19 tháng 2 2011

Chùm Bút Ký của Nhà Báo Phương Hà


Nhà báo Phương Hà (An Phương, An Dân, Lão Phương…) xem viết báo là nghề nhưng viết văn là nghiệp. Anh  chưa bao giờ ngừng bút ngơi nghỉ mặc dù đã vào tuổi hưu mà ngược lại là đàng khác, càng viết càng khỏe, bút lực dồi dào ! Chùm 10 bài bút ký của Phương Hà đã thể hiện điều đó. 
Đây là món quà đầu năm của anh, NLG xin chân thành cảm ơn tác giả và trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
nhà báo Phương Hà

                               


MAI MỐT LỚN, ÔNG NỘI SẼ HIỂU

Phương Hà

Là người viết văn, hàng chục năm qua, bút và giấy là phương tiện không thể thiếu của tôi. Nhưng muốn “ra văn”, nhất thiết tôi phải có loại giấy trắng một mặt, một mặt đã dùng rồi, nhưng còn phẳng phiu, sạch sẽ, và bút phải là bút máy Paker bơm mực, để viết, bút bi - mà phải là Bic, để sửa chữa. Bản thảo của tôi thường rất bẩn do gạch xóa, thêm bớt, mực màu xanh đen trộn lẫn màu đỏ.
Mãi không thấy bố “hiện đại hóa” phương tiện viết lách, con trai tôi đề nghị sắm riêng cho “nhà văn lão thành cách mạng” một bộ máy vi tính. Một số bạn văn của tôi đã dùng máy vi tính, ca ngợi cái máy thần kỳ đó không những làm cho năng suất viết lách tăng lên mà bản thảo vô cùng sạch sẽ, cần thì bấm nút in ra bao nhiêu bản cũng được. Nghe mê, nhưng cũng như nhiều bạn văn già khác - tôi mắc “hội chứng sợ máy vi tính”. Gõ chữ thì chắc cũng giống như gõ
máy đánh chữ mà tôi đã dùng trong chiến tranh, nhưng nghe nói phải có những thao tác phức tạp thì mới ra được một trang văn, mà sơ sẩy bấm lộn nút, trong mấy phần giây, cái máy nó xóa sạch trí tuệ, công sức bao ngày đêm của người viết. Và đáng sợ nhất là cái máy vi tính không cho “ra văn”, tức là nó không thể tạo cảm hứng cho nhà văn như trang giấy, cây bút. Không giấu gì bạn đọc, tôi còn một cái sợ nữa là sau này có những người nghiên cứu về những nhà văn có tiếng tăm như tôi, nếu không có bản thảo viết tay thì họ căn cứ vào đâu để biết tư duy và lao động nghệ thuật vất vả của nhà văn qua những tẩy xóa, thêm bớt, và như vậy, trường đại học sẽ không còn khoa văn bản học.
Vì lẽ đó, mặc cho con trai thuyết phục, mặc cho bà vợ sẵn sàng chi tiền, tôi vẫn từ chối chiếc máy vi tính vừa cao siêu vừa bí hiểm.
Vậy mà tôi lại xiêu lòng trước đứa cháu bảy tuổỉ khi nó thỏ thẻ với ông nội, rằng, ông mà có máy vi tính trong phòng riêng, cháu sẽ rất thích vì chơi game không sợ ba má rầy, cháu còn dạy cho cách dùng.
Nhưng trước khi kể tiếp “bao điều hấp dẫn” của ông cháu tôi với chiếc máy vi tính, xin vui chuyện về chiếc điện thoại di động.
Con trai tôi thấy bố thường lang thang đi tìm tư liệu và cảm hứng sáng tác, có khi mất hút nửa tháng, năm bảy ngày, nên không cần xin phép, mua cho tôi một di động “Nó kìa”, rồi chỉ cách dùng. A lô đi hay nghe a lô đến, tôi biết sau mấy ngày học tập chăm chỉ, nhưng nhắn tin và nhận tin nhắn thì thằng cháu bảy tuổi phải thốt lên “Ông nội khó dạy quá!”. Vì thế mà có những lúc máy báo tin nhắn đến, tôi biểu thằng cháu  chuyển sang “chế độ nói chuyện”, rồi quạu cọ: “Nói gì thì nói đại đi, mắc mớ gì mà nhá nhá hoài!”, bất chấp “đối tượng” là ai. Nhưng dùng riết rồi tôi cũng quen điều khiển cái cục nho nhỏ vuông vuông mà nghe nói bây giờ hiện đại đến mức nhìn vào màn hình của nó là biết ngay bên Nga, bên Tàu đang xẩy ra chuyện gì. Thì ra, kinh điển với cái máy điện thoại để bàn chỉ có nghe và gọi mãi là lạc hậu với thời cuộc!
Tôi không ngờ học để sử dụng được cái máy vi tính khó đến thế. Con trai tôi biểu trước hết bố vào mạng đọc báo, muốn báo nào cũng có. Thế là tôi mất mấy ngày cho mấy cái nhấp chuột. Cuối cùng cũng đọc được báo, dù nó không hứng thú như đọc báo in. Gõ chữ không khó lắm, chỉ mất công nhớ năm cái dấu tiếng Việt nó nằm ở vị trí nào. Rồi lưu file, tạo file mới, gửi và nhận e-mail; giải quyết bao sự cố phức tạp khác xẩy ra, như gõ chữ sau mất chữ trước, gõ chữ thì ra dấu, diệt virus thì mất luôn dữ liệu… Tất cả những thao tác ấy, thằng cháu nội bảy tuổi của tôi chỉ học ở ba nó trong chốc lát.
Khó nhất với tôi là chép dữ liệu từ USB, đĩa CD và máy ảnh kỹ thuật số vào máy vi tính, và ngược lại. Thằng cháu bảy tuổi toát mồ hôi dạy ông nội thực hành không biết bao lần mà ông nội vẫn quên, lại còn rầy mà chẳng biết rầy ai: Chi cho phức tạp vậy. Ngày xưa có máy vi tính đâu mà vẫn thắng giặc xâm lăng, mà dân vẫn ăn no, mặc ấm!
Không biết có phải thằng cháu bảy tuổi quá thương ông nội nhớ trước quên sau hay muốn động viên ông nội ráng học tập mà nó nói như mếu: Mai mốt lớn, ông nội sẽ hiểu!
Tôi giật mình, mình ỉ i là cán bộ kỳ cựu việc gì mà chẳng biết, vậy mà bao điều đơn giản lại không biết!


Lại phải nuôi chim sẻ
An Phương

Một thời làng Lệ Mật nườm nượp khách nội thành Hà Nội kéo sang ăn rắn. Ăn riết rồi hết rắn trong thiên nhiên. Cùng với rắn là mèo, với tên gọi mới “tiểu hổ” rất chi là “kiếm hiệp”, bị đưa lên bàn nhậu, không chỉ bàn nhậu trong nước mà còn chễm chệ trong các tửu quán bên Trung Hoa, đến nỗi muốn nghe một tiếng mèo kêu cũng khó kiếm.
Cùng với rắn và mèo bị “diệt chũng”, chuột phát triển nhiều đến mức mỗi ngày, riêng tỉnh An Giang “thu hoạch” vài ba tấn chuột. Chuột nhiều đến mức, ở các tỉnh phía Bắc, chính quyền phải cấp tiền cho dân, cứ mỗi con mấy chục ngàn đồng để “tái nuôi mèo”. Nay thì số lượng mèo có tăng lên nhưng chuột nhà vẫn cứ vểnh râu thách thức mèo. Rắn trong thiên nhiên thì sanh thêm con nào bị tóm con đó, vì có giá rất cao, đến cả triệu đồng một kg hổ chúa, mai gầm, nên dù rắn nuôi phát triển ồ ạt, chuột đồng vẫn vô tư gặm mất 1/10 sản lượng lương thực do dân Việt Nam làm ra.
Trong lúc các nhà khoa học lo lắng việc mất cân bằng sinh thái do mèo và rắn bị mua bán vượt quá xa mức sinh sản và hậu quả thì đã nhởn tiền thì Hà Nội lại rộ lên phong trào nhậu chim sẽ. Nói là “rộ lên phong trào” vì trước đây người ta cũng có nhậu chim sẽ, nhưng muốn có nhiều, phải lên mạn Bắc Ninh, nay thì bất kỳ quán nhỏ quán to nào ở Hà Nội mở rộng, muốn chim sẽ rán hoặc nướng ăn tại chỗ hay mang về nhà thì cứ 2.000 đồng một con, bao nhiêu cũng có.
Bạn Thái Hà Nhân, một cư dân thủ đô tỉ mẩn tính, để đáp ứng hiệu suất lao động, mỗi người bán chim phải có doanh thu ít nhất 100 ngàn đồng/ngày, vị chi mỗi ngày người đó giết 50 con chim sẻ. 50 người bán thì sẽ có 250 con chim bị giết. Trong một tuần liên tục, số chim bị giết sẽ là 7x250 bằng 1.750 con. Với người mua, chắc cũng không dưới 10 ngàn đồng, bằng 5 con, hoặc hơn, 20 con chẳng hạn. Với 10 gia đình như vậy, số chim sẻ bị giết sẽ là 200 con/ngày Vậy là, mỗi ngày có đến hàng ngàn con chim sẻ bị giết. Và nếu tính từ khi bắt đầu có cơn sốt này đến thời điểm hiện tại, trong khoảng 2 tháng, số chim sẻ bị giết lên tới hàng vạn.
Người ta bắt ở đâu ra ngần ấy con chim sẻ để giết thịt? Tất cả là bẩy trong thiên nhiên vì cả nước chưa ai có sáng kiến nuôi công nghiệp loại chim này.
Nhớ thời kỳ “đại nhảy vọt” ở một nước láng giềng, người ta phát động toàn dân giết tỷ tỷ con chim sẻ để bảo vệ mùa màng, bảo vệ đâu chưa thấy, chỉ thấy sâu bệnh phát triển thành đại dịch. Chim sẻ chỉ nhặt hạt rụng hạt rơi, còn khẩu phần ăn của chúng không thể thiếu sâu bọ phá hoại mùa màng. Bây giờ đến lượt nước ta, dù chẳng ai “phát động” thì việc tiêu diệt chim sẽ đang là một tại hoạ cho loại chim bé nhỏ tội nghiệp này, đang là một tai hoạ trong việc bảo vệ cây lúa, cây ngô…
Lúc này mà doanh nhân nào chịu khó đầu tư nuôi chim sẻ thì ắt lợi nhiều đường.


Dưới chân núi Sam
PHƯƠNG HÀ

Chàng trai xe lôi đạp gò lưng chở tôi “dạo mát” trên con lộ từ chân núi Sam đến thị xã Châu Đốc, nói giọng cà tửng:
- Em không biết chữ nhưng rành Châu Đốc, rành tuốt đến Tịnh Biên, Tri Tôn, rành qua Hà Tiên. Em biết nơi nào có thị ủy, ủy ban, bia ôm, mát xa, quán nhậu... Coi bộ anh không phải dân đi vía Bà, mà là cán bộ. Cán bộ thì hay đi bia ôm, đi đấm bóp. Châu Đốc em út đấm bóp hết xảy. Anh đi không?
Chờ cho chàng trai xe lôi rạp mình đạp hết dốc cầu, tôi giả tảng:
- Sao em không đi học cho biết chữ?
- Ba em ghiền rượu, năm giờ sáng đã uống. Sáu tuổi em theo má bán nhang đèn trước cửa miếu Bà để nuôi ba đứa em. Bảy năm nay em chạy xe lôi, chỉ chạy ban đêm, kiếm tiền cho mấy đứa em ăn học. Tụi nó dạy chữ mà em cứng tay quá, viết hổng được, đánh vần thì cà cặp. Mà học làm chi, anh Hai, chạy xe lôi, chỉ có mấy loại tiền, em nhớ hết. Hồi nãy anh Hai trả cuốc xe ba chục ngàn, cả lượt về, anh Hai có tờ năm chục, thương em, cho thêm năm ngàn, em vẫn nhớ thối lại mười lăm ngàn.
Đã giữa mùa khô, hai bên đường núi Sam - Châu Đốc bạc phếch một màu bụi phù sa, không gian đùng đục dưới ánh đèn xe máy, ô tô. Dưới ánh trăng đầu tháng hai âm lịch, cái rét muộn ở phương Bắc mang mác phả vào tận Bảy Núi. Tôi co người trên xe lôi, vừa thương vừa buồn cho thân phận chàng trai. Câu chuyện giữa chúng tôi không dứt:
- Em nói chỉ chạy xe ban đêm là sao?
- Phường Núi Sam có mấy trăm xe lôi giành khách với xe ôm, giành khách của nhau. Em giành không lại nên chạy từ chập tối đến rạng sáng. Hôm nào trúng mánh, được bốn năm chục, hôm nào ế thì vừa vuốt muỗi vừa ngủ, khỏe re. Em còn chở Tây ba lô cả trăm cây số, vô tận Hà Tiên. Lâu lâu mới có. Có là trúng đậm, đi về một đêm một ngày, ít cũng được ba trăm ngàn đồng, đủ cho ba đứa em đóng tiền học mấy tháng.
Tôi lấp lửng:
- Đạp xe lôi thì cũng phải lấy vợ chớ...
- Có sao không. Em mới hai ba, nóng máy sớm chi cho khổ, anh Hai. Lấy vợ rồi vẫn đạp xe. Khi nào mỏi giò thì nghỉ. Phường Núi Sam của em trăm thanh niên thì hơn nửa không biết chữ, có sao đâu!
Bỗng chiếc xe lôi khựng lại:
-Tới rồi anh Hai. Đây là tiệm mát xa nhất xứ Châu Đốc. Anh Hai cứ thoải mái. Mấy giờ em cũng chờ.
Tiệm mát xa Hảo Ngọt bên trái quốc lộ 91, chạy cắt qua thị xã Châu Đốc, phòng thay đồ, xông hơi, phòng tắm, phòng “hành nghề” không thua loại sang ở Sài Gòn. Thú thiệt, tôi không hứng thú vào nơi này khi lòng canh cánh chuyện những thanh niên núi Sam mù chữ, ngày ngày, đêm đêm vật vã kiếm sống, nhưng xe dừng lỡ bộ, thôi thì “xâm nhập thực tế” cho biết. Vẫn là những cô gái miền Tây Nam bộ ít chữ nhiều sắc như tôi từng gặp ở Điện Biên, Lào Cai, Lạng Sơn, Hòn Gai, Đồ Sơn... cả ở Hộ Phòng, Hà Khẩu bên Trung Quốc; Phnom Penh Campuchia và nhan nhản ở Kon Tum, Buôn Ma Thuột, Đà Nẵng, Huế, Sài Gòn... Ở đâu, em nào cũng “hoàn cảnh” nên làm gái ôm, làm mát xa “kiếm ít vốn mở tiệm”, nếu không lấy được chồng Đài Loan, Hàn Quốc. Vì sao miền Trung nghèo khó, bão lụt liên miên mà rất ít con gái ôm ấp những quan to quan nhỏ, những kẻ lọc lừa, những tên đầu trộm đuôi cướp, và cả một số người tử tế mà ham vui như tôi, để có tiền bo nhiều hay ít tùy theo mức chiều chuộng?

Vùng núi Sam (gồm cả Châu Đốc) - một góc của tứ giác Long Xuyên (ba góc kia là Long Xuyên - Rạch Giá - Hà Tỉên) cách nay khoảng 20 năm còn cả trăm loại cá, cá nhiều đến nỗi được ví “trên cơm dưới cá”, nhất là vào mùa nước nổi; dân không làm ruộng vẫn có lúa để ăn, gọi là lúa nổi. Theo Gia Định báo số ra ngày 15/11/1901, lúa nổi do ông Phan Văn Vàng khám phá, gieo thử nghiệm ở chân núi Tượng (trong dãy Thất Sơn) rồi phát tán ra tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười. Kêu bằng lúa nổi vì nước nổi đến đâu lúa vươn đến đó, cứ thế mà đâm bông kết hạt ngay trên mặt nước, cho loại gạo ngon đến mức bây giờ không có loại gạo nào bằng.
Nói chi tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre..., năm 1945 trở về trước, sản vật thiên nhiên vào loại phong phú nhất thế giới, lại thuận hòa mưa gió, những người khẩn hoang và con cháu của họ không làm cũng có ăn, hay làm chơi ăn thiệt. Dân số vài triệu người rồi tăng dần lên chục triệu, gần 20 triệu vào năm 1975, nay thì đất đã quá chật do người quá đông, lãnh đạo lại ham cải tạo thiên nhiên hơn là tìm cách chung sống với thiên nhiên, con người ăn vào thiên nhiên, ăn một phá vài ba. Giải phóng miền Nam xong, rừng ngập mặn và rừng tràm còn nửa triệu hecta, nay chưa tới 100.000 hecta, lại nằm rải rác, luôn có nguy cơ bị con người “hoàn thành việc phá rừng”. Mùa nước nổi vừa qua, ở Châu Đốc, kiếm con cá rô mề nấu lẩu bông điên điển nổ con mắt. Mùa làm mắm ở Châu Đốc cũng không còn tấp nập như trước, cá sặt, cá linh, cá lóc phải đặt mối lái tận Biển Hồ Campuchia. Ăn trắng mặc trơn ai không muốn, nhưng không có điều kiện để hưởng thụ, buộc phải làm, mà làm lụng vất vả thì thà làm biếng, nên rất nhiều cô gái ở đồng bằng sông Cửu Long tha phương cầu thực bằng những nghề mà nhu cầu hưởng thụ không lành mạnh đẻ ra.
Có vào Hảo Ngọt mới thấy thương chàng trai xe thồ đang vuốt muỗi đợi tôi dưới trời khuya sương lạnh. Chỉ với đôi tay nhẹ nhàng, sau 45 phút, cô gái mát xa đã có số tiền công 100 ngàn đồng, do tôi tự nguyện trả, mặc dù trước đó tôi đã ky bo từng ngàn đồng một khi trả giá cuốc xe lôi khứ hồi 10 cây số 30 ngàn đồng! Sức mạnh của phái đẹp muôn đời vẫn không có gì thay đổi được là vậy, nên không lấy làm lạ gái miền Tây rải khắp nước kiếm tiền bằng “vốn tự có”!
Chàng trai xe lôi gật gù trên thùng xe, thấy tôi ra, tỉnh queo hỏi có “mát trời ông địa” không rồi rạp người dấn bàn đạp. Con vạc nào buông tiếng đơn côi giữa thinh không. Chắc nó không mò được con cá nào nơi vựa cá một thời nên mới khắc khoải làm vậy...       
Đoạn đường Châu Đốc - núi Sam, theo sách Tìm hiểu An Giang xưa, được làm từ năm 1828, dưới sự chỉ huy của Thoại Ngọc Hầu, sau khi đã hoàn tất kênh Vĩnh Tế nối sông Hậu với Giang Thành bên Hà Tiên, có chiều dài 8 dặm (khoảng 4 km), cao 2 thước 3 tấc (1,1 mét), bề mặt 1 trượng 2 thước (gần 6 mét), chân rộng 3 trượng (khoảng 14 mét), đắp qua những khu rừng trũng đầy cá sấu dưới chân núi Sam, bây giờ là một phần của quốc lộ 91 bốn làn ô tô, có dải phân cách bằng “con lươn” trồng cây cảnh, lại làm thêm một nhánh chạy ngang cửa hậu miếu Bà Chúa Xứ, cũng thênh thang mười mấy mét rộng cho bớt kẹt người mùa vía Bà, được đặt tên là đường Miếu Bà, thuộc phường Núi Sam (thị xã Châu Đốc). Ở nước ta, có lẽ không nơi nào như phường Núi Sam mà toàn dân hầu như sống nhờ vào thần thánh, cụ thể là nhờ lòng tin của bá tánh đối với bà Chúa Xứ, dù một năm chỉ có mấy tháng “cao điểm” sau Tết Nguyên đán người tứ xứ đổ về núi Sam để cầu tài, cầu lộc, cầu tự, trả ơn Bà đã phù hộ cho vô mánh hay mua may bán đắt... Cái phường tum húm, chênh vênh một bên là dốc núi một bên là trảng sâu mà có đến 461 khách sạn, phòng trọ, nhà hàng, quán ăn; gần 250 người đấm bóp dạo; trên 300 thợ chụp ảnh dạo; người bán nước, trái cây, nhang đèn, quần áo, giày dép, nón, vớ “si-đa”; người “chạy dịch vụ” heo quay, chim phóng sinh thì không đếm xuể. Hòm công đức ngay dưới bệ tượng Bà năm nào cũng đầy tiền cúng, ít thì mươi tỷ, nhiều thì gấp đôi, cả vàng cây và đô Mỹ, mác Đức quy ra tiền đồng, một phần trong số đó dùng để xây những công trình công cộng, như con đường Miếu Bà chẳng hạn.
Dưới chân núi Sam, cũng thuộc thị xã Châu Đốc có ba xã “độc đáo” không thua phường Núi Sam, đó là xã Vĩnh Ngươn, Vĩnh Phú, Vĩnh Chánh, nơi toàn dân sống bằng nghề buôn lậu, chính xác hơn là đai vác cho các trùm buôn lậu. Bốn năm trước, tại Vĩnh Ngươn, tỉnh An Giang đã lập một trạm kiểm soát liên ngành chống buôn lậu, đối diện với gò Tà Mâu thuộc huyện Pray Choxa, tỉnh Ta Keo, Campuchia, một cái gò nổi lên giữa cánh đồng mỏi cánh cò bay, nơi tập kết hàng lậu lớn nhất dọc tuyến biên giới Tây Nam, chỉ cách đất ta chưa đến hai cây số, nhưng buôn lậu vẫn công khai ngày này qua tháng khác, ngay trước mũi công an, quản lý thị trường, hải quan, để đỡ tốn kém một cách vô ích, đã phải giải tán. Tôi đã từng “ăn nằm” với trạm liên ngành này 5 ngày đêm để lấy tài liệu viết về buôn lậu. Ban ngày, giữa cánh đồng ấy, từng đoàn người đai vác hàng lậu qua lại lấy hàng từ Tà Mâu về tập kết ở bờ kênh Vĩnh Tế, từ đó đưa về trung tâm thị xã Châu Đốc, ngay bên kia kênh. Hỏi vì sao có trạm mà người ta vẫn buôn lậu công khai, ông trạm trưởng nói đó là ba cái lẻ tẻ, phải phục kích ban đêm mới bắt được lượng hàng lớn. Đúng như ổng nói, đêm đó tôi được theo một tổ của Trạm, phục kích bắt được 5 tấn hàng, chủ yếu là thuốc lá, thuốc tây, rượu tây, mỹ phẩm, đồ điện tử. 


Ba năm rồi, giờ trở lại Vĩnh Ngươn, thấy buôn lậu càng tăng thêm, mặc dù năm qua, An Giang đã bắt cả trăm vụ buôn lậu, trị giá hàng hóa trên 3 tỷ đồng và tịch thu 4 kg vàng, 95.000 USD. Đã “quá quen” với buôn lậu, hàng lậu trên đất mình, tôi muốn sang Tà Mâu “mục sở thị”. Một anh hải quan quen thân trong đợt “ăn nằm” với Trạm bày cho tôi cách vượt biên... bất hợp pháp và dặn rất kỹ, nếu để lộ mình là ký giả thì không bị “thịt” cũng sứt đầu mẻ trán.
Tôi “làm thủ tục” vượt biên mau lẹ vì vừa vô một quán cà phê tạm bợ ở dốc cầu Vĩnh Tế, đã có bốn anh xe ôm phát hiện người lạ, quây lấy đòi “dẫn mối”. Bốn chục ngàn đồng đi đến nơi về đến chốn mới lấy tiền. Thấy rẻ quá, tôi bo thêm 10 ngàn. Cánh đồng Vĩnh Ngươn có một con đường gồ ghề uốn lượn, không đủ cho hai người tránh nhau, vậy mà chiếc xe ôm chạy băng băng. “Trạm thu phí” đầu tiên xuất hiện với một gã trai cà chớn cai quản việc đưa người và thu tiền đường (mãi lộ), khách 5 ngàn, xe ôm 2 ngàn đồng. Muốn lên gò Tà Mâu, phải qua một cầu khỉ không tay vịn, gác cầu là một gã lính đen thui, chìa tay lấy 10 ngàn đồng từ anh xe ôm. Chỉ cần một ngày 300 người vượt biên sang Tà Mâu mua hàng (để dùng chớ không phải buôn lậu), tiền mãi lộ cũng khẳm.
Gò Tà Mâu được dùng tập kết hàng lậu từ mười mấy năm trước, giờ là một kho hàng khổng lồ, tôi ước tính trị giá vài trăm tỷ đồng, được mang về từ Phnom Penh, từ thị xã Ta Keo, chủ yếu là hàng xuất phát từ Thái Lan. Một gã trai trẻ, có lẽ người Châu Đốc, “tự nguyện” dắt mối cho tôi mua hàng. Núi núi hàng hóa trong những căn nhà sơ sài. Tôi mê cái laptop từ lâu, nhưng máy mới ở Sài Gòn không dưới 10 triệu đồng, đành nhìn mà thèm, lần “xuất ngoại” này, cố tậu một chiếc. Hỏi một chủ hàng, bả ra giá ba triệu tư cái laptop second hand đóng mác IBM. Săm soi, thấy đã quá, bớt 200 ngàn, bả không chịu, tỏ ra thật thà: “Đồ câm điếc. Cậu thử đi, nhưng tôi không bảo hành”. Bị kẻ dắt mối xía vô, vì sẽ có huê hồng, tôi định mua đại, nhưng cảnh giác với từ “câm điếc” của bà chủ, đành thôi. Tôi rảo mỏi giò mà vẫn chưa mua được thứ gì vì thấy rất nhiều đồ điện tử nhìn kỹ là biết hàng nhái do Trung Quốc sản xuất, dù mang tên Sony, Sharp,Toshiba, IBM, Nokia... Ở Tà Mâu, ngoài đường ăn và đồ “si-đa”, hầu như thứ gì cũng giả, cũng nhái, hoặc có thể bỏ đi, nhất là tivi, đầu DVD, điện thoại di động, máy chụp hình kỹ thuật số, tủ lạnh, máy điều hòa nhiệt độ. Riêng rượu thì lớp lớp đủ loại tên tuổi nổi tiếng của Pháp, Scotland..., nhưng đều sản xuất tại Bangkok, Phnom Penh, Sài Gòn, trong những lò rượu thật một giả mười.
Trừ rượu, sòng phẳng mà nói, ở Tà Mâu, tiền nào của nấy. Vẫn buồn sao, nước mình đã trở thành nơi xài những thứ người ta bỏ đi ấy. Không có người xài thì gò Tà Mâu đã mất đời tám hoánh chớ đâu “ngày càng phát triển” như bây giờ!
Những người đai mướn, vác mướn hàng lậu vừa đáng thương vừa đáng giận. Đáng căm là bọn đầu nậu chủ hàng buôn lậu bằng điện thoại di động ở tận các thành phố lớn của Campuchia, Việt Nam, hầu như chưa có kẻ nào bị bắt, không biết chúng khôn hay do công an mình chưa hay... Thôi thì còn sống chung với hàng lậu dài dài. Bằng chứng là khi vượt biên trở về, tôi mang theo hai điện thoại di động Samsung xịn, dù ai đó đã xài, giá chưa đến nửa triệu một chiếc.

Thật bất ngờ, khi anh xe ôm trả tôi về quán cà phê bên chân cầu
       Vĩnh Tế, một phụ nữ ập đến xiết chặt tay tôi, kêu đúng tên “cúng cơm”. Ôi chị Năm! Đã chục năm qua chúng tôi không gặp nhau. Chị Năm ở tít trong núi Sập, cũng thuộc dãy Thất Sơn, sau khi về hưu non, đã xấp xỉ 15 mùa vía Bà. Chị là nữ sinh trung học thị xã Châu Đốc, tham gia chống Mỹ tận miền Đông Nam bộ, năm 1963. Tôi và chị Năm biết nhau, thân nhau khi tôi đi viết về C50 - tiểu đoàn bảo vệ căn cứ Trung ương Cục, nơi chị công tác, ở Bắc Tây Ninh, sau Hiệp định Paris về Việt Nam. Chồng chị Năm là đại đội trưởng của sư đoàn 9, hy sinh năm 1969. Hai con của anh chị được bà ngoại nuôi cho đến khi chị trở về Châu Đốc, sau ngày hòa bình đến mấy tháng.
Tôi kêu cà phê, chị Năm gạt đi:
- Uống ba xị đế như hồi nẳm. Cậu Tư có nhớ có lần tụi mình say ở Bến Ra, Tây Ninh không?
Rồi chị kêu nửa lít rượu gạo, hai cái ly xây chừng, một dĩa khô sặt trộn xoài tượng. Nhìn chị “một trăm phần trăm”, không ai nghĩ chị đã ngoài sáu mươi. Tôi gợi để chị kể chuyện nhà, chị nói nhậu vô tư đi, thân chị có Nhà nước nuôi, có điều làm bà nội bà ngoại hoài cũng chán, muốn kết bạn trăm năm... Tôi tưởng chị giỡn chơi, ai dè chị hỏi nghiêm túc:
- Cậu có đám nào không?
- Mà tiêu chuẩn thế nào?
- Sáu chục trở lên. Rờ là phải bật, không được như cọng bông súng luộc...
Chị cười giòn tan y như thời xuân sắc, làm tôi không kịp chửi “đồ mắc dịch”! Nghĩ mà thương chị quặn lòng. Ba mươi tám năm chị không có hơi ấm đàn ông, lấy đồng đội và con cháu làm vui, rồi lặng lẽ già, chỉ có tính tình vẫn vậy, xởi lởi và bông lơn...
Vùng biên giới chiều xuống rất nhanh. Chị phải về núi Sập kẻo nhà bỏ không. Tôi cũng không ở Châu Đốc lâu hơn được nữa. Lên xe ôm rồi, chị còn ngoái lại:
- Nhớ không được như cọng hành luộc à nghen!


Đọt choại
Phương Hà

Cuối mùa khô 1970, một người dân Bình Lợi đào ao nuôi cá, bắt gặp một tượng Phật bà bằng đá nằm sâu dưới một mét đất sình vàng khé vì phèn. Người dân ấy vô thần, vô đạo, nhưng vẫn thỉnh bức tượng về nhà. Dân trong vùng hay chuyện xúm đến chiêm bái, và không biết có phải không ai thờ cúng nên người nào đó đặt tên bức tượng là “Phật Cô Đơn”.
Những năm đầu thập niên 70 thế kỷ trước, Bình Lợi là vùng ven, là bàn đạp của lực lượng Giải phóng để đưa người và vũ khí vào ra nội ô Sài Gòn, nên khu vực này là nơi tự do oanh tạc của bom pháo quân đội Mỹ, vì thế, khó bề xây chùa, dù nhỏ, để thờ bức tượng. Khi đất nước hoà bình, tăng ni Phật tử góp công góp của tạo dựng nơi mảnh đất ngày trước Phật Cô Đơn nằm một ngôi chùa có tên gọi  là chùa Bình Lợi, với khuôn viên khang trang, rộng lớn, mát rượi cây xanh và bức tượng Phật bà ngự nơi trang trọng nhất đúc bằng thạch cao, nhưng Phật tử và dân chúng vẫn gọi Bà là Phật Cô Đơn, dù quanh năm suốt tháng hương khói không bao giờ tắt và ngày ngày, người trần không ngớt vây quanh Bà xin lộc, cầu tự, mong được thượng thọ, và gọi ngôi chùa bằng tên riêng của bức tượng nay không biết thất lạc ở phương trời nào.
        Nhiều lúc tôi kêu to lên, Phật Cô Đơn ơi, Bà đang ở đâu, cứu khổ cứu nạn chốn nào mà nơi chúng sanh viếng Bà lại không có Bà, nhưng chưa bao giờ Bà đáp lại tôi, chỉ thi thoảng báo mộng Bà chưa hết luỵ đời nên còn bôn ba nơi trần thế.
Xin Bà tha thứ, tôi không tin Bà đang bôn ba mà Bà chính là người mẹ đang ngày ngày bán đọt choại trước cửa chùa Phật Cô Đơn.
Đọt choại thì ngon gì mà bà bán? Bà bán đọt choại thì ai mua? Nhiều lần tôi hỏi bà như vậy để xem bà phản ứng thế nào. Bà nói, ngon chớ cậu. Rau sạch thì phải ngon. Tôi không tin bà lão hiểu rau sạch là gì, chắc bà nghe người ta nói rồi nhớ, nhớ để “tiếp thị” người mua. Với tôi, trong chiến tranh, đọt choại là người ơn vì nó từng giúp bộ đội bớt đói lòng trong những ngày bám trụ vùng ven, nhưng khi cơm gạo đủ đầy, như bây giờ, thì đọt choại luộc hay xào sơ, chỉ lạ miệng, vì nó nhân nhẫn, hăng hăng, lại nhơn nhớt. Vậy mà ngày nào bà lão nơi cửa chùa Phật Cô Đơn cũng bán được vài mớ, do chính tay bà hái dọc bưng trấp sình lầy lựng phèn vùng Bình Chánh, TP.HCM, mà người mua đều là dân khá giả, muốn tìm của lạ.
Từ thuở khẩn hoang, người mở cõi đất phương Nam không gọi cây choại, mà kêu bằng dây choại. Bện vạc, nhất là vạc bằng sậy, tràm, đước, hay bện đăng đó để bắt cá thì không gì qua dây choại. Cả đời dây choại không lớn thêm được bao nhiêu, cứ vươn dài trong đất phèn, có thể dầm mình trong nước lợ, lại biết giữ không cho đất sụt, biết lọc bớt phèn cho môi trường, dẻo dai hơn dây mây, chịu ẩm ướt hơn đứt dây mây, đến cái đọt non cũng vì con người. Ngắt đọt này, choại mọc đọt khác, dù trong rậm rạp cây bụi hay phơi mình giữa nắng gió quanh năm.
Không hiểu sao tôi cứ nhầm lẫn bà lão bán đọt choại với bức tượng Phật Cô Đơn, dẫu chưa một lần được chiêm bái dung nhan cốt cách của Bà ẩn trong bức tượng ấy, còn bà-lão-rau-choại thì hiển hiện hằng ngày, gầy gò, nghèo khổ, kêu đọt choại bằng rau sạch. Hay dây choại, đọt choại cũng chính là bà lão?


Đám cưới không có thiệp mời

An Dân

“Đời chỉ có một lần” là câu cửa miệng để “biện hộ” cho mọi chi dùng quá mức của một đám cưới. Tỷ như cô dâu chú rể ở Cần Thơ thuê thợ theo chụp hình, quay phim ở Đà Lạt, Nha Trang, Hạ Long…, tiết kiệm lắm cũng sem sem trăm triệu bạc. Tỷ như ở Hải Phòng, nhà đôi bên cách nhau vài chục bước chân, gia đình chú rể đã thuê mấy chục ô tô con loại “delux” diễu phố ra vẻ đón dâu. Tỷ như ở TP.HCM, có cô dâu thuê đến chục cái soire, mỗi cái không dưới chục triệu đồng, để dùng trong bữa tiệc tại nhà hàng…
Mấy dẫn chứng trên nhiều người biết, nhưng nếu được mời dự đám cưới bằng tấm thiệp in từ Hồng Kông với giá khoảng 1 triệu đồng, bạn có thể bất ngờ. Với giá đó, nếu mời 500 khách thì đã phải chi nửa tỷ, kể cả thuê thợ thiết kế, vẽ vời, và giá công in ở xứ người cao hơn xứ ta nhiều lần. Tấm thiệp ấy, về nghệ thuật thiết kế thì thuộc loại “xuyệc-vơ-nia” tranh hàng chợ, nhưng nó khá nặng, nặng vì giấy quá xịn, khổ quá bự, nặng nhất là giá thành.
Nhân chuyện tấm thiệp “kỷ lục guinness thế giới”, tôi
lại nhớ cách nay 5 năm, trong một đám cưới mà cô dâu chú rể đều là con của hai gia đình giàu có ở TP.HCM, nhưng lại rất “vừa phải”: nhà hàng loại trung  bình, không rình rang cổng hoa, thảm đỏ, múa may, nhạc sống, MC dài dòng với những câu vè chướng tai, những đại ngôn khó chịu, đặc biệt, trong phát biểu cảm ơn quý khách, hai ông sui đều bày tỏ sẵn sàng nhận thiệp mời đám cưới bằng… điện thoại. Cha chú rể nói: “Xin thưa hai họ, xin thưa các chị, các anh, các em và bạn bè thân hữu, việc đưa vài trăm thiệp mời đám cưới đã góp phần vào việc làm cho thành phố thêm kẹt xe, thêm khói bụi, chưa nói tốn kém in ấn. Tôi nghĩ, trừ những trường hợp đặc biệt, như mời anh chị sui, mời ông bà bên nội, bên ngoại ở xa, còn tiện nhất là mời dự đám cưới bằng điện thoại, vì bây giờ ai cũng có loại phương tiện hữu dụng này. Đừng nghĩ mời dự đám cưới bằng điện thoại là không lịch sự, vì qua điện thoại, ngoài việc thông báo ngày giờ, địa điểm, có thể trò chuyện thân tình với người muốn mời về việc tổ chức tiệc cưới, về việc hỏi ý kiến nên tổ chức tiệc cưới thế nào cho long trọng, ấm cúng mà không lãng phí. Xin quý vị đừng cho rằng tôi cực đoan vì muốn phá bỏ một tục lệ lâu đời là muốn mời khách dự đám cưới, không thể không có thiệp. Vợ chồng tôi, con cái tôi và gia đình anh chị sui tôi đây sẵn sàng và rất hoan nghênh nếu được bà con cô bác, bạn hữu mời dự đám cưới qua điện thoại”.


Ông sui bên nhà trai vừa dứt lời thì nhận được những tràng vỗ tay rất to của những người dự tiệc, chứng tỏ ý tưởng của ông rất hay.
Năm năm đã qua kể từ hôm ông sui ấy “công bố ý tưởng” mời dự đám cưới bằng điện thoại, thành phố càng kẹt xe hơn, trong đó có sự đóng góp của hàng vạn tấm thiệp có câu “Sự hiện diện của… là niềm vinh hạnh cho gia đình chúng tôi”. Như vậy là “lời kêu gọi ấy chưa thành hiện thực, có thể là không bao giờ thành hiện thực vì cái gì thuộc thói quen là vô cùng khó sửa, huống chi với con người Việt Nam ta, nghèo nhưng lúc nào cũng muốn “bằng chị bằng em”, chưa nói là nhiều người luôn sợ thất nghĩa.
Riêng tôi thì “hưởng ứng chủ trương đám cưới không có thiệp mời”, bằng chứng là vừa rồi, cùng bên nhà trai tổ chức lễ thành hôn cho hai con, tôi “a lô” mời khá bộn bạn bè, ai cũng vui vẻ nhận lời!




CỒN KHƯƠNG ĐỘNG ĐẤT

Phương Hà

Chỉ cách trung tâm thành phố Cần Thơ bởi con rạch Khai Luông, mà từ năm 2002 trở về mấy trăm năm trước, thời điền chủ Khương Bình Tịnh dẫn dân đến khẩn hoang, cồn Khương 250 hecta vẫn như một ốc đảo chỉ nối được với “đất liền” bằng những con đò ngang dặt dẹo mái chèo. Lấy mốc 2002 vì lúc đó, khi 5 cù lao trên sông Hậu đoạn 60 kilomet chảy qua địa bàn thành phố Cần Thơ được quy hoạch thành 5 khu du lịch chức năng cấp quốc gia (tổng diện tích 850 ha với tổng vốn đầu tư dự kiến trên 2.000 tỷ đồng, từ năm 2006-2015), đón đầu chủ trương ấy, Công ty Linh Thành bỏ tiền túi xây cây cầu sắt trên trăm mét dài, hai xe con có thể tránh nhau, với mục đích chính là để bán đất được giao trong các lô dành xây biệt thự, thì cồn Khương mới bắt đầu hội nhập thế giới văn minh.
Điền chủ Khương Bình Tịnh “chết tên” với cồn Khương, cây cầu sắt cũng “chết tên” Linh Thành. Chẳng có văn bản nào công nhận hai cái tên ấy, chỉ được một lớp người với tên gọi rất chung chung là “nhân dân” đặt cho, từ thời dân chỉ bíết bắc cầu khỉ đến thời Cần Thơ có máy bay chở khách lên xuống.
Thời Khương Bình Tịnh, cồn Khương bị động đất, do lần đầu tác động bởi con người, nhưng nhẹ nhàng thôi, chỉ là cây phảng phạt lau sậy, chiếc cuốc bổ xuống sình lầy phù sa nguyên sơ để có hạt gạo, cây rau, trái bắp nuôi sống vài nóc gia, rồi mấy trăm gia đình như sau này, ngay cả đường đi lối lại người ta cũng không làm lớn vì chẳng có mấy ai qua lại. Còn thời Linh Thành thì cồn Khương động đất dữ dội, trước hết là nó bị chia làm hai, một phần thuộc phường Cái Khế của quận Ninh Kiều, một phần thuộc phường Bùi Hữu Nghĩa thuộc quận Bình Thủy, kiểu lộc trời cùng hưởng, nên có thể cái ao cá mấy chục mét vuông mà do hai quận cùng quản lý! Rồi cái cù lao chẳng lớn lao này bị máy ủi, máy xúc đào bới phân khu, phân lô, nào là biệt thự cao cấp (biệt thự mà còn cao cấp), khu dân cư cao cấp (không biết loại dân nào là thấp cấp), du lịch sinh thái, trường du lịch, nhà hàng sang trọng, sân golf, … Nghĩa là xoá gần hết những gì mà cồn Khương có để làm mới hoàn toàn cái cù lao tăm tối mấy trăm năm mới được sáng đèn nhờ có điện vào năm 2008.
Dân cồn Khương được gì trong cơn động đất này? Trước hết là được trầm trồ trước những biệt thự nằm trong các khuôn viên rộng lớn có những chậu kiểng nửa tỷ đồng, như ngôi biệt thự mang dáng dấp cung điện thời Alibaba bên các nước thuộc khối Ả Rập bây giờ lên đến mấy triệu USD, mỗi cây cột đá trị giá từ 7.000 đến 10.000 USD, mà cung điện có đến 57 cột đá lớn nhỏ; hai con sư tử đá chầu ở bậc thềm, mỗi con có giá 200 triệu đồng…, giữa khu đất khoảng 10ha có địa thế “tiền lộ, hậu sông” hội đủ đặc trưng của vùng sông nước với không gian thoáng đãng, không khí trong lành. Đây là dự án được đánh giá thành công nhất tại thành phố trung tâm đồng bằng sông Cửu Long: là khu biệt thự triển khai nhanh nhất, kiến trúc đa dạng nhất, đắt giá nhất. 

Để người giàu xây những ngôi biệt thự như thế, một số dân cồn Khương phải giao đất, bước đầu là giá… không thỏa thuận, lại là đất nông nghiệp, nên một mét vuông chỉ bằng vài tô hũ tíu, sau thì phải thỏa thuận giá với dân, nên đất cồn Khương từ 100 triệu đồng/3.000m2 (3 công), vọt lên 150 triệu đồng/1.000m2), nay thì phải 10 tỷ đồng một hecta đất có vị trí đẹp, nơi “vừa vừa” cũng bằng nửa giá đó. Không ít biệt thự ở cồn Khương mọc lên là nhờ chủ của nó “trúng đất” thời được “mua như cướp”!
Cái được nữa của dân cồn Khương là đã có hai đoạn đường nhựa, một theo khu biệt thự chạy dọc con  rạch Khai Luông; một cắt ngang cồn, tiếp giáp với khu nhà hàng rất lớn bên sông Hậu, nơi có dãy phố hiện đại đầu tiên, dù còn dang dỡ.
Tương lai một cồn Khương xanh um cây trái như từng có nhưng với đường ngang ngõ dọc nhiều làn xe, với phố thị hiện đại, với những dịch vụ mà nếu ít tiền không dễ được hưởng, đã dần hiển hiện, nhưng trước mắt, số người phải bán đất rẻ như cho, trắng tay, phải qua bên kia rạch Khai Luông chạy xe ôm, hay làm phụ hồ ngay trên mảnh vườn mà mới đây họ còn là chủ, không giàu nhưng không lo chạy ăn từng bữa. Nhưng trước mắt, nhiều người chờ đất có giá để bán mà đổi đời thì cứ phải chờ, vì giới đầu cơ nhắm lời nhiều mới mua, chờ cho nên chẳng muốn sản xuất. Vì thế, có hộ như hộ bà Hai Đại, một gia đình có công với nước, gần trăm năm qua, có ba công đất, như bà nói, làm ăn hoài, tới hoài, nuôi sống con cháu hoài, nay cho thuê một năm chỉ được một triệu đồng. Nhưng trước mắt, dọc theo các con lộ mấp mô chỉ chạy được xe máy, trong các căn nhà sơ sài, lợp lá dừa nước, nhiều người, kể cả người bên trung tâm Cần Thơ, tranh thủ  kinh doanh “dịch vụ thấp cấp”, từ A đến Z, là nhậu bình dân đến gái bình dân. Tôi chưa được dùng thử dịch vụ “thấp cấp” này, nhưng nghe nói hay đáo để, giá không móc túi mà ăn được, chơi được, vì thế mà tối tối, khách bên kia rạch Khải Luông, nhất là dân ít tiền, sang thưởng thức khá đông. Cũng phải thôi, nông thôn, dù hoang sơ như cồn Khương, một khi đã đô thị hóa thì phát sinh bao nhu cầu đời thường. Có cầu thì có cung, cung làm cầu mở rộng, mở rộng từ ăn đến chơi đủ kiểu.
Có thể ai đó cho rằng những dòng trên đọc sao thấy toàn “tiêu cực”. Xin thưa, người viết viết những gì biết được, lại trung thực. Có gì “tiêu cực” đâu khi cồn Khương “động đất” mà chẳng chết ai, lại có nhiều người vẫn trụ vững trên mảnh đất đã bị quy hoạch! Chẳng hạn như ông Tư Lâm, thường trú trong căn nhà nhỏ mà nhìn địa chỉ đã biết phải tìm 3 con hẻm mới thấy: 300/32/5 đường Cách mạng Tháng Tám, bên trung tâm Cần Thơ, nhưng cả nhà sống được nhờ 5 công đất ở cồn Khương mà ba ông mua từ thời tám hoánh, với thu nhập bình quân một năm trên dưới 20 triệu đồng từ trồng bắp, đậu nành, đậu xanh, xoài, mít, nuôi heo; còn một ao cá khoảng trăm mét vuông và đàn gà đỏ vườn chỉ để làm thức ăn hằng ngày. Ông nói đang mong bán được 5 công đất với giá mỗi công khoảng 700 triệu đồng để đi xa hơn, mua vài chục công làm vườn cho đã, bởi những nơi đó đất còn rẻ. Chưa được giá đó thì cứ tà tà mà sống, vì bây giờ không còn tình trạng phải bán như cho, dù khu đất ông đang sản xuất đã quy hoạch là khu dân cư hiện đại, nhưng doanh nghiệp nào muốn trở thành chủ đầu tư thì phải chung tiền đủ theo giá thị trường.
Cũng có người nhiều đất hơn ông Tư Lâm, nhưng đã bán, “nâng cấp” được đời sống gia đình, nuôi con ăn học tử tế hơn, vậy mà không thể nguôi nỗi nhớ nghề nông, đã tranh thủ trồng trọt trên những khu đất đã quy hoạch nhưng còn bỏ hoang, bỏ hoang vô thời hạn. Sự tranh thủ ấy lợi đôi đường, người thì có thêm tiền, ít cũng thừa rau ăn, đất thì đỡ tủi thân vì đã có chủ mà như vô chủ.
Xem ra cồn Khương còn động đất dài dài…    

Chỉ có ở Việt Nam
Phương Hà

Tôi định đặt tên bài viết này là “Người Việt gian dối”, nhưng vốn nhát gan nên sợ bị phê bình cố ý miệt thị đồng bào mình, làm tổn hại uy tín quốc thể.
Dù vậy, xin bạn đọc lượng thứ, nội dung những dòng này không thể không nói đến sự gian dối của người Việt mình, mà cũng chỉ đề cập sự gian dối “vặt vảnh”, nhỡn tiền hằng ngày.
Tỷ như…
Mấy năm trước, thấy tôi buồn xo khi mua ba kilôgam cua bán bên lề đường gần trạm thu phí xa lộ Hà Nội, về nhà cân lại chỉ còn 2,2kg, tháo hết dây buộc, cân lần nữa, còn 1,2kg, tức phải trả tiền cho 1,8kg “cua ảo”, trong đó dây trói cua đã chiếm  đúng 1kg, một đồng nghiệp ở Báo Cà Mâu hứa dẫn tôi đi xem cách làm dây trói cua ở quê anh, rồi động viên tôi, ông mà tận mắt thấy công nghệ ấy thì không còn buồn cho việc bị cân thiếu nữa mà có thể rầu đến hết đời!
Tại thị trấn Hộ Phòng, ngay cả anh bạn đồng nghiệp cũng thêm một lần ngạc nhiên, huống chi là tôi. Cái thị trấn nhỏ bé, vô cùng luộm thuộm bị một đoạn quốc lộ 1A cắt qua này, quả đúng có một loại công nghệ độc nhất vô nhị trên thế giới: công nghệ sản xuất dây trói cua!
Từng bó bàng tươi được rải trên quốc lộ cho xe qua lại làm dập, đỡ mất công giã như người ta vẫn giã bàng đan đệm, xong, được tẩm dầu nhớt - loại dầu xe thải ra, rồi rắc cát lên cho xe lu lăn. Cái xe lu cũng lạ, máy kéo thì dùng máy có công suất nhỏ, cái trục lu cũng nhỏ, bằng bê tông cốt thép, tròn vo, xù xì, nặng khoảng trăm kilôgam, để chạy tới chạy lui cán cho hạt cát dính vào dây bàng, trên nền nhà ở. Hộ Phòng nhà liền nhà, toàn nhà ống, nên sáng chế ra cái xe lu như thế là rất tiện lợi. Dầu nhớt và cát được bổ sung nhiều lần, đến khi sợi bàng hết dính nổi, tức tăng trọng tối đa, mới thôi. Từng bó bàng nặng chĩu được máy xe sợi (cũng có một không hai) bện thành dây, to cỡ ngón tay cái người lớn, từng tấn dây này được đua đi bỏ mối cho các vựa cua, hoặc có người đến lấy sỉ. Hộ Phòng lúc đó có khoảng chục hộ chuyên sản xuất loại dây “đặc biệt đặc sản” này, cung ứng cho khắp miền Nam, nhiều nhất là TP. Hồ Chí Minh.

Đến đây thì quý bạn đọc biết vì sao tôi buồn khi phải trả quá nhiều tiền cho cua ảo. Ba kilôgam mà dây trói đã chiếm đến một phần ba, càng cho thấy, không có công nghệ sản xuất loại dây bàng như vừa kể thì cua không thể “tăng trọng” khủng khiếp như vậy!
Tỷ như…
Tôi là dân rượu đế, uống rượu phải mua bằng can chứ không dùng lít. Có lần tôi mua một can 5 lít rượu Bàu Đá nổi tiếng đãi ban, bạn tôi khẳng định, chỉ có bốn lít rưởi. Tôi chì con số dập nổi trên can nhựa, cãi, ông coi cho rõ đi, rành rành có chữ “5 lít”. Bạn tôi hình như cũng là người chuyên đổ can nhựa… thiếu, nói không thể bác, ông muốn can 4 lít mà dung tích thật 3 lít 2, can 2 lít nhưng thực chất chỉ 1 lít 6 hoặc 1 lít 4, tôi bán cho, bao nhiêu cũng có. Ra chợ cũng thế, đố ông mua can đủ lít. Tôi thắc mắc, mắc mớ chi mà người làm ra cái can phải bớt dung tích, bạn tôi nói có hai ý tưởng ăn gian gặp nhau: người đặt làm can muốn bớt thứ đựng trong đó, người làm can kiếm được chút nguyên liệu, ít một, nhưng cộng dồn thì bộn, lâu dần trở thành đơn vị đo lường chỉ có nước Việt Nam mới có. Hèn chi mấy chục năm qua, không bao giờ tôi mua rượu, mua xăng, mua nước mắm…đủ lít, đủ xị.
Tỷ như…
Tôi có một bài báo hay đáo để mà tổng biên tập không duyệt đăng, có lẽ ông nghi tôi nói quá. Nhân đây, tôi… lén ổng trích một đoạn, nhưng nêu tên tắt một công ty lớn.
Phòng văn của tôi mấy chỗ bị bong gạch lót nền, không tìm được gạch cùng tên, tôi mua hai thùng gạch có thương hiệu nổi tiếng, thuê anh thợ đang xây nhà bên cạnh lát dùm. Vừa thấy thùng gạch men của Công ty A, anh thợ phán, chịu xấu à nghen. Hình như biết tôi không hiểu, anh thợ lại nói, mấy mét vuông nền nhà phải lát lại không thể đẹp như cũ, bởi gạch anh mua không đủ kích cỡ. Tôi biết có những tiêu chuẩn không thấy văn bản pháp luật nào ghi, nhưng cả thế giới phải theo, như vành xe đạp loại 650 thì nhất khoát phải là 650cm đường kính, đại bác 105 ly thì nước nào cũng sản xuất y chang vậy, gạch lát nền nhà thì có nhiều cỡ, như 10x10, 10x20, 20x20, 30x30cm… nên không tin lời anh thợ hồ.
Đúng là gạch thiếu thước tấc nên chỉ mấy mét vuông, phải trét thêm hai bề mỗi bề 2cm xi măng trắng, cái nền nhà mới liền lạc. Nói là liền lạc nhưng gạch men cũ và mới xa nhau như vậy thì quá xấu.
Để biết chímh xác vì sao có khoảng hở ấy, tôi dùng một loại thước chính xác nhất để đo thì thấy gạch 30x30cm như ghi ngoài thùng của Công ty A, chỉ có kích thước 27x27cm, mỗi chiều mất đến 3mm! Một viên gạch thiếu mỗi chiều 3mm, tức mỗi viên thiếu 0,9cm2, không nhiều, nhưng hãy nhân cho 3.000 viên, 30.000 viên, 3 triệu viên… thì nhà sản xuất bớt được bao nhiêu vật tư, bao nhiêu tiền điện, tiền nước?
Tỷ như…
Xin lỗi, cả đời văn, cũng không sao kể hết những chuyện mà chỉ nước nhà mới có!


Ăn của rừng
Phương Hà

Một nhóm bạn người Bahnar ở thị trấn Sa Thầy rủ tôi lội tắt vào Vườn Quốc gia Chư Mom Ray chơi. Lội tắt, vì không qua trạm gác của kiểm lâm mà băng rừng theo lối lâm tặc vẫn đi. Chúng tôi mang theo mấy cái xoong, một ít gạo và gia vị để hưởng cái thú dã ngoại, lại dã ngoại nơi hoang sơ nhất còn sót lại của tỉnh Kon Tum. Đi gần hết buổi sáng, chúng tôi dừng lại bên một con suối lớn, nước lững lờ trôi vì mới đầu xuân, đang là mùa khô Tây Nguyên. Đinh Doan bảo H’Liêu chuẩn bị cơm trưa, bảo thằng nhà báo người Kinh tìm hai cây nứa, còn mình và Stơr thì xuống suối bắt cá nấu món canh trứng kiến. Canh cá suối nấu với lá tai voi, lá bứa ngon tuyệt thì những năm đánh giặc dọc Trường Sơn tôi đã nhiều lần nấu, nhiều lần ăn, còn canh cá nấu với trứng kiến thì… nghe lạ quá.
Một lát sau, Đinh Doan và Stơr đã bắt đủ cá, toàn cá trắng cỡ hai ngón tay. Đinh Doan lấy một trong hai cây nứa dài, thẳng tắp mà tôi chặt được, chẻ ra, chẳng mấy chốc đã đan xong chiếc rổ, lót mấy mảnh giấy báo, buộc vào đầu cây nứa còn lại, chọc vào một tổ kiến vàng trên ngọn cây bằng lăng đang độ lớn, còn Stơr rung mạnh thân cây. Kiến lính, kiến thợ túa ra bảo vệ tổ nhưng bất lực trước sự khôn ngoan của con người, thế là cả tổ kiến cùng hàng vạn quả trứng nhỏ như đầu que tăm rơi vào cái rổ. H’Liêu nhanh chóng mang đến một dề lá khô, hun khói xua lũ kiến thợ đang ra sức bảo vệ cái tổ đã rách nát, rồi nhúm một nhúm trứng màu trắng đục, nhai ngon lành. Cô ra hiệu cho tôi cùng ăn, nhưng tôi sợ. H’Liêu bảo không có gì ngon bằng trứng kiến vàng, nó vừa béo, vừa thơm, ngon, ngon hơn cả khi thằng người Kinh xem trộm… mình tắm truồng giữa suối! Tôi định chối, nhưng ánh mắt của H’Liêu lúng liếng quá, như nói rằng, tôi biết thừa anh núp sau tảng đá, không chỉ nhìn trộm mà còn chụp ảnh trộm. Ánh mắt H’Liêu còn khuyến khích tôi không việc gì phải ngại, thân thể em trắng thế, thon chắc thế, ngực phổng phao thế, không ngắm thì phí của Yàng.
H’Liêu làm tôi nhớ quay quắt những cô gái Pacô, Êđê, Jarai, Bahnar thời đánh Mỹ. Có lẽ đại ngàn Trường Sơn đã truyền cho họ sự hào phóng, dữ dội, lãng mạn nên giữa bom đạn, giặc dã, bao giờ các cô cũng sống hồn nhiên, vô tư, vô tư như H’Liêu giờ đây đang vui giữa đám đàn ông Thượng có, Kinh có. H’Liêu may mắn sinh ra trong hòa bình, không thì em cũng đi gùi gạo, tải thương, dầm mình giữa mưa ngàn gió núi, và đói, và sốt rét làm cho má hồng chẳng mấy chốc mà phôi phai, duy lòng yêu rừng, yêu suối thì không bao giờ cạn.
… H’Liêu cho cả rổ trứng kiến đã nhặt sạch xác kiến thợ hy sinh để bảo vệ kiến chúa vào nồi canh cá suối đang sôi, chỉ lát sau, nước canh trở thành màu sữa. H’Liêu múc cho tôi một chén đầy, bảo ăn cho hết để thấy không nơi nào có nhiều của ngon vật lạ như núi rừng Tây Nguyên. Vị canh cá nấu trứng kiến vàng quả là lạ, có vị chua đậm đà, lại beo béo, càng làm cho vị ngọt của thịt cá suối thêm ngọt.
H’Liêu ơi, biết đâu anh em mình ăn canh cá suối nấu trứng kiến lần này là lần cuối cùng, vì cả tỉnh Kon Tum rộng đến trên 9.500 km2, năm 1975-1977, rừng già còn sẵn sàng xâm lấn bất cứ chỗ đất trống nào, nghĩa là cả tỉnh là một đại ngàn với muôn loài động thực vật, đi ngày này sang ngày khác lâu lâu mới nhìn thấy mặt trời và gặp muông thú nhiều hơn gặp người, vậy mà chỉ khoảng 20 năm, người ta đã cơ bản biến rừng thành rẫy, may mà chính quyền ngộ ra, dù rất muộn, rằng, mất hết rừng đồng nghĩa mất luôn bản sắc văn hóa các dân tộc Tây Nguyên, mất luôn nguồn nước nuôi sống đồng bằng trong mùa khô khát, nên đã lập Khu Bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh và Vườn Quốc gia Chư Mom Ray. Cả Chư Mom Ray và Ngọc Linh chỉ rộng 98km2, tức chỉ bằng 1/10 diện tích cả tỉnh, lại luôn bị lâm tặc tàn phá, thì H’Liêu ơi, tình yêu rừng của chúng mình sẽ không sao giữ được con suối khỏi cạn khô, con sông khỏi lở lói, không sao giữ được cây sâm, cây sao, cây lim, cây gõ… và bao loài thực vật cổ xưa như các họ ngọc lan, na, chè, cáng lồ, các họ thực vật ôn đới đã thích nghi và phát triển tốt hàng ngàn năm qua khỏi tuyệt chủng; tình yêu rừng của chúng mình không sao giữ được những con voi, con hỗ, con bò tót, con khỉ mặt đỏ, con báo gấm cuối cùng... Nhưng có yêu rừng mới giữ được rừng. Cầu Yàng cho bấy nhiêu rừng còn sót có cơ may sống sót. Xin ai từng ăn của rừng, như anh em mình, như H’Liêu với thằng nhà báo người Kinh vừa ăn kiến, hãy rưng rưng nước mắt! 


Vườn rau trên bờ kênh Nhiêu Lộc

Lão Phương
Bà bạn cư trú bên dòng sông Tô Lịch (Hà Nội) vào Sài Gòn chơi, ghé thăm tôi, khen: “Nhất anh Hai, nhà kế bên dòng kênh xanh, vừa mát, vừa có nơi thể dục sáng”. Bà bạn khen cũng phải, vì cái gọi là sông Tô Lịch của bà, dù đã mấy lần được nạo vét, chỉnh trang, nhưng đâu lại hoàn đó, vẫn màu nước đặc quánh, nặng mùi, vẫn rác rến đóng dề lưu cửu, còn con kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè, từ cuối năm 1994, hàng ngàn căn nhà suốt chiều dài 17 ki-lô-mét của nó bắt đầu bị giải toả, chất thải hoá bùn thối hàng chục năm trời được lấy đi bớt, bờ được kè đá, hai bên bờ là hai con đường phủ bóng mát từ từ bởi những hàng dầu, sao, phượng bông vàng lớn lên từng ngày, nên đã có thể tạm gọi nó là “dòng kênh bớt đen”. Để có được lời khen của một phụ nữ xứ thanh lịch, Nhà nước phải mất mấy chục triệu Mỹ kim vay từ vốn ODA của Nhật Bản, phải mất 7 năm (1994-2000) để trả lại cho dòng kênh một phần thoáng đãng và trong sạch mà nó vốn có.
Trước Tết Con Cọp vừa rồi, bà bạn lại vào Sài Gòn chơi, tôi dẫn ra Nhiêu Lộc - Thị Nghè tham quan một… vườn rau ngay bên bờ kênh với những cây đu đủ oằn quả, với một giàn mướp đắng lúc lỉu  trái, với những bầu, bí, rau dền, rau ngót, hành, ớt, mồng tơi  xanh um. Bà bạn thốt lên: “Chẳng khác gì tự cung tự cấp thời bao cấp”. Tôi muốn thưa lại, không đến nỗi ấy, người ta chỉ tận dụng khi bờ kênh rảnh rỗi để có rau quả tươi, chớ đâu có cuốc công viên, giải phân cách giữa hai luồng đường để trồng khoai sắn như thuở nhà nhà, người người lập thành tích tăng gia sản xuất, mà bờ kênh rảnh rỗi đã ba bốn năm nay, bà cứ nhìn những cây trứng cá tự mọc thì biết, chúng đã thành cổ thụ. Bà bạn hỏi, vì sao mới tốn hàng chục triệu đô Mỹ để cải tạo mà kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè lại bị xáo lên, làm lại, mà làm lâu đến mức cây trứng cá tự mọc hai bên bờ kênh đã thành cây cổ thụ, mà vẫn chưa xong, tôi chỉ giải thích được rằng, ai mà chả muốn có một dòng kênh hiện đại giữa một thành phố hiện đại trong một đất nước mươi năm nữa cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại, chỉ tiếc là chọn nhà thầu thiếu nhiều thứ để hiện đại hoá dòng kênh nên kéo dài bốn năm rồi mà vẫn chưa biết đến năm nào thì tôi có thể dẫn bà đi dạo trên dòng kênh xanh như là sông Sene bên nước Pháp. Thôi thì bà ráng chờ, chưa đến nỗi chờ đến đầu bạc răng long đâu, vì số tiền đổ vào con kênh này (và hệ thống thu gom, xử lý nước thải) là mấy trăm triệu USD chứ không phải mấy chục triệu Mỹ kim như lần cải tạo trước, nên người ta không thể cho phép kéo dài thời gian thi công vô thời hạn.
Bà bạn Hà Nội nói khâu đền bù giải toả là lâu nhất  trong mọi dự án xây dựng, nhưng công trình Nhiêu Lộc  - Thị Nghè đợt hai không phải trải qua khó khăn này, mà bốn năm, đến giờ hai bờ của nó vẫn có thể lập vườn rau thì đáng khen dân mình nhanh nhạy nắm bắt thời cơ cải thiện cuộc sống, càng đáng khen nữa, chính họ quý từng tấc đất hơn ai hết! 

       Tôi muốn nói thêm với bà bạn rằng, bấy nhiêu nhằm nhò gì, thành phố này còn có những dự án treo mà nơi đó dân không thèm trồng rau mà trồng rừng để lấy gỗ xây nhà…


ĐÔI DÒNG

Tập làm dân
Lão Phương

Nhà văn Nguyễn Khắc(*) kể: “Đột nhiên con gái tôi hỏi, có phải ba đã làm dân? Tôi rất ngạc nhiên bởi câu hỏi ấy, vì con gái tôi mới 15 tuổi. Nó nói, con thấy thư, báo đề tên ba, gửi về nhà mình nên nghĩ ba không làm cán bộ nữa.
Mà đúng là tôi đã về hưu được gần tháng nhưng con gái tôi không biết, bởi cứ đúng 7 giờ sáng, như bao năm làm cán bộ, tôi vẫn xách cặp ra khỏi nhà, không phải đến công sở mà ghé… quán cà phê nhâm nhi với bạn già cho đỡ nhớ cơ quan. Tôi làm chức to nhất trước khi “hết tuổi lao động” là chủ tịch hội liên hiệp văn học - nghệ thuật tỉnh. Hội hè, vui là chính, nhưng cũng đủ bộ sậu, cũng thủ trưởng, thủ phó, nhân viên, văn phòng, tốn không biết bao nhiêu tiền thuế của dân. Vì thế mà tôi quên mình cũng là dân, quên đến 35 năm! Bây giờ con gái nhắc đến thư từ, báo chí (thư là của bạn bè, bà con, báo chí thì tôi tự mua chứ không còn được “bao cấp” nữa) gửi về nhà, tôi càng tỉnh ra, để quen với việc không làm quan, khó thật!”.
Tôi không lấy làm ngỡ ngàng trước việc nhà văn Nguyễn Khắc chậm quen với việc làm dân, vì bản thân mình từng là “siêu quan cách”. Xin tiết lộ hai chuyện đáng ra phải giấu vì nó… “chẳng giống ai”...
Tôi là một vụ trưởng mẫn cán, đang say sưa với công việc theo chức tước được phong, thì có quyết định nghỉ hưu. Tôi choáng váng đến mức, sáng thứ hai tuần đầu không còn chức, đúng 7 giờ 15, như thông lệ, không thấy xe đến đón đi làm, tôi đã gắt ầm lên trong điện thoại với người lái xe riêng, cũng may là gặp “bác tài” hiền lành, đã gắn bó với mình 7 năm, nhắc khéo “thủ trưởng” là chú đã hưu trí!
Vậy mà tôi không thể quen được việc mình không là cán bộ; không thể quên được văn phòng sang trọng với đủ thiết bị hiện đại, nhất là chiếc bàn rộng lớn, trên đó bao giờ cũng có công văn giấy tờ chờ chữ ký của mình; trong tâm tưởng không thể chấp nhận mình trở thành dân thường, nên chỉ một tháng sau ngày nghỉ hưu, tôi đã tích cực vận động thành lập một hội ngành nghề mà mình từng quản lý, tất nhiên là nhắm trước tiên vào chiếc ghế chủ tịch để tiếp tục làm… cán bộ. Và tôi đã đạt nguyện vọng, mặc dù cái hội ấy chỉ nặng về chất trang trí.
Bây giờ thì tôi đã làm dân thực thụ, dù quá muộn. Bạn sẽ hỏi, làm dân là làm gì? Khó trả lời lắm, nhưng sướng nhất là chuyện gì dân cũng được biết, được bàn, được kiểm tra!

Làm dân khi gối mỏi chân run nhưng chẳng lẽ không làm gì, thế là tôi tự tạo ra nghề mới: sưu tầm bút tích các nhà văn để in sách. Bạn đừng tưởng các nhà văn họ mặn mà với công việc của tôi. Xin được một đoạn văn, một câu thơ của nhà văn bằng chính nét chữ của họ còn khó hơn việc cán bộ trở lại làm dân. Chẳng hạn năm lần bảy lượt gọi điện, gửi thư, nhà thơ Nguyễn Khoa - một quan văn có chức rất to - nếu theo như cách gọi ngày xửa ngày xưa là quan thượng thư, đã hưu trí, mới gửi cho một phong bì theo đường thư bảo đảm mà người nhận phải trả tiền cước, ngành bưu chính kêu bằng “thư trả sau”. Tôi không trách nhà văn Nguyễn Khoa, vì có thể ông tưởng mình vẫn là cán bộ, lại là cán bộ quá to, đã quen với việc mọi công văn, thư từ cần gửi đã có người lo, nên mãn khóa quan, nể tình tôi, cho một trang văn đã là hạ cố.
Vì thế mà khi làm dân rồi, tôi mới thấm thía phận dân.
___________
(*) Tên nhân vật trong bài đã được đổi


Đã đăng trên Doanh Nhân Sài Gòn
những hình ảnh trong bài viết chỉ có tính minh họa

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét