Xuân Tân Mão

Xuân Tân Mão
Đảng và Chính phủ luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng với tất cả hoạt động, việc làm của người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia (TTg NT Dũng).

21 tháng 12 2010

Chân dung một người thầy thuốc tài hoa

Bác Sĩ Trương Thìn

Đến thăm Bác Sĩ Trương Thìn để từ biệt trước khi trở lại Tokyo vào một buổi chiều đầu thu trong cơn mưa còn trĩu hạt. Anh vẫn có mặt ở Viện * như mọi khi, ngay cả Chủ Nhật, đang cắm cúi với những tấm lịch để sáng tác, vì ngoài lĩnh vực âm nhạc, Trương Thìn còn vẽ tranh, vẽ rất nhiều để “giải trí” và thực hiện ước vọng thầm kín của Anh, đó là “giúp cho bệnh nhân được thư giản, bớt ưu phiền với tật bệnh”. “Atelier” để sáng tác của Anh tràn ngập âm nhạc và tranh ảnh; ngoài những tập sách tư liệu quí về y dược học, dược thảo, về Hải Thượng Lãn Ông, tôi còn tìm thấy những sáng tác của hội họa, thi ca và cả những tượng đá đây đó, sắp xếp rất ý tứ trong sự “bề bộn” không phải ngẫu nhiên mà là của một người nghệ sĩ.
Tên tuổi của Anh được nhắc đến từ những năm còn ngồi ở Đại học Y khoa Sài Gòn thời 1960. Những người yêu mến thường gọi Anh vào thời kỳ ấy là “Trưởng tràng Y Khoa” dưới biệt danh “Hải Hà” tên của Chị, bạn đồng nghiệp và là bà ngoại của cháu anh hôm nay . Phong trào “ Hát cho Đồng bào tôi nghe” trổi lên từ năm 1969, hòa vào “Tiếng Hát Át Tiếng Bom” khi cuộc chiến đấu đang trong thời kỳ ác liệt nhất, cùng với các anh Tôn Thất Lập, Trương Quốc Khánh, Nguyễn Văn Sanh, Trịnh Công Sơn, Trần Long Ân, Nguyễn Phú Yên, Phạm Trọng Cầu, Phạm Thế Mỹ..., người ta đã thấy sự có mặt của Trương Thìn với bài hát quen thuộc “Mai có Hòa bình”, “Gặt vội lúa vàng” nổi tiếng:
Người rời đỉnh non, cây tì gốc núi
Một bước về xuôi, một bước đổi đời

Mai có hòa bình - Thơ Ngô Kha 
Dưới một chế độ cai trị bằng dùi cui và hơi ngạt, tù đày và đàn áp ở Miền Nam ngày trước không dễ gì công khai chống đối thẳng thừng và ngợi ca cách mạng:
Cơn nước phù sa đắp bồi thành lũy
Giọt máu kiên cường nuôi lúa đồng hoang
Em vẫn day công trên đường kháng chiến
Mãi có Anh cùng chí hướng bền gan
Như trên
Phong trào đấu tranh ở đô thị Miền Nam đã đóng góp tích cực vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng, dành lại độc lập dân tộc của nhân dân Việt nam, nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng đúc kết “Văn nghệ học sinh, sinh viên nhận thức như một vũ khí. Trên trang báo, sân khấu ngoài trời, các buổi cắm trại những tác giả và diễn viên không chuyên ấy đem hết tấm lòng của mình, kêu gọi chính mình và giới của mình... Họ trọn vẹn với danh hiệu chiến sĩ, sử dụng ngòi bút , nét nhạc, cây cọ, giọng hát... Cả nước đã tiếp nhận sâu tiếng nói giàu trữ tình, giàu tính chíến đấu mà đôi khi một dòng chữ trả bằng cả sinh mệnh” Một thời và mãi mãi, Tiếng Hát Những Người Đi Tới, 1993 
Khi hỏi về cái “nền” của âm hưởng “Trương Thìn”, anh thong thả nói: “Âm nhạc là ngôn ngữ của tình cảm, vì vậy tiếng nhạc đã từ trong người tuôn ra, để biến nổi đau thành hạnh phúc, thành ánh sáng, là niềm hân hoan và cũng là yên vui vô tận. .. vì mình là người Huế, cho nên dân ca xứ sở, là tình tự, giúp mình trở nên lãng mạn và bay bổng”. Từ căn phòng mà Anh thường “chôn” mình trong nghề nghiệp, âm nhạc và nghệ thuật đó, người ta có thể nghe tiếng hát văng vẳng của Trương Thìn trong Tụng Ca, Y Ca, Kiều Ca, Rong Rêu Ca... lấy từ những tư tưởng của Hải Thượng Lãn Ông, Thiền học, những câu thơ tuyệt vời của Nguyễn Du trong Truyện Kiều, của Hàn Mặc Tử, Bùi Giáng... Anh (Trương Thìn) say sưa trong dòng nhạc, hơi thở của âm thanh, thả hồn theo cung bậc “để làm thăng hoa” ý tưởng của người xưa. Khi nghe tôi “lạm bàn” về nhạc của Anh, về sự hài hòa giữa âm thanh dân tộc và nhạc cổ điển phương Tây, về nghệ thuật bắt đầu bằng cung “thứ” (mineur) và kết bằng cung “trưởng” (majeur) trong một nhịp điệu khoan thai (tentativo), tình tự (expressivo) của những bài hát sáng tác sau nầy, Anh vẫn từ tốn “những âm hưởng bên ngoài, đây đó đã thâm nhập vào mình lúc nào chẳng hay, biến thành máu thịt, đến lúc nào đó, nó lại chảy ra ào ào, ngăn chận không kịp, trở thành giòng điệu thật tự nhiên vì trong thơ đã có nhạc rồi, nhưng bao giờ mình cũng muốn kết bằng một niềm hân hoan, tràn trề hy vọng theo một cung “trưởng”. Khi từ Châu Âu, Mỹ trở lại thành phố sau chuyến đi dạy học, tháng 7/96, Anh đã phổ hơn chục bài hát, lấy ý thơ của Bùi Giáng, luồng âm hưởng Serenade của Schubert réo rắt và sâu lắng, “Hương Xưa” và “Hoài Cảm” của Cung Tiến... cũng đã “bắt” được đường nét thanh âm của Trương Thìn thật rung động và tha thiết. Cái ”sướng” của Anh rất dễ thấy, không chỉ trong lĩnh vực chuyên môn với đồng nghiệp, bệnh nhân, trong giảng dạy mà còn trong lúc Anh ngây ngất theo đuổi những nốt nhạc đang bay lượn, những nét vẽ trong âm giai thoát ra từ tài hoa và tâm hồn của một người thầy thuốc. Chắc nhiều người vẫn nhớ cách đây hơn một năm, hình ảnh “chú” Trương Thìn ngồi hát cho các cháu Thiếu Nhi nghe trong khuôn viên của Viện, “chú” Thìn cười một cách hồn nhiên và sảng khoái khi thấy các cháu tung tăng vui đùa trong “Ngày Hội Tuổi Thơ”. Ngọt ngào và dễ thương làm sao !
Hôm nay, ở Tokyo tôi vẫn còn nhớ mãi buổi chia tay ngày ấy khi Trương Thìn tiển ra tận cầu thang, kèm cuốn băng cát-sét “Trở về Quê Hương yêu dấu” do Anh sáng tác, làm quà tặng và bắt tay nhau thật chặt; Lá cây trong vườn “Bình Yên” của Viện xạc xào với gió như thoảng đâu đây những lời thơ của Tuệ Tĩnh. “Nhớ về đây ăn Tết nghe” của Anh đang làm tôi day dứt. Nhật Bản đã vào Đông, trời năm nay lạnh hẳn. Không thể dằn lòng, ngăn chận nổi bồn chồn khi mọi người chung quanh đang rộn ràng chuẩn bị đón Xuân sang.
Trong căn phòng lạnh lẽo, xa xứ, tiếng hát của Anh đang làm ấm lại, cuốn trôi...
Hồng Lê Thọ, Tokyo
tháng 12/96, Những ngày cuối năm.

(*) Viện Y Dược Học Dân Tộc Thành phố Hồ Chí Minh.
Bác Sĩ Trương Thìn là Viện trưởng. Nay đã nghĩ hưu

Đã đăng ở Tạp chí Nhớ Huế Xuân 1997, Đại Đoàn Kết Xuân 1997 (Nguyệt san)

http://www.ovsclub.com.vn/show_article.php?aid=22101&lg=vn

Tin mới nhất: BS Trương Thìn tuy bệnh rất nặng nhưng vẫn rất nghệ sĩ, anh yêu đời, yêu tranh và yêu người tưởng như chưa bao giờ !

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét