30 tháng 1 2011

Thế Lữ

15.12.2010
Nguyễn Vỹ
 Thế Lữ


Tôi không quen biết Thế Lữ, không gặp chàng lần nào, mãi đến hôm chàng đến thăm thôi, với một máy hình xách tay.

Một thời gian trước đó khá lâu, Thế Lữ đã viết hai bài trong báo Phong Hóa, kích bác tôi hết sức tàn nhẫn. Trong tuần báo Đông Phương của Lan Khai, tôi có đáp lại về quan điểm Thơ, còn những lời Thế Lữ mạt sát, thì tôi gác ra một bên, không đề cập. Tôi không muốn gây với Thế Lữ một cuộc bút chiến, vì trong các bài đả kích tôi Thế Lữ có chủ tâm rõ rệt là “đập cho chết không cho ngóc đầu dậy được nữa”, chứ không cố tình trao đổi quan điểm văn chương.


Vi Huyền Đắc, một nhà soạn kịch ở Hải Phòng, hiện nay ở Sài Gòn, và quen thân với Thế Lữ, có kể chuyện cho tôi nghe rằng m

iết lí xã hội, hay lí tưởng văn học, thật chẳng ích lợi gì.


*


Tôi vẫn chưa hiểu với mục đích gì bữa trưa hôm ấy Thế Lữ đến thăm tôi.


Bấy giờ gần 3 giờ, một buổi chiều Chủ nhật nắng gắt. Tôi ở một mình trên gác trọ một nhà buôn nước mắm ở Khâm Thiên gần Ô Chợ Dừa. Cửa phòng tôi vẫn mở toang ra, nắng và gió lùa vào ngập cả căn phòng quạnh quẽ. Tôi đang ở trần, ngồi xem sách.


Bỗng một chàng từ dưới cầu thang bước lên, tiến vô cửa. Đi với chàng có một cậu, trán dồ. Chàng là ai, tôi chưa quen: mặt lưỡi cày, màu da bềnh bệch, vai hơi gù, người gầy, không cao không thấp, đôi mắt ranh mãnh. Tôi thấy khách lạ, vội vàng chạy vào sau màn, bức màn ngăn phòng khách và bàn viết của tôi, mặc áo ra tiếp. Chưa kịp hỏi, chàng đã cười, tự giới thiệu:


- Thế Lữ.


Tôi mỉm cười, đưa tay bắt tay chàng:


- Hân hạnh.


Chàng quay lại giới thiệu chú trán dồ:


- Anh Vũ Đình Liên, Cao đẳng Luật.


Tôi mời khách ngồi.


Câu chuyện hàn huyên về gia đình, đời sống, rồi nói chuyện văn nghệ, kéo dài độ một tiếng đồng hồ. Thế Lữ cho tôi biết anh là cựu học sinh trường Bách Nghệ Hải Phòng (như trường Kĩ Thuật Cao Thắng ở Sài Gòn hiện giờ). Tên anh là Nguyễn Thứ Lễ, nói lái thành ra Thế Lữ. Chữ “Lễ” là Lê ngã, thành ra “Lê Ta”. Trước, anh có đăng thơ rải rác trên vài tờ báo nhưng ít ai để ý. Anh nổi tiếng nhờ báo Phong Hóa “lancer”, do một bài của Nhất Linh giới thiệu. Lúc gặp Thế Lữ, tôi mới 23 hay 24 tuổi gì đó. Thế Lữ lớn hơn tôi 4, 5 tuổi, theo lời anh nói.


Ngồi ghế đối diện với tôi, chính là kẻ đã nói xấu tôi va chửi thơ tôi tơi bời trên báo Phong Hóa, nhưng tôi muốn quên chuyện khó chịu đã qua, để tiếp một người khách có nhã ý đến gặp mình và hôm nay nói với mình toàn những lời vui vẻ, bông đùa, lịch sự. Thế Lữ không ngần ngại khen vài ba bài thơ của tôi vừa đăng trên hai tờ báo Văn Học tạp chí và Phụ Nữ…


Tôi cảm kích đáp lại:


- Cảm ơn anh quá khen. Tôi làm thơ giải trí, đâu hay bằng thơ anh được.


- Thơ Pháp văn của anh, các bạn tôi và tôi cũng công nhận có mấy bài hay.


- Tôi chỉ làm bậy bạ chơi chớ người mình làm sao làm thơ Tây! Vả lại dạo này tôi hết làm thơ Tây rồi.


Trương Tửu tới. Cậu cũng tình cờ lần đầu tiên gặp Thế Lữ. Tôi vừa giới thiệu xong, mặt Trương Tửu bỗng đỏ bừng lên như người vừa uống một hũ rượu. Nhưng chàng cũng ngồi ghế, vui vẻ chuyện trò.


Không được một tách trà đãi khách, Trương Tửu khát nước, ra chum đựng nước mưa ngoài sân, múc vào một bình đầy, rót ra bốn tách, ai nấy uống ngon lành.


Tôi không đá động đến hai bài của Thế Lữ chửi tôi trên Báo Phong Hóa. Nhưng Trương Tửu cười khàn khàn, với giọng hơi khiêu khích, bảo Thế Lữ rằng tên tôi không phải Vĩ là đuôi, mà Vĩ có bộ nhân đứng một bên, có nghĩa khác. Phong Hóa xuyên tạc cả cái tên của người để mà cười thi có ý nghĩa gì?


Thế Lữ bào chữa:


- Trong Phong Hóa vẽ khôi hài cũng như chế giễu để đùa chơi cho vui thế thôi, không có ác ý. Đối với nhân vật nào cũng thế. Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Khắc Hiếu, Nguyễn Tiến Lãng, Cụ Nguyễn Văn Tố, cũng bị Phong Hóa chế nhạo, các ông ấy có giận chúng tôi đâu.


Trước khi ra về, Thế Lữ tỏ ý muốn chụp vài tấm hình Trương Tửu và tôi để dán album của chàng, nhưng Vũ Đình Liên xem máy ảnh thấy hết phim.


Tuần lễ sau, nhân buổi sáng đến nhà trọ của Lưu Trọng Lư chơi, ở một ngôi Chùa trên trại Hàng Hoa, lúc về, Tửu rủ tôi ghé thăm Thế Lữ, để trả lễ xã giao. Tôi đồng ý. Vì không có đồng hồ và đi chơi lang thang không biết giờ khắc gì cả, nên hai đứa tôi đến nhà Thế Lữ, thấy cả nhà đang ngủ trưa. Có lẽ đã một giờ, hay một giờ rưỡi. Chúng tôi cũng quên rằng chúng tôi chưa ăn cơm trưa. Theo lời Thế Lữ đã chỉ nhà, ở gần Sở Thú, nơi góc đường Sơn Tây, ngó qua Kho Đạn của Nhà Binh. Thế Lữ ở trên gác. Hai đứa tôi leo cầu thang vừa lên đến gác, ngó phía tay phải, thấy ba bốn chàng nằm dài trên bục gỗ, ngủ ngáy khó khò. Tôi biết mặt trong đám có một cậu học trường Cao đẳng Luật Khoa, tên là Vũ Đình Liên, trước đó là bạn học Anh ngữ, cùng lớp với tôi, ở nhà một bà người Anh, Bà Guezennei.


Thế Lữ nằm lim lim trên bục, nghe tiếng giày Tây cồm cộp của tụi tui (Trương Tửu đi mạnh lắm), anh ngồi dậy, vồn vã ra đón tiếp. Salon kê nơi góc phòng, ngay chỗ cầu thang bước lên. Nhưng bây giờ mình đến chơi giữa giấc ngủ trưa của người ta, bất tiện quá, tụi tôi nói chuyện qua loa rồi cáo từ. Thế Lữ cố giữ lại, để lấy máy hình chụp chúng tôi ba tấm, và chụp riêng cho tôi một tấm.


Tấm hình này, Thế Lữ có gởi biếu tôi một, chính là tấm hình mang kính đen, mà Hoài Thanh in trong quyển Thi nhân Việt Nam. Tôi ngạc nhiên khi thấy bức ảnh đó trong sách của Hoài Thanh.


Có điều mâu thuẫn buồn cười, là trong sách, ông Hoài Thanh chê tôi “y phục lố lăng” mà chính tấm hình in trong sách ông thì đầu mới hớt tóc, chải Brilantine láng bóng, áo quần bằng nỉ serge màu nước biển (do một ông bạn ở Khâm Thiên may cho) và cravate mới, không có gì lố lăng.


Không hiểu sao Hoài Thanh thấy “lố lăng”? Trong tấm hình đó, tôi mang kính đen, vì hôm đi với Trương Tửu ghé nhà Thế Lữ, trời nắng chói chang, chúng tôi đứa nào cũng có mang kính đen.


*


Thế Lữ và tôi gặp nhau lần ấy là lần thứ hai và cũng là lần chót.


Phong Hóa không viết bài mạt sát tôi nữa, tuy thỉnh thoảng vài trang, vài số đặc biệt Xuân, báo ấy vẫn vẽ tôi, bằng nét hài hước để độc giả Phong Hóa cười chơi.


Đến khi tôi xuất bản quyển sách Pháp văn “Grandeurs et Servitudes…” (1937), các báo Việt và Pháp ở Hà Nội đều có lời giới thiệu rất tử tế, riêng trên báo Phong Hóa tuyệt nhiên không có một dòng giới thiệu.


Tôi có gởi hai quyển tặng riêng Thế Lữ và Khái Hưng để tỏ lòng cám ơn Thế Lữ và Khái Hưng đã đề tặng tôi các quyển thơ và tiểu thuyết của hai ông. Nhưng Thế Lữ không hề có một lời, một chữ, dù là giới thiệu qua loa sách tôi trên báo Phong Hóa. Chỉ có Khái Hưng viết thơ riêng cảm ơn và khen tặng.


Ngồi ăn chả cá với tôi ở Phố Hàng Cân, Trương Tửu đỏ mặt, nốc hai li rượu đế, rồi hét lên như Trương Phi:


- Bọn “Văn Phiệt” ấy thật là tồi!





Bài phê bình của Lê-Ta (1)


Lê Ta là bút hiệu của Thế Lữ, mà trong bài thơ này Thế Lữ không dám công khai nhìn nhận.


(Bài này, nhiều người nói đến lắm, nhưng ít ai được đọc vì đã lâu quá. Nay tôi xin rút nguyên văn trong Phong Hóa số 127 ngày 7.12.1934).


“Nhà thi sĩ Nguyễn Vỹ, tác giả Tập thơ đầu là một nhà thơ có nhiều tài, nhiều tình cảm, mà lòng tự ái lại nhiều hơn. Cho nên, khi ông ra mắt quốc dân, mắt đầy lệ, cây bút cầm tay, ông không muốn ai khinh ông cả. Ấy thế mà Nhất Linh lại bảo Tập thơ đầu của người tên là “đuôi” kia không có ruột!


Muốn khỏi mất lòng thi sĩ, tôi phải nói chữa hộ Nhất Linh, thơ ông Nguyễn Vỹ có ruột đấy chứ, chả tin cứ giở quyển sách của ông ra mà xem. Chỉ tiếc cái ruột ấy đặc quá, mà khốn một nỗi là người ta lại không biết nó đựng những gì.


Về phần thơ Pháp thì tôi thấy Nàng Thơ của ông là một chị chàng sướt mướt, ẻo lả, khóc khóc, mếu mếu như con mẹ điên, mà lại nói ngọng nữa. Bởi thế khi nàng ấy ca, người Nam không ai chịu được, còn người Tây thì… tôi khuyên cả nàng lẫn ông đừng có cho họ nghe.


Đến phần thơ ta, nàng thơ của ông Vỹ khi nói tiếng ta thì ngô nghê, ngơ ngẩn, mà lải nhải nhiều lời… chẳng khác gì một cô “đầm” lắp bắp nói tiếng dân bản xứ:


Các người đã biết cái hôn yêu đầu tiên chưa?


Cái hôn dịu dàng vô hạn, mà nơi vắng vẻ,


Cặp môi âu yếm hãy còn rụt rè e lệ,


In lên trên mắt các người?


(Những đêm trằn trọc).


Tôi chưa thấy vị thánh thần nào to lớn như ngài!


Ngài ngồi giữa gian chùa chật, cao nghiêm, chễm chệ trên ngai!


Trong cung vắng mờ tối ấy, không ẩn mình một con muỗi!


Da thịt ngài đều bằng đồng, Ngài trạc năm sáu mươi tuổi.




Mũi ngài lớn, miệng ngài to, đầu bóng nhoáng và đen mun,


Răng đỏ san sát dưới nửa làn môi, thêm vẻ hãi hùng.


(Đức Thánh Đồng Đen)


Cả một vần thơ của ông Nguyễn Vỹ đều một giọng như thế hết. Không biết nhà thi sĩ của tôi định chế ai? Nếu đem chắp những tiếng kì quặc như thế mà thành nhà thơ được, từ năm xưa tôi cũng là “thi sĩ” đứt đi rồi. Vì năm xưa tôi ngứa làm thơ cũng có bài thơ nghe tương tự như thế. Bài thơ ấy đây này:


Cái đồng hồ


Một tháng về trước, tôi có một cái đồng hồ


Cái đồng hồ ấy là của người anh mua cho


Tôi xem ra nó là vật tốt lắm,


Và nó cũng không nhanh, và nó cũng không chậm.


Nhưng tôi không dám đem xuất bản, và khi đọc nó cho người bạn nghe, thì anh ta bò ra cười, rồi ghé tai tôi nói thầm, bảo tôi rằng: “Anh nên tìm chỗ nào rất kín mà chôn nó đi, không thiên hạ  hóa điên mất”.


*


Phong Hóa số 129


Ngày 28.12.1934, Lê Ta chế giễu:


“Ông Nguyễn Vỹ là một nhà học rộng. Bàn về thi ca, ông đã cho chúng ta biết nhiều điều mới lạ. Ông hiểu rõ được hết các âm điệu thơ, khuôn phép thơ, mĩ thuật của thơ, tuy ông không hiểu thơ là cái gì, và tuy ông thấy mình là thi sĩ.


Ông lại khéo nói nữa. Khéo nói lắm, khéo nói quá! Ông bênh vực ông một cách rất có duyên, rất chu đáo, mà không phản đối ông lại còn chu đáo gấp đôi, Tập thơ đầu của ông là một tập thơ có khuynh hướng cải cách bằng lối riêng của ông. Ông bỏ cái gông cùm biền ngẫu với phép hạn chế phá, thừa, trạng, luận, kết, của bài thơ Tàu, để mang cái gông cùm mới của luật thơ Tây.


Thơ của ông Nguyễn Vỹ thiếu cái gì kia, chứ “chân thơ” (pieds) thì đủ lắm. Xin đọc ít câu sau này:


Những cặp môi xinh đẹp, mà ta thấy thoáng qua


Ban ngày, lúc ta thủng thỉnh đi trên đường phố,


Bây giờ một mình ta trằn trọc trong đêm tối,


Lại hiện ra, yêu kiều, duyên dáng, trước mắt ra…


(Lối thơ mười chân)




Hai bàn chân linh thiêng ấy! Những ngày rằm và ngày hội,


Tôi được nhìn rất cảm động, những trẻ mồ côi vô tội,


Những bà già, và những cô thiếu nữ xinh đẹp ngây thơ


Hôn hít hai bàn chân Thạch, hoặc lấy tay vuốt ve sờ,


Hay với chiếc khăn mùi soa, vạt áo, miếng nhung, miếng vóc,


Mà họ áp hôn vào môi hoặc họ xoa lên đầu tóc




(Lối thơ 12 chân)


Soi đến kính hiển vi cũng không thiếu một chân nào. Thơ ông quả thật không phải thơ quê. Nhưng quả thật là ngô nghê.


Đeo so sánh thơ ông Vỹ với bài thơ Đồng Hồ của tôi ông không bằng lòng là phải, vì nó không đủ chân.


Tôi lấy hết can đảm để đọc đi đọc lại, lúc thì lẩm nhẩm, lúc thì cất giọng ngâm nga, mà buồn thay cho tôi, tôi nghe nó vẫn làm sao ấy. Nhưng đối với tác giả thì nhiều thi vị lắm. Nó có một thú thi vị ngầm, cũng như người đàn bà xấu số ở trong phong dao có duyên thầm được chồng yêu quí:


Lỗ mũi em tám gánh lông


Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho.


Đêm nằm thì ngáy o o…


Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà.


Đi chợ thì hay ăn quà


Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm.


Ông Vỹ có quyền yêu thơ của ông lắm.


Am hiểu âm luật, biết nói đến những chữ trật tự, qui tắc, biết chế sự hỗn độn, hồ đồ, tại biết ghét những cái ngớ ngẩn, ngây ngô, mà viết ra những thơ như trên kia thì viết làm gì.


Tôi là người bạn ham đọc thơ, mà chỉ mong đợi được đọc thơ hay. Không hay lắm thì vừa vừa cũng được. Lúc trông thấy tập sách xinh xinh, bìa in sạch sẽ của ông Vỹ tôi có bụng mừng rằng sẽ được hoan nghênh một tác phẩm có giá trị. Vì xin thú thực, ngòi bút bông đùa của tôi cũng đã chán ngấy sự châm chích những văn chương không ra gì rồi. Có phải lỗi ở tôi đâu.


Ông bảo tôi có ý mạt sát ông. Ông lại bảo Thế Lữ muốn dìm ông. Tôi cũng như Thế Lữ, không bao giờ mạt sát riêng ai. Giá người ta cứ làm văn hay đi. Thơ văn người ta viết không lúng túng ở trong cái thể văn chật hẹp, buồn cười, thì tôi là người đầu tiên hết lòng ca tụng. Còn như ý muốn dìm ông, trời ơi! Đời nào chúng tôi lại đang tâm thế. Vả lại còn dìm ông thế nào được nữa. Văn thơ kia chưa đủ nói xấu ông rồi ư?”


Lê Ta


Hai bài trích trên đây được đăng trên báo Phong Hóa liên tiếp hai kì. Mục đích, như chính Thế Lữ đã nói với Vi Huyền Đắc, là “đánh cho chết Nguyễn Vỹ”.


Nhưng Thế Lữ không ngờ phản ứng của hai bài đó rất mạnh trong giới văn nghệ Hà Thành và giới Sinh viên Cao đẳng. Dư luận xôn xao, chờ bài trả lời của tôi. Tôi viết trong tuần báo Đông Phương của Lan Khai một “lời phi lộ”, trong đó tôi chỉ trình bày quan điểm của tôi về Thơ, - ngoài ra không đá động tới những lời kích bác và mạt sát của Thế Lữ. Đồng thời, trong l’Annam Nouveau của Nguyễn Văn Vĩnh, trong Văn học Tạp chí 1935 của Dương Tụ Quán, Hà Nội báo của Lê Tràng Kiều, cũng có những bài đả kích lại luận điệu “phê bình” của Thế Lữ. Sau đó, Thế Lữ im luôn.


Tôi xin trích một bài của Lê Trang Kiều trả lời Thế Lữ, trong Hà Nội báo.





Bài của Lê Tràng Kiều đáp lại Thế Lữ


Kể bây giờ mà nói đến Nguyễn Vỹ đã là chậm lắm rồi, người ta nói đến Nguyễn Vỹ nhiều lắm, nhiều quá…


Chỉ một cái được người ta nói tới nhiều, cũng đủ vinh dự cho nhà thi sĩ, vì vô duyên nhất, đau đớn nhất cho kẻ hao tổn không biết bao nhiêu tâm trí, biết bao ngày giờ để làm nên một bài thơ, in nên một cuốn sách mà không ai nói tới. Đã đành rằng những lời nói tới đó chẳng đẹp lòng ông Nguyễn Vỹ, nhưng… “Người ta công kích ta, chỉ chứng rằng ta sống”.


Thơ ông Nguyễn Vỹ đã là một cái đần để cho người ta viết, một câu chuyện cho người ta bàn, thơ Nguyễn Vỹ đã sống một cách đầy đủ ở trên mặt các tờ báo…


Quyển Tập thơ đầu, mới ló đầu ra đã bị ông Lê Ta ở Báo Phong Hóa, công kích một cách tàn tệ… Cũng lại chỉ vì ông Lê Ta Thế Lữ cũng làm thơ mà ông Nguyễn Vỹ cũng làm thơ đó thôi! Chứ công kích như cái kiểu ông Lê Ta, trong cái thời kì văn học đang phôi thai này, có nhà văn nào, có tác phẩm nào là không đáng công kích? Cứ theo cái phương pháp phê bình của ông Lê Ta Thế Lữ, thì ông Thái Can, ông Lưu Trọng Lư, ông Huy Thông, cả ông Thế Lữ, trong những văn thơ của các ông ấy, ta cũng thấy nhan nhản những điều đáng công kích, nếu người ta muốn công kích. Phê bình mà chỉ tìm một vài cái kém, cái dở chưa hẳn là phê bình. Một nhà phê bình có tiếng đã nói: “Cố yêu để mà hiểu lấy tác giả…” Vì lẽ rằng không có cái gì hoàn toàn ở đời này ta hãy tìm lấy trong cái thiếu kém một viên gạch, một miếng vôi để mà góp vào sự xây đắp cái tòa lầu Nghệ thuật, cái tòa lầu ấy không thể do độc một người mà xây nổi, vì nó phải dầu dãi nhiều mưa gió, chịu sự vùi dập bao thế kỉ. Cái tòa lầu ấy phải là công xây dựng của quá khứ, của hiện tại, của tương lai.


Ông Nguyễn Vỹ đưa lại cho sự xây đắp ấy, một mảnh vôi nhỏ, cũng đã là nhiều lắm rồi.


Thật là không biết người biết của vậy! Giá như tôi đưa cả quyển Mấy vần thơ của ông Thế Lữ, tôi bỏ ra ngoài vài ba bài thơ “được”, rồi tôi lại cứ đưa những bài “lủng ca lủng củng” đầy dẫy ở trong sách ra mà bắt, mà bẻ (điều ấy khó mà làm được), thì chừng ấy, ông Thế Lữ còn gì mà lên mặt “thi sĩ” với đời?


*


Ai đã thấy Nguyễn Vỹ một lần rồi, đã có gặp ông ấy một lần nào ở trong cái nhà ấy, thì sẽ không ngạc nhiên chút nào, khi thấy văn thơ của ông ấy nhiễm đầy một vẻ buồn não nùng! Cái cuộc đời buồn thảm của ông đi qua, để lại trên cái mặt ông cũng như ở trong văn thơ của ông, những vết sầu, những nếp răn đã đánh dấu hiệu cho ông ở trong đám người chen chúc ở chợ trần, đám người mà ông mang một lòng khinh thị không bờ bến…


Cứ mỗi hôm, lối 9, 10 giờ đi qua xóm Khâm Thiên, vừa khỏi những phố cô đầu rực rỡ ánh điện, và lộng lẫy những cô tiên, gần đến Ô Chợ Dừa, ta ngẩng lên sẽ thấy một cái gác nhỏ… mù mờ dưới một ngọn đèn liu hiu. Trong cái gác ấy có một bóng đen đi đi lại lại, cầm một cái que gõ vào tường như muốn làm nẩy ở trong cái vật vô tri, một cái tư tưởng linh động, mấy câu thơ, một cái linh hồn.


Cái bóng ấy là cái bóng của một thi sĩ.


Cái que ấy là cái quản bút thân yêu của thi sĩ.


Cái gác nửa sáng nửa tối ấy là cái tâm hồn của thi sĩ.


Cái tâm hồn ấy là một bể sầu não.


Những “giọt thơ” từ đấy rơi ra là những giọt sầu não, những tư tưởng ở đấy bay ra đều có đôi cánh đen, đen một màu đen thảm đạm, như đôi cánh quạ.


Con quạ đen ấy đã hơn một lần, đưa lại sự buồn não cho thi sĩ đương triền miên trong giấc mộng ái tình:


Lần đầu hai ta hôn nhau,


Đứng so đôi trên cành dâu,


Một cặp bồ câu trắng gáy,


Em buồn… và em ngẩn ngơ.


Hỏi anh: “Mình yêu em ơi,


Ngày ta yêu nhau được mấy?”


*


Hai ta yêu nhau lần đầu,


Lần đầu hai ta hôn nhau,


Một cặp bồ câu trắng gáy,


Ái tình ru bên tai ta,


Ta sẽ yêu nhau đến già,


Như cặp bồ câu trắng ấy.


(Nguyễn Vỹ – Tiếng quạ kêu)


Đương vui, đương say sưa trong cái lạc thú êm ái của ái tình, cặp tình nhân ấy bỗng giật mình và nghĩ đến chuyện đâu đâu, cõi lòng đương sáng bỗng tối lại:


Nhưng em vẫn cứ không vui,


Em bảo anh: “Mình yêu ơi,


Ái tình sẽ tang thương lắm.


Em không muốn cặp bồ câu


Cùng nhau gáy trên cành dâu,


Lúc hai ta yêu đằm thắm!”


*


Rồi khi hai ta biệt li,


Ôm vào nhau và lâm li


Em khóc, mà anh cũng khóc,


Dầu non nước cách nghìn trùng,


Hai tâm hồn vẫn ở chung


Khăng khít một lời tơ tóc.


Vì đâu mà mộng tình vơ vẩn. Phải chăng là vì chợt thấy cái bóng quạ đen vừa liệng trong trí… Cái bóng ấy đã ấn mạnh vào tâm linh một vết đen không còn nhìn được nữa.


… Từ hôm ấy đến hôm nay,


Cặp bồ câu trắng đã bay.


Anh chờ mà chim không lại,


Hôm qua, tự nhiên anh buồn.


Thầm thì suốt lệ ứa tuôn


Như tràn cả ra sơn hải!


*


Bây giờ anh đã hiểu rồi,


Ôi vong hồn Lang em ôi!


Lời em thiêng chi lắm nhé!


Anh không ngờ cuộc tình duyên


Rất khắng khít của chúng mình,


Cũng đảo điên như dâu bể!


(Nguyễn Vỹ – Tiếng quạ kêu)


Rồi từ đó cái bóng đen ấy không còn rời nhà thi sĩ ra nữa, nhà thi sĩ đi đâu nó cũng đi theo, làm gì nó cũng làm với. Sự lãng mạn của Nguyễn Vỹ có lẽ quá đáng, nhưng biết làm thế nào được? Ta có quyền gì cấm một người khác đừng buồn, đừng khóc, nhất là khi người ấy là một nhà thi sĩ? Nhà thi sĩ ngồi trước mắt ta, đương cười cười, nói nói vui vẻ, hai giọt nước mắt, lẻn tuôn ra trên đôi má, mà nhà thi sĩ cũng như ta có hay những giọt nước mắt ấy đã ứa ra tự hồi nào!


Sự buồn thảm ấy không phải là vô lí mà cũng không phải là vô cớ. Cái cớ làm cho Nguyễn Vỹ phải buồn thảm vẫn là cái cớ đã làm bận lòng biết bao thi sĩ.


Đấy là một sự vô lí đã làm cho nhà thi sĩ lẩn quẩn mãi với những cái lẩn quẩn. Mặc dầu nhà thi sĩ đặt tay lên trán, gõ quản bút vào vách, cái vô lí ấy vẫn là một sự “vô lí”, nhà thì sĩ vẫn thấy mình sống ở đời như một đứa trẻ con, khóc những cái biết rằng sẽ tan như bột xà phòng, mà vẫn cứ yêu, cứ khóc!...


Trong cái khoảng trời đất bao la, thi sĩ không muốn đi vẫn cứ đi. Giờ nào, phút nào, cũng như có vẻ trầm tư mặc tưởng, muốn tìm một cái gì… Cái gì đó, hoặc là một mảnh tro tàn, hoặc là một cái hương thừa, hoặc một chút ái ân đã nguội, hoặc một quãng đời  quá khứ vừa qua… Nhưng là một huyễn tượng! Nhà thi sĩ bao giờ có tìm thấy một cái gì đâu.


- Hỡi thi sĩ! Đêm khuya mưa gió,


Ta tìm ta trong đám cỏ xanh.


Mỗi chiều tan cuộc ái ân,


Chút xuân ta cũng tan dần mất thôi.


Cùng người yêu ta vui chốc lát,


Mãn cơn vui xờ xạc cơn buồn!


Còn gì trên cỏ xanh um


Mà ta chẳng để lệ tuôn luôn dòng?


Vừa lúc chiều ta cùng tri kỉ


Trên cỏ xanh rủ rỉ gần đêm


Những lời tình tự êm đềm,


Bây giờ phút ấy còn tìm thấy đâu?


Bàn tay yên, nưng niu ve vuốt,


Nụ hôn yêu dính ướt trên môi,


Lả lơi bộ đứng dáng ngồi,


Lúc chiều gần đấy mà giờ đâu xa?


Một ngày xuân của ta rơi rụng.


Bao lệ xuân ứa đượm trên cành.


Ngó qua đã thấy khó tàn,


Nhìn đến chỉ thấy mơ màng tình duyên.


Sáng ngày mai xuân còn tươi lại,


Nhưng xuân nay tê tái cả rồi!


Mấy lần xuân nữa thì thôi!


Thì tan tác nốt cái đời xuân ta?


(Nguyễn Vỹ – Tìm gì)


Nếu chỉ có thế thì sự buồn não của thi sĩ nó thanh thú biết bao! Khốn nỗi, nhà thi sĩ ngày ngày còn phải chung đụng với người thế, sống giữa một chốn đông đúc mà bao giờ cũng hiu quạnh, lạnh lẽo như kẻ bị đày, bao giờ cũng tưởng như mình lạc loài vào một chốn hang hùm nọc rắn. Đời không bạc bẽo mà nhà thi sĩ cứ nhất định tưởng đời là bạc bẽo. Đời không xấu xa, nhà thi sĩ vẫn tưởng nó xấu xa!


Thật là một cảnh thương tâm, đau đớn. Nhưng biết thế nào mà lột hết cả những cái thành kiến ấy cho nhà thi sĩ?


Làm thế nào được?




“Ta không mong ai thương ta, vì ta buồn bã khốn cùng


Lê la trong sương, trong gió, trong bóng lạc mịch mông lung,


một tâm hồn vô thừa nhận…


(Nguyễn Vỹ – Hỏi người yêu không quen biết)


Biết mình khổ cho nên nhà thi sĩ mang một lòng khinh dể vô hạn đối với những cảnh yên ấm giàu sang bên mình, những cảnh đang mai mỉa nhà thi sĩ một cách cay độc.


Cảnh khốn cùng hay tìm đến cảnh khốn cùng.


Cảnh buồn não hay tìm đến cảnh buồn não:


Thương thay! Bây giờ đêm đã khuya vắng,


Mà tiếng ăn mày còn kêu văng vẳng!


Bây giờ mà còn lê la ngoài đường,


Bây giờ còn ai thừa chút lòng thương!


… Nín im đi thôi, hỡi người cơ khổ!


Ta đã nghe thấy tiếng người nức nở,


Bi đát, não nùng, vụt lên một hơi,


Chạm phải cái vòm u khí của trời,


Rồi vỡ nát tan, tả tơi, từng mảnh,


Và rơi trong im, và trong đêm lạnh!


Trên đầu nhà nguơi, một vùng sương mù


Trong lòng nhà ngươi, một hố thâm u,


Tiếng kêu của ngươi xé tim bay bổng.


Để trong lòng người vết thương trống rỗng.


Rồi ngươi, than ôi! Ngã lăn trên đường


Mà tiếng của ngươi cũng tắt trong sương!




(Nguyễn Vỹ – Người ăn mày trong sương lạnh)


Cái buồn não của những kẻ bất hạnh, của kẻ nghèo khổ ở đời này thật là vô cùng, đến nỗi khi ta thấy một kẻ ăn sung mặc sướng trước mắt ta, kẻ ấy biến thành một tội nhân.


Không những Nguyễn Vỹ và tri kỉ của nghèo đói lang thang ở dọc đường xó chợ, cái nghèo đói mỏi miệng kêu gào mà chẳng kẻ đoái hoài. Nguyễn Vỹ còn là thi sĩ của cái nghèo đói lê la ở cái thế giới những người chết: thân xác chết mà cái nghèo đói vẫn theo bên u hồn.


Nguyễn Vỹ là thi sĩ của những vong hồn cơ khổ dắt nhau từng đàn, từng lũ, thất thểu trong đêm tối, trong các miếu đền, trong gò cây, bên lạch nước… để kiếm miếng ăn:


Đến ngày nay cảnh non sông đã phủ mấy lớp sương mù,


Mà còn rên dưới rễ cỏ những vết hận lòng lai láng!


Ta hãy bước vào khe khẽ trong cái im lặng nặng nề,


Của nấm mả, của gò cây, của đền đài lăng miếu cũ,


Ta sẽ gõ đầu quản bút trên miếng gạch, trên cành tre,


Gọi nỗi bi tình mênh mông của những linh hồn vô chủ.


Ta hãy ngồi ven lạch nước dò nghe những tiếng véo von,


Của lòng đá, của bọng cây, của những khe mồ, kẻ núi,


Mà một hơi gió thoáng qua làm gãy nát bao điệu đờn,


Và động lớp sóng âm ba đang gợn đùa trong nắng bụi…


(Nguyễn Vỹ – Gửi một thi sĩ của nước tôi)


Một người như thế, bảo họ không buồn não thì họ còn biết làm gì được? Ta có trách người ấy làm gì, vì trời sinh hắn ra như vậy. Để cho hắn khóc, thì thuận lẽ Trời. Buộc hắn phải cười thì hắn sẽ điên mất.


Đêm đã về khuya. Vài hạt sương gieo nặng ở trên cành… theo điệu sương những cái mảnh lòng của nhà thi sĩ cũng rơi vào trong cái rỗng không vô đề…


Sương rơi


Nặng trĩu


Trên cành


Dương liễu…


*


Nhưng hơi


Gió bấc


Lạnh lùng


Hiu hắt


Thấm vào


Em ơi


Trong lòng


Hạt sương


Thành một


Vết thương!...


*


Rồi hạt


Sương trong


Tan tác


Trong lòng,


Tả tơi


Em ơi!


Từng giọt


Thánh thót,


Từng giọt


Điêu tàn


Trên nấm


Mồ hoang!...


*


Rồi sương


Cành dương


Liễu ngả


Gió mưa


Tơi tả


Từng giọt


Thánh thót


Từng giọt


Tơi bời


Mưa rơi


Gió rơi


Lá rơi,


Em ơi.


(Nguyễn Vỹ – Sương rơi)


Đó là những hạt sương ư?


Những mảnh lòng tan vỡ ư?


Những hạt lệ rơi thánh thót ư?


Không, đó là tất cả!


Đó là cái nhạc điệu thiên nhiên của những vật vô hình và hữu hình ở trong vũ trụ lúc đêm khuya, những vật ấy, nối tiếp nhau mà tan vỡ thành từng giọt.


“Từng giọt thánh thót


từng giọt điêu tàn”…


*


Một người đã tìm được một cái nhạc điệu mới như thế, há chỉ “xứng” để cho người ta dìm xuống? Làm ra được một bài như bài Sương rơi cũng đã nhiều lắm rồi, cũng đủ cho ta quên hết những cái sơ xuất của nhà thi sĩ trong lúc mới ra đời.


Lê Tràng Kiều

(Hà Nội – Báo số 26, ngày 1.7.1936)



Nguồn: Văn thi sĩ tiền chiến. “Chứng dẫn một thời đại” của Nguyễn Vỹ. NXB Văn học, 2007.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét