Xuân Tân Mão

Xuân Tân Mão
Đảng và Chính phủ luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng với tất cả hoạt động, việc làm của người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia (TTg NT Dũng).

02 tháng 2 2011

Chữ “dân” trong di cảo văn chương của Nguyễn Trãi

PHAN QÚY BÍCH


           

I. Nguyễn Trãi và chữ “dân”

Nếu quan tâm đến sự phát triển của tư tưởng chính trị - xã hội trong lịch sử của dân tộc, không thể không tìm hiểu ý nghĩa của chữ “dân” trong di cảo của Nguyễn Trãi. Đã nói đến tư tưởng chính trị - xã hội thì không thể không nói đến dân, hay là quần chúng nhân dân, như từ ngữ được dùng hiện nay. Chữ “dân” trong di cảo của Nguyễn Trãi đã tích hợp đầy đủ nhất những nhân tố tiến bộ của cả một thời kỳ lịch sử dài, thời Trung đại. Điều đáng ngạc nhiên hơn nữa - khi xem xét ý nghĩa của chữ “dân” trong di cảo văn chương của Nguyễn Trãi, chúng ta có cảm tưởng rằng, Nguyễn Trãi dường như là người đồng thời với chúng ta, người phát ngôn cho tư tưởng xã hội ở thời đại dân chủ, theo đó, dân là thước đo và động lực của mọi hoạt động chính trị. Vậy thì ý nghĩa của chữ “dân” trong di cảo của Nguyễn Trãi là như thế nào và so với quan niệm về quần chúng nhân dân trong xã hội dân chủ ngày nay, đâu là chỗ tiệm cận, đâu là chỗ khác nhau căn bản?
Sở dĩ chúng tôi chỉ nói đến ý nghĩa của chữ “dân” trong di cảo của Nguyễn Trãi, mà không bàn về tư tưởng của cá nhân Nguyễn Trãi khi nói đến chữ “dân”, là vì, có hai lý do. Một là - những trước tác được xem là của Nguyễn Trãi còn lại với chúng ta không phải là toàn bộ trước tác của ông. Hai là - chữ “dân” được Nguyễn Trãi nói đến nhiều nhất trong Quân trung từ mệnh tập, Quân trung từ mệnh tập thực ra là những thư từ, chiếu mệnh mà Nguyễn Trãi thừa lệnh chủ tướng và nhà vua sau này là Lê Lợi thảo ra, chứ không phải là những sáng tác hoàn toàn riêng tư của ông... Cho dù Lê Lợi đóng góp nhiều hay ít vào những tư tưởng chính trị - xã hội trong Quân trung từ mệnh tập, chúng ta cũng không thể xem tư tưởng chính trị thể hiện trong đó chỉ là tư tưởng chính trị của riêng Nguyễn Trãi.

Chắc chắn rằng, Nguyễn Trãi mà chúng ta còn được đọc hôm nay chỉ là một phần trước tác của ông, tuy nhiên, ngay khi chỉ căn cứ vào số ít tác phẩm đó, chúng ta cũng có thể khẳng định rằng, so với tất cả các tác giả cầm bút lông trong lịch sử văn chương nước nhà, Nguyễn Trãi là người nói đến chữ “dân” nhiều lần nhất, ở nhiều tác phẩm khác nhau nhất, với những sắc thái ý nghĩa phong phú nhất. Ông nói đến chữ “dân” khi đi cùng Lê Lợi trong cuộc kháng chiến cũng như trong buổi đầu xây dựng vương triều, với tư cách là người phát ngôn của cuộc kháng chiến hay của vương triều đã đành, nhưng ông cũng nói đến chữ “dân”, trong những bài thơ bàn luận về lẽ thành bại của triều đại Hồ Quý Ly, và sau này, khi đã tạm về làm chí sĩ ở Côn Sơn, ông lại nói đến chữ “dân” khi bộc bạch nỗi lòng. Chữ “dân” đã đi cùng ông trong suốt những năm tháng của một cuộc đời chìm nổi, vĩ đại và thương đau. Về ý nghĩa của chữ “dân”, khi thì Nguyễn Trãi thể hiện tư tưởng trọng dân, khi thì biểu hiện thái độ thân dân. Vì sao chữ “dân” lại có vị trí ý nghĩa đặc biệt như thế trong tư tưởng của Nguyễn Trãi?

Ngay với một người cùng thời với ta, kề vai sát cánh trong cuộc sống hàng ngày, ta còn chưa dám chắc là hoàn toàn hiểu được người đó, huống hồ Nguyễn Trãi sống cách ta đến năm - sáu trăm năm... Nhưng có một cách khác để hiểu được con người, đó là căn cứ vào việc làm của người đó. Nếu tôi xác định được việc người làm là như thế nào, tôi sẽ xác định được người là ai?

Nguyễn Trãi, là cháu ngoại Trần Nguyên Đán, một vị tôn thất của nhà Trần. Ông là con Nguyễn Phi Khanh, một vị đại khoa bảng của triều Trần, nhưng lại ứng thí vào khoá thi đầu tiên dưới thời Hồ Quý Ly, dưới thời ông vua đã truất ngôi của chính nhà Trần. Như vậy, ông chính là người không cố giữ lấy chữ trung như thói thường. Lẽ dĩ nhiên, việc cộng tác với triều đại mới đã bắt đầu từ cha ông, nhưng với nhà nho, việc cha làm không nhất thiết là việc con phải theo, trong trường hợp chữ trung. Vì chữ trung còn cao hơn chữ hiếu. Nguyễn Trãi, cũng như cha ông, đã cộng tác với họ Hồ có lẽ vì lý do duy nhất là họ đã nhìn thấy ở việc thay đổi triều đại lúc bấy giờ là tất yếu lịch sử, khi những ông vua cuối cùng của triều Trần, do tài hèn hay đức kém, đã không còn đảm đương được vai trò lịch sử mà cha ông họ giao phó và khi Hồ Quý Ly hiện ra như một ông vua sáng. Có thể tin như vậy vì Nguyễn Trãi có nhiều tác phẩm viết về Hồ Quý Ly, nhưng chúng ta không đọc thấy ở đâu, ông phê phán Hồ Quý Ly với tư cách nhà vua, ngoài việc ông nói rằng, nhà Hồ chính sự phiền hà, mà theo ý chúng tôi, chính sự phiền hà ở đây chủ yếu nói về việc Hồ Quý Ly cướp ngôi. Nếu xem sự cướp ngôi là chính sự phiền hà thì sự phê phán còn nhẹ hơn cả sự tiếc nuối, rằng việc làm của họ Hồ là không chính danh, và chỉ vậy mà thôi. Như vậy, chúng tôi nghĩ, ngay từ bước đi chính trị đầu đời, Nguyễn Trãi, cũng như cha ông, đã dứt khoát không chọn con đường ngu trung, con đường bảo vệ danh tiết bằng mọi giá, như nhiều nhà nho trong lịch sử, mà chọn con đường đi tìm vua sáng để thờ. Trong con mắt của một nhà nho như thế, có vua sáng thì mình thi thố được tài năng, nhưng đồng thời, có vua sáng thì cương vực mới được bảo toàn, chúng dân mới được hạnh phúc. Đó có lẽ là lý do chủ quan khiến Nguyễn Trãi xem trọng chữ “dân”.

II. Tư tưởng trọng “dân” của Nguyễn Trãi

Sự thất bại của cha con Hồ Quý Ly trong nhiệm vụ bảo toàn đất nước và vương triều của chính họ có thể sẽ là biến cố quan trọng thứ hai khiến Nguyễn Trãi dứt khoát lấy chữ “dân” làm chuẩn cho tư tưởng chính trị - xã hội của ông. Các vua Hồ không thiếu chí anh hùng, không thiếu tài thao lược, không lơ là việc phòng bị mà cuối cùng, thân bị cầm tù, vương triều bị bãi bỏ do lưỡi kiếm của kẻ xâm lược ngoại bang.  Lý giải cho sự thất bại này, Nguyễn Trãi viết:

Lớp lớp rào lim ngăn sóng biển,
Khoá sông xích sắt cũng vầy thôi.
Lật thuyền mới rõ dân như nước,
Cậy hiểm không xoay ở mệnh trời
                                       (Quan hải)

Đóng cọc, giăng xích sắt để đóng cửa sông mà thuyền giặc vẫn tiến sâu vào nội địa để cướp nước. Mà đó, dưới con mắt của Nguyễn Trãi, là vì lòng dân không tựa họ Hồ. Hoặc, vì không có nhân hoà, như cách nói của người xưa. Điều đáng chú ý ở đây là, khi đưa ra những nguyên nhân khiến họ Hồ thất bại, Nguyễn Trãi đã xem nguyên nhân để mất lòng dân còn hệ trọng hơn cả mệnh trời. Lý do để chúng tôi nói như vậy là vì, Nguyễn Trãi nói đến mệnh, nhưng ông không bảo mệnh trời không tựa họ Hồ, mà ông lại bảo, họ Hồ không xoay được mệnh trời. Thế thì mệnh trời không phải là ngoài tầm tay với của con người. Vấn đề là con người có đoạt được nó hay không mà thôi.

Chúng ta đều biết rằng, vũ trụ quan của nhà nho là vũ trụ quan theo đó, thiên-địa-nhân tương thanh, tương ứng. Tương thanh, tương ứng có nghĩa là các thành tố ấy có thể và tất yếu chuyển hoá lẫn nhau. Ví dụ, địa linh có thể sinh ra nhân kiệt mà nhân kiệt thì có thể cảm hoá được cả trời, đến lượt mình, trời lại tuỳ nghi mà cho phép địa có linh không, nhân có kiệt không. Hơn nữa, trời lại vô nhân, nghĩa là không thiên vị cho riêng ai. Vậy thì “mệnh” vừa là cái gì ngoài tầm tay với của con người, vừa là cái gì trong tầm tay ấy. Trong Quân trung từ mệnh tập Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi luôn luôn khẳng định rằng, sự tàn bạo của quan quân nhà Minh tất yếu dẫn chúng đến thất bại vì “mệnh” trời khôn tựa chúng, rằng, Lê Lợi là người thế thiên hành đạo, không phải vì trời tựa riêng họ Lê, phó thác non sông cho họ Lê mà bởi vì họ Lê dấy quân đúng lúc, tức là có thiên thời, được lòng dân, tức là cảm hoá được trời, có địa lợi, tức là tài giỏi trong việc bày binh, bố trận. Như vậy, tư tưởng trọng dân, xem dân là động lực của biến cố chính trị, không hề mâu thuẫn với thế giới quan thiên-địa-nhân của nhà nho. Có điều, không phải nhà nho nào cũng được như Nguyễn Trãi - kiên trì với tư tưởng trọng “dân” đến mức, xem “dân” là động lực của mọi biến cố xã hội. Sau này, khi soạn Chiếu về việc làm bài Hậu tự huấn để răn bảo thái tử, Nguyễn Trãi còn viết:

Vả lại, mến người có nhân là dân mà chở thuyền và lật thuyền cũng là dân, giúp người có đức là trời mà khó tin và không thường cũng là trời.

Nguyễn Trãi khuyên nhà vua trong tương lai hãy lấy đức mà cảm hoá lòng dân trong việc trị quốc, chứ đừng yên vị, đừng chỉ vin vào mệnh trời.

Tư tưởng trọng dân cũng là sách lược cơ bản mang lại thắng lợi của cuộc kháng chiến do Lê Lợi lãnh đạo. Sử sách ghi lại rằng, khi trình diện lần đầu trước Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã dâng lên vị chủ tướng mà ông muốn phò tá một Bình Ngô sách, tức là bản luận văn đề xuất chiến lược và chiến thuật cho cả cuộc kháng chiến. Chúng ta không biết Nguyễn Trãi đã viết gì trong bản luận văn đó, vì nó nay không còn nữa, nhưng chiến lược mà đội quân của Lê Lợi đã tiến hành thì rất phù hợp với tư tưởng trọng dân của Nguyễn Trãi. Tương truyền, nhà vua tương lai đã sai người đi khắp nơi, dùng mỡ viết lên lá cây tám chữ Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần. Kiến ăn mỡ, đục lá thành chữ, lá rụng xuống, thành thông điệp của trời nói với dân. Dân vì thế mà vững tin vào công cuộc kháng chiến. Đây chỉ là một mẹo tuyên truyền, nhưng chứng tỏ, những người cầm đầu cuộc kháng chiến muốn sở hữu lòng người, trước khi đánh vào đồn giặc. Không tin vào chân lý “làm lật thuyền, mới biết sức dân như nước” thì không bao giờ tiến hành một chiến dịch tuyên truyền rộng khắp và kỳ công như thế. Khi cuộc kháng chiến hoàn toàn thắng lợi, ông đã viết về đoàn quân do Lê Lợi làm chủ soái, như sau:

Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới; tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào.
                                    (Bình Ngô đại cáo)

Vậy thì cuộc kháng chiến không chỉ của riêng Lê Lợi và những tướng lĩnh phò tá ông, mà là của toàn dân, do dân và vì dân. Dưới con mắt của chúng ta ngày nay, đó mới là nguyên nhân thắng lợi đích thực. Nhưng trong bản tuyên ngôn của vương triều mới này, “dân” không còn được nói đến như là động lực, mà là đích đến của hoạt động chính trị. “Dân” không phải là chủ thể của quyền lực, mà chỉ là một đối tượng cần được dẫn dắt, chăm lo:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân.

Hoặc:
Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo.

Nghĩa là, đại nghĩa, chí nhân đồng nghĩa với nhân đạo với dân. Có điều, người có thể nắm ngọn cờ đại nghĩa, ngọn cờ chí nhân không thể là một người bình thường, vì một người bình thường thì không thể làm trung gian giữa trời và người, mà chỉ có thể là thánh nhân. Một khi đã có thánh nhân thì quyền lực chính trị là thế thiên hành đạo, kẻ nắm quyền lực sẽ là cha mẹ dân. Lê Lợi sẽ làm vua và Nguyễn Trãi sẽ tận mắt chứng kiến tư tưởng trọng dân, thân dân mà ông tôn thờ bị dày xéo ngay khi cả ông lẫn Lê Lợi đều còn đó. Chiếu trách phạt các quan lười biếng do ông soạn nói với ta điều đó. Đó là bi kịch của nhà tư tưởng, người anh hùng Nguyễn Trãi, và cũng là bị kịch của mọi cuộc khởi nghĩa nông dân trong quá khứ lịch sử của dân tộc ta. Đó cũng là giới hạn của chữ “dân” trong quá khứ của nền văn minh Hán hóa.

http://phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=10965



Nguồn: Văn nghệ

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét