17 tháng 2 2011

Mong đợi một chính sách thông và thoáng hơn

                           Lời dẫn

Bài nầy được viết vào tháng 8/1995 tức trên 15 năm trước, đã đăng trên báo Nhân Dân (2 lần—hiện tượng lạ) vì vậy ngày nay, con số có  thay đổi và vài chính sách đã được cải thiện theo Nghị Quyết 36 của Bộ Chính Trị(2004) như Miễn thị thực nhập-xuất cảnh 5 năm cho kiều bào có đơn xin, thí điểm cho mua nhà trong nước (Hà Nội-TpHCM) để ở, con số đầu tư trong nước cũng có vài tiến bộ…đợt bà con về ăn tết đông hơn 300-500,000 người/năm nhưng về cơ bản chính sách đối với kiều bào vẫn còn dẫm chân tại chỗ và lúng túng khi tư duy “yếu tố nước ngoài” là rào cản vẫn chưa được gạt bỏ dù các vị lãnh đạo luôn nhắc nhở “KB là một bộ phận khg tách rời của dân tộc”(TBT Đỗ Mười) !

                               Bác Hồ với kiều bào tại Phủ Chủ tịch năm 1960.

Mong đợi một chính sách
thông và thoáng hơn

                                                                     Hồng Lê Thọ (kiều bào tại Nhật Bản)

Hầu hết các văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà Nước đề cập đường lối và phương hướng phát triển đất nước đều có nhắc đến sự tồn tại và thể hiện mối quan tâm đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài (NVNN), xem NVNN là một trong những nhân tố quan trọng đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhận định này không chỉ là sự cổ vũ tinh thần mà là tiền đề vô cùng quan trọng để mọi người Việt Nam ở nước ngoài chuẩn bị trở về với cội nguồn của mình, tạo ra một khí thế mới cho những hoạt động hướng về tổ quốc, đồng thời thấy được sự kỳ vọng to lớn của lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Cũng đã có nhiều bài báo nói về tiềm năng ấy, nhắc đến một cộng đồng này với một sự trân trọng và yêu thương. Vấn đề còn lại là làm thế nào để biến tiềm năng thành thực tiễn, từ hy vọng đến hành động cụ thể mà không lãng phí.

Khi Tổ quốc đang nhộn nhịp trong chính sách đổi mới, lượng khách du lịch và thương nhân các loại đổ dồn ngày càng đông vào Việt Nam, nguồn thông tin, nhịp điệu phát triển ngày càng khởi sắc trên các luồng thông tin đại chúng, báo chí, tivi ở nước ngoài (và cả trong nước) thì anh em chúng tôi một mặt sung sướng muốn chia sẻ, mặt khác lo âu rằng liệu mình có bị tụt “hậu” không. Tâm trạng bồn chồn, náo nức pha lẫn ít nhiều lo âu ấy là một thực tế chưa được quan tâm giải quyết bằng chính sách “thông” và “thoáng” thật dứt khoát.

Rỏ ràng trong hơn 5 năm qua, từ khi có chính sách mở cửa và đổi mới, thì lượng người Việt trở về ngày càng đông để thăm quê hương hay tìm một công việc nào đó phù hợp, chuẩn bị “trở về hẵn”. Thị  thực nhập xuất cảnh, việc đi lại trong nước và mọi tiếp xúc tìm kiếm, thăm dò đã dễ dàng, thuận tiện hơn so với trước, không còn cảnh chầu chực chờ xin visa đến hàng tháng ở đại sứ quán, đã mất hẵn việc xếp hàng rồng rắn đăng ký tạm trú, tạm vắng hay xin đi lại thăm bà con ở phòng quản lý xuất nhập cảnh đường Nguyễn Du (thành phố Hồ Chí Minh). Tất cả đều được cải tiến và giảm bớt phiền hà rất cơ bản. Tuy vậy việc đánh giá sự tồn tại của cộng đồng hơn 2 triệu người Việt ở nước ngoài được thể hiện trong chính sách phát triển kinh tế và kỹ thuật còn nằm trong những ngôn ngữ “định tính” chưa thật rõ nét. Cụ thể là trong Luật đầu tư của người nước ngoài hay Luật khuyến khích đầu tư trong nước thì nói về Việt kiều như một thành phần “ăn theo” của bộ luật, không có hẵn một quy chế riêng.

Tất nhiên sự tồn tại của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày nay là một vấn đề do lịch sử để lại. Lý do ra đi và tình trạng sinh sống của họ rất đa dạng và phức tạp theo từng thời kỳ suy thịnh của đất nước nếu kể từ thời thực dân Pháp chiếm đóng đến nay. Tỉ lệ người Việt Nam sống ở các nước tư bản (Mỹ, Pháp, Ca na da, Ô-xtrây-li-a …) chiếm gần ¾ tổng số nói trên và phần còn lại là người Việt Nam ở các nước Đông Âu cũ. Nếu nhìn từ khía cạnh tuổi tác, thì số lượng kiều bào tuổi trên 40 là lớp người bồn chồn nhất vì đã thành đạt ở nước ngoài, trong khi sự gắn bó ấy của thế hệ sau ngày càng nhạt dần và cũng có khi mất hẵn. Chúng ta có chừng 350.000 kiều bào là trí thức. Rõ ràng đây là một tài sản lớn về chất xám, vì họ đã tiếp thu KHKT của nước ngoài, đa số đang có công ăn việc làm ở nước sở tại và một mối quan hệ bạn bè địa phương rộng rãi, thì việc vận dụng đưa vào chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa là điều phải được đặt ra một cách có hệ thống và cấp bách.  Nhiều anh em kiều bào chúng tôi vẫn ước mơ được về làm ăn chân chính, được trở lại quê hương của mình tìm việc làm, mặc dù việc từ bỏ nơi làm ăn, bạn bè hay quê hương “thứ hai” hiện nay không phải là dễ dàng. Có người băn khoăn hỏi nhau “cách nhìn thì thông rồi, nhưng chính sách thì đã thoáng chưa, để có thể yên tâm trở về góp sức xây dựng quê hương” ?  Rất nhiều người có băng cấp và chút ít vốn liếng muốn về “tái định cư” chí ít là mua một căn nhà cho cha mẹ dưỡng già, cũng cảm thấy lúng túng, nhiêu khê chứ nói gì đến việc đầu tư, xây xưởng sản xuất. Những tâm trạng ấy đã được thể hiện qua con số 132 triệu đôla khiêm tốn của bà con mạnh dạn đầu tư trong những năm qua mặc dù “tiềm năng” có thể cao hơn gấp nhiều lần. Theo luật định cư của nhiều nước, nếu người xin nhập cư có một số vốn nhất định (từ 100.000 đến 500.000 USD như ở Ô-xtrây-li-a hay Ca-na-da, Mỹ là 1 triệu đôla)(1) hay một văn bằng trên đại học thì họ sẽ được nhập cảnh và định cư lâu dài vô điều kiện vì cả hai yếu tố ấy đều đem lại lợi ích cụ thể cho nước thu nhận, thay vì nước ấy phải tốn tiền giáo dục và đào tạo một nhân tài hay phải thu hút ngoài tệ bằng biện pháp khác (người có vốn chứng tỏ họ cá khả năng kinh doanh lớn, nộp thuế nhiều hơn nước sở tại …). Điều đó giải thích tại sao nhiều bà con kiều bào trí thức ở Nhật Bản “chạy” sang tái định cư ở Ô-xtrây-li-a, Mỹ, Ca-na-da thật dễ dàng. Những đối với bà con kiều bào về đầu tư ở trong nước, thì liệu có được như vậy hay không ? Phải trải qua biết bao “xác nhận” quốc tịch, thủ tục theo luật định, vấn đề chính sách quy chế được đối xử (hưởng) như người trong nước một cách bình đẳng vẫn còn ở phía trước ? Không thể phủ nhận được tính phức tạp của thành phần của kiều bào, nhưng điều đó không là tiền đề để hạn chế nguồn nhân lực phong phú ấy. Nhìn một cách vĩ mô, vấn đề con người cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang là một đòi hỏi khách quan vô cùng bức xúc, mối quan tâm đến giáo dục, dạy nghề, du học sở dĩ hiện nay ngày càng được bàn bạn một cách sôi nổi là vì vậy. Muốn đào tạo vài chục nghìn cán bộ có trình độ và năng lực để hòa nhập cộng đồng quốc tế trong những năm 2000 đâu phải là một việc làm dễ dàng và ít tốn kém. Mọi việc bắt đầu từ giáo dục phổ thông đến cao đẳng và đại học ở một thể hoàn chỉnh liên tục. Nói khác đi, theo chúng tôi con số khoảng 150.000 trí thức bậc cao, trên đại học hay có kinh nghiệm tay nghề bậc thầy đang sống ở nước ngoài không thể để lãng phí, mà phải tìm một chính sách sử dụng hợp lý. Mặt khác, con số hơn 2 triệu người hiện nay đa số vẫn còn giữ quan hệ với bà con trong nước. Theo thống kê hàng năm, số tiền (ngoại tệ) chuyển về lên đến 600 – 700 triệu đôla theo con đường chính thức hay các ngõ “chui”, những từ góc độ tài chính, số tiền to tát ấy đều được sử dụng trong nước, chưa được tập hợp thành một khả năng về vốn ngoại tệ để phát triển kinh tế do hối suất và quản lý ngân hàng không hợp lý(2).

                                  Nguồn: Tổng cục Thống kê, IMF, WB

Nếu số lượng ngoài tệ này đều được chuyển qua ngân hàng thì đây là một nguồn vốn ngoại tệ tự có, chẳng cần cơ chế xuất nhập khẩu và bộ máy quản lý cồng kềnh, phức tạp. Để xuất khẩu được hàng có trị giá tương đương đó, hiện chúng ta cần đến bao nhiêu chi phí và ngân sách cho các bộ máy liên quan (sản xuất, hải quan, xuất nhập khẩu …). Thông thường để khuyến khích bà con gửi tiền chính thức và huy động loại vốn này một cách quy mô, lẽ ra nên có hối suất ưu đãi tập trung vào một ngân hàng của Nhà nước thì chính phủ tìm cách đánh thuế thu nhập(3) Liệu có hợp lý chăng, hay vô hình chung thúc đẩy các hoạt động chuyển ngân phi pháp , hay lén lút, hoạt động trở lại. Nhìn ở tầm vĩ mô, nếu trong 10 năm, với số tiền chuyển về bình quân là 600 – 700 triệu USD/năm, thì rõ ràng chúng ta đã có được 5 -6 tỉ USD. Đây là một nguồn ngoại tệ cực kỳ to lớn, lại ít tốn chi phí quản lý nhất, có thua gì một chương trình viện trợ ODA hay đầu tư tầm cỡ.
Vì vậy, từ việc “định lượng” nói trên, chúng tôi ao ước chính sách huy động vốn và nhân lực từ cộng đồng nười Việt Nam ở nước ngoài ngày càng được thực hiện thông thoáng hơn, khẳng định cho họ một vị trí khiêm tốn và đúng mức trong sự nghiệp đưa đất nước trở thành một quốc gia tương xứng với tầm vóc của dân tộc và sánh vai với bè bạn thế giới.

HLT

Cảm xúc khi cập nhật bài nầy lên NLG:

Thời gian đi nhanh, thế hệ chúng tôi hôm nay đã hai màu tóc, còn đâu “hào khí” của tuổi sôi nổi và nhiệt thành xưa kia… đa số đã về hưu ở nước ngoài, vui với đàn con thế hệ thứ hai thứ ba, chỉ có một số rất ít lặng lẽ hồi hương và hàng năm gặp nhau ở các buổi họp mặt Kiều Bào để xem ai còn ai mất…và nghe báo cáo dài dòng về thành tích năm qua của các vị lãnh đạo(ở nước ngoài là đại sứ hay đại biện, ở trong nước là chủ tịch nước hay chủ tịch TP tham dự) như bao lần, xem như một loại thủ tục của nhà tổ chức.


Chú thích bổ sung

(1)            chế độ thu nhận dân nhập cư của các nước đã có nhiều thay đổi, nghiêm nhặt hơn

(2)            Kiều hối năm 2010 đạt  8,3 tỷ đô la hơn cả mức năm 2009 và nhiều năm trước. Đầu tư của Kiều bào cũng đã thay đổi tương đối.

(3)            Ông Nguyễn Thanh Sơn,  thứ trưởng ngoại giao

        Chủ nhiệm UBCTVNVNONN(ban VK TƯ) cho biết:


Đến nay có trên 3.200 dự án của kiều bào đầu tư về nước với tổng vốn khoảng 5,7 tỉ USD, trong đó khoảng 60% dự án được đánh giá là hoạt động có hiệu quả. Kiều hối gửi về nước tăng trung bình 10-15% năm, từ mức 3 tỷ USD năm 2004 tăng lên 7,4 tỷ USD năm 2008 và 6,8 tỷ USD năm 2009.

              http://www.infotv.vn/kinh-doanh-dau-tu/dau-tu/50860-da-co-tren-3200-du-an-cua-kieu-bao-dau-tu-ve-nuoc


(4)            Vào thời điểm nầy, đã có phương án đề xuất đánh thuế 5% thu nhập kiều hối nhưng khg thực hiện được.

                                        (bổ sung và cập nhật ngày 15/02/2011)



CHÚNG TÔI MUỐN MÌNH LÀ “TA”, CHỨ KHÔNG PHẢI “TÂY”
 Hồng Lê Thọ
 12/1999
  • Hàng năm, lượng kiều hối gửi về nước từ 1 – 1,2 tỉ USD, tương đương với mức xuất khẩu gạo của cả nước trong năm 1998.

Cách đây không lâu, một người Việt ở Canada đã phát biểu: “Ở xứ người thì là ta nhưng về Việt Nam lại là tây”. Cảm thấy bơ vơ không chỉ khi ở nước sở tại mà còn ngay cả lúc về thăm quê hương. Điều đó không phải là tâm trạng riêng lẻ mà có thể là lời nói thay cho nhiều người Việt Nam đang định cư ở nước ngoài. Đầu Xuân năm nay, một chị lớn lên trên đất Pháp mặc chiếc áo dài truyền thống dân tộc trong cuộc gặp gỡ đầu năm ở TPHCM, run run phát biểu chúc Tết bằng tiếng Việt đã làm cho những người có mặt cảm kích khi nhận ra rằng những người Việt Nam sống ở nước ngoài rất mong mỏi được trở thành người Việt Nam thật sự, muốn “ở đâu thì cũng là ta, chứ không phải tây”. Thật vậy, ở bất cứ nơi nào trên thế giới, ở đâu có người Việt Nam sinh sống là ở đấy có một cộng đồng người Việt, có cửa hàng quán ăn với hương vị quê hương, chỗ nào ít người thì cũng tìm cách tụm lại để sinh hoạt theo truyền thống của dân tộc “bà con xa còn thua láng giềng gần”, gắn bó và giúp đỡ lẫn nhau ở xứ người.

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày nay có trên 2,3 triệu người (tương đương 3,3 đến 3,5 % dân số Việt Nam hiện nay), sống rải rác khắp năm châu, nhiều nhất là ở Hoa Kỳ, Úc, Pháp, Canada… Trừ một số rất ít không đáng kể còn “hằn học”, mặc cảm với quá khứ, còn tuyệt đại đa số bà con đã hòa nhập vào xã hội nước sở tại và luôn hướng về tổ quốc. Điều này không chỉ thể hiện qua số lượng bà con về ăn Tết hàng năm ngày càng tăng trên dưới 100.000 người/năm mà còn phản ánh qua việc chuyển tiền kiều hối, với một kim ngạch đáng kể, 1 đến 1,2 tỉ USD/năm, tương đương với mức xuất khẩu gạo của Việt Nam trong năm 1998, nếu tính trong 10 năm là 12 tỉ USD, xấp xỉ với tổng số kim ngạch đầu tư của nước ngoài vào TPHCM trong 10 năm đổi mới. Ngoài ra, số tiền bà con gom góp mang về dưới dạng “tiểu ngạch” giúp thân nhân trong nước kinh doanh mở “shop”, xây nhà máy, công ty, mua nhà đất có lẽ còn gấp nhiều lần con số vừa nêu. Ngoài ra, hiện nay cũng có nhiều chương trình về giáo dục (xây dựng trường học, đào tạo khoa học kỹ thuật), y tế, giao dịch thương mại, chuyển giao công nghệ mà một số anh em Việt kiều tham gia dưới dạng tư vấn, đầu tư, liên doanh hay góp vốn ngày càng đông, lên đến 200- 250 triệu USD qua 150 dự án, tuy rằng hành lang pháp lý cho những hoạt động này vẫn chưa hoàn chỉnh, mặc dù đã có nhiều quy định cho người Việt Nam ở nước ngoài trong Luật Đầu tư nước ngoài, hay Luật Khuyến khích đầu tư trong nước.

            Vấn đề mắc mứu cơ bản nhất, ngăn cản dòng chảy của người Việt Nam ở nước ngoài vào vận hội mới của đất nước là nỗi băn khoăn: Liệu người Việt Nam ở nước ngoài có thực sự là một bộ phận cấu thành của xã hội Việt Nam, một cộng đồng thật sự không thể tách rời của dân tộc như chủ trường lớn của Đảng và Chính phủ hay không ? Dù ra đi với bất cứ lý do nào và mang quốc tịch gì, một người đã có hộ tịch, giấy khai sinh ở Việt Nam hay dòng máu Việt (được cơ quan đại diện của Việt Nam tại nước ngoài xác nhận và không có tiền án), theo chúng tôi, khi trở về Tổ quốc, họ vẫn nên được xem là người Việt Nam, được quyền bình đẳng và có trách nhiệm chấp hành theo hiến pháp và tất cả luật lệ hiện hành (Luật Thương mại, Luật Hình sự, Dân sự…), không phải ưu đãi đặc biệt hay phân biệt đối xử khi thái quá, lúc bất cập. Được như vậy, chắc chắn tâm lý “tây, ta” nêu trên sẽ không còn lý do để tồn tại, các vấn đề khác như giá cả tàu xe mà chủ yếu là hàng không, thủ tục rườm rà, nguyện vọng mua nhà cửa hay đầu tư “chui” (?) cũng sẽ được giải quyết một cách thỏa đáng như người trong nước.

            “Chúng tôi rất đói thông tin”. Một anh bạn trẻ từ Đức cho biết anh rất ít được đọc báo chí, tình hình cập nhật từ trong nước, họa hoằn lắm mới mượn một hai tờ báo, do những người quen mang về, hay câu thuyện của những người về thăm kể lại, mà hầu hết là những tin “xấu”, nạn này, vụ án nọ bị cắt xén theo ý kiến chủ quan của người kể. Lượng thông tin đại chúng từ trong nước thật hiếm hoi, chưa có một đơn vị nào có chức năng thực hiện thông tin đối ngoại tổng hợp phát huy được vai trò này một cách hiệu quả về chính trị lẫn kinh tế trong khi đang có một “thị trường” lớn của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Hơn thế nữa, bên cạnh 2 triệu kiều bào là “đại sứ nhân dân” của nước ta đang ở khắp thế giới, có ít nhất 20 triệu bạn bè địa phương ở nước sở tại (mỗi người quen 10 người), thì tầm hảnh hưởng của họ sẽ có lợi biết bao khi nhận được thông tin đầy đủ từ trong nước. 20 triệu người nước ngoài đó trước sau cũng trở thành khách du lịch sang tìm hiểu và tham quan quê hương bạn mình. Điều này có lợi trên nhiều mặt: kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật…
Thiết nghĩ, vấn đề cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cần được đặt ra xứng với tầm vóc và giải quyết một cách thông thoáng và cởi mở hơn, góp phần phát triển đất nước. Điều đó không thể làm một việc “được chăng hay chớ” mà phải là một quyết sách rõ ràng, nói đi đôi với làm, tạo điều kiện và cơ hội để người Việt Nam ở nước ngoài cùng bà con trong nước bước vào thiên niên kỷ mới một cách phấn khởi hơn.



đã đăng trên báo Người Lao Động  12/1999

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét