất là tốt. Mặc dù bản án kêu cao, nhưng mà bé Phương Uyên, cùng là Đinh Nguyên Kha trả lời rất dõng dạc, rất là tự tin…. Nó nói nhiều câu rất hay. Luật sư cũng có những lời bào chữa rất hay. Nhưng bản án đã để sẵn rồi, chỉ đọc lên cho vui vậy thôi, chứ có gì nữa đâu. »

Thú xơi đặc sản côn trùng


  Thú xơi đặc sản côn trùng

Thứ Bảy, 18/05/2013

Chẳng cần đợi khuyến cáo của Liên Hiệp Quốc về việc nên tích cực ăn côn trùng, từ lâu, những loài bọ cạp, bọ xít, ve sầu, nhộng, bướm, dế, trứng kiến... đã được nhiều “thượng đế” ở ta lựa chọn để lai rai

Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO) vừa cho biết gần 2 tỉ người trên thế giới đã và đang ăn côn trùng với các mức độ khác nhau. Trong 1.900 loài côn trùng ăn được, bọ cánh cứng, sâu, bướm là các món được ưa chuộng nhất bên cạnh ong, kiến, châu chấu, dế… Theo FAO, là thực phẩm ít béo, giàu đạm, ngoài yếu tố khoái khẩu, ăn côn trùng giúp giảm các chất khí thải gây hiệu ứng nhà kính, tạo việc làm ở các nước đang phát triển và nuôi sống hàng triệu người thiếu ăn.
Thưởng thức món bọ cạp chiên giòn tại quán Kiến - Hà Nội
“Độc và lạ” lên ngôi
Tại Việt Nam, từ lâu, chẳng cần đợi FAO lên tiếng, nhiều người đã “vinh danh” một số loại côn trùng thành “đặc sản”. Nói những món ăn chế biến từ côn trùng đang lên ngôi cũng chẳng ngoa. Giờ đây, dân nhậu vẫn lùng sục những nơi có bán các món “độc và lạ” như sâu, bọ cạp, bọ xít, dế, nhộng, bướm, trứng kiến… để thưởng thức.
Anh Kiên, chủ một quán nhậu bình dân ở phường Khương Thượng, quận Đống Đa - Hà Nội, khẳng định các món côn trùng được khá nhiều người ưa thích. “Chúng không ghê sợ như nhiều người vẫn nghĩ. Quán nhỏ của tôi nằm trong ngõ nhỏ, không bảng hiệu, rất khó tìm nhưng vẫn thu hút được nhiều thực khách đam mê món “độc và lạ” đến xơi” - anh cho biết.                
Sâu dừa, loại côn trùng mà không ít người chỉ nhìn thấy ngoe nguẩy trên đĩa thôi đã muốn nôn ọe, vậy mà theo anh Kiên, nhiều thực khách rất khoái ăn theo kiểu để sống chấm nước mắm. “Món này hiếm lắm, quán tôi hết hàng mấy hôm nay rồi. Khách hỏi rồi trách móc quá mà chẳng biết làm thế nào” - anh than.
Theo chị Huyền, vợ anh Kiên, món trứng kiến cũng được nhiều người ưa thích. Để đáp ứng yêu cầu của “thượng đế”, anh chị đã cất công tìm tòi và chế biến trứng kiến thành nhiều món. “Tôi từng lên vùng đồng bào Mường, Tày ở miền núi để học cách chế biến. Hiện quán có 3-4 món từ trứng kiến” - chị khoe.
Anh Kiên cho biết ngoài khách ruột là dân thủ đô, người ở nơi khác nghe bạn bè mách cũng tìm đến quán ngày càng đông. “Giá chỗ tôi bình dân thôi: Sâu dừa 8.000 đồng/con; xôi trứng kiến, trứng kiến phồng 120.000 đồng/đĩa; bọ xít, châu chấu chiên giòn 25.000 đồng/đĩa… Mỗi ngày, chúng tôi bán đến mấy ký châu chấu, bọ xít, dế” - anh kể.
Trong khi đó, chị Thùy Anh, chủ quán Kiến trên đường Nghi Tàm, quận Tây Hồ - Hà Nội, cho rằng món ăn côn trùng đã có từ thời xa xưa, nhiều bậc vua chúa cũng hay dùng chứ không phải mới mẻ gì. “Món ăn côn trùng giờ xuất hiện khắp nơi, từ quán bình dân đến nhà hàng sang trọng” - chị nói.
Chẳng những cánh mày râu, món ăn côn trùng cũng hấp dẫn nhiều chị em. Thùy Anh tiết lộ chị mở quán Kiến một phần nhằm kinh doanh phục vụ thực khách nhưng lý do “khó nói” là để được ăn thỏa thích mỗi khi thèm côn trùng mà không cần phải toát mồ hôi đi tìm chỗ bán nữa! “Nhiều khách Tây cũng tìm đến thưởng thức món côn trùng. Quán tôi đã đón rất nhiều người đến xơi sâu và bọ xít” - chị cho biết.
Quan sát thực khách đến quán Kiến, chúng tôi nhận thấy họ kêu đủ món, từ bọ cạp, bọ xít, dế trắng chiên giòn; ve sầu, châu chấu rang lá chanh đến chả trứng kiến lá lốt, chả nhộng bướm, xôi trứng kiến, với giá dao động từ 75.000 đồng đến 120.000 đồng/đĩa. “Nhiều người ban đầu thấy bọ xít hay sâu chẳng dám động đũa nhưng khi đánh liều ăn một con thì lại tấm tắc khen ngon rồi gắp lia lịa” - chị Thùy Anh thích chí.
Tại quán Kiến, chúng tôi gặp chị Dung và một nhóm bạn đang hồ hởi chờ thưởng thức những món khoái khẩu. “Trước đây, tôi được bạn bè rủ đi ăn côn trùng. Khi thấy những con bọ xít, sâu, bọ cạp… được mang ra, tôi đã phải chạy vào nhà vệ sinh nôn cả mật xanh, mật vàng. Thế nhưng, nghe các bạn động viên, “khích tướng” mãi, tôi đánh liều gắp một con cho vào miệng, thấy vị lạ, chẳng khó ăn như mình nghĩ. Ăn dần, tôi ghiền luôn. Giờ thì cách tuần phải rủ nhau đi ăn một lần cho đỡ nhớ” - chị thú thật.
Nên ăn những loài gây hại
FAO đã kêu gọi các nhà hàng, đầu bếp và tác giả viết về ẩm thực tăng cường tuyên truyền thói quen ăn côn trùng nhằm chống lại nạn đói trên thế giới. Theo FAO, nếu con người đổi thức ăn từ các loại thịt động vật sang côn trùng, tình hình sẽ khác.
GS-TS Bùi Công Hiển và kỹ sư Đặng Ngọc Anh (Trung tâm Ứng dụng côn trùng học - Trường ĐH Khoa học Tự nhiên - ĐH Quốc gia Hà Nội) cho biết côn trùng không chỉ là món ăn mà còn dùng làm nguồn thuốc chữa bệnh. Chẳng hạn, dòi ruồi có tác dụng chống nhiễm trùng vết thương; nọc ong, mật ong, sữa ong chúa, kiến, mối có thể chữa bệnh thấp khớp, viêm phế quản, viêm ruột, viêm bàng quang, phù thũng... Theo kinh nghiệm dân gian, nhiều loài côn trùng còn được sử dụng để bổ âm, tráng dương, tăng cường sinh lực.
Nhiều loài côn trùng đã gây ra thiệt hại to lớn cho con người như dịch châu chấu, cào cào tàn phá mùa màng và mọi thứ khi chúng tràn qua. Mối cũng phá hoại rất nhiều thành quả do con người làm ra. Do đó, trong một giới hạn nhất định, việc sử dụng các loài côn trùng này làm thức ăn cũng có thể giúp đẩy lùi được nhiều dịch hại nguy hiểm.


TS Phạm Hồng Thái, Phòng Hệ thống học côn trùng  Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật Việt Nam, cho biết côn trùng thường ít chất béo hoặc hoàn toàn không có nên ăn chúng rất tốt, khỏi lo béo phì. Tuy nhiên, việc đánh bắt các loài côn trùng một cách ồ ạt để làm thức ăn có thể gây mất cân bằng sinh thái. Do đó, TS Thái cho rằng nên ăn giới hạn hoặc chỉ dùng các loài côn trùng được nuôi.
PGS-TS Nguyễn Thị Thu Cúc, nguyên giảng viên Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng Trường ĐH Cần Thơ, cho rằng những loài côn trùng thiên địch, ký sinh có tầm quan trọng đặc biệt và ý nghĩa lớn lao đối với cuộc sống con người. Chúng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì thế cân bằng sinh học có lợi cho con người. Chúng còn là trợ thủ vô giá cho con người trong việc kiểm duyệt sinh học và tiêu diệt sâu hại. Do đó, khi sử dụng côn trùng làm thức ăn, chúng ta cần cân nhắc thật kỹ để tránh tình trạng hủy diệt những loài có ích cho con người.
Coi chừng mang họa
Lương y Vũ Quốc Trung cho biết có những loài côn trùng chứa độc chất nhất định, có thể gây hại cho con người. Chẳng hạn, bọ cạp có nọc độc, nếu không biết cách chế biến để ăn (hoặc ngâm rượu uống) sẽ rất nguy hiểm. “Ở Việt Nam đã từng có người chết bởi ăn bọ cạp” - ông Trung khuyến cáo. Với bọ xít, ông Trung cho biết hầu hết rất hôi. Rất nhiều ký sinh trùng bám vào cơ thể bọ xít nên tốt nhất là không ăn loại côn trùng này.
Theo ông Trung, cơ thể con người vốn nhạy cảm với các loại virus. Vì vậy, tùy vào cơ địa, người này ăn không sao nhưng người khác dùng sẽ bị ngộ độc, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. “Chúng ta ăn cần có sự lựa chọn. Với những loài chứa nọc độc như bọ cạp, ong đất, ong vò vẽ…, phải hết sức thận trọng khi ăn hoặc ngâm rượu uống. Nếu không biết cách loại bỏ độc tố thì tốt nhất không nên ăn chúng kẻo sẽ rước họa vào thân” - ông Trung lưu ý.
PGS-TS Nguyễn Thị Thu Cúc cho rằng nhiều loài côn trùng là tác nhân truyền các bệnh nguy hiểm cho con người. Vì vậy, nếu muốn sử dụng côn trùng làm thức ăn, chúng ta cần hết sức thận trọng trong khâu nuôi, đánh bắt, cho sinh sản, nhất là khâu chế biến để tránh bị ngộ độc do không loại bỏ được hết độc chất.
Theo TS Phạm Hồng Thái, các cơ quan chức năng cần nghiên cứu và công bố loài côn trùng nào làm thực phẩm thì có lợi hay có hại cho con người. Hiện nay, nhiều người chế biến côn trùng làm thức ăn chỉ bằng kiến thức cá nhân và kinh nghiệm dân gian nên khó bảo đảm an toàn.
http://nld.com.vn/20130518110321563p0c1002/thu-xoi-dac-san-con-trung.htm 
Thực phẩm của người nghèo
Dân thị thành đang coi các món côn trùng là “độc và lạ” nhưng với những người ở nông thôn, chúng chẳng hề xa lạ. Nhiều gia đình thậm chí còn ăn một số loài côn trùng như châu chấu hoặc dế hằng ngày.
Anh Nguyễn Văn Kéo, nhà ở huyện Quốc Oai - Hà Nội, cho biết vào mùa gặt, anh và bạn bè thường mang vợt ra đồng để bắt châu chấu về vặt bỏ cánh rồi rang hoặc chiên giòn. “Đó là thực phẩm cho bữa ăn của người nghèo. Bọ xít cũng vậy, mùa nhãn, vải có rất nhiều, khi còn nhỏ, bọn trẻ chúng tôi vẫn bắt nướng, ăn rất ngon” - anh Kéo nói.

Có một sự thật cay đắng

Có một sự thật cay đắng


Tran-Dang-Khoa 
Dư luận truyền thông mấy ngày qua đã thực sự xao động trước một việc làm rất đẹp của ông Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Tuấn, khi ông thay mặt Tổng cục Du lịch xin lỗi một du khách nước ngoài, người Australia, vì một anh lái xích lô đã nâng giá xích lô cao hơn giá quy định nhiều lần. Hành động man rợ đó đã vấy bẩn Thủ đô Hà Nội và bôi nhọ du lịch Hà Nội và du lịch Việt Nam. Cùng với lời xin lỗi chân thành, ông Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Nguyễn Văn Tuấn đã giải quyết ngay hậu quả sai sót: Hoàn trả bà Schultz Ilona Jane số tiền bị người đạp xích lô “cướp giật” và tặng bà món quà lưu niệm của ngành du lịch Việt Nam. Ông hứa sẽ xử lý nghiêm sự vụ và hy vọng việc làm không đẹp của người lái xe xích lô không làm mất đi vẻ đẹp của Việt Nam trong mắt bà Schultz Ilona Jane.
Đó là một việc làm đẹp, một cách ứng xử rất kịp thời và văn minh của ông Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, dù ông không hề có lỗi. Việc làm rất bình dị của ông đã thành một vẻ đẹp mới, gây xôn xao trong đời sống xã hội, cũng vì trước ông, hầu như chúng ta không có văn hóa xin lỗi. Bao nhiêu người từng bị oan khiên, thậm chí có người hóa thân tàn ma dại vì một việc làm vô trách nhiệm của một người hay một nhóm người, mà khi được minh oan, dù chỉ là chiếu lệ, cũng không bao giờ được nhận một lời xin lỗi, dù chỉ là một hình thức có tính xã giao.
Có lẽ cũng vì thế chăng mà việc làm của ông Nguyễn Văn Tuấn đã thành một hiện tượng, một hành động cao đẹp. Và rồi, từ việc làm cao đẹp ấy, có người lại gợi ý ngành du lịch “nên thành lập một đơn vị chuyên trách xin lỗi”, hay cao hơn thế, “Bộ Văn hóa cần phải có ngay một Ủy ban Xin lỗi” thì lại thành chuyện “quá mù ra mưa” rồi!
Sẽ ra sao nếu đất nước lại có cả một Ủy ban xin lỗi! Thật là một sáng kiến rùng rợn! Một việc làm tưởng văn hóa mà lại phi văn hóa. Bởi xin lỗi không phải câu nói chớt qua đầu lưỡi, mà là lời sám hối, rất cần đến sự thành tâm. Ai có lỗi, hay ngành nào có lỗi thì phải tự tìm đến người bị hại mà xin lỗi. Và cùng với lời xin lỗi là một việc làm cụ thể nhằm giải quyết hậu quả mà mình đã gây ra. Nếu có cơ quan xin lỗi chuyên trách, thì lỗi không thuyên giảm mà sẽ càng gia tăng gấp bội. Bởi kẻ gây ác lại rũ được trách nhiệm, nên cứ làm bừa, làm ẩu, vì đã có người khác giải quyết hậu quả. Và kẻ “giải quyết hậu quả” cũng chỉ làm chiếu lệ, làm mang tính hình thức, vì đó cũng không phải lỗi của mình.
Và vì thế, một việc làm tưởng như có trách nhiệm mà lại hóa vô trách nhiệm. Nó có gì kỳ khôi cứ như những anh khóc thuê trong các đám tang. Tôi dự nhiều đám tang quê và cũng được chứng kiến nhiều cảnh dở cười dở mếu.
Có người mẹ nhờ khóc bà hộ cô con gái còn đang ẵm ngửa của mình, bèn dúi vào tay ông thợ kèn 5 ngàn, và thế là ông sụt sịt nỉ non: “Ới bà ơi là bà ơi, cháu thương bà đứt ruột đứt gan, nhưng vì bận việc nước, lại không mua được vé máy bay về tiễn biệt bà, hợ hợ…”. Dù đang tang gia bối rối, phải có ý thức buồn rầu, nếu trong bụng không buồn thực, thì cũng phải cố làm ra vẻ buồn đau, nhưng cả đám tang vẫn không nhịn được cười, có người cười sặc sụa, vì cô cháu gái yêu “đang bận việc nước” của bà vẫn còn chưa biết ỉa cứt xu.
Có một sự thật cay đắng: Dù Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Tuấn và cả Tổng cục Du lịch của ông vẫn đang gồng mình giữ gìn và xây đắp vẻ đẹp du lịch Việt Nam, thì ngành du lịch của chúng ta vẫn đang xuống cấp trầm trọng. Danh lam, thắng cảnh của chúng ta vốn đã quá nghèo nàn, èo uột, không có gì hấp dẫn để thu hút du khách. Cách phục vụ và dịch vụ du lịch lại thiếu tính chuyên nghiệp, đã thế lại quấy quá, tạm bợ và mông muội. Không có cách nào đuổi khách du lịch hiệu quả bằng trò mè nheo, ăn cắp và “chặt chém”. Trò mọi rợ này đã diễn ra ở khắp mọi nơi, từ Hà Nội, Huế, Nha Trang, Thành phố Hồ Chí Minh đến các tỉnh thành và cả những vùng sâu vùng xa heo hút nhất. Cứ “chặt” được là “chặt”. “Chém” được là “chém”. Bất kể đối tượng nào. Dù ta hay Tây. Từ nâng giá xích lô, xe ôm, tăc xi, từ gian lận tính cước rất tinh xảo qua đồng hồ điều khiển từ xa bằng điện thoại di động, đến móc túi, cướp giật trắng trợn, rồi nâng giá món ăn, bắt chẹt cả chỗ ngồi. Không ở đâu như ở ta. Đến cả cái ghế ngồi trong nhà hàng cũng phải trả tiền. Mà trả với cái giá cắt cổ. Đó là những trò mọi rợ bức tử ngành du lịch một cách nhanh nhất và cũng hiệu quả nhất. Khi bị phát giác, hay bắt quả tang, cách làm phổ biến của ta là xin lỗi du khách rồi hoàn lại tiền. Việc làm đó cũng có thể chấp nhận được nhưng chưa đủ. Để chấm dứt vĩnh viễn những trò nhiễu nhương này, cần phải có một giải pháp mạnh. Đó là phạt thật nặng những kẻ phá hoại ngành du lịch và làm nhục quốc thể, nhất là những hành xử mọi rợ đối với khách quốc tế. Không phải chỉ sa thải, cắt giấy phép hoạt động, mà cùng hình thức đó, còn phải phạt tiền, không phải phạt gấp mười lần, mà hàng trăm lần, hoặc hơn thế nữa, nếu việc làm đó đã để lại một hậu quả nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến vẻ đẹp của ngành du lịch hay danh dự của quốc gia.
Ở rất nhiều nơi, công tác du lịch người ta làm rất tốt. Ai đã một lần ghé qua, đều muốn được trở lại, không phải chỉ chiêm ngưỡng những cảnh quan, danh thắng, mà còn muốn được gặp lại những con người xởi lởi, chu đáo, lịch sự và tận tình. Không phải chỉ ở các nước có tiềm năng du lịch lớn, ở ngay bên cạnh ta như Trung Quốc, hay Thái Lan, ở đó, ngoài danh lam thắng cảnh phong phú, kỳ vĩ, mỗi người dân bình thường của họ cũng đều có thể là những hướng dẫn viên du lịch, mà ngay trên đất nước ta cũng có miền đất du lịch trong lành như Đà Nẵng, Hội An… Ở đó không có nạn móc túi, cướp giật, không có người ăn xin, kẻ lừa đảo. Không có cảnh chặt chém. Khách ta cũng như Tây. Tất cả đều một giá và được chỉ dẫn phục vụ rất tận tình, chu đáo. Tại sao người ta làm được mà mình lại không làm được? Lỗi do đâu?
Nước ta vốn đã nghèo, lại bị kiệt quệ bởi nạn tham nhũng, nạn ăn cắp vặt, những di sản văn hóa cũng không có bao nhiêu, lại còn bị tàn phá bởi chiến tranh, bởi những con người u tối. Vì thế, những hiện vật, hay cảnh quan, dù còn rất nhỏ nhoi cũng đã quý lắm rồi.
Nói đến Hà Nội, ta thường nghĩ đến Chùa Một Cột. Đó là một trong những kỳ quan tiêu biểu của Thủ Đô. Tôi không sao quên được câu chuyện của Giáo sư Trần Quốc Vượng. Ông kể rằng, một chính khách nước ngoài muốn tham quan Chùa Một Cột. Giáo sư đã bỏ ra cả buổi chiều dẫn ông đi rồi giới thiệu cho ông về lai lịch ngôi chùa nổi tiếng này. Hôm sau vị khách lại đòi ông đưa đến Chùa Một Cột. “Thì chiều qua ngài đã đến thăm rồi đó”. Bấy giờ vị khách mới ngớ ra. Ông đã đến thăm chùa mà lại cứ tưởng đấy mới là mô hình chùa.
Hà Nội đâu có nhiều cảnh quan cho du khách chiêm ngưỡng. May sao gần đây còn có thêm Việt Phủ Thành Chương. Đó là một quần thể văn hóa, một vùng tinh hoa của làng quê Bắc bộ kết tinh lại. Nhiều căn nhà truyền thống đã bị tiêu hủy hoàn toàn trong các cuộc bê tông hóa làng quê đã được lưu giữ nguyên vẹn ở đây. Việt Phủ Thành Chương là một công trình kỳ vĩ, một kỳ quan với rất nhiều những giá trị truyền thống, giá trị dân gian, những di sản, cổ vật mà chỉ có tiền bạc của Thành Chương, công sức của Thành Chương và tài năng của Thành Chương mới có thể sưu tầm, phục dựng được. Nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Thành phố đã từng đến đó tham quan và phải thừa nhận nó như là một di sản văn hóa mới của Thủ đô. Phủ Thành Chương đã từng đón tiếp Vua, Hoàng hậu và các nguyên thủ của nhiều quốc gia khi đến thăm Việt Nam. Một số Bảo tàng, các Tổ chức văn hóa lớn trên thế giới đã có hồ sơ về Phủ Thành Chương như một địa chỉ văn hóa của nước Việt.
Gần đây, qua các kênh truyền thông, tôi mới biết khu di tích văn hóa này lại xây dựng trái phép. Một công trình nổi tiếng đến ai cũng biết như thế mà khi xây dựng các cơ quan chức năng lại không biết, kể cũng là chuyện lạ đời! Tôi không rõ rồi đây, các cơ quan chức năng sẽ xử lý ra sao? Chả lẽ lại phá hủy đi rồi cắm vào đó mấy thân cây tong teo, còi cọc để lại thành một khu đồi hoang hóa như hồi Thành Chương chưa đến? Tốt nhất là hợp thức hóa cho Thành Chương và tạo điều kiện để anh hoàn thiện nốt một công trình văn hóa có tầm cỡ quốc gia, thành một danh thắng độc đáo của Thủ Đô Hà Nội. Đó là cách xử lý đúng nhất và cũng văn hóa nhất!

http://quechoa.vn/2013/05/18/co-mot-su-that-cay-dang/#more-38308

Hãy trở về đúng vị trí phù hợp với khả năng của mình, chị Doan ạ!

Hãy trở về đúng vị trí phù hợp với khả năng của mình, chị Doan ạ!

indexChị, với cương vị phó chủ tịch nước, có những lúc thấy chị phát biểu hay đi thăm thú chỗ này, chỗ kia, tôi lại giật mình. Hình như chị chưa hiểu đúng vị trí của mình, hay chính xác hơn, chức “ Phó chủ tịch nước” là việc làm quá sức.
 Ai đời, đến tận bây giờ, đến đứa trẻ con, nó chỉ một lần ra nước ngoài, nhất là những nước tư bản tiên tiến, đều hiểu rằng, có lẽ phải đến một trăm năm nữa, nước ta may ra mới tiến gần kịp các nước đó về tất cả các lĩnh vực từ kinh tế đến xã hội. Chẳng thế, không biết gia đình chị có thế không ? Chứ bất cứ gia đình nào ở trên lãnh thổ Việt Nam, có điều kiện kinh tế một chút, đều mong muốn gửi con cái của họ sang các nước tư bản lớn để học tập, lập nghiệp. Còn nói đến thành tựu khoa học kỹ thuật của các nước tư bản lớn, với chị, nguyên hiệu trưởng một trường đại học, chắc rõ hơn tôi, họ hơn chúng ta rất nhiều… Thôi, tôi không liệt kê nữa, ấy vậy có lần chị phát biểu “ Dân chủ nước ta hơn gấp triệu lần dân chủ tư bản”.
 Chị phát biểu như thế thì quá nguy!
 Nước ta lấy gì mà so sánh với các tư bản lớn. Sở dĩ các nước tư bản lớn có nền kinh tế phát triển vượt bậc vì các nước đó có nền dân chủ đúng nghĩa làm nền tảng. Họ có luật pháp nghiêm minh, từ tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng,,, dính vào tham nhũng đều phải ra trước tòa, trả lời những câu hỏi mà công luận đòi hỏi. Không hề có chuyện “ xử lý nội bộ”, “xét thành tích để chiếu cố” hay như “chờ ý kiến của trên” hoặc “ chưa có sự chỉ đạo của thường vụ”… Người dân các nước tư bản, họ được quyền biểu tình, ra báo, xuất bản tư nhân, quyền tự do bỏ phiếu bầu những vị lãnh đạo mà mình biết mặt, biết tên, chứ không phải như ở ở ta, mà chị là đại biểu quốc hội rõ nhất, người dân đi bỏ phiếu bầu đại biểu quốc hội, có khi không biết người đó là ai?
 Mới sơ qua như thế, thì thấy rằng, với cương vị phó chủ tịch nước, thường hiểu là người có trình độ, có hiểu biết, vậy chị phát biểu một câu cũ mèm, hay nói cách đây hơn ba chục năm, một nhận thức hết sức ấu trĩ, lạc hậu khi nước ta lúc đó bị bưng bít thông tin. Một câu nói rất sai lầm cả lý luận và thực tiễn, người dân không phục chị, trong đó có tôi và tôi càng thấy đảng đã đặt chị không đúng vị trí cần có của một người lãnh đạo.
 Đến vừa rồi, nhân đại lễ đền Hùng, một ngày quốc lễ, người dân cả nước hướng về đền Hùng mà vái vọng, người đi dự lễ, nhất là quan khách, họ ăn mặc lịch sự, có người còn khăn đóng, áo dài… thể hiện sự thành kính với tổ tiên thì chị đến đền Hùng mặc áo cộc tay, quần âu… coi như đây là cuộc thăm viếng bình thường.
 Thế là chị không hiểu vị trí của chị rồi.
 Về chức bên chính quyền, trong cả nước, chị chỉ đứng sau một người, còn đứng trên muôn triệu con người. Người dân nhìn chị không chỉ đơn thuần là một vị lãnh đạo, mà đó là hình ảnh của một nước, từng tự hào có truyền thống văn minh, lịch sự, gia giáo. Thế mà, đường đường là một phó chủ tịch nước, chị ăn mặc như vậy, như một sự coi thường tiên tổ để thắp hương, vái lạy trước bàn thờ ông bà. Người dân sẽ nghĩ thế nào, khi chị rao giảng về “ đạo đức lối sống của con người mới xã hội chủ nghĩa ”.
 …Mới chỉ một vài việc như vậy, tôi nghĩ rằng, chị không biết mình đang đứng ở vị trí nào, nhất là trong lòng người dân, để hành đạo, giúp đời!!!
 Nhưng vừa rồi, ngày 14/5 phát biểu tại phiên họp thường vụ Quốc hội, chị đã nói được những điều mà nhân dân thấy, chỉ có những người lãnh đạo có khi “ thấy” nhưng cố tình nhắm mắt như “ không thấy”: “ Tôi thấy nguy cơ lắm rồi các đồng chị ạ!” để nói về thực trạng kinh tế hiện nay của nước ta. Chị cũng phân tích nhiều điều “ trúng phóc” của một nền kinh tế, mà như nhiều nhà kinh tế nhận xét “ đang gặp khủng hoảng , chưa tìm thấy lối ra”. Chị còn chỉ rõ những nguyên nhân gây ra nên bế tắc của một nền kinh tế mất sự định hướng, rối loạn về sự chỉ đạo…
 Tôi đọc bài phát biểu của chị, mới nhận ra rằng, chỉ có thể một người làm kinh tế, hiểu kinh tế mới phát biểu được như vậy ( tại đây) và lý lịch của chị ( tại đây), cũng rõ ràng, chuyên nghiên cứu về kinh tế, mới có thể nói những điều chuyên ngành mình nắm.
 Cũng qua sự việc này, tôi đã nhìn chị với sự thông cảm lớn. Giá như … cứ để chị làm công việc giảng dạy kinh tế của một trường đại học, hoặc như yên vị ở một chức hiệu trưởng trường đại học thương mại, biết đâu nước ta lại có một cán bộ giảng dạy đại học giỏi, đào tạo ra nhiều chuyên gia kinh tế giúp ích cho nước nhà, hoặc giả như sẽ là một hiệu trưởng, giáo sư có uy tín biết nâng cao vị thế một trường đại học kinh tế có vị trí trong khu vực, tương lai không xa là một trường đại học được xếp hạng trong các trường đại học nổi tiếng thế giới. Nhưng đảng lại bố trí cho chị một chức vụ tưởng là “ quan trọng” lớn hơn chức vụ chị từng nắm, nhưng mọi người nhìn vào chức vụ đó, lại thấy, nó mang tính “hiếu hỷ” là chính, một việc mình không chuyên sâu, không phù hợp mà người ta bắt nói phải như thế, đi đứng phải như thế… làm sao không có lúc chị sai lầm.
 Cũng qua việc này, tôi cũng thấy rằng, sai lầm lớn nhất của một số vị lãnh đạo nước mình hiện nay là không biết vị trí mình đang đứng ở đâu trong lòng người dân.
 Có vị chỉ là một nhà lý luận đơn thuần, thủ đoạn không biết, ấu trĩ về nhìn nhận thời cuộc, tài không có, được bố trí vào vị trí lãnh đạo, không biết mình đang đứng ở đâu mà dám tuyên bố thế này, thế kia rồi đến khi thực hiện không ra đầu, ra đũa, lúng ta, lúng túng, rối như canh hẹ, chỉ tổ làm cho lòng người chán ngán, sân khấu chính trị ở Việt Nam, cũng vì thế mà rã như chợ chiều hết phiên. Giá như… cứ để ông ấy viết những bài báo lý luận có khi hay, vì đó là chuyên môn sâu của ông. Những bài báo đó giúp cho người đọc có chỗ để so sánh sự khác biệt giữa lý luận và thực tiễn để biết ai thắng, ai thua.
 Hay như có vị, đảng cử ra lãnh đạo kinh tế, mà không chuyên sâu kinh tế như chị, lại có máu tham, thừa thủ đoạn đục khoét… thì làm sao kinh tế đất nước không đi vào hồi bi bét…
 Một bài báo nhỏ, thực ra, tôi chỉ ao ước, nước ta có một hiến pháp tân tiến phù hợp với xu thế thời đại, một cuộc bầu cử thật dân chủ, tự do, để cho dân được thỏa mái lựa chọn, bầu ra các vị lãnh đạo như các nước tư bản lớn, tiên tiến. Tất lúc đó sẽ có những vị lãnh đạo tài giỏi, được đặt đúng vị trí của mình, phát huy hết khả năng, không có những sai lầm, ấu trĩ như chị đã mắc phải.
 Và cũng chỉ như vậy, tôi tin người dân sẽ không để chị làm một chức vụ lớn hơn, mà chị tự thấy không phù hợp, có khi lại hủy hoại thanh danh của mình. Lúc đó, chị vẫn yên vị một tiến sỹ kinh tế giảng bài giỏi, được mọi người kính nể, một hiệu trưởng tốt của một trường đại học danh tiếng mà sinh viên tự hào.
 Hãy trở về đúng vị trí phù hợp với khả năng của mình, chị Doan ạ!

 http://quechoa.vn/2013/05/18/hay-tro-ve-dung-vi-tri-phu-hop-voi-kha-nang-cua-minh-chi-doan-a/


NLG:
Thấy Bà ngày ngày tháng tháng vất vả đi nơi nầy nơi kia áo quần thêu thùa  xúng xính "lăng xăng"cấp phát bằng khen, huân huy chương trên TV hoài, kể cũng mệt trong "thiên chức" lễ tân nhà nước mà các vị  phân công  cho PCT H20. Tội nghiệp, đường đường là một GS-TS(2 bằng chứ đùa sao), từng là hiệu trưởng đại học kinh tế danh tiếng vậy mà bây giờ phải làm những việc...mà ai làm cũng được! Thỉnh thoảng nghe bà Doan phát biểu về chính trị, hay gần đây về kinh tế thì thật đáng buồn, trình độ như vậy mà cũng là...Tờ Sờ ư. Có lẽ lâu ngày toàn lo việc gắn nhãn, mác, lễ lạc...nên chuyện đèn sách, nghiên cứu bị lơi là...chỉ còn biết đem cái vốn học, kiến thức rập khuôn xa xưa từ thời bao cấp ra..."tám" ? Thông cảm, thông cảm..."cũng là công việc cách màng giao cho" (thơ Bút Tre) 

Chùm tin phân tích động thái của TQ v/v biển Đông(tiếng Anh) của CTV từ HK gửi về








Why Philippines Stands Up to China

The Philippines is hopelessly mismatched against China in pure military terms. But there are historical reasons why it won't back down in the South China Sea.

Why Philippines Stands Up to China

Last month, I wrote a column forGlobal Times in which I observed that a dominant Chinese Navy lets China’s leadership deploy unarmed surveillance and law-enforcement vessels as it implements policy in theongoing stand off at Scarborough Shoal. It can flourish a small, unprovocative seeming stick while holding the big stick – overwhelming naval firepower, and thus the option of escalating – in reserve.
That, I wrote, translates into “virtual coercion and deterrence” vis-à-vis lesser Asian powers. If weak states defy Beijing, they know what may come next. Global Times readers evidently interpreted this as my prophesying that Southeast Asian states will despair at the hopeless military mismatch in the South China Sea – and give in automatically and quickly during controversies like Scarborough Shoal.
Not so. Diplomacy and war are interactive enterprises. Both sides – not just the strong – get a vote. Manila refuses to vote Beijing’s way.
Military supremacy is no guarantee of victory in wartime, let alone in peacetime controversies. The strong boast advantages that bias the competition in their favor. But the weak still have options. Manila can hope to offset Beijing’s advantages, and it has every reason to try. Sounds familiar, doesn’t it? China has been the weaker belligerent in every armed clash since the 19th century Opium Wars. It nevertheless came out on top in the most important struggles.
That the weak can vanquish the strong is an idea with a long pedigree. Roman dictator Quintus Fabius fought Hannibal – one of history’s foremost masters of war – to a standstill precisely by refusing to fight a decisive battle. Demurring let Fabius – celebrated as “the Delayer” – marshal inexhaustible resources and manpower against Carthaginian invaders waging war on Rome’s turf.
Fabius bided his time until an opportune moment. Then he struck.
Similarly, sea power theorist Sir Julian Corbett advised naval commanders to wage “active defense” in unfavorable circumstances. Commanders of an outmatched fleet could play a Fabian waiting game, lurking near the stronger enemy fleet yet declining battle. In the meantime they could bring in reinforcements, seek alliances with friendly naval powers, or deploy various stratagems to wear down the enemy’s strength. Ultimately they might reverse the naval balance, letting them risk a sea fight – and win.
Victory through delay represents time-honored Chinese practice. Mao Zedong built his concept of protracted war on stalling tactics, and, like Corbett, he dubbed his strategic vision “active defense.” For both theorists, active defense was about prolonging wars to outlast temporarily superior opponents.
Mao pointed out that China boasted innate advantages over the Japanese Army that occupied Manchuria and much of China during the 1930s. It merely needed time to convert latent power – abundant natural resources and manpower in particular – into usable military power. Mao’s Red Army later overcame stronger Nationalist forces by winning over popular support, and with it the opportunity to tap resources, establish base areas in the countryside, and the like.
Good things came to those who waited.
So there’s some precedent for Philippine leaders to hope for diplomatic success at Scarborough Shoal. The Philippine military is a trivial force with little chance of winning a steel-on-steel fight. But like lesser powers of the past, Manila can appeal to law, to justice, and to powerful outsiders capable of tilting the balance its way. Sure enough, Philippine officials have advocated submitting the dispute to the Law of the Sea Tribunal and invoked a longstanding U.S.-Philippine mutual defense pact.
Despite all of this, the deck remains heavily stacked against Manila. Why persevere in defying China, with its overwhelming physical might? Thucydides would salute the Filipinos’ pluck. The Greek historian chronicled the Peloponnesian War, the protracted 5th century BC struggle between Athens and Sparta. One of Thucydides’ best-known precepts is that “fear, honor, and interest” represent “three of the strongest motives” driving societies’ actions.
In one infamous episode, Athenian emissaries inform the leaders of Melos, a small island state, that “the strong do as they will and the weak suffer what they must” when their interests collide. They demand submission. The Melians balk, but have no hope of help from Sparta or any other rescuer. When they remain defiant anyway, the Athenians put the men to the sword while enslaving the women and children.
Fear, honor, and interest animate small states like Melos and the Philippines as much as they do superpowers like Athens and China. Maritime claims are a matter of self-interest for Filipinos. They are also a matter of honor. Beijing can't expect Manila to simply tally up the balance of forces, acknowledge it faces a hopeless mismatch, and buckle. Philippine leaders can solicit foreign support, and they know Beijing has no Melian option.
Why admit defeat prematurely, any more than Fabius or Mao did?
James Holmes is an associate professor of strategy at the US Naval War College. The views voiced here are his alone.




 

 

Why Japan Should Ignore China’s Okinawa Provocation


May 17, 2013

By Taylor Washburn

Nationalists are seeking leverage for the Senkaku/Diaoyu dispute. Japan shouldn’t play into their hands.
By now the narrative is familiar: China, brandishing a sheaf of faded maps and records, questions the basis of Japan’s authority over islands in the East China Sea. The dispute summons bitter memories of the Middle Kingdom’s humiliation at the hands of its neighbor starting in the late 19th century, but also heightens fears that Beijing is abandoning its decade-old mantra of “peaceful rise” to become the revisionist power its neighbors and Washington fear.
For the last year, this has been the tale of the Senkaku Islands, a remote cluster of rocks whose only mammalian inhabitants are goats and an endangered race of moles. China’s claim to the islets, which it calls Diaoyu, dates back at least four decades, but tensions have heightened since the Japanese government announced last year that it would purchase them from a private owner.
Just last week, however, Beijing opened up a new front in the dispute. On Wednesday, China’s leading state-run newspaper, thePeople’s Daily, ran a piece questioning the status of Okinawa, home to 1.4 million Japanese citizens as well as 25,000 U.S. troops. Its authors, two scholars at a government-backed think tank, surveyed the history of the Ryukyu Islands, of which Okinawa is easily the most important, and concluded that the legitimacy of Japan’s rule over the chain is “unresolved.” When pressed for comment, China’s Foreign Ministry refused to affirm that the Ryukyus are part of Japan, instead reiterating that “the Diaoyu Islands,” which sit to Okinawa’s west, “are China’s inherent territory,” and not part of the Ryukyus. This is hardly the first time that nationalists have attempted to sow doubt about Okinawa, but never before have questions about Japanese sovereignty been entertained at such a high level.
The Ryukyus arc from Kyushu, the southernmost of Japan’s main islands, towards Taiwan. Most of their residents are indigenous Ryukyuans, a group of peoples who have traditionally spoken their own Japonic languages and maintained political and trade ties with both China and Japan. Even before the unification of Okinawa and surrounding islands under a single king in the 15th century, the Ryukyuans were tributaries of the Ming Dynasty. But after their king refused to help the Japanese daimyo Hideyoshi invade Korea in the 1590s, the islands were subjugated by a feudal lord from Kyushu. For almost three centuries, the islands’ kings paid tribute to two masters, the shogun of Japan and the emperor of China.
The arrival of Commodore Matthew Perry and his “black ships” in the 1850s rocked Japan, but the new state that emerged from this political turmoil was unified and assertive. In 1879, the young Emperor Meiji, a modernizing reformer, formally absorbed the Ryukyus, which became Japan’s Okinawa Prefecture. China’s Qing Dynasty ratified this action in 1895, but only under duress; the Treaty of Shimonoseki, which ended the First Sino-Japanese War, not only provided that China would abandon any claims to the Ryukyus, but signed away Taiwan and severed China’s longstanding tributary relationship with Korea. (The treaty also helped set the stage for the Senkaku dispute, which turns in part on whether those islets were part of Taiwan, and thus reverted to China after 1945, or the Ryukyus.)
Okinawa was captured by Allied troops in the final months of the Pacific War, but this victory came at such a terrible cost that it may have influenced President Truman’s decision to use atomic weapons rather than mount a ground assault on Japan’s home islands. When the American occupation of Japan ended in 1952, the Treaty of San Francisco provided that Washington would continue to administer the Ryukyus. Okinawa became a key pedestal of American power in Asia, an idea that Commodore Perry had championed a century earlier. The chain reverted to Japanese control in 1972, but the U.S. military continues to maintain a constellation of bases on Okinawa under the terms of Washington’s security alliance with Tokyo.
The Ryukyuan people have a complex relationship with their national government. Many resent the way the islands were used during the Pacific War –in particular, the compulsory mass suicides ordered by Imperial officers during the Allied invasion – and feel that they still bear a disproportionate burden for Japan’s defense. One particular source of controversy is the location of U.S. Marine Corps Air Station Futenma, today situated in an urban area near Okinawa’s capital. While Washington and Tokyo long ago negotiated a plan to move the base, a combination of local opposition and waffling by Japanese leaders has delayed its implementation.
But none of this knotty history casts any doubt on Japanese sovereignty. The islands’ residents remained citizens of Japan throughout the postwar U.S. administration, and most welcomed the return of Japanese control. In polls, a majority of Okinawans either identify themselves as Japanese or adopt a dual identity, and independence advocates – who, ironically, express solidarity with similar movements in Taiwan, Tibet and Xinjiang – have fared poorly in local elections.
These facts are hardly news to Beijing. The questions that state organs have raised are not part of a disinterested historical inquiry (as the Foreign Ministry asserts), nor do they foreshadow a campaign to claim the chain for China. Rather, they are an attempt to broaden the Senkaku dispute, itself a pointed challenge to Tokyo and the U.S.-Japan alliance.
Indeed, an unsigned editorial in Global Times has already acknowledged as much, describing the issue as a source of “leverage,” to be raised whenever Beijing is displeased with Tokyo. “If Japan, binding itself with the U.S., tries to threaten China’s future,” the hawkish state-run paper warns, Beijing should seek to “impose threats on the country’s integrity” by backing Ryukyuan independence.
Since last week, formal diplomatic protests have ping-ponged between between Tokyo and Beijing. Japan is entitled to its outrage, but its leaders must recognize that an angry response could play into the hands of Beijing’s hawks. Facing two genuine independence movements and tied up in territorial disputes with other neighbors from India to Southeast Asia, China in fact has much to lose from pressing a theory that could embolden “splittists” at home and heighten anxieties abroad. Emphasis on the Ryukyus’ antique tributary relationship with China is particularly incendiary, given that many other Asian nations were similarly tied to the Middle Kingdom at some point in history.
With even Chinese netizens mocking the People’s Daily for overreaching, Japan has nothing to gain from becoming ensnared in a debate over Okinawa. By refusing to be goaded, Tokyo can deny China the leverage it seeks – and watch as Beijing suffers
Taylor Washburn is a lawyer studying at the Johns Hopkins School of Advanced International Studies, and was previously a visiting professor at the Korea Advanced Institute of Science and Technology. He can be followed on Twitter @washburnt
the consequences of its own provocation.


 

Deleterious Neglect: Will the U.S. Navy Surrender Maritime Asia? 

May 17, 2013

By Toshi Yoshihara and James Holmes

Having gone unchallenged for decades, and facing budget cuts, the U.S. Navy is in danger of losing its capability to challenge the PLA in its near seas.
The Chinese navy's surface forces are on the march. Destroyers, frigates, corvettes, fast-attack craft, and, most recently, the newly commissioned aircraft carrier comprise the surface fleet. Over the past two decades, the People's Liberation Army Navy (PLA Navy) has put to sea four Sovremenny-class guided-missile destroyers procured from Russia, along with ten new classes of indigenously built destroyers and frigates. Some of the latter ship types have entered serial production, adding mass to the fleet. This is an impressive feat by any standard.
The PLA Navy's metamorphosis from a coastal defense force into a modern naval service has riveted the attention of the U.S. defense community. In 2009 the Office of Naval Intelligence — a body not known for hyperbole — described the advances of China's surface fleet as "remarkable." Similarly, the Pentagon's most recent annual report on Chinese military power notes the "robust" buildup of PLA Navy major combatants since 2008.
The Liaoning carrier understandably captures the public imagination. But the true vanguard of the PLANavy's prowess will be its surface combatants — the workhorses of any navy — that will make China's turn to the seas felt in maritime Asia and beyond. In the coming years, these warships will serve as pickets guarding the carrier, project power on their own in surface action groups, maintain a visible presence in disputed waters, defend good order at sea in distant theaters, and conduct naval diplomacy around the world. 
Yet debate persists over this metamorphosis. Skeptics doubt the PLA Navy will translate its growing material heft into real combat effectiveness. One sanguine view holds that the U.S. Navy surface fleet is more than a match for any rival in the contest for sea control — the arbiter of any naval war — and will remain so for the foreseeable future. The implication is that while Beijing may be able to exact a price from the U.S. Navy for attempting to use the seas and airspace in China's environs, the United States will still command the seas when the chips are down. 
At the tactical level, this comforting narrative holds that U.S. naval forces remain able to land a devastating blow before opposing warships get close enough to fire their first shot. In a fleet-on-fleet engagement, for example, carrier-based warplanes would unleash missiles at enemy surface combatants from standoff distances, meaning beyond the engagement range of the opponent's anti-ship arsenal. This scenario conforms to the longstanding American doctrinal preference for shooting the archer before the archer can let fly his arrow.
This tactical and technological margin of superiority will endure and perhaps even widen, so goes this storyline, letting the U.S. Navy retain its dominant position in maritime Asia.   
We're not so sure.
For one thing, China's surface fleet is quickly catching up. Mariners are cementing core competencies while closing the capability gap. For years, Chinese ships' lack of sophisticated area-wide air defenses exposed them to air and missile attacks. This shortcoming reaffirmed U.S. commanders' conviction that carrier aviators would handily defeat the PLA Navy in a fight. Now, however, near-state-of-the-art systems on board some Chinese combatants outrange the anti-ship weaponry sported by U.S. aircraft. The Luyang-class guided-missile destroyers are apparently equipped with phased-array radars similar in appearance — and, according to Chinese pundits, in capability — to the American Aegis combat system, a combination radar, computer, and fire-control system that can detect and target multiple aircraft simultaneously at long range.
At the same time, the PLA Navy has armed its warships to the teeth with a family of Russian- and Chinese-made anti-ship cruise missiles (ASCMs) boasting ranges of 120-130 nautical miles. The only comparable weapon in the U.S. inventory is the nearly-four-decade-old Harpoon anti-ship missile, whose advertised striking range is less than 70 nautical miles. In other words, major Chinese combatants can not only keep U.S. aircraft at bay, but can also close in on the U.S. fleet to unleash volleys of ASCMs outside the weapons range of U.S. vessels. Not American but Chinese archers may now hold the initiative.
Thus both the defensive and offensive sides of sea combat are stacking up in China's favor — progressively eroding the tactical advantages of U.S. naval power.
Furthermore, it is unclear whether the U.S. Navy's surface battle capacity has kept up with the times. Since the Cold War, the navy has grown accustomed to operating in uncontested waters. Indeed, directives from on high stated that no one was likely to dispute American command of the sea. Owing to such strong bureaucratic signals, the surface fleet has let the skills and hardware for striking at sea atrophy. Why practice fighting for something no one can dispute?
Other missions have preoccupied the service since the Cold War. Naval aviators have spent the past decade supporting ground forces rather than girding to duel enemy armadas. Dropping smart bombs on insurgents and terrorists in Iraq and Afghanistan demands different skill sets from evading enemy defenses and pummeling enemy men-of-war. Meanwhile, guided-missile destroyers have been burdened with an ever wider array of missions, including ballistic-missile defense (BMD). Competing missions — some of which, like BMD, command national-level scrutiny — siphon finite resources, crews' attention, and, equally important, physical space aboard ship away from the combat function.
In effect, then, the service has demoted war at sea, the raison d'être for any navy, to secondary status. Both the hardware (weaponry, sensors, and hulls) and the software (training and exercises) for sea control have doubtless suffered as a result. In an era of tight budgetary constraints, reversing two decades of steady decline in surface warfare will be neither easy nor quick. In short, prevailing assumptions about American naval supremacy are coming under strain.
It would be a grievous mistake, nonetheless, to concentrate wholly on the operational progress the PLA Navy surface fleet has made or the tactical travails that could hold back the U.S. Navy surface fleet. Competition is about more than just gee-whiz weaponry or comparing entries in Jane's Fighting Ships. The only meaningful standard by which to gauge a seagoing force's adequacy is its ability to muster superior combat power at the decisive time, at the decisive point on the nautical chart, against the strongest probable adversary. As a great man once proclaimed, there is no substitute for victory.
It is far from clear that the United States retains its accustomed supremacy by that unforgiving standard, any more than it does in technological terms. For a variety of reasons — distance from the theater, the consequent need for forward bases and logistics fleets, expensive weaponry, salaries, and pensions — it costs the United States far more than China to stage a unit of combat power at a given place in maritime Asia. Whether the Pentagon can afford to mount superior strength in a rival great power's backyard, whether the sea services are investing in the right people and hardware to constitute that strength, and whether American seafarers have the requisite skills to prevail when battle is joined are the only questions worth asking.
That casts U.S.-China competition in a whole new light, doesn't it? A purely fleet-on-fleet engagement is improbable within the China seas or the western reaches of the Pacific Ocean. In those expanses, Beijing has the luxury of throwing the combined weight of Chinese sea power into a sea fight, dispatching not just its surface fleet but missile-toting submarines and swarms of patrol craft. Furthermore, land-based implements of sea power can strike a blow in any fleet action that takes place within their combat radii. PLA Air Force warplanes can join the fray, as can anti-ship missiles fielded by the PLA Second Artillery Corps. Lord Nelson, who knew a thing or two about operating fleets under the shadow of shore-based weaponry, sagely counseled that a ship's a fool to fight a fort. That's doubly true today, when Fortress China can reach scores or hundreds of miles out to sea.
One part of the U.S. Navy, then, could conceivably confront the whole of China's maritime might. The U.S. sea services are dispersed throughout Asia and the world. To estimate the outcome of a fleet action, we thus have to determine how the contingent the U.S. Navy is likely to commit to battle — including its aerial and subsurface components, along with any assets supplied by allies like the Japan Maritime Self-Defense Force or South Korean Navy — stacks up to the massed power of the PLA Navy fleet, backed by the array of anti-access weaponry at PLA commanders' disposal. (This assumes Chinese commanders do the smart thing in wartime and mass their fleets for action.) If China's navy outmatches the U.S. or combined fleet contingent under such conditions, it is adequate to the tasks entrusted to it by the political leadership. If not, the advantage resides with the United States and its allies.
The unenviable task before Washington, then, is to preserve or extend the margin of superiority of part of its naval force over the whole maritime force, sea and land, that's available to Beijing. It's tough to pull off such a feat, especially under present circumstances. Finances are straitened. Overall numbers are under stress as a result, as is the military's capacity to innovate. To make ends meet, the U.S. Navy is substituting light combatants such as the new Littoral Combat Ship for multi-mission warships bristling with heavier firepower. To compound these problems, the fleet finds itself outranged by its most likely antagonist. It will be several years before a new anti-ship missile restores long-range hitting power to the fleet, or until exotic armaments such as electromagnetic rail guns or shipboard lasers augment the main battery.
From a grand-strategic standpoint, the lag in weapons development could open a danger zone in which Beijing is tempted to strike before its range advantage lapses. Imperial Japan made a similar now-or-never calculation in 1904, realizing that rival Russia was constructing new battlewagons for its Pacific squadron. It struck before St. Petersburg could amass insuperable strength in Far Eastern waters. In 1941, likewise, Tokyo hit the U.S. Pacific Fleet before the entirely new fleet being built under the Two-Ocean Navy Act of 1940 could arrive in the theater and shift the naval balance against Japan. U.S. and allied leaders must remain watchful, lest Beijing too succumb to the temptation to settle disputes around its nautical periphery by force.
Are submarines the great equalizer, a U.S. Navy game-changer akin to the "assassin's mace" that so beguiles Chinese strategists? Many Westerners appear to think so. They consider undersea warfare a talisman, assuming that the U.S. Navy can simply dive beneath the waves and pummel the PLA Navy from below. Submariners voice confidence in the superiority of American and allied boats over anything China has put to sea. We see no reason to question the allies' qualitative superiority in this sphere, and indeed we have depicted the subsurface fleet as a core competitive advantage for the United States.
But while quality remains on the allied side, numbers are more problematic. Yes, under the pivot to Asia, sixty percent of the U.S. Navy’s 72-vessel submarine force now calls the Pacific Ocean home. But 18 of those 72 submarines are Ohio-class ballistic- or cruise-missile boats (14 SSBNs, 4 SSGNs) meant for shore bombardment. That leaves 54 attack submarines (SSNs) suitable for a tilt against the PLA Navy, sixty percent (32-33 submarines) of which will be in the Pacific. That may sound like a lot, but bear in mind that no unit is ready for service all of the time. Routine upkeep, extended overhauls and refueling, crew rest, and training all have claims on a vessel's schedule.
A hoary U.S. Navy axiom holds that it takes three ships to keep one on foreign station. One is in the shipyards and completely out of service, another is preparing for deployment, and the third is actually oncruise. If anything, the 3:1 ratio actually overstates the proportion of ships available for combat duty.  Even using this ratio, however, U.S. naval commanders can expect to have 11 fully combat-ready subs at their disposal at any time. Assuming the rhythm from overhaul to deployment holds up, another 11 may be available in varying states of readiness.
Twenty-two SSNs, no matter how good individually, is a slender force to cover the China seas and Western Pacific in wartime. Theorist Julian S. Corbett advises commanders to post vessels at the origin of an enemy fleet's voyage; at its destination, if known; or at focal points such as straits where shipping has to congregate as it passes from point A to point B. Otherwise it may be hard to make contact. Monitoring Chinese seaports, along with narrow seas such as the Luzon Strait and the passages through the Ryukyu Islands, will stretch the tactically proficient but lean U.S. submarine fleet. That in turn will leave broad operating grounds open to the PLA Navy.
Undersea warfare, then, remains an advantage, owing not just to American skill but to the PLA Navy's neglect of antisubmarine warfare. But the U.S. Navy needs more mass — meaning more boats — if it is to vanquish China's navy from the depths. Practitioners and pundits err if they view the silent service as it currently stands as a panacea. Doubling the submarine force would be a prudent move for Washington in its strategic competition with Beijing.
Where does all of this leave us? It's commonplace among China-watchers to make the U.S. Navy the benchmark by which to judge the PLA Navy's size and composition. This misleads. As noted here, the proper yardstick is the navy's capacity to fulfill the goals assigned to it by political leaders, in the expanses that matter, against the strongest likely opponent. Beijing's immediate goals and its likely opponents fall within reach of the abundant shore-based armaments festooning Fortress China. Combining land- with sea-based implements of marine combat yields a force far more formidable than side-by-side comparisons of surface fleets would indicate. The PLA Navy, then, may not need a surface fleet symmetrical with the U.S.Navy's — in terms of flattops, air wings, destroyers, etc. — to get its job done.
Observers must apply standards unique to China to determine whether China's Navy has struck the right balance of capabilities. Comparing it to a globe-spanning navy like America's reveals little.
Toshi Yoshihara and James Holmes are professors of strategy at the U.S. Naval War College, where Yoshihara occupies the John A. van Beuren Chair of Asia-Pacific Studies. The views voiced here are theirs alone.
==============================

 

 

Vietnam

 

By Hung Nguyen

Since the establishment of the People’s Republic of China, Vietnam-China relations have gone through roughly four major phases.
The first phase, which ran from 1949 to 1978, was characterized by ideological comradeship, mutual trust and support.  China was a steady and indispensable source of support for the Democratic Republic of Vietnam (DRV) throughout both its war against the French, then against the United States and South Vietnam.
The second phase began with Vietnam’s invasion of Cambodia in 1978 and China’s border war with Vietnam in 1979, and ended in 1990. This period featured antagonism, war and mutual distrust.
The third phase began in 1991, with the restoration of diplomatic relations between the two countries through 2007. The first few years of this period saw a rapid improvement in bilateral relations based on ‘sixteen golden words’—friendly neighbours, total cooperation, stable and long-term, future-oriented increased trade and settlement of border disputes, mostly in favour of China.  This spirit of cooperation and renewed friendship was, however, weakened toward the latter part of the period due to Vietnam’s concern over China’s rise and its aggressive behavior in the South China Sea.
The fourth phase, which began in 2008, pitched China’s increasing assertiveness against Vietnam’s efforts to preserve its sovereignty and territorial integrity in the face of the China challenge. The future of Vietnam-China relations depends on the interaction between two constants (geography and history) and two variables (China’s policy and changing big powers’ relationship).
Geographically, Vietnam is a small country living in the shadow of a huge neighbour. It’s normal for a big country to seek influence over a smaller neighbour, just as it’s normal for a small country to resist that effort to preserve its independence until they reach a mutually satisfactory accommodation. In the past, when the two countries shared the same ideological fervour and faced a common enemy—the anticommunist ‘imperialists’—relations were close and solid. The end of the Cold War, the collapse of European communism,  the ascendancy of the market economy and the force of global integration have weakened the special ideological bond between China and Vietnam and have revived the perennial problem of the big neighbour-small neighbour relationship, as well as Vietnam’s strategic mistrust of China.
In 1990, feeling threatened by the radical transformation in the communist world, Vietnam sought a communist alliance with China against the threat of a perceived Western-instigated ‘peaceful evolution.’ China accepted Vietnam’s proposal for reconciliation, but rejected its request for an alliance. Failing to secure an alliance with China, Vietnam began to take serious steps to reorient Vietnam’s foreign policy toward its neighbouring countries and the West, and worked to improve its international profile. The success of this policy has resulted in the normalization of US-Vietnam relations, deepening Vietnam’s integration into the ASEAN system, and its election as a non-permanent member of the United Nations Security Council in 2008 and as the Chair of ASEAN in 2010.
If geography and history combine to make Vietnam’s mistrust of China an underlying factor in bilateral relations, Chinas’ actions since 2008 have further reinforced this. On the one hand, China accelerated its naval build up in the South China Sea, while Chinese web sites began to publish ‘invasion plans’ against Vietnam. On the other hand, China began to warn foreign oil companies against exploring for energy in area claimed by Vietnam while allowing them to explore in area disputed by Vietnam.
More recently, in 2009, China unilaterally imposed a fishing moratorium in the South China Sea, arrested Vietnamese fishermen and made public its claim over 80 percent of the South China Sea—a claim that seriously encroached upon Vietnam’s exclusive economic zone. Vietnam reacted by encouraging Vietnamese fishing vessels to continue fishing in disputed areas, purchasing arms to beef up its defences and, despite China’s protests, multilateralizing the South China Sea dispute and seeking the cooperation of other countries.
The US has made clear it doesn’t share China’s views over its excessive territorial claim, and that it opposes  any attempt to intimidate US companies ‘engaging in legitimate economic activity’ and interference with the free navigation in the South China Sea. China’s aggressive behavior thus speeds up the process of US re-engagement in Asia, including with Vietnam.  This new US determination emboldened countries including Vietnam to stand up to China, as reflected at the Shangri-La dialogue in June 2010, the Fifth East Asian Summit and the first ADMM-Plus in Hanoi in October 2010.
At the same time, US-Vietnam military relations have improved markedly, beginning with the first political-military dialogue in 2009 and followed by the first defence policy dialogue in 2010. China’s aggressive behavior in the South China Sea brought about a convergence of strategic interests between
Vietnam and the United States and served as a driving force behind Vietnam’s rapid rapprochement with America despite its fear of  ‘peaceful evolution.’
All this said, Vietnam doesn’t want to antagonize China unnecessarily. Ideologically, it’s more comfortable with China than with the United States. Economically, China is a potential market, a source of financial assistance and a model of development. The biggest obstacle to good relations between the two countries is their conflicting claims over the South China Sea.
Vietnam has for its part declared that it won’t make further concessions to China’s excessive demands. A peaceful solution to this problem therefore depends heavily on China’s restraint and magnanimity. If it can’t respond as hoped, China will simply drive Vietnam and other countries further away—and into closer cooperation with the United States.
Hung Nguyen is an associate professor of government and international relations at George Mason University.
=================================================

 

Fisherman's death gives cause for Spratlys offensive: PLA general


·                                 Staff Reporter
 
·                                 2013-05-15
·                                  
·                                 PLA generals like Luo Yuan see the death of Hung Shih-cheng as a chance for China to press home its objectives regarding Taiwan and the South China Sea at the same time. (Photo/CNS)
PLA generals like Luo Yuan see the death of Hung Shih-cheng as a chance for China to press home its objectives regarding Taiwan and the South China Sea at the same time. (Photo/CNS)
General Luo Yuan, known as one of the most outspoken senior officers in China's People's Liberation Army, has said that the killing of Taiwanese fisherman Hung Shih-cheng by the Philippine coast guard has given China an opportunity to seize the eight islands currently held by Manila in the South China Sea, according to the Hong Kong newspaper Wen Wei Po.
"Opening fire on a Taiwanese fishing boat is not only a provocation to Taiwan, but to the entire Chinese family," said Luo. "I don't know what law the Taiwanese fishing boat violated for fishing in the overlapping exclusive economic zones instead of the Philippines' territorial waters."
Luo also said the use of lethal force against an unarmed fishing boat is a direct violation of the United Nations Convention on the Law of the Sea.
The general also questioned the account offered by the Philippine side regarding the incident, saying he believes Manila is trying to protect the officer who fired the fatal shot. Beijing will need to come to Taiwan's aid to force the Philippines to apologize, Luo said.
There are four ways China can help Taiwan seek redress, the general said. First, China, as a member of the United Nations, is able to charge the Philippine at the International Court of Justice. Second, a mechanism of cooperation between fishery associations on either side of the Taiwan Strait should be established immediately through consultation. Third, the coast guards on either side should discuss a similar mechanism to patrol disputed waters. Fourth, a mechanism to establish cross-strait military trust should be initiated.
If the Philippines continues to harass Taiwanese fishing vessels, Luo said the PLA will launch an attack to recover an island in the Spratlys held by the Philippines. The general China gained experience in dealing with the Philippines in the standoff over Scarborough Shoal last year.
Luo's suggestion is unlikely to be taken up by Taiwan's government. But President Ma Ying-jeou may find an uncomfortable ring of truth in the words of Hung Feng-lien, the daughter of the 65-year-old fisherman who died when the Philippine coast guard opened fire on Thursday. She said that it is now safer for Taiwanese fishermen to fly the colors of the PRC flag rather than the ROC when operating in or near disputed waters.
References:
Luo Yuan  羅援
Hung Shih-cheng 洪石成
Hung Feng-lien  洪鳳蓮
 NTB(HK) st