Xuân Tân Mão

Xuân Tân Mão
Đảng và Chính phủ luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng với tất cả hoạt động, việc làm của người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia (TTg NT Dũng).

30 tháng 1 2011

Nguyễn Tuân

31.12.2010
Nguyễn Vỹ
 Nguyễn Tuân

Hồi tôi chưa gặp Nguyễn Tuân, tôi đã biết vài ba người bạn chơi thân với anh đều có cảm tưởng chung về anh như thế này:


- Nguyễn Tuân gàn lắm!


Cho đến Lưu Trọng Lư, là anh chàng mơ mộng nhất trong làng thơ làng văn lúc bấy giờ, - mơ mộng cũng gần như là gàn rồi còn gì! – mà cũng phâ bình Nguyễn Tuân:


- Thằng ấy gàn thật.


Một buổi tối, Lư hỏi tôi:


- Mầy muốn gặp Nguyễn Tuân không? Đi đến nhà nó chơi đi!


Tôi hỏi Lư:


- Có phải nó gần lắm không?


Lư cười ranh mãnh:


- Nó bảo nó không gàn. Nó bảo mầy gàn.


- Nếu thế thì đến xem đứa nào gàn.


Lư đi với tôi. Hai người đi tàu điện từ chợ Hôm lên đến giữa phố Hàng Bông, xuống ngay đầu phố Nhà Thờ.


Lư bảo:


- Nó ở nhà thằng Nguyễn Đàm là em ruột của nó, ở con đường này đây.


- Đàm là ai?


- Đã bảo Nguyễn Đàm là em ruột của Nguyễn Tuân, mà còn hỏi! Thế là đích thị mầy gàn rồi.


- Nhưng Nguyễn Đàm làm nghề gì chứ?


- Nó là con rể của Vũ Đình Long, chủ nhiệm Tiểu thuyết thứ bảy. Nếu không phải là con rể thì là em rể. Nếu không phải em rể là cháu rể… Nếu không phải cháu rể nữa thì thôi, tao chịu!


- Chính chú mầy mới thật là gàn đấy! Làm rể ông Vũ Đình Long mà cũng là một cái nghề à?


Lư cười sặc sụa, chỉ ngón tay ốm teo vào mặt tôi:


- Mi gàn mà mi bảo tao gàn! Làm rể ông Vũ Đình Long thì mới được làm quản lí nhà in và nhà báo của Vũ Đình Long chứ!


Hai đứa tôi vừa đi vừa cãi đùa chưa hết câu chuyện thì đã đến trước một căn nhà thắp đèn “manchon” chiếu một màu sáng xanh xanh.


Lư vào trước, nắm tay một chàng đang đứng trong nhà và cười ngó ra tôi. Tôi vừa bước vào. Lư nắm cả tay tôi, bảo chàng kia:


- Nó bảo mầy gàn, mầy bảo nó gàn, thế là đứa nào gàn? Tôi chưa biết chàng ấy là ai, chỉ nhậnt hấy một điều ngay trước mắt, là chàng có một đầu tóc bờm xờm kinh khủng. Giống hệt cái đầu của Jean Cocteau, thì si Pháp. Chàng mập mạp, coi bộ to lớn rềnh rang hơn tôi nhiều, và chắc chắn là nhiều tuổi hơn tôi. Chàng có một nét cười chúm chím rất hóm hỉnh, và đôi mắt ranh mãnh lạ thường, nhưng nụ cười và đôi mắt vô cùng khả ái. Tôi có cảm tình ngay khi chàng nhìn tôi:


- Cho mình biết tên, thì mình sẽ biết ngay là đứa nào gàn!


Tôi cười:


- Tụi mình cứ chơi với nhau mà không cần biết tên có được không?


- Được lắm. Mình cũng thích như thế đấy.


Lưu Trọng Lư cười ha hả:


- Đích thị hai đứa bây đều gàn bát sách cả hai!


Thế là Nguyễn Tuân và tôi quen nhau và mến nhau từ tối hôm ấy trong một trận cười rổn rảng, mà chưa đứa nào được giới thiệu cho biết tên đứa nào.


*


Nửa giờ sau, Nguyễn Tuân mặc áo đen, đeo càvạt, đi chơi với chúng tôi, lang thang trên phố hàng Gai rồi rẽ ra hồ Hoàn Kiếm. Chúng tôi ngồi chung quanh bàn nhỏ ăn kem bên một mành liễu từ trên cung trăng buông xuống. Chàng kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện kì thú hồi đời xửa đời xưa… Câu chuyện tình duyên trắc trở giữa một nghệ sĩ mù và một nàng công chúa. Tiếng nói trầm trầm như mặt nước hồ thu, thỉnh thoảng nổi dậy một đợt cười xao xác như làn sóng chập chờn khẽ tạt vào bờ.


Khuya rồi, khách thừa lương đã tản mác, ba đứa tôi còn ngồi dưới gốc liễu, duỗi chân trên cỏ, nhìn xuống mặt hồ. Nguyễn Tuân bảo:


- Tiếc rằng tớ không biết làm thơ như hai cậu. Nhưng cần gì biết làm thơ nhỉ? Mình cho rằng thưởng thức được trọn vẹn những ý thơ của gió trăng, hòa mình vào với hồn thơ của cây cỏ, ấy là biết làm thơ rồi… Người đời xưa, đã mấy ai làm thơ, nhưng họ toàn sống trong cảnh thơ và cảnh mộng. Mình tiếc không làm được người nghệ sĩ mù. Mình tiếc không gặp được nàng Công chúa, nhưng mình biết chuyện họ, mình sống lại với họ, thế là mình tạo chàng nghệ sĩ cho mình và nàng Công chúa cho mình… Hai anh chắc đã có hai nàng công chúa, còn tôi, tôi chỉ sống trong vang bóng một thời… Tôi chỉ yêu những nàng công chúa ở tận đời xửa đời xưa…


Lưu Trọng Lư bỗng phá tan giấc mộng của anh chàng có đầu óc bờm xờm:


- Đi lên Khâm Thiên ăn thịt chó chơi, tụi bây!


Nguyễn Tuân cười chúm chím (Nụ cười quen của chàng):


- Ừ, đi!


Tôi bảo:


- Hai anh đi, tôi về.


- Không ăn được thịt chó à?


- Tớ không có duyên với thịt chó.


Tuân bảo:


- Khỏi lo. Gắp một miếng chả chó bỏ vào miệng, nhai thong thả để thưởng thức cho hết mùi thơm của nó, rồi hớp một ngụm rượu, nuốt cái ực vào là có duyên với thịt chó ngay.


- Nhưng tớ cũng không uống rượu.


Lư ngó tôi:


- Cứ đi, rồi mình dạy cho cách uống rượu.


- Thì… đi!


Đêm ấy, ở quán thịt cầy nơi góc Ô Chợ Dừa, Lưu Trọng Lư và Nguyễn Tuân ra về say khướt. Mặc dầu Nguyễn Tuân bảo “Mùi thịt chó rất nên thơ”, tôi cũng không làm sao chịu nổi mùi thơ thịt chó.


*


Sau đó, tôi có gặp Nguyễn Tuân bốn năm lần. Nguyễn Tuân uống rượu thật nhiều, nhưng tôi chưa thấy Nguyễn Tuân nói bậy bạ như Lưu Trọng Lư lúc say mèm. Tuân, người Thanh Hóa, tính nết hay nghiêm nghị, và làm gì cũng đắn đo nhưng rút cuộc không làm được theo ý mình. Chất nghệ sĩ của Nguyễn Tuân là mơ, nhưng không phải cái mơ huyền ảo bông lông, mà chỉ là cái mơ ước thực tế, giản dị, gần gũi nhưng vẫn ít khi thực hiện được. Mơ một cuộc du lịch, mà không có tiền, rồi xách va li ra ga xe lửa để tưởng tượng là đi du lịch. Mơ có một nàng công chúa để yêu, nhưng không có nàng công chúa, rồi lấy bút vẽ ra một mĩ nhân để tưởng tượng đó là nàng công chúa. Những quyển tùy bút của Nguyễn Tuân hầu như là những trang giấy ghi chép các giấc mơ không thành của con người văn nghệ ưa phiêu lưu ấy. Cần nên nói nhiều một chút về tính ưa phiêu lưu của Nguyễn Tuân. Anh thường nói câu tiếng Pháp này với bạn bè: “J’aime la vie des Bohêmiens”, (tôi thích đời sống của những người Bô-hê-miêng). Anh cũng đã viết trong một tác phẩm của anh, đại khái: “Bàn viết của tôi đặt ở giữa thiên nhiên, giữa trời mây non nước không nhất định nơi nào cả”. Tôi chỉ nhớ đại ý như vậy, mà đó là đúng với sở thích của Nguyễn Tuân. Dù anh theo Đàm Quang Thiện sang Hồng Kông để đóng phim “Cánh Đồng Ma” hay anh xách vali đi nơi này nơi khác, mục đích vẫn là thỏa mãn óc phiêu lưu của Nguyễn Tuân, chứ không chú trọng đặc biệt về một công tác nào.


Nguyễn Tuân còn có một tính khác nữa, là bao biếm. Anh ưa công kích với giọng khôi hài nhưng không có ác ý hiểm độc như Thế Lữ hay Nhất Linh, mà khôi hài công kích để cười chơi thế thôi. Vì thấy đời không làm anh thoải mái nên anh thường chán đời. Anh có rất nhiều giờ phút chán nản, muốn buông trôi hết để đi biến mất một nơi nào vắng vẻ. Anh thích “tu tiên”, và khoái nghe những chuyện thần tiên. Anh có khá nhiều khuynh hướng về Lão Tử, và có lần muốn nghiên cứu Kinh Dịch. Trong quyển Chiếc lư đồng mắt cua loại giấy tốt của anh gởi tặng tôi, anh có đề một câu sau đây, mà tôi vẫn chưa quên được:


“Chúng ta là những con người ta của người ta


Chỉ có giấc mơ của mình là của mình.


Phải không Nguyễn Vỹ?”


- Phải lắm, Nguyễn Tuân ơi!


Ngày nay, tôi biết anh còn sống ở đất Bắc nhưng tôi biết anh đã chết rồi. Vì cái “con người” của anh, anh đã biết là không phải của anh, cũng như “giấc mơ của mình” đâu còn là “của mình” nữa?


Than ôi! Nguyễn Tuân! Tôi thương Lưu Trọng Lư ít, mà tôi thương anh nhiều. Vì Lư vẫn không bao giờ tin tưởng nơi cái gì cả và cả nơi Lư, chứ Nguyễn Tuân… Xưa kia… Chàng còn tin tưởng nơi giấc mơ xinh đẹp của con người Văn nghệ.


Có gì thê thảm bằng sự tan rã của một giấc mơ xinh đẹp?





Tác phẩm của Nguyễn Tuân 


Muốn hiểu những đặc tính của văn chương Nguyễn Tuân, nên so sánh Nguyễn Tuân với Lê Văn Trương, hai người hoàn toàn trái ngược nhau, từ cử chỉ, điệu bộ, ngôn ngữ đến lối hành văn và tinh thần văn nghệ.


Lê Văn Trương nói năng thô lỗ, cục mịch, ồn ào nóng nẩy, đôi lúc nghênh nghênh có vẻ “cao bồi”. Nguyễn Tuân, ngôn ngữ nhỏ nhẻ, đàng hoàng, từ tốn như một chàng thư sinh Nho giáo, chậm rãi và điềm nhiên.


Lê Văn Trương hay khoác lác, ba hoa thiên địa, biết ít mà làm như biết nhiều. Ngyuễn Tuân dè dặt đến mức độ ngờ nghệch ngây thơ, biết mà làm như không biết.


Cho đến cách y phục, đi đưng cũng thế, Lê Văn Trương vội vàng, cẩu thả bao nhiêu, thì Nguyễn Tuân đủng đỉnh cẩn thận bấy nhiêu. Từ cái lối thắt cravát, chải mái tóc, mang đôi giày, đến lúc ra đi, bước đi, một mình hay trong đám đông người, Nguyễn Tuân cũng mực thước.


Trong văn chương cũng thế. Văn Lê Văn Trương có những đoạn  dài như rau muống, những trang rườm rà lẫn lộn triết lí, luân lí, không đầu không đuôi, đôi khi mâu thuẫn lẫn nhau. Viết một mạch rồi đưa in, không bao giờ sửa lại. Nhiều khi không coi lại.


Văn Nguyễn Tuân, trái lại, thuần thục, điều hòa, mạch lạc. Như các nhà văn có ý thức về giá trị văn chương của mình, Nguyễn Tuân sửa bản thảo thật kĩ, nhiều trang sửa đi sửa lại ba bốn lần.


Nhưng, dù thêm bớt thế nào đi nữa, giọng văn của Nguyễn Tuân vẫn còn y nguyên đặc chất trầm tĩnh của nó. Cho nên đọc Nguyễn Tuân, người ta bị lôi cuốn dịu dàng, êm ái, bởi câu chuyện của Tuân kể, nhưng không bị cảm xúc mạnh. Văn của Nguyễn Tuân y như lời của Nguyễn Tuân trong lúc nói chuyện: người nghe thích thú nhưng không cảm động.


Vì thế mà Nguyễn Tuân đã đôi ba lần làm thơ, nhưng không đăng lên báo: thơ Nguyễn Tuân không cảm xúc tâm hồn người đọc, không thấm thía vào tim gan người ta.


Một hôm, Tuân đọc cho tôi nghe một bài thơ anh mới làm, theo Đường luật thất ngôn bát cú. Anh hỏi:


- Cậu thấy thế nào, nói thật mình nghe.


Tôi cười:


- Đạo mạo cộng với hài hước, trừ bớt nụ cười, nhân với 7, chia ra 8.


Nguyễn Tuân cười tủm tỉm:


- Nghĩa là một bài toán thất ngôn bát cú?


- Đúng luật, đúng điệu, thế cũng được.


- Mình đọc cho thằng Lưu Trọng Lư nghe, nó biểu: “Con chim boon boon nó chạy về hòn núi Thái Sơn”!


- Cậu đọc cho ai nghe nữa?


- Lan Khai.


- Nó bảo sao?


- Nó cười ồ ồ rồi khen mình: “Thơ Nguyễn Tuân hay hơn thơ Nguyễn Tuân!”.


Đúng ra, Nguyễn Tuân có tâm hồn thơ mộng, có ý thơ, nhưng anh diễn tả ra thì nó không phải là thơ nữa.


Tại anh lí luận nhiều quá, cái lãng mạn của Tuân chỉ nẩy nở trong một khuôn khổ công thức nào đó, không vượt ra ngoài, không vút lên cao.


Nhưng Nguyễn Tuân phê bình thơ: anh không ưa thơ Nguyễn Bính, bảo là “vè học trò”. Anh bảo thơ Thế Lữ là “chỉ có bài Con hổ, nhưng bài đó hoàn toàn ăn cắp ý thơ trong bài thơ ngụ ngôn của La Fontaine”, còn mấy bài kia ăn cắp ý thơ Tàu.


Nguyễn Tuân không tha thiết với tình yêu. Anh cho rằng: “Tình yêu phải lãng mạn mới đẹp, nhưng lãng mạn thì mất thời giờ, rồi rốt cuộc phải có một người khóc, một người cười, hay là cả hai người cùng khóc. Chẳng bao giờ hai người cùng cười”.


Nguyễn Tuân có nhiều nhận xét tế nhị, như trong các tác phẩm của anh.




Nguồn: Văn thi sĩ tiền chiến. “Chứng dẫn một thời đại” của Nguyễn Vỹ. NXB Văn học, 2007.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét