30 tháng 1 2011

Lưu Trọng Lư

18.11.2010
Nguyễn Vỹ
 Lưu Trọng Lư

Tôi không thấy một người nào có chất thi sĩ đầy đặc trong tâm hồn và trên thể xác như Lưu Trọng Lư. Mỗi lần gặp, tôi có cảm tưởng như Lư là một vong hồn vất vưởng, nay đây mai đó, như mây như gió, phiêu bạt giữa trần gian.


Một buổi sáng, tôi đến rủ Lưu Trọng Lư mặc áo quần vào. Chúng tôi đi bộ, và dọc theo đường Đồng Khánh chúng tôi thấy hình như khách qua lại đều ngó hai đứa tôi và cười khúc khích. Lư quay lại hỏi tôi:


- Tụi họ cười mi hay cười tao?


- Chắc tụi nó cười tao vì tóc tao dài quá, hai tháng nay chưa hớt. Mầy vô tiệm với tao, chờ tao hai chục phút?


Tôi hớt tóc xong, cùng Lư đi ra. Nhưng vẫn thấy bị kẻ đi đường ngó trân trân và cười khúc khích mãi. Lưu Trọng Lư lại hỏi tôi:


- Đố mi biết lần ni tụi họ cười tao hay cười mi?


Tôi ngó Lư từ đầu đến chân, rồi bảo:


- Chắc tụi nó cười mầy. Mầy mặc dư một cái quần.


Lư ngó xuống chân, mắc cỡ mặt đỏ bừng, rồi vội vàng lôi tôi lên tàu điện về nhà. Tôi cũng không ngờ rằng lúc ở nhà ra đi Lưu Trọng Lư đã mặc cái quần đen lại lơ đễnh mặc thêm chiếc quần trắng ra ngoài, quần trắng  hơi cụt nên để lòi hai ống quần đen dưới chân.


Lưu Trọng Lư bước vào làng Thơ Việt Nam, gót chân lơ đễnh, cặp mắt ngơ ngác, nụ cười xa vắng, tay cầm một cuốn truyện mỏng của anh vừa in xong, nhan đề Người Sơn Nhân. Một quyển truyện? Thật ra, không hẳn là một quyển truyện. Nhan đề Người Sơn Nhân cũng không hẳn là người Sơn nhân. Có thể gọi đó là một bài thơ cũng được, và có thể đổi nhan đề là Người thi nhân cũng được.


Lưu Trọng Lư đâu có biết Lưu Trọng Lư là thi sĩ. Lưu Trọng Lư cũng không biết Lưu Trọng Lư là Lưu Trọng Lư. Anh mở quyển truyện Người sơn nhân kể cho tôi nghe. Anh kể một câu chuyện vẩn vơ, đượm màu triết lí vơ vẩn. Dễ thương làm sao! Tôi bắt đầu mến Lưu Trọng Lư từ hôm anh kể cho tôi nghe chuyện Người sơn nhân, chuyện người Thi nhân.


Nhà trọ của Lư ở Phố Hàm Long, ở chung với Lê Tràng Kiều và Nguyễn Xuân Huy. Một căn phòng hẹp, riêng biệt, bên cạnh, là của chàng họa sĩ. Trước sân là một giàn hoa ăng-ti-gôn trắng và đỏ, thật thơ mộng. Tôi thường đến đây chơi, nhiều khi ăn ngủ luôn ở đây. Một hôm Lư cao hứng ngâm lên:


Xin rước cô em bước xuống thuyền


Thuyền tôi sắp chẩy chốn thần tiên…


Tôi hỏi Lư:


- Cô em nào đấy?


Lư kéo tôi lại giường, nằm kể cho tôi nghe một chuyện tình vẩn vơ, đượm màu triết lí vơ vẩn. Chuyện tình không có, triết lí không có, mà Lưu Trọng Lư cũng không có nốt. Tất cả đều thế giới. Lưu Trọng Lư tưởng tượng ra Lưu Trọng Lư.


Người gầy, hai má cóp. Tóc không bao giờ chải. Không biết diện, và không biết yêu. Anh có người vợ bán nước mắm Đồng Hới, nhưng không sống chung. Có lẽ tại Lưu Trọng Lư không ở gần được đàn bà. Trong thời gian biết Lư, tôi không hề thấy Lư bên cạnh một thiếu nữ, hay một thiếu phụ, đẹp hay xấu, Lưu Trọng Lư chỉ có Lưu Trọng Lư một mình.


Tôi nghe người ta thường nói: Thi sĩ là giống đa tình. Có thật thế không? Sao mà Lưu Trọng Lư không có đa tình? Hà Nội hồi đó tha thướt biết bao cô gái đẹp, thi sĩ họ Lưu sao chẳng có yêu ai? Tôi hơi ngạc nhiên. Trong Tạp chí Phổ Thông số 17 ra ngày 15-8-1959, ông Nguyễn Hữu Thứ, dự thẩm Tòa sơ thẩm Huế, có kể rõ chuyện năm 1945 Lưu Trọng Lư ở Huế có yêu và lấy một cô gái Huế đã có chồng. Chồng cô, một công chức, đưa cô ra Tòa xin li dị. Ông Nguyễn Hữu Thứ có chứng kiến phiên tòa này, Lưu Trọng Lư đi qua đi lại trước sân Tòa án, chờ kết quả. Tòa xử xong, thiếu phụ bị li dị tên là Lê Mừng, ra đi với Lưu Trọng Lư. Đây là người đàn bà thứ hai trong đời Lưu Trọng Lư. Tôi không tin rằng họ ở với nhau lâu.


Lưu Trọng Lư là một ảnh tượng lơ lửng trong thời gian. Mảnh tim của anh bay vời vợi trên khung trời xanh như con diều giấy, dính vào trần gian bằng một sợi tơ mong manh, chập chờn trong gió, vi vu trong mây.


Cho nên thơ của Lưu Trọng Lư cũng phảng phất một hơi Thu, một nắng Hè dịu mát, một khói lam chiều, một thuyền mơ phiêu dạt, một hơi tiêu man mác, một tiếng bước của con nai vàng xào xạc trên lá vàng khô…





*


Lưu Trọng Lư không thích chơi với Thế Lữ, mà lại ưa ông Phan Khôi, và các anh Lan Khai, Nguyễn Triệu Luật, Vũ Trọng Phụng, Lê Tràng Kiều. Với giọng nói trọ trẹ đặc biệt giọng Quảng Bình, và nụ cười đôi khi khinh miệt, đầy nét trào phúng, Lư ngạo Nguyễn Công Hoan là “văn chương gõ đầu trẻ”, cười bọn “thi sĩ” hay tâng hót Thế Lữ là lũ “chạy hiệu” và gặp giữa đường không bao giờ anh bắt tay họ.


Anh có kể cho tôi nghe anh gặp ông Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu một lần, ông ta đang say túy lúy. Anh không chịu được cái say của Tản Đà nhưng rất yêu thơ của Tản Đà.


Một đêm, vào cuối năm 1939, bắt đầu chiến tranh, tôi đang ngủ trên một gác trọ của một người bạn ở phố Quan Thánh. Lúc này tôi đang trốn tránh vì nghe tin mật thám Pháp muốn kiếm bắt tôi. Bỗng dưng, gần 2 giờ sáng, có tiếng gõ cửa ầm ầm. Bạn tôi ra bao lơn ngó xuống đường cái, thấy một bóng người ngồi trên xe kéo, gục đầu vào thành xe. Bạn tôi lên tiếng hỏi:


- Ai hỏi gì đấy?


Anh phu xe ngước mặt lên đáp:


- Có một ông say rượu, bạn ông muốn vào ngủ nhờ.


- Bạn tôi là ai?


Anh xe không biết tên. Người ngồi gục đầu trên xe cũng không trả lời. Bạn tôi hỏi ý kiến tôi, tôi bảo anh ấy cứ xuống mở cửa xem ai. Tôi đã đề phòng mọi bất trắc, thì một lúc lâu bạn tôi dìu lên cầu thang một xác người bèo nhèo, không cử động. Tôi đến gần xem: Lưu Trọng Lư.  


Chúng tôi đỡ Lư nằm trên bục gỗ. Người anh lạnh như đá. Chúng tôi lấy chăn đắp cho anh, lấy dầu nóng xoa khắp thân thể anh. Một lúc tôi khẽ gọi:


- Lư! Cậu làm sao thế?


Lư uể oải, cố gượng trả lời từng tiếng, với giọng Quảng Bình trọ trẹ:


- Tao ăn… thịt… chó… tao hút… thuốc phiện… nhiều quá… cho tao cái chậu… để tao nôn… tao nôn… tao nôn…


Bạn tôi lật đật ra sân sau đem một cái chậu vào. Lưu Trọng Lư cố níu lấy vai tôi để ráng ngồi dậy…


Bấy giờ tôi mới ngử thấy mùi thuốc phiện. Tôi biết Lưu Trọng Lư hút thuốc phiện nhưng tôi không ngờ anh ghiền nặng thế. Một bạn làng văn thường nằm hút với Lư ở trên gác một tiệm hút ở Chợ Hôm, cho tôi biết rằng có đêm Lưu Trọng Lư hút đến 100 điếu. Tôi không biết đúng hay không, nhưng tôi tưởng tượng 100 cuộn khói phù dung mỗi đêm thấm vào tim phổi, thảo nào Lư không mỗi ngày mỗi gầy đét đi.


Tôi đã nói Lưu Trọng Lư không có hiện hữu. Chỉ thấy cái bóng của Lưu Trọng Lư trong gió bụi mà thôi. Chàng có lẽ là hiện thân của một Lý Thái Bạch, một Đào Tiềm, lạc loài xuống đất Việt chăng?


Cho nên văn thơ của Lưu Trọng Lư không có gì là thực tế cả. Lư chỉ mượn những cảnh vật trên trần ai mà chàng thấy có đượm đôi nét u hoài của Tiên giới, để làm khung cảnh cho những giấc mơ của chàng. Ngoài ra, với Lư mọi vật đều hư vô.


*


Lần đầu tiên tôi biết Lư là do bài thơ “Qua đèo ngang” của bà Huyện Thanh Quan.


Năm 1932, một tờ báo tên là Phụ nữ Thời Đàm mới mở ở đường Sông Tô Lịch. Tôi hãy còn là sinh viên, viết gởi đến báo ấy một bài phê bình Văn nghệ, phủ nhận hoàn toàn giá trị bài thơ “Qua đèo ngang”. Hôm sau, một người lạ, hình dáng ốm teo và nét mặt xương xương, tóc không chải, đến gác trọ tôi, đưa cho tôi xem bài báo đã đăng, và hỏi có phải tôi là tác giả bài báo đó không? Tôi xác nhận. Chàng xưng tên là Lưu Trọng Lư, phụ bút, đến biếu tôi tờ báo và ngỏ ý hoàn toàn tán thành những nhận xét của tôi về giá trị của bài thơ, Lưu Trọng Lư cười “như con nắc nẻ”(1) -Câu Lư thường dùng- nói giọng Quảng Bình:


- Bài thơ dở như cứt thế này mà Dương Quảng Hàm nó khen! Thật là lọ!


Nhưng rồi chúng tôi ít gặp nhau. Tôi còn học thi, thỉnh thoảng viết văn, viết báo chơi cho vui thôi, và chưa quen với các nhà Văn.


1934, Lưu Trọng Lư đã nổi tiếng. Tiểu thuyết thứ bảy đăng thường xuyên thơ và truyện dài, truyện ngắn của Lưu Trọng Lư. Nhân vụ “Tập Thơ Đầu” của tôi ra đời, do Lưu Trọng Lư giới thiệu in ở nhà in “Tân Dân”, tôi mới rủ Trương Tửu, giáo viên trường Tiểu Học Tư thục “Thanh Niên”, (lúc bấy giờ Tửu chưa viết văn), đến thăm Lưu Trọng Lư tại một ngôi chùa ở Trại Hàng Hoa.


Vừa đến, chúng tôi thấy vợ chồng ông Vũ Đình Long, chủ nhiệm Tiểu thuyết thứ bảy và chủ nhà in Tân Dân, đi xe hơi nhà đến thăm Lư và biếu Thi sĩ hai hộp trái vải “conserve”.


Lưu Trọng Lư đang đánh cờ tướng với một ông Sư tại sân chùa, mê cờ đến nỗi không đứng dậy tiếp vợ chồng ông Chủ nhiệm.


Vũ Đình Long không muốn quấy rầy nhà thơ, mở bóp lấy tấm danh thiếp, viết mấy chữ “Kính biếu Lưu Trọng Lư Tiên sinh”, rồi hai vợ chồng rón rén trở ra xe.


Trương Tửu và tôi ngồi xem đánh cờ. Lưu Trọng Lư không biết Trương Tửu, tôi giới thiệu. Lư cười, gọi một chú tiểu trong Chùa:


- Mang cây đờn nguyệt ra đây, chú Huy, cho có đủ cầm, kỳ, thi tửu!


*


1940, Tôi bị bắt vào nhà lao Mật thám Hà Nội, thì Lưu Trọng Lư và Khái Hưng cũng đã bị bắt trước tôi. Khái Hưng bị đưa đi an trí tại Vũ Bản.


Khái Hưng bị bắt thì tôi có thể tin được, vì anh ấy đã lập ra Đảng Dân Chính, một đảng thân Nhật. Còn Lưu Trọng Lư? Nghe nói Lưu Trọng Lư được đưa về Huế, và sống tự do ở đây.


Năm 1947, một cô bạn gái tên là Thu, ngẫu nhiên gặp tôi ở Sài Gòn. Trước cô làm giáo viên tại Đồng Hới và có quen thân với Lưu Trọng Lư, và Võ Nguyên Giáp. Cô kể cho tôi nghe những ngày đau khổ của Thi sĩ họ Lưu ở Huế vào khoảng 1943-1944.


Theo cô bạn ấy thuật lại, thì Lưu Trọng Lư ở trong một túp nhà lá lụp xụp ở ngoại ô Huế. Tình cảnh của anh đói rách thật đáng thương. Mấy người bạn nào đó có cho anh một ít áo quần và tiền bạc. Nhưng anh bị đau ốm liên miên, chính cô bạn ấy phải lo săn sóc giùm. Nhưng sự giúp đỡ của người ta có hạn, dần dần Lưu Trọng Lư bị bỏ nằm chèo queo trong cảnh bần hàn bịnh hoạn. Anh không có con? (ở Hà Nội tôi không thấy có). Còn chị vợ buôn nước mắm, không nghe ai nhắc đến.


Thời kỳ Việt Minh lên nắm chính quyền, cũng theo lời cô bạn thuật lại, Lưu Trọng Lư làm cán bộ Công an đi bắt thuốc phiện lậu ở Huế! Nếu thật đúng như vậy thì đáng tức cười quá!


1949, tôi có đọc mấy bài thơ kí tên Lưu Trọng Lư trong vài tờ báo xuất bản trong chiến khu Miền Trung, tôi không tin của Lư. Mãi về sau này, tôi lại được đọc một bài thơ của anh trong một tập sách của một cơ quan Văn hóa Việt Cộng, xuất bản tại Hà Nội. Tôi không ngạc nhiên nữa nhưng hết sức buồn.


Trong bài thơ ấy, Thi sĩ mơ mộng của Mùa Thu dịu lành lại ca ngợi sự chém giết và say sưa hô hào máu, máu, máu.


Ngòi bút của anh trước kia chép vần thơ Tiên trong mây trong gió, bây giờ lại chấm vào máu viết trên đầu lâu, sọ dừa!


Than ôi! Thế cuộc đảo điên! Cho đến nỗi Lưu Trọng Lư hiền lành thân quen của tôi cũng không còn gì là Lưu Trọng Lư nữa.


Thơ Lưu Trọng Lư


Lư thích làm thơ hơn là viết truyện. Lúc viết một tiểu thuyết, Lư không hăng say như Lan Khai, không chăm chú như Vũ Trọng Phụng, không cặm cụi như Nguyễn Tuân.


Những truyện dài, truyện ngắn của Lư đều giống như những bài thơ gượng ép, phải kéo dài thành nhiều chương, phải bố trí các bối cảnh, tạo ra các nhân vật, phải sắp xếp các hành động, và tất cả các nhân vật, bối cảnh, hành động đều thêu dệt bằng thơ mộng. Nếu tiểu thuyết của Lưu Trọng Lư hấp dẫn một phần nào chính là vì mầu sắc thơ mộng bề ngoài của nó hơn là vì những tình tiết, bố cục ở nội dung.


Lưu Trọng Lư lười biếng viết Tiểu thuyết, tự bắt buộc viết để có tiền, phải viết truyện mới có tiền ăn tiêu hằng tháng. Chứ tiểu thuyết không phải là sở thích của Lưu Trọng Lư.


Chơi với Lư lâu ngày tôi biết, nếu Lư giàu có, hoặc vợ có vốn liếng buôn bán khá giả có thể lo đầy đủ cho đời sống phong lưu của anh, thì Lư không thèm viết tiểu thuyết đâu. Lư chỉ làm thơ, và lúc nào hứng mới làm. Không phải như Lan Khai, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân chẳng hạn, viết tiểu thuyết vì sở trường, vì thích thú, chứ không hẳn riêng vì sinh kế.


Lưu Trọng Lư thuộc về hạng Thi sĩ bẩm sinh, một giống người đặc biệt sống bằng mơ mộng hơn là thực tế, nhiều khi quên cả thực tế.


Cho lên Lư khổ tâm lắm, và ghét lắm, mỗi khi phải viết bài đưa cho tòa soạn”. Và luôn luôn ông Chủ nhiệm Vũ Đình Long, Tiểu thuyết thứ bảy, hay ông Chủ nhiệm Lê Cường, Tiểu thuyết thứ năm, chỉ giục thi sĩ viết tiểu thuyết chứ không bao giờ giục thi sĩ làm thơ đâu! Thơ là món hàng trang trí, không bắt buộc, và không có tiền “nhuận bút”. Ông Chủ nhiệm cũng ít khi hăng hái bỏ tiền ra xuất bản một tập thơ của thi sĩ.


Thơ của Lưu Trọng Lư đăng rải rác trên các tuần báo, các tạp chí văn nghệ khá nhiều từ 1932, mãi đến 1939 mới được nhà sách Tô Văn Đức, ở phố Cầu Gỗ, xuất bản, dưới nhan đề Tiếng Thu.


Hôm Lư đem cho tôi một bản đặc biệt, anh nói riêng cho tôi biết rằng Tô Văn Đức xuất bản tập thơ này là để trừ những món nợ lặt vặt mà Lư đã hỏi mượn trước, chứ Lư không nhận được tiền “bản quyền” bao nhiêu.


*


Có một lần ở tại nhà trọ của Lư phố Hàm Long tôi cười hỏi Lưu Trọng Lư:


- Lư ơi, bài thơ Tiếng Thu có phải thật của cậu không?


Có Nguyễn Xuân Huy ngồi đấy, Lư “cười như nắc nẻ”:


- Thằng này mơ mộng thật! Mi tưởng bài đó của Thế Lữ à?


- Thế Lữ làm gì nổi một bài thơ như thế. Nhưng tao có đọc một bài thơ của một thi sĩ Nhật Bản, giống hệt bài thơ của mày, và bài thơ Nhật cũng tựa đề là Tiếng Thu.


Lưu Trọng Lư ngó Xuân Huy:


- Huy, mầy thấy thằng Vỹ nó điên không?


Huy bảo tôi:


- Bài thơ Nhật như thế nào?


- Mày muốn chép, tao đọc cho chép. Đây là một bài Tanka nổi tiếng:


Oku yama ni


Momoji fumi wake


Naku shika no


Koe kiku toki zo


Aki wa kanashiki


Tác giả là Sarumaru, thế kỉ VIII.


Bài thơ này, Michel Revon có dịch ra Pháp văn trong quyển “Anthologie des poètes japonais” – (Ed. Hachette):


Combien triste est l’automne


Quand j’entends la voix


Du cerf qui brame


En foulant et dispersant les feuuilles des érables


Dans les profondeurs de la Montagne.


- Karl Petit, trong quyển “La poésie japonaise (Ed. Seghers) lại dịch  đảo ngược lại, nhưng đúng theo nguyên văn bài thơ Nhật:


Aux profondeurs de la Montagne


Ecartant et foulant les feuilles d’érable


Le cerf brame


Et à l’entendre ainsi,


Ah! que l’automne m’est lourdement triste!


Dịch đúng nghĩa ra Việt văn:


Trong núi rừng sâu


Ta nghe tiếng xào xạc


Con nai vàng ngơ ngác


Đạp trên lá vàng khô


Ôi buồn làm sao!


Bài Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư!




Em không nghe mùa thu


Lá thu kêu xào xạc


Con nai vàng ngơ ngác


Đạp trên lá vàng khô.


Lưu Trọng Lư cãi liền:


- Bài của tao còn đọan trên:




Hình ảnh kẻ chinh phu


Trong lòng người cô phụ.


Tôi cười:


- Cậu làm bài thơ này hồi năm nào?


- Mới đây.


- Mới đây, và mấy năm nay trong nước mình làm gì có chiến tranh, có “kẻ chinh phu” có “người cô phụ”? Tôi cho rằng cậu ghép thêm ba bốn câu đó vào bài thơ của Saramaru để tương đối đôi chút, nhưng cậu lấy trọn vẹn bản chính của Saramaru.


Lưu Trọng Lư không cãi nữa, nhưng Nguyễn Xuân Huy cười:


- Kết luận: les grands esprits se rencontrent!(1) (1) Những trí óc vĩ đại thường gặp nhau!


Lưu Trọng Lư cũng biết rằng Lư nổi tiếng là nhờ bài này, nên anh lấy tựa đề bài thơ Tiếng Thu làm nhan đề cho quyển thơ của anh.


Nhân vụ này, tôi cũng cho Lưu Trọng Lư và Nguyễn Xuân Huy biết là câu thơ:


Yêu là chết trong lòng một tí


Của Xuân Diệu, là lấy nguyên vẹn câu của nhà văn Pháp Roland Dorgelès đề trên trang đầu quyển phóng sự hồi kí “Sur la route mandarine”:


Partir c’est mourir un peu


(đi, là chết trong lòng một tí).


Chỉ đổi động từ Partir thành Yêu mà thôi.


Cũng như tất cả những truyện ngắn của Đoàn Phú Tứ trong tập truyện “Những bức thư tình, đều dịch ra từ các truyện của các nhà văn Pháp: Jules Renard, Courteline, P. Benoit, Secha Guitry.


Đoàn Phú Tứ dịch hẳn ra Việt văn, chứ không phải phóng tác, hay “phỏng dịch”, mà anh ta lờ luôn “xuất xứ”, tự đề tên tác giả là Đoàn Phú Tứ?  


Cũng hôm ấy, Nguyễn Xuân Huy và Lưu Trọng Lư bảo tôi viết một bài trong Hà Nội Báo, phê bình tập truyện của Đoàn Phú Tứ, với câu kết luận là “trả lại César cái gì của César”. Bài đó có đăng hai trang Hà Nội Báo của Lê Tràng Kiều.


(còn tiếp)


Nguồn: Văn thi sĩ tiền chiến. “Chứng dẫn một thời đại” của Nguyễn Vỹ. NXB Văn học, 2007.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét