26 tháng 2 2011

NHỚ HUẾ TRÊN NHỮNG BƯỚC ĐƯỜNG RONG RUỖI

Thành nội Huế

                Tôi còn nhớ lần đầu tiên đến thăm thành phố Kyoto kinh đô ngày xưa của Nhật Bản trong chuyến đi "điền dã" về khảo cỗ học khi đang chuẩn bị viết luận văn tốt nghiệp vào năm 1974. Một dịp may bất ngờ khi giáo sư Iênaga  Saburo chủ nhiệm khoa gọi lên giao cho một cái vé khứ hồi Tokyo - Kyoto với 100.000 yen phụ cấp chi phí trong 2 tuần. Lúc bấy giờ, đối với tôi, một sinh viên nghèo là một khoản tiền lớn, tương đương với hai tháng ruỡi lương đi dạy kèm, Thầy đã lấy từ ngân sách nghiên cứu giúp tôi có dịp tìm hiểu thêm những khu phố cổ xưa của Nhật Bản, một món quà trước khi Giáo sư nghĩ hưu. Vỏn vẹn với chiếc ba lô trên lưng, tôi tiết kiệm đáp tàu chợ gần 18 tiếng (lúc bấy giờ ở Nhật Bản đã có tàu điện siêu tốc 200 km/giờ, chỉ mất 2 tiếng 45 phút từ Tokyo nhưng vé xe phải trả đắt gấp 6 lần) để tìm đến Kyoto -nơi tôi chưa hề biết mặc dù đã ở Nhật trên 8 năm. Bước ra khỏi sân ga là đã thấy là lạ, tiếng nói của người cố đô sao khác hẳn, dịu dàng và tha thướt, có cái gì đó rất gần gủi với Huế, không chuẩn mực và cứng cỏi như tiếng nói của người Tokyo, chẳng đốp chát và đon đả theo lối sinh hoạt của người Osaka ở vùng Kansai nơi mà tôi từng quen thuộc từ trước. Kyoto, một thành phố của du lịch, truyền thống, êm đềm và thanh tịnh nằm ngay giữa lòng chảo núi, rất nóng vào mùa Hè và lạnh da diết thấu xương vào mùa Đông. Đền, Chùa, Viện bảo tàng và những "thư sinh" của làng Đại học làm cho khung cảnh của thành phố trở nên sâu lắng, người Kyoto không vồn vả, hối hả như cuộc sống của người Nhật Bản ở những thành phố công nghiệp và thương mại khác.
                Phong cách văn hóa kín đáo phương Đông của thành phố đó rất gần gủi tuy rằng có trau chuốt công phu và tỉ mỉ, khác với cái đẹp của Huế vẫn còn gần như nguyên thủy, "thiên nhiên tự tạo" hơn. Dáng dấp của Kyoto sao giống xứ Huế tôi quá, nhất là khi đứng trên lan can chùa Thanh Thủy (Kyomizu dera) nhìn xuống sườn núi thoai thoải, bên dòng nước chảy róc rách nên thơ làm tôi nhớ những ngày còn ở Huế khi là cậu học trò đi thăm chùa Thiên Mụ. Nhớ những ao sen, hồ rau muống bên đường đạp xe đi học khi còn ở nhà Ngoại trong nội thành của một thời thơ ấu quạnh hiu.
                Rồi sau này do điều kiện làm việc được rong ruỗi đó đây, mỗi lần đến một thành phố nào đó ở Châu Âu hay Hoa Kỳ sau khi đặt hành lý ở buồng khách sạn xong là vội vã lật sổ "điện thoại vàng" tìm quán ăn của người Việt Nam như một thói quen. Năm 1989 lần đầu tiên bước đến Paris vào tháng giêng, trời đổ tuyết cao đến gối, người bạn giáo sư dạy toán đồng hương chở tôi đến một cửa hàng ăn gần khu Saint Germain des Près, anh nói nửa đùa nửa thật "Tôi sẽ cho anh ăn món độc đáo nhất mà có lẽ ở Tokyo cũng không có", cố tình tạo sự thèm thuồng và bất ngờ cho tôi. Đúng thế thật, sau gần 20 phút loanh quanh để tôi được nhìn Paris cho thỏa mắt, nơi chúng tôi đến là một quán chỉ chuyên bán cháo lòng của người Huế, chật hẹp và cũng chẳng bày biện lấy gì làm sang trọng như những cửa hàng ăn nổi tiếng của khu phố quận 13 nhưng chao ôi, cái mùi cháo ấy sao mà lại "Huế" đến thế, kèm theo một dĩa lòng gan thật dòn, nước cháo trong veo có cả nước mắm pha chanh tỏi ớt gừng thơm phưng phức, cay nồng và ấm áp làm sao, bù với cái rét cóng ngoài kia, vừa ăn vừa hít hà, thật tuyệt diệu.  Ăn cháo lòng hay bún bò ở chỗ sang trọng và sạch sẽ quá thì e rằng cũng không được "Huế" lắm. Tôi còn nhớ ngày xưa mỗi buổi sáng bà ngoại thường cho 2 đồng, một để "dắt túi" và một để ăn cháo lòng ở ngã tư phố với tư thế ngồi chồm hỗm trên chiếc ghế đẩu, mắt nhìn vào chiếc nồi khói bốc mùi thơm lá dứa nồng nàn, lúc nào cũng "ốt dột" xin thêm một vá. Vài năm sau được dịp sang Rome, thủ đô của nền văn minh Hi-La, ôi cái đẹp của thành phố cỗ này , nền điêu khắc, hội hoạ và âm nhạc không những đủ làm cho tôi quên bẳng thời gian, không bút nào tả xiết nhưng cũng chính vì vậy mà những ngày ở đây nạn đói hoành hành tôi khá mãnh liệt. Spaggetti, Pizza, bánh mì thịt, đồ biển ăn mãi cũng ngán, nhất là sốt cà chua, fromage và dầu olive lúc nào cũng đầy dĩa. Lại lật sổ điện thoại như mọi khi, mừng rơn khi bắt gặp được địa chỉ của một quán ăn người Việt, mà có lẽ là duy nhất. Đáp tàu điện mất gần 30 phút, rồi đi bộ quanh co thêm 20 phút nữa thì thấy quán ấy đây rồi. Bước vào trong, khung cảnh thật ấm cúng với những ngọn đèn vàng hiu hắt, khách ăn hầu hết là người da trắng (Pháp có mà Mỹ hay Ý cũng có), chỉ có tôi là người Việt . Thế là làm quen ngay với chủ quán, một chàng trai khoảng chừng 24 - 25 tuổi hiện ra với tấm Menu sang trọng ghi rõ "Bún bò Huế", " Bánh cuốn", "Chả giò", "Nem chua"... cái gì đọc cũng thèm vì mấy tuần rồi lang thang ăn không đúng khẩu vị. Ôi chao chờ đến gần 20 phút mới được một bát bún bò nằm gọn nhẹ trong chén kiểu nhỏ xíu với hai lát thịt bò mong manh nằm trên một nắm bún Thái Lan; hành ư -không có, ngò ư -làm sao tìm, còn nước dùng thì trong vắt có ít váng mỡ gà... Quá ngạc nhiên, vừa ăn vừa gợi chuyện mới biết chủ quán là người Quảng Trị, rời quê hương khi anh vừa 11 tuổi phiêu bạt khắp nơi ở xứ người rồi cuối cùng lưu lạc sang Ý, anh chưa biết Huế và cũng chưa bao giờ thấy người ta nấu bún bò, làm bánh cuốn ra sao. Cái Menu ghi trên là anh "cópi" từ báo của người Việt bên Mỹ, đặt tên rồi làm theo sách hướng dẫn nấu ăn và chất liệu để nấu nướng của anh được lấy ngay ở chợ bên này. Nổi thèm "Huế" thật sự của tôi lại càng dâng lên cao theo cái bụng đang cồn cào ngán ngẫm, vừa buồn cười vừa thấy thương thương làm sao. Và cứ như thế, tô bún bò Huế ở Houston, bát phở Bắc ở quận Cam với nhiều tên gọi cửa hàng khác nhau, và cả tô nửa phở nửa bún bò pha mùi hủ tiếu của nhà hàng người Hoa tại Zÿrich càng làm tôi nhanh chân hơn, nỗi nhớ quê trở lại thật cụ thể... để rồi mỗi khi bước về Thành phố Hồ Chí Minh là như đã hẹn trước, tìm ngay đến  quán K.L., quán H.B., quán P.X... nơi mà những người Huế lập nghiệp trên đất Sài Gòn còn giữ được ít nhiều hương hoa, sắc thái của Huế ở phương Nam. 

                Huế ơi, rồi sẽ có một ngày nào đó xuất hiện một kẻ lang thang, rong ruỗi tìm về, ngồi chồm hỗm ăn bún, cơm hến để nhớ lại thời thơ ấu và cả những lúc "hắn" xa "mi".


                                                                                                          Hồng Lê Thọ
                                                                                                        Bên thềm Kỷ Mão
                                                                                                                1/1999

đã đăng Báo Xuân SGGP Thứ bảy (1999--Kỷ Mão)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét