Xuân Tân Mão

Xuân Tân Mão
Đảng và Chính phủ luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng với tất cả hoạt động, việc làm của người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia (TTg NT Dũng).

20 tháng 2 2011

Cuộc tranh luận Văn học nội-ngoại: Vương Trí Nhàn-Trần Mạnh Hảo-Lương Sinh

ĐỜI SỐNG VĂN NGHỆ
THỜI ĐẦU ĐỔI MỚI
 

Nguồn: Văn nghệ, Hà Nội, số 30 (29-7-1995)


HỘI NHẬP VỚI THẾ GIỚI ĐỂ TRÁNH NGUY CƠ
VĂN HỌC TỤT HẬU TRƯỚC ĐỜI SỐNG
 VƯƠNG TRÍ NHÀN
Khao khát làm ra của cải, khao khát làm giàu, khao khát đổi mới cách sống cách nghĩ... có lẽ là một nét tâm lý thấy rõ nhất trong xã hội ta những năm gần đây, nó chan hòa thấm thía trong tâm tư hành động của từng con người bình thường. Để làm giàu, và nói rộng hơn để biến cải xã hội, những người quanh ta vụt trở nên năng động sôi nổi cởi mở hơn bao giờ hết. Ở tất cả các ngành hoạt động xã hội, người ta chứng kiến một điều mà trước đây hồi chiến tranh chưa từng có và không thể có. Đó là làm gì chúng ta cũng trông trước trông sau, xem người nước ngoài, người ta nghĩ về việc này ra sao, người ta làm ăn như thế nào. Và nếu học được theo họ, nhập được công nghệ sản xuất mới để có thể làm như họ (và chừng nào đó tinh xảo khéo léo hơn) được đánh dấu chất lượng rồi mang ra xuất khẩu, thì tất cả mọi người đều thấy nức lòng. Cái ý thức hướng ngoại ấy giống như một nguồn năng lượng mạnh mẽ, khiến cho mỗi cá nhân cũng như từng đơn vị sản xuất từng ngành nghề xao động hẳn lên, tạo ra một vẻ tấp nập chưa từng thấy trong làm ăn sinh sống.
Một người bạn vong niên của tôi - năm nay đã trên 60 - kể rằng trong kháng chiến chống Pháp có lần được nghe Xuân Diệu nói chuyện. Nói về nước Mỹ, giọng Xuân Diệu sôi sục hẳn lên:
- Các đồng chí có biết không, ở bên đó, họ mặc quần áo bằng nilon!
- Các đồng chí có biết không, ở nước Mỹ ấy, các tổng thống sau khi hết nhiệm kỳ, quay về đi quảng cáo thuê cho các hãng buôn!
Nhắc lại chuyện đó, để thấy cái ấu trĩ một thời. Giờ đây nhận thức của chúng ta đã tiến khá xa.
Cả nếp nghĩ của xã hội đã và đang thay đổi sao không mừng cho được.
Song nếu trở lại với nghề mình, với đời sống văn học, thì nỗi vui mừng không khỏi chững lại và giảm đi.
10 năm gần đây, từ khoảng 1986 tới nay, đúng là sách vở ra có nhiều hơn, hoạt động văn học nhiều chiều và đa dạng hơn. Song bảo ở đây đã có được cái vẻ năng động như đời sống chưa, thì phải nói là chưa. Từ đời sống chung, quay trở về với sinh hoạt văn học, nghe các nhà văn nói năng bàn bạc, và tìm vào trang sách đã in, thấy đôi khi cũng nhộn nhạo đấy, nhưng vẫn là ở bề ngoài, ở trên bề mặt, nhìn kỹ vẫn thấy tịch mịch vắng lặng, và nhiều phần cũ. Đại khái chúng ta vẫn lướng vướng trong cái cũ những câu chuyện, những cuộc tranh cãi quẩn quanh như các năm trước, hoặc có khác thì khác chút ít, chưa tương xứng với những thay đổi lớn lao trong đời sống.
Trên đây chỉ là cảm giác của riêng tôi, không biết có được nhiều đồng nghiệp chia sẻ? Nếu cũng cảm thấy như tôi xin các anh các chị ta cùng bàn cho ra nhẽ để đời sống văn học khỏi sa vào cái tình trạng mà xưa nay, ta vẫn e sợ nhất, đó là tình trạng tụt hậu so với đời sống. Về phần mình, tôi xin phép trình bày rõ cái điều theo tôi nó là lý do làm nên sự tịch mịch nói trên: nếu ví von một cách thô thiển, xem văn học cũng là một ngành sản xuất, thì rõ ràng là văn học ta vẫn quanh quẩn trong khu vực sản xuất hàng nội địa, chứ chưa toan tính làm những thứ hàng xuất khẩu. Nói chung, ta vẫn đang "sản xuất" văn chương theo những quy trình công nghệ cũ kỹ, chứ chưa theo kịp quy trình tiên tiến của thế giới.
Nghe đến đây, chắc có người bảo: Vẽ chuyện không đâu! Với tập giấy và cái bút trong tay, quy trình sản xuất của văn học bao giờ cũng vậy, làm gì có chuyện mới với cũ. Tôi nghĩ nên hiểu hai chữ quy trình cho rộng hơn. Các nhà Nho xưa chỉ làm thơ viết truyện theo lối chép tay đưa cho nhau đọc đấy là một loạt quy trình, quy trình sản xuất văn chương thời trung cổ. Còn với các nhà văn từ hồi chữ quốc ngữ được phổ biến, các nhà văn sống và viết trong những thập niên đầu tiên của thế kỷ XX lại có một quy trình khác hẳn: viết theo đơn đặt hàng của thị trường, viết xong mang bán cho các tờ báo, các nhà xuất bản. Đến cụ Tản Đà thấm nhuần chất văn chương tài tử Hán học là thế, ngông nghênh là thế, cũng phải sản xuất văn chương theo lối com măng, rồi "mang thơ bán phố phường", mở đường cho các thi sĩ chọn nghề làm thơ để kiếm sống như Xuân Diệu, như Nguyễn Bính... thời sau. Vậy là lịch sử văn học Việt Nam đã chứng kiến ít nhất là một lần quy trình sản xuất thay đổi và nếu so sánh vẻ tấp nập cái hối hả sôi nổi của văn chương Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX với văn chương các thế kỷ trước, thì có thể không ngần ngại gì mà khẳng định rằng mỗi lần thay đổi quy trình sản xuất là y như văn học có đột biến. Quy trình sản xuất của nhà văn ta rồi sẽ thay đổi ra sao, tôi chưa dám nói, vì bản thân còn biết rất ít. Nhưng tôi tưởng điều đầu tiên cần nói với nhau là phải công nhận có cái quy trình đó. Nó cần phải được nhận thức đầy đủ. Và khi cần nó phải thay đổi. Để hiểu nghề mình ta phải xem ở các nước khác, các đồng nghiệp cũng viết văn như chúng ta họ hành nghề ra sao, tồn tại theo phương cách nào, và có những điểm nào ta có thể áp dụng vào công việc của mình.
Sự năng động trong hoạt động của nhiều ngành nghề trong xã hội hiện nay, đã bắt đầu bằng việc hội nhập, trông ra thế giới để học và làm như thế. Ngay các ngành nghệ thuật lân cận với ta, như sân khấu, điện ảnh, âm nhạc, - nói chi kiến trúc, hội họa - cũng đang tìm tới những mối liên hệ tự nhiên và lành mạnh với nước ngoài như thế.
Ở hội họa chẳng hạn. Để những lời chê bai rằng học đòi, rằng bắt chước, và nặng hơn nữa, rằng chạy theo đồng tiền... bỏ những lời xúc xiểm nhỏ nhen đó sang một bên, nhiều họa sĩ, nhất là các tác giả trẻ, nô nức bảo nhau hướng sáng tác của mình ra thế giới. Lúc đầu, có thể còn nhiều vụng dại, nhưng chỉ vài năm một số đã có được sự thành thục, rồi có những sáng tạo theo kiểu của mình. Và cả giới hội họa hiện nay lấy việc mình có thể hòa nhập, tức có thể bày tranh ở Hồng Kông và Singapo, có thể bán tranh cho người nước ngoài... làm điều tự hào. Sự tự tin của họ lây sang cả xã hội. Mỗi lần hội họa Việt Nam có những bước tiến mới trong việc hội nhập thế giới, báo chí xúm vào tuyên truyền ca ngợi.
Thế còn trong văn chương thì sao?
Thứ nhất, so với thời kỳ gọi là bao cấp, sách dịch hiện nay có nhiều hơn với nội dung cởi mở hơn. Nhưng trên đại thể đó vẫn là công việc phục vụ đông đảo bạn đọc, giúp họ giải trí. Trong Hội Nhà văn, văn học nước ngoài thường vẫn là việc riêng của mấy hội viên chuyên nghề dịch. Chưa bao giờ tác phẩm dịch được các hội viên - tức là các nhà sản xuất văn chương trong nước - mang ra mổ xẻ xem xét, xem làm như thế có hơn không? Thấy cách viết của họ có vẻ là lạ, mạ theo chắc sẽ ăn khách, một số cây bút khôn vặt sớm tính chuyện thủ bản dịch trong ngăn kéo, học theo với nghĩa học lỏm - hiện tượng ấy là có. Nhưng giữa sự học lỏm của từng cá nhân, với sự tìm hiểu học theo, để đi tới chuyển biến trong nhận thức và hành động của cả một lớp người hành nghề đầy khao khát đổi mới - hai cái đó khác nhau một trời một vực.
Rộng hơn câu chuyện kỹ thuật sáng tác, có những vấn đề mà cả nền văn học ta đang phải quan tâm để tìm ra đối sách cần thiết. Ví dụ: cũng có những nước trải qua chiến tranh như ta, vậy họ khai thác đề tài chiến tranh ra sao. Hoặc ở nước họ, từ lâu sản xuất và phân phối đã theo hệ thống phân phối kinh tế thị trường, vậy thì văn học trong cơ chế thị trường ra sao. Đấy là những vấn đề, mà ta có thể tham khảo và không chỉ tham khảo một nước, mà cần tham khảo nhiều nước, rồi cùng bàn bạc để tìm ra cách làm hợp lý của ta. Nhưng các việc cần kíp như thế này, 10 năm vừa qua, gần như chưa được Hội ta đả động tới.
Thứ hai, dù còn rất ít, song đây đó bắt đầu có những tác phẩm văn học Việt Nam mới viết ra hôm nay, được dịch ra tiếng nước ngoài. Có thể ở đây, bàn tay của những kẻ thù địch với ta thò vào quá rõ, nên các cơ quan an ninh đã sớm chú ý để thực thi nghiệp vụ của mình, đó là lẽ thường tình. Nhưng theo tôi hiểu, không phải mọi tác phẩm Việt Nam đã được dịch đều trong tầm khống chế của kẻ địch, có những tác phẩm của anh em ta được nước ngoài dịch vì họ muốn hiểu được con người Việt Nam, văn chương Việt Nam. Vậy với tư cách người sản xuất, các nhà văn của ta phải quan tâm mổ xẻ hiện tượng này, xem viết như thế nào thì họ sẽ dịch. Và Hội của chúng ta cũng phải có những người, những bộ phận theo dõi việc này, giúp cho các nhà văn viết tốt hơn theo hướng những người tử tế ở nước ngoài yêu cầu, để từ đó, có thêm tác phẩm được dịch, đó là vinh dự cho từng cá nhân mà cũng là vinh dự cho cả Hội. Nên nói là một điều đáng tiếc, khi nhìn lại thời gian vừa qua, chúng ta chưa có một thái độ cởi mở như vậy. Thấy ai được dịch, nhiều người chúng ta không chia vui mà thường nhìn người ta như một kẻ dị giáo, một con chiên ghẻ, rồi xem đây là chuyện xấu, chuyện kiếm tiền hèn hạ. Hội Nhà văn Việt Nam trong các nhiệm kỳ trước cũng chưa có phương hướng đúng đắn trong việc xem xét đánh giá hiện tượng này. Cách làm của Hội - mà cũng là cách làm của số đông chúng ta - gợi ra cảm tưởng chúng ta thu mình lại, coi văn chương chỉ là thứ hàng nội địa, nên căn bản ta làm ta đọc với nhau, ở đây không có hội nhập hội nhiếc gì cả. Chính đây là chỗ khác biệt giữa văn chương và nhiều ngành nghệ thuật khác, văn chương và đời sống xã hội ta hôm nay nói chung, khiến cho đời sống xã hội thì sôi nổi năng động mà văn chương chúng ta ngoài một ít chuyện nhộn nhạo vặt vãnh, căn bản vẫn có cái vẻ tịch mịch chậm rãi như mấy chục năm nay đã vậy, và trình độ của mỗi chúng ta không được nâng lên tương xứng với trình độ làm nghề hiện nay trên thế giới.
Trên đây là ý kiến của tôi trước một vấn đề theo tôi rất thiết yếu đối với sự nghiệp văn học, và Ban Chấp hành Hội cũng như tất cả chúng ta phải có ý kiến để tìm tòi phương hướng giải quyết đúng đắn nhất trong thời gian tới.
Rất mong các đồng chí có thêm ý kiến.
w Nguồn: Văn nghệ, Hà Nội, số 30 (29-7-1995)
http://www.viet-studies.info/NhaVanDoiMoi/VuongTriNhan_HoiNhap.htm 




ĐỪNG CÔNG NGHỆ HÓA VĂN CHƯƠNG
TRẦN MẠNH HẢO
Báo Tiền phong thứ năm, số 28 ra ngày 6-7-1995 có in bài của nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn với nhan đề Làm thế nào để văn chương nước ta hội nhập với thế giới và một nhan đề phụ khá hấp dẫn: "Không còn là thứ hàng nội địa", khiến chúng tôi khấp khểnh mừng thầm. Rằng, Vương Trí Nhàn bằng nhiệt tâm rất hiện đại, rất công nghiệp hóa, rất quốc tế hóa của mình đã toan làm ngòi nổi cho quả pháo thăng thiên văn học Việt Nam bay lên và bay ra thế giới. Rằng, Việt Nam đã xuất khẩu gạo, dầu hỏa, sao lại không nghĩ đến quy trình xuất khẩu văn chương để lấy ngoại tệ về cho nhà văn và cho đất nước? Chúng tôi trân trọng, chia sẻ với niềm tâm huyết ấy và sự sốt ruột của ông Vương Trí Nhàn, với món hàng văn chương nội địa đang như một con rùa trong quá trình tên lửa của sự hội nhập kinh tế thế giới. Nhất là từ đầu tháng 7 năm nay, nước ta đã trở thành thành viên thứ bảy của khối ASEAN, thì sự đặt vấn đề hội nhập văn chương của ông Vương Trí Nhàn quả là khá nhạy bén về tính thời sự chính trị của vấn đề.
Nói hội nhập kinh tế Việt Nam vào kinh tế khu vực và thế giới quả tình là thành khẩu hiệu hành động, thành cương lĩnh của chúng ta. Nhưng đặt vấn đề hội nhập văn chương Việt Nam vào văn chương khu vực và thế giới thì còn cần phải bàn cái đã. Mặc dù, mỗi chúng ta ý thức được rằng, khi một tác phẩm nào đó được dịch ra tiếng nước ngoài và được hoan nghênh, khen ngợi, thì vinh quang đó không chỉ còn là vinh quang của nền văn học. Ai chẳng muốn thế giới nhìn Việt Nam bằng con mắt thán phục, không chỉ vì khả năng xuất khẩu gạo thuộc hàng thứ ba trên thế giới, mà còn vì chúng ta sẽ là một cường quốc xuất khẩu tiểu thuyết, xuất khẩu thơ ca và xuất khẩu cả lý luận phê bình văn học nữa theo sự đề xuất của Vương Trí Nhàn. Nhưng muốn là một chuyện và làm lại là chuyện khác. Bởi vì, một điều quá đơn giản là gạo, dầu lửa là sản phẩm chung của mọi dân tộc nên nó không phải phiên dịch. Nhưng văn chương muốn xuất khẩu phải qua quy trình quá nhiêu khê, rắc rối của nghệ thuật dịch. Văn học là vấn đề của tâm hồn một dân tộc. Người ta có thể dễ dàng dịch tiếng nói nước này qua nước khác. Nhưng khó vô cùng nếu phải phiên dịch tâm hồn dân tộc này ra tâm hồn một dân tộc khác. Mỗi dân tộc có một tài sản quý giá vô cùng là ngôn ngữ của dân tộc ấy. Mà muốn nói đến văn chương là nghệ thuật của tâm hồn con người, tất nhiên phải nói đến ngôn ngữ khu biệt của từng dân tộc. Mỗi dân tộc chỉ có thể đóng góp cho nhân loại bằng chính cái độc đáo rất riêng biệt của mình vậy. Do đó, về bản chất, việc hội nhập kinh tế và hội nhập văn chương vào thế giới là hai vấn đề rất khác nhau. Ở chỗ này, có lẽ do nhiệt tình nóng vội hay do tự ti mặc cảm trước văn chương thế giới quá, Vương Trí Nhàn đã khá đơn giản và khá thô thiển khi toan biến văn chương thành công nghệ sản xuất như một mặt hàng xuất khẩu thuần túy vật chất.
Chúng ta hãy xem Vương Trí Nhàn viết: "Tôi xin phép trình bày rõ cái điều theo tôi nó là lý do làm nên sự tịch mịch nói trên: nếu ví von một cách thô thiển, xem văn học cũng là một ngành sản xuất, thì rõ ràng là văn học ta vẫn quanh quẩn trong khu vực sản xuất hàng nội địa, chứ chưa toan tính làm những thứ hàng xuất khẩu. Nói chung, ta vẫn đang "sản xuất" văn chương theo những quy trình công nghệ cũ kỹ, chứ chưa theo kịp quy trình tiên tiến của thế giới...".
Quả tình, bằng những tiêu chí công nghiệp hóa, tự động hóa, dây chuyền hóa chính xác, ông Vương chừng như đã trở thành nhà phát minh kinh hãi nhất sáng tạo ra những thuật ngữ văn học mang đầy tính công xã này. Chưa ai dám đặt tên cho văn học Việt Nam là "khu vực sản xuất hàng nội địa", rồi đánh giá chất lượng của nó bằng thứ văn chương xuất khẩu như nhà lý luận phê bình văn học tiên phong này. Rằng với văn học, thế nào là "những quy trình công nghệ cũ kỹ" và thế nào là "quy trình tiên tiến của thế giới" thì ông Vương Trí Nhàn không hề giải thích. Chả lẽ ở nước ngoài có những công xưởng viết văn chăng? Hay chúng ta còn sáng tác văn học theo "quy trình công nghệ cũ kỹ", vì chúng ta chưa có những nền thơ được công nghệ hóa bằng robot? Chúng tôi lấy làm tiếc, một người viết phê bình văn học gần 30 năm nay như ông Vương Trí Nhàn, sao lại quá lầm lẫn công nghệ nuôi gà công nghiệp và công việc viết văn? Nếu cứ thô thiển hóa mà gọi nghề viết văn là "quy trình sản xuất" đi, thì về bản chất nó khác xa với quy trình sản xuất hàng hóa khác. Bởi nó là nghệ thuật sáng tạo trong nỗi cô đơn, trong cảm xúc, trong trạng thái nhập thần hết sức cá nhân, hết sức đơn lẻ và mỏng manh của những cảm quan thiên giới, của cõi phiêu du và mơ mộng của tâm linh con người. Toan tính công nghệ hóa tâm hồn con người như thế, hóa ra ông Vương Trí Nhàn lại không nắm được bản chất văn chương ư? Hay là khi nói đến "quy trình sản xuất văn chương" ông Vương đã quên béng khâu quan trọng nhất là nhà văn - kẻ vượt cạn một mình để viết ra tác phẩm, để chỉ chú ý đến phương tiện dùng để viết như viết bằng bút trên giấy như từ nghìn xưa đến nay thì là "công nghệ cũ kỹ" rồi, còn viết trên máy vi tính mới gọi là "quy trình tiên tiến của thế giới"? Hay ông Vương lầm lẫn "quy trình sản xuất văn chương" ra chỉ ở khâu lưu thông phân phối, nghĩa là công việc in và phát hành? Chịu. Có thể vì chúng tôi ít được ra nước ngoài nên không thấy được "quy trình viết văn tiên tiến của thế giới" như ông Vương chăng? Mặc dù theo ông, thì có lẽ chúng tôi có thể cũng được xếp vào hàng thợ viết tiên tiến cỡ thế giới, vì chúng tôi cũng đang lụy cái máy vi tính cũ kỹ 386 mà cho ra những dòng này?
Đưa ra khái niệm "công nghệ viết văn cũ kỹ" và "công nghệ viết văn tiên tiến của thế giới" để hù dọa nhà văn Việt Nam, hay ông Vương muốn rung chuông báo động về sự lạc hậu của kinh tế và văn học của chúng ta trước khu vực và thế giới? Ở chỗ này, ông Vương đã khá lầm lẫn khi đi theo một công thức: một đất nước có một nền kinh tế tiên tiến, cũng có nghĩa là sẽ có một nền văn học tiên tiến (!) Hãy nhìn năm con rồng châu Á ở quanh ta đang thăng tiến vượt bậc về kinh tế và kỹ thuật, nhưng nền văn học của các nước này liệu có tỷ lệ thuận với nền kinh tế phát triển của họ chăng? Đối với văn học thế giới, chừng như nền văn học của năm con rồng châu Á kia trong 50 năm qua, cũng chẳng có gì hơn nền văn học hiện đại của chúng ta mà ông Vương cho là đang quá "tịch mịch", trừ trường hợp Kim Dung của văn học Hồng Kông. Châu Âu trong 30 năm qua quá tiên tiến về kỹ thuật, quá phát triển về kinh tế, song văn học thì quả là "tịch mịch". Trong khi châu Mỹ Latinh trong 30 năm qua nằm trong khu vực thế giới thứ ba, là các nước chậm và đang phát triển, lại có nền văn học "hiện thực huyền ảo" khiến thế giới phải kinh ngạc. Do đó, lấy kinh tế, lấy kỹ thuật làm tiền đề, làm cơ sở cho sự phát triển văn học, văn hóa là sự ngộ nhận đáng tiếc. Với hạ tầng cơ sở còn lạc hậu và chậm tiến như thời cổ Hy Lạp, như thời bách gia chu tử của Trung Hoa cổ đại, làm sao hai dân tộc này lại tạo ra thời đại có một không hai về sự phát triển tột bực của tư tưởng, của văn hóa, của văn học rực rỡ đến thế? Chúng ta hãy xem ông Vương Trí Nhàn viết tiếp: "Các nhà Nho xưa chỉ làm thơ viết truyện theo lối chép tay đưa cho nhau đọc đấy là một loạt quy trình, quy trình sản xuất văn chương thời trung cổ. Còn với các nhà văn từ hồi chữ quốc ngữ được phổ biến, các nhà văn sống và viết trong những thập niên đầu tiên của thế kỷ XX lại có một quy trình khác hẳn: viết theo đơn đặt hàng của thị trường, viết xong mang bán cho các tờ báo, các nhà xuất bản. Đến cụ Tản Đà thấm nhuần chất văn chương tài tử Hán học là thế, ngông nghênh là thế, cũng phải sản xuất văn chương theo lối com-măng, rồi "mang thơ bán phố phường", mở đường cho các thi sĩ chọn nghề làm thơ để kiếm sống như Xuân Diệu, như Nguyễn Bính thời sau...".
Ở đây cần phải công nhận một sự phát hiện khá lý thú của ông Vương Trí Nhàn, mặc dù là sự phát hiện đã quá cũ: phương thức sản xuất thị trường theo kiểu tư bản của com-măng rõ ràng là tiến bộ hơn phương thức tự cung tự cấp thời phong kiến. Nhưng trong lĩnh vực văn học thì không hẳn như vậy. Bởi vì ông chê các nhà nho xưa của Trung Quốc cũng như của Việt Nam là "phương thức sản xuất văn chương quá cũ kỹ", "quy trình sản xuất văn chương thời trung cổ", theo phương thức do ông đặt tên là "làm thơ viết truyện theo lối chép tay đưa cho nhau đọc". Các nhà văn thời nay của thế giới công nghệ văn chương tiên tiến của ông Vương Trí Nhàn, mặc dù được các nhà máy in hiện đại hỗ trợ, lại được phương pháp phát hành thị trường quảng bá, về bản chất, cũng chẳng khác gì sự sáng tạo văn học của người xưa, nghĩa là cũng vẫn "làm thơ viết truyện theo lối chép tay đưa cho nhau đọc". Nghệ thuật viết, dù bằng máy vi tính thì không là quá trình "chép tay" thì còn là gì nữa? Rồi cái công đoạn "đưa cho nhau đọc", dù đưa theo kiểu Phạm Quý Thích đưa bản duy nhất của Truyện Kiều cho bạn ông in khắc gỗ, hay cách làm của in ấn phát hành hiện nay, chỉ khác nhau về công cụ để truyền bá, chứ về thực chất có gì khác nhau mà ông Vương dám chê cổ nhân là lạc hậu, là trung cổ? Sự lầm lẫn giữa phương tiện và mục đích, giữa cứu cánh và phương pháp đã dẫn ông Vương đi từ ngộ nhận này đến ngộ nhận khác, khi ông đặt ra vấn đề quy trình cũ, mới của công nghệ sản xuất văn chương. Quy trình ấy dù đi từ công đoạn đầu tiên đến công đoạn cuối cùng, vai trò chủ chốt vẫn là cá nhân người nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm có tài năng hay không tài năng, chứ không hề phụ thuộc vào công cụ phổ biến thô sơ hay hiện đại như ông Vương lầm tưởng. Có thể nghiên mực, bút lông, giấy bản, hoặc thanh trúc, mảnh lụa của Khuất Nguyên khi ngồi viết Ly Tao, khi Nguyễn Du ngồi trước tác Truyện Kiều là tối cổ, là trung cổ như ông Vương Trí Nhàn đã nói. Nhưng cái tâm thức, cái thiên tài của hai đại gia kia là cái cốt lõi làm nên hai tuyệt tác của hai dân tộc thì quả là không hề trung cổ, không hề lạc hậu cũ kỹ như ông Vương lầm tưởng. Ngày nay, dù có nhập cảng công nghệ viết văn robot tiên tiến nhất của phương Tây đi nữa, dân tộc chúng ta dễ gì đã vượt ra khỏi cái bóng tâm linh diệu vợi của Tố Như? Việc cho chung vào một rọ chủ thể sáng tạo là nhà nghệ sĩ sáng tác cùng với những công cụ, phương tiện khi ngồi viết và sau khi tác phẩm hoàn thành, rồi gắn cho nó một nhãn hiệu đơn giản, dung tục là "quy trình sản xuất văn chương", để từ đó phân ra quy trình này lạc hậu, quy trình kia tiên tiến là điều quá ấu trĩ của nhà phê bình văn học họ Vương vậy.
Việc ông Vương cho rằng Tản Đà, Xuân Diệu, Nguyễn Bính là "các thi sĩ chọn nghề làm thơ để kiếm sống" là điều không đúng với sự thật. Tản Đà sống bằng nghề làm báo, làm xuất bản, thậm chí có lúc cụ đã hành nghề thầy bói, hoặc nhờ các Mạnh Thường Quân bao bọc, như chủ báo Diệp Văn Kỳ ở Sài Gòn từng biếu cụ năm trăm đồng Đông Dương, chứ cụ có sống bằng nghề làm thơ bao giờ. Xuân Diệu và Nguyễn Bính cũng thế. Một người làm công chức nhà đoan Tây, một người sống lây lất quanh các tờ báo và nhờ bạn bè tốt bụng, đến nỗi phải dặn con: "Kiếp sau xin chớ làm thi sĩ / Nghèo lắm con ơi, bạc lắm con". Vương Trí Nhàn đã đánh giá quá cao kỹ nghệ hàng hóa hóa văn chương đến nỗi ông đã viết: "Nếu so sánh vẻ tấp nập cái hối hả sôi nổi của văn chương Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX với văn chương các thế kỷ trước, thì có thể không ngần ngại gì mà khẳng định rằng mỗi lần thay đổi quy trình sản xuất là y như văn học có đột biến". Nghĩa là theo ông Vương, từ quy trình sản xuất văn chương kiểu bút lông qua bút sắt, văn học Việt Nam đã phát triển đột biến, đã mới mẻ, hay ho hơn cái "quy trình sản xuất văn chương thời trung cổ". Nói quy trình sản xuất quyết định nền văn học là không biện chứng vì nó bỏ qua yếu tố con người. Về văn hóa, văn minh, dân tộc chuyển từ bút lông qua bút sắt quả là một sự tiến bộ vượt bực của lịch sử, nhưng để xét nó trên bình diện văn học thì chưa chắc. Bởi vì, dù nền văn học trước năm 1945 với Tự lực văn đoàn Thơ Mới, theo ông Vương là "đột biến", là "hối hả và sôi nổi", thì thử hỏi có cây bút nào có thể dùng để so sánh, để đứng bên cạnh những tên tuổi vĩ đại của quá khứ, những đại biểu của "quy trình sản xuất văn chương thời trung cổ" như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Khuyến, Tú Xương...?
Lấy phương cách hướng ngoại làm lối thoát duy nhất cho văn học hiện đại Việt Nam, Vương Trí Nhàn chê bai văn học ta "coi văn chương chỉ là thứ hàng nội địa". Nói như thế khác nào bảo tiếng Việt chỉ là thứ hàng nội địa, vì hì hục băn khoăn mãi để tìm cách xuất khẩu văn chương ra nước ngoài, cũng có khác gì quý vị toan xuất khẩu tiếng Việt, xuất khẩu ánh trăng và gió Việt Nam ra thế giới? Nhà văn Việt Nam dùng tiếng mẹ đẻ viết nên tác phẩm cốt để nhân dân mình đọc, chứ nào phải cứ ngồi xuống bàn là cắm cổ viết, cốt để được dịch ra tiếng nước ngoài như ông Vương Trí Nhàn khuyến khích: "Với tư cách người sản xuất, các nhà văn Việt Nam phải quan tâm mổ xẻ hiện tượng này, xem viết như thế nào thì họ sẽ dịch...". Ơ hay, sao lại xúi nhà văn trước khi viết, hãy họp lại với nhau, làm các cuộc hội thảo lớn nhỏ, bàn xem là chúng ta phải viết như thế nào cho đúng "gu", đúng đơn đặt hàng, đúng khẩu vị của mấy ông Tây bà đầm để mới đạt được vinh dự là được dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp? Đánh giá văn học Việt Nam giá trị hay không giá trị ở chỗ có được nước ngoài dịch hay không là một sự đánh giá khá phiến diện, thậm chí sai lầm của Vương Trí Nhàn. Chúng tôi không hề vơ đũa cả nắm để cho rằng người nước ngoài muốn giới thiệu văn học Việt Nam ra thế giới đều với một ý đồ phi văn học như trường hợp ông lái buôn người Úc - Frank Palmos, kẻ không hề biết tiếng Việt, đã gần như tước đoạt bản dịch của người khác, để viết thêm vào, sửa chữa, cho cuốn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh thành cuốn The Sorrow of war rồi đem cho nhà xuất bản Secker And Warner bên Anh quốc phát hành. Theo bà Phan Thanh Hảo khi trả lời phỏng vấn đài BBC, cuốn sách của Bảo Ninh khi qua tay phù thủy, đã trở thành một cuốn sách khác cơ bản với nguyên bản. Như vậy, tờ báo Independent quả thực đã trao giải thưởng cho một cuốn sách khác mang nhãn hiệu Bảo Ninh vậy. Những trường hợp như thế này, liệu nền văn học Việt Nam khi được dịch ra thế giới, phỏng có thêm được niềm vinh dự nào chăng?
Lấy ngoại để dìm nội, lấy thế giới để cổ lỗ hóa nền văn học hiện đại Việt Nam, Vương Trí Nhàn viết tiếp: "Sự năng động trong hoạt động của nhiều ngành nghề trong xã hội hiện nay đã bắt đầu bằng việc hội nhập và làm tốt như người". Điều này có thể chỉ đúng với kinh tế và các ngành khoa học tự nhiên, chứ với các ngành trong khoa học nhân văn, nhất là trong văn học thì việc hội nhập, việc bắt chước để "làm tốt như người" như ông Vương chỉ dẫn có nhiều điều không ổn. "Phải làm tốt như người" như lời ông Vương khuyên ư? Thế thì văn học chúng ta từ trước tới giờ chưa "làm tốt", hay chỉ mới biết làm xấu và làm dở thôi ư? Nói như thế, hóa ra, hàng trăm nhà văn miền Nam Việt Nam di tản 20 năm nay, từng sống ở trung tâm kinh tế, kỹ thuật tiên tiến nhất của thế giới là châu Âu và Bắc Mỹ, hẳn đều đã làm tốt, đều gặt hái được các giải thưởng văn học lớn trên thế giới, kể cả giải Nobel? Trong khi đó, theo nhiều nhà văn tên tuổi người Việt di tản như Nguyễn Mộng Giác, Nhật Tiến, Du Tử Lê... từng trả lời trên đài RFI, đài BBC rằng 20 năm qua, văn học Việt Nam di tản quá đìu hiu, không có được những tác phẩm giá trị. Và họ đều cho là văn học quốc nội đang khởi sắc, đang có nhiều tác giả và tác phẩm thành công, gây được tiếng vang cả trong lẫn ngoài. Chỉ có nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn trong nước đánh giá văn học Việt Nam hiện đại là "văn chương chúng ta ngoài một ít chuyện nhộn nhạo vặt vãnh, căn bản vẫn có cái vẻ tịch mịch chậm rãi như mấy chục năm nay...". Thật là nghịch lý thay cho một đầu óc vọng ngoại quá quắt như ông Vương Trí Nhàn! Cứ đà này, người Việt Nam muốn có những tác phẩm văn học làm thế giới bổ ngửa, cần phải học tiếng Anh sao cho mỗi nhà văn viết ra khỏi phải dịch, cứ đưa sang bên Mỹ là OK. Chúng tôi chia sẻ với ông Vương ở nỗi lo là các nhà văn Việt Nam hiện nay ít có người thông thạo tiếng nước ngoài, ít có dịp tiếp xúc với thế giới nên phần nào ảnh hưởng đến cái nhìn toàn diện của bản thân. Song, điều đó không phải là một trong những yếu tố quyết định thành bại của cả nền văn học như ông Vương lầm tưởng. Có một số quý vị do biết qua loa được một vài sinh ngữ, đã hô hào lấy tiếng nước ngoài làm cứu cánh giải thoát cho dân tộc cả về văn hóa lẫn kinh tế. Quý vị ấy suốt 20 năm nay đang ra sức phấn đấu nằm mơ bằng tiếng nước ngoài, cốt để cảm được những hồn thơ các dân tộc ấy, mà dùng lý trí không sao tới được. Xin đừng bắt cả nền văn học Việt Nam cũng phải tư duy, phải nằm mơ bằng tiếng nước ngoài như quý vị vong ngữ, vong hồn kia!
Nói tóm lại, với một bài báo quá ngắn, nhưng Vương Trí Nhàn đã bộc lộ khá nhiều điều phiến diện, chủ quan, thậm chí ấu trĩ về bản chất văn học, về công việc sáng tạo của nhà văn, về phương diện và mục đích của văn học, về sự hướng ngoại mù quáng và óc tự ti dân tộc, coi thường văn học trong nước, lấy văn học bên ngoài làm tiêu chí, làm hướng đi cho văn học Việt Nam. Lần đầu tiên, có một nhà lý luận phê bình văn học khá nổi tiếng như Vương Trí Nhàn, đã quá liều mạng biến một nghệ thuật vi diệu, tinh tế của tâm hồn con người là văn chương thành xưởng máy, thành công nghệ hàng loạt theo "quy trình sản xuất văn chương", lại còn chia ra bên này là "quy trình công nghệ cũ kỹ", bên kia là "quy trình công nghệ tiên tiến" một cách cụ thể theo kiểu bút lông và bút sắt, viết bằng máy vi tính hay bằng ngón tay cầm bút cổ lỗ nghìn đời. Vương Trí Nhàn còn cho rằng, chỉ có thị trường hóa, hàng hóa hóa văn chương, theo kiểu hội họa vẫn được mời ra thế giới triển lãm, mới giúp văn chương Việt Nam hội nhập vào văn chương thế giới. Những dân tộc có nền văn học lớn như Pháp, Đức, Anh, Trung Quốc... lại chủ trương hội nhập văn học thế giới vào nền văn học của nước họ, chứ không tìm cách quăng văn học của họ ra thế giới vô định này để thui thủi, tẽn tò đưa tình liếc mắt, bắt tay bắt chân với những nền văn học xa lạ như ông Vương đang cổ võ. Chỉ xin khuyên ông Vương Trí Nhàn hãy nhìn sang Nhật Bản và một số nước khác, để thấy một kinh nghiệm cốt tử rằng, kinh tế càng hướng ngoại bao nhiêu thì văn hóa càng phải hướng nội bấy nhiêu để cân bằng, nếu như không muốn đánh mất bản sắc dân tộc. Văn học chúng ta đang là một trong những mũi nhọn của văn hóa dân tộc, kể ra tìm cách hướng ngoại để chúng ta trở về hướng nội hơn nữa. Nó quả là mặt hàng nội địa thứ thiệt, một sản phẩm nội hóa của tiếng Việt, của tâm hồn Việt, chứ nào phải là một mặt hàng xuất khẩu như nhà phê bình văn học họ Vương chủ trương. Với lại, trong bản chất của mình, văn chương cao quý, thiêng liêng không phải là một món hàng tươi sống hoặc thiu thối trong tay bọn con buôn. Qua bài viết ngắn như một tuyên ngôn về nền văn học hướng ngoại của mình, cho phép tôi được quyền nghi ngờ khả năng nhận thức, trình độ và tư duy năng động của một trong những ngọn cờ đổi mới phê bình lý luận văn chương là ông Vương Trí Nhàn. Qua đây, chúng tôi mới hiểu hành động tự rút lui ra khỏi Hội đồng Lý luận phê bình của Hội Nhà văn Việt Nam của ông Vương Trí Nhàn quả là quá sức sáng suốt...
Nguồn: Văn nghệ, Hà Nội, số 30 (29-7-1995)
http://www.viet-studies.info/NhaVanDoiMoi/TranManhHao_DungCongNgheHoa.htm 


Nguồn: Công an thành phố, Tp.HCM (9-8-1995)
 
THAN ÔI, CÁI ĐẦU ÓC SÙNG NGOẠI
LƯƠNG SINH
Tuần báo Văn nghệ, số 30 (29-7-95) có đăng hai bài lý luận văn học của ông Trần Mạnh Hảo và ông Vương Trí Nhàn. Khoan hãy bàn đến bài báo của nhà thơ Trần Mạnh Hảo. Trước hết hãy nói về cái đầu óc sùng ngoại hay bái ngoại của nhà lý luận văn học Vương Trí Nhàn thể hiện trong bài viết của ông.
Ít lâu nay đi ra phố thường gặp những cô gái đi giày Ý, váy áo Tàu, đeo kính Mỹ, tay buộc đồng hồ Thụy Sĩ và cưỡi trên xe máy Nhật. Nghĩa là từ đầu đến chân, cô gái toàn những hàng ngoại, thậm chí trong cái bóp tay kia cũng là tiền ngoại. Chỉ có thân thể cô là hàng nội bởi cha mẹ cô là người nội địa, người Việt. Cho dù cố đến mấy cô gái cũng không thể thay đổi dòng máu Việt của mình. Nếu có người ngoại quốc nào ngưỡng mộ cô thì chính là họ ngưỡng mộ cái vẻ đẹp Việt Nam, họ đâu có nhầm tưởng cô là người nước ngoài...
Văn chương cũng vậy, dù có hướng ngoại bao nhiêu, dù có theo "quy trình sản xuất hiện đại" bao nhiêu thì vẫn là văn chương Việt Nam và người đọc nước ngoài, nếu được dịch ra tiếng nước ngoài, họ khen hay chê là khen chê một áng văn chương Việt Nam. Ông Vương Trí Nhàn qua bài viết của mình tỏ ra nôn nóng muốn văn chương nước ta mau chóng hội nhập với thế giới (cái thế giới nào đây?) và nhìn lại nền văn học của ta lâu nay tuy có vẻ nhộn nhạo bề mặt nhưng bên trong là sự tịch mịch vắng lặng (?). Là người có tâm huyết cho nền văn học lâu nay tịch mịch vắng lặng ấy, ông trăn trở nghĩ suy để khuyên các nhà văn nên đổi mới quy định sản xuất văn chương của mình rồi gắng tìm hiểu xem nước ngoài họ ưa món gì thì sản xuất ra món ấy cho hợp khẩu vị của họ. Chỉ có như thế, theo ông Vương, văn học của ta mới hội nhập được với họ và khỏi bị tụt hậu trước đời sống (đời sống nào đây?). Có nghĩa là nhà lý luận văn học Vương khuyên các nhà văn Việt Nam nên chuyển đổi đối tượng hay bạn đọc nội địa của họ sang bạn đọc ngoại quốc. Nói như là một sự thách thức các nhà văn Việt Nam, đến bạn đọc nội địa còn không hiểu nổi thì làm sao hiểu được bạn đọc ngoại quốc. Mà đã phàm sản xuất hàng hóa (cứ coi sản phẩm văn học là hàng hóa đi cho nó phù hợp cơ chế kinh tế thị trường) làm ra mà người bản xứ không dùng thì đem đi xuất khẩu thế nào được, trừ phi là món hàng chính trị hay tâm lý chiến. Nghe nói ở bên Nhật, thứ hàng tốt nhất, đẹp nhất, bền nhất phải là hàng nội địa, sau đó mới đến hàng quốc phòng, hàng xuất khẩu đứng thứ ba. Còn những nước nghèo như nước ta thì vì nghèo nên dành dụm những thứ tốt nhất, ngon nhất đem ra bán cho nước ngoài để lấy ngoại tệ về giống như người nông dân, bao nhiêu thứ ngon nhất đem ra thành phố bán lấy tiền, gạo, thịt hay rau quả, mình thì bóp mồm bóp miệng. Đó là vì nghèo, là vì muốn nhanh chóng dựng xây đất nước hay gia đình. Văn chương tất nhiên không phải thứ hàng hóa vật chất, nó là sản phẩm tinh thần, là tâm hồn con người Việt Nam. Và làm giàu trong văn học hoàn toàn khác với làm giàu trong kinh tế. Người viết văn viết ra những tác phẩm đầy tâm huyết hoàn toàn không vì đồng tiền mà họ cũng chẳng bao giờ có thể giàu có nhờ nghiệp văn. Ngay các nước văn minh, số nhà văn giàu có cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Sự giàu có của văn học là sự phong phú về tâm hồn, sự phong phú về nhân văn mà những thứ này không thể tính bằng tiền.
Ông Vương Trí Nhàn lấy dẫn chứng về ngành hội họa, lấy lý do vì nhanh chóng hội nhập với thế giới mà hội họa của ta trở nên năng động, bao nhiêu phòng tranh được bày trong nước và ngoài nước, bao nhiêu họa sĩ bán được tranh cho người nước ngoài. Điều này chứng tỏ ông Nhàn chẳng có chút hiểu biết gì về ngành nghệ thuật tạo hình này. Trong khi ông Nhàn ngợi ca sự hội nhập của giới hội họa thì nhiều họa sĩ than thở: "Bây giờ có rất nhiều phòng tranh, cả trong nước và ngoài nước nhưng lại chưa có tác phẩm. Bây giờ có rất nhiều người vẽ tranh nhưng lại chưa có tác giả.". Xin nhắc để ông Nhàn nhớ rằng, trước kia những danh họa Việt Nam như Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tiến Trung, Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái hay Dương Bích Liên, thời của họ chưa có lời khuyên hội nhập của ông Nhàn, vậy mà bây giờ vẫn chưa họa sĩ nào bằng được họ, chưa nói vượt qua tài năng của họ. Và chính những họa sĩ ấy đã đem lại niềm tự hào cho nền hội họa Việt Nam. Nói như vậy không phải tôi phủ nhận sự năng nổ, sôi động trong thị trường hội họa mấy năm gần đây, tuy nhiên người nước ngoài mua tranh Việt Nam có nhiều loại khác nhau. Điều này giới hội họa chắc hiểu hơn ông Nhàn.
Ông Vương Trí Nhàn đề cập tới việc dịch thuật, dịch tác phẩm văn hóa nước ngoài sang tiếng Việt và ngược lại. Quả là mấy năm gần đây việc chuyển dịch tác phẩm nước ngoài vào Việt Nam nhiều hơn và có hệ thống hơn. Nhưng sở dĩ có chuyện bừa bãi trong dịch thuật là do tác động của cơ chế thị trường, nhưng nếu nước ta gia nhập Hiệp hội Bản quyền tác giả quốc tế thì tôi dám chắc việc dịch thuật ấy bị ngừng lại ngay. Bởi cứ theo giá nước ngoài, mình dịch tác phẩm của họ thì nhà xuất bản đến bán tất cả cơ nghiệp đi cũng không trả nổi tiền nhuận bút cho họ. Còn việc nước ngoài dịch tác phẩm văn học Việt Nam, ông Vương Trí Nhàn buông mấy câu xanh rờn: "... Dù còn rất ít, song đây đó bắt đầu có những tác phẩm văn học Việt Nam mới biết hôm nay được dịch ra tiếng nước ngoài. Có thể ở đây, bàn tay của những kẻ thù địch với ta thò vào quá rõ nên các cơ quan an ninh đã sớm chú ý để thực thi nghiệp vụ của mình..." và "... Thấy ai được dịch, nhiều người chúng ta không chia vui mà thường nhìn người ta như một kẻ dị giáo, một con chiên ghẻ, rồi xem đây là chuyện xấu, kiếm tiền hèn hạ... ". Chỉ mấy câu trên đây, nhà lý luận họ Vương đã tỏ ra thiếu sự bao quát. Trước hết những tác phẩm văn học Việt Nam đâu phải chỉ mới đây mới được dịch ra tiếng nước ngoài. Ông Nhàn quên rằng trước khi ông vào nghề văn học này đã không ít tác phẩm của Nguyễn Công Hoan, của Nguyên Hồng, Nam Cao, Nguyễn Đình Thi đã được nước ngoài dịch sang tiếng của họ. Và bây giờ cái số dịch văn phẩm được dịch ấy đâu có nhiều. Có lẽ ông Nhàn có sự phân biệt cái nước ngoài trước kia với cái nước ngoài bây giờ khác nhau? Và ông coi trọng cái nước bây giờ chăng? Rồi ông lại nói trong việc dịch thuật ấy có bàn tay thù địch nước ngoài thò vào nên các "cơ quan an ninh đã sớm chú ý để thực thi nghiệp vụ". Tại sao lại kéo cả cơ quan an ninh vào đây? Và trong khi ấy thì các nhà văn khác thấy ai được dịch "nhìn người ta như một kẻ dị giáo, một con chiên ghẻ... ". Thật là lạ lùng khi ông Nhàn mạt sát các đồng nghiệp không được dịch ra nước ngoài của ông như vậy? Một mặt thì ông bảo cơ quan an ninh sớm chú ý thực thi nghiệp vụ, một mặt thì ông nói các nhà văn khác chẳng những không chia vui mà xem đó như một kẻ dị giáo, một con chiên ghẻ? Đáng thương thay những nhà văn có được tác phẩm mà nước ngoài quan tâm rồi đem dịch lại kia. Và cái số người không được dịch kia thật đáng ghét biết bao? Rồi ông Nhàn lại phê Hội Nhà văn là "gợi ra cảm tưởng chúng ta thu mình lại, coi văn chương là thứ hàng nội địa, nên căn bản là làm ta đọc với nhau. Ở đây không có hội nhập, hội nhiễu gì cả... (?)". Và vì thế nên "xã hội thì sôi nổi năng động mà văn chương... ngoài một ít chuyện nhộn nhạo vặt vãnh, căn bản vẫn có cái vẻ tịch mịch chậm rãi của mấy chục năm nay...", còn trình độ nhà văn thì "không được nâng lên tương xứng với trình độ làm nghề hiện nay trên thế giới..."
Đây là cái nhận định cơ bản của nghề văn học Việt Nam mấy chục năm qua. Kể ra như thế cũng là quá bạo gan bởi xét cho cùng thì nhận định này của một nhà nghiên cứu văn học tầm cỡ như ông Nhàn đâu có là chuyện nhộn nhạo vặt vãnh nếu người ta cần làm cho ra lẽ. Ông đã phủ định tất cả những điều mà ông hằng ca ngợi bấy lâu nay. Ông khuyến cáo các nhà văn cần có sự hội nhập với thế giới và mắng mỏ họ lâu nay coi văn chương là thứ hàng nội địa, ta làm và ta đọc với nhau, thế giới mù tịt là phải. Bởi vì các nhà văn Việt Nam trình độ không được nâng lên tương xứng với trình độ làm nghề của thế giới. Ông Nhàn chỉ có phản bác và mắng mỏ thế thôi chứ giá như là một nhà nghiên cứu văn học, ông nói ra được cái "trình độ làm nghề của thế giới hiện nay" nó ra sao, cái gọi là "quy trình sản xuất văn chương" của họ ra sao để các nhà văn học tập thì tốt biết bao nhiêu. Và nếu cần thì ông nên viết béng ra một tác phẩm văn chương bằng các quy trình sản xuất ấy để đưa nó hội nhập với thế giới làm hình mẫu cho các bạn đồng nghiệp của ông và nếu như nó được dịch ra tiếng nước ngoài, được giải thưởng của nước ngoài nữa thì tốt quá đi. Ông Nhàn sẽ là vị cứu tinh cho nền văn học Việt Nam, cứu các nhà văn ra khỏi tình trạng "tịch mịch vắng lặng", chỉ biết sản xuất hàng nội địa, không có mặt hàng xuất khẩu. Và biết đâu ông sẽ chẳng làm Tổng giám đốc một công ty TNHH nào đó mang tên VAHOMEX hay VUTRIMEX chẳng hạn, chuyên xuất khẩu các bài thơ, các tiểu thuyết theo com-măng của khách nước ngoài...
Nhưng cái sự đời nó lại không thể làm như vậy được, văn học không thể là thứ hàng xuất khẩu. Ví những tác phẩm là những đứa con tinh thần của các nhà văn như ông Nhàn chẳng hạn, ông lấy vợ sinh con thì đứa con của ông dứt khoát phải là đứa con nội địa dù ông có "đổi mới quy trình công nghệ sản xuất" đến đâu chăng nữa. Nếu như ông lại đi hội nhập với người đàn bà da trắng hay da đen nào đó đến khi đẻ ra nó lại là đứa con lai mất rồi! Cho nên vấn đề rất thiết yếu mà ông đặt ra cho Hội Nhà văn Việt Nam quả là khó lắm thay!
  Nguồn: Công an thành phố, Tp.HCM (9-8-1995)
http://www.viet-studies.info/NhaVanDoiMoi/LuongSinh_DauOcSungNgoai.htm 

bình lựng

Những câu chữ khá "ngộ nghĩnh" của nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn thật đáng cho chúng ta suy ngẫm về cái thói sính chữ, sính trí thức...dỏm của một người "nổi tiếng", làm gì có hiện tượng gọi là "Văn học tụt hậu" hay "sản xuất" văn chương theo những quy trình công nghệ cũ kỹ, chứ chưa theo kịp quy trình tiên tiến của thế giới"...Ông Nhàn có "ngộ" chữ khg đấy ?...Thôi đi ông ngoại ơi ! 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét