09 tháng 2 2011

Thư pháp hay là lối viết phá cách

                                                    Nhàn đàm ngày tết



Đã lâu, không biết tự bao giờ, ở nước ta xuất hiện cái mốt “thư pháp” trong tiếng việt theo mẫu tự la tinh. Thực ra các lớp bậc tiểu học ngày xưa, chữ viết được luyện tập tử tế, giờ học (Ecriture) viết ABC theo lối “thư pháp”(Calligraphy) của Châu âu đã du nhập vào nước ta từ khi Pháp xây dựng các trường học ở Đông dương, hồi ấy bút sắt lá tre chấm với mực là dụng cụ để học sinh tập viết chữ mềm mại, nắn nót  chứ không như ngày nay, hầu hết là các loại bút bi cứng ngắt.

 thư pháp tiếng Việt
 Khách quan mà nói, chữ viết của các em ngày nay cẩu thả, xấu xí…và có khi chỉ riêng em ấy mới đọc được. Nét đẹp của chữ viết hiện đại chỉ là tương đối, các cuộc thi chữ viết cho học trò hầu như vắng bóng…còn lại trong những buổi cô giáo kiểm tra  “vở sạch chữ đẹp”ở cấp vỡ lòng, tiểu học.Vì lý do đó chăng, từ sự thiếu vắng của loại chữ viết chân phương, nghiêm túc trong đời sống đang ngày càng được vi tính hóa, dùng bàn phiếm để viết bây giờ không còn là chuyện lạ…nói chi đến những chữ viết “rồng bay phượng múa” tài hoa như chúng ta thường thấy ở những văn thư của giới quí tộc Châu âu trong những thế kỷ trước. Hơn thế nữa, lối ”rồng bay phượng múa” của chữ viết cũng có qui định riêng của nó, không thể muốn vẽ rồng, vẽ rắn như cái mốt “thư pháp” ngoằn ngoèo thoải mái của một số “nhà” viết chữ để cho hay bán vào dịp cuối năm trên hè phố, trong hội chợ…ngày nay.
Gần đây, một số người tâm huyết đã dũng cảm lên tiếng phê phán lối thư pháp nầy cho rằng cách viết loạn xạ đó làm “bẩn hóa” tiếng Việt hay đánh mất ý nghĩa những gì thanh cao mà thư pháp Trung quốc hay thư đạo trong tiếng Nhật vốn có mà ta chịu ảnh hưởng, nói gì đến nghệ thuật Calligraphy của mẫu tự la tinh. Đường nét của chữ Hán khi đậm khi nhạt, khi sắc nét khi nhẹ nhàng, lã lướt cho nên “trung thư hữu họa” là thế. Bản viết thư pháp có thể biến thành bức tranh để treo giữa tường, cửa vào nhà chính một cách trang trọng là vì vậy. Muốn được trình độ của thư pháp, người viết chữ phải học thứ tự của nét chữ, luyện tập cả năm trời và tạo nên trạng thái tĩnh tâm, vô ưu trong khi cầm bút thì mới đạt “đạo” chứ nào phải pha mực tàu quét bút lông vung vít, sáng tạo kiểu mì ăn liền là được !
 Họ chế ra đủ kiểu, càng không giống ai càng tốt nhằm tạo ra  nét bút dị dạng của chữ viết, chính sự “phá cách”(hay phá phách) nầy dù cố gắng giải thích theo lối “nghệ thuật” sắp đặt thời thượng thì bản thân nó đã nói lên trình độ yếu kém về kiến thức của bản thân, tương tự như mới cầm cọ thì đã muốn trở thành một Picasso trong hội họa vậy.
 Trung quốc là một nước có nền văn hóa chữ viết lâu đời, là cách thể hiện tư duy và tâm tính hòa nhã của những người có học, bắt đầu từ sự luyện tập chuyên cần, như câu ngạn ngữ “văn ôn võ luyện”. Nói khác đi «Học thư vô nhật bất lâm trì.» 學書無日不臨池 (Học thư pháp chẳng ngày nào mà không «vào ao» chịu rét, chịu khổ). Thuật ngữ “lâm trì” ý nói công phu   khổ luyện thư pháp, cho nên những qui tắc về thư pháp rất nghiêm nhặt, các hoàng tử, hoàng thân quốc thích của Trung quốc ngày xưa đã phải học như thế nào ở Quốc tử giám để củng cố vương triều. Các bậc thức giả cũng được đánh giá cao thấp qua ý tứ và văn phong của chữ viết. Tiếng Trung quốc gọi là thư pháp*(nổi tiếng nhất là Vương Hi Chi đã hình thành hệ thống chữ viết và thư pháp đời nhà Tấn--đầu thế kỷ thứ 4-- và Lý Tư đời nhà Tần kế đó,  thống nhất văn tự Trung hoa) trong khi ở Nhật bản lại gọi là thư đạo, chịu ảnh hưởng sâu đậm của Trung quốc vì chữ viết của Nhật đã sử dụng Hán tự hàng nghìn năm nay, không thể thiếu trong văn viết vì vậy người Nhật rất chú trọng đến nét chữ ở  giáo dục tiểu học và trung học cơ sở. Ngay tại đại học Nhật bản ngày nay vẫn còn những câu lạc bộ về thư đạo cho sinh viên, hằng năm vào ngày đầu năm vẫn có lễ khai bút(kakizome) được tổ chức cho hàng nghìn người tại sân vận động trong nhà để “thi thố”. “Con đường đến với thư pháp”(thư đạo) của họ bắt đầu bằng một thái độ nghiêm túc, trang trọng từ cách ngồi, lối cầm bút, pha mực đến khi tĩnh tâm cao độ để chấp bút,  một cách “thiền”(vô ưu, vô tư lự…)  chấp cánh cho nét chữ thăng hoa. Người Nhật không viết dài, trích dẫn câu thơ, điển nhã hay huấn dụ , một câu cách ngôn như người Trung quốc mà thường là một hoặc hai ba chữ “đắc nhân tâm” như chữ “Nhẫn”(kiên nhẫn), “Tâm”,“Khang” (sức khỏe) , Nổ lực (cố gắng)…nhưng vẫn “khuôn thước” như ta thường thấy.
Các vị thức giả của ta ngày xưa đều có vốn Hán học uyên bác, văn thư chiếu lệnh thời Nguyễn vẫn lấy chữ Hán làm chuẩn cho thấy lối viết thư pháp của nước ta chịu ảnh hưởng sâu đậm của Trung quốc. Cụ Phan Bội Châu tuy không nói được tiếng Nhật nhưng đã trao đổi ý kiến, đàm đạo với giới chính trị gia Nhật bản bằng bút đàm theo Hán tự khi “thuyết giải” phong trào Đông du . Chủ tịch Hồ Chí Minh  cũng đã viết “Ngục trung nhật ký”(nhật ký trong tù) bằng chữ Hán.
Trong lúc phong trào chữ quốc ngữ phát triển rầm rộ,  nhà thơ Vũ đình Liên(1913-1996) tung bài thơ “Ông đồ ” đã được giới yêu văn chương thời ấy nhiệt liệt tán thưởng, cái ý ngậm ngùi khi nền tây học lấn át văn đàn và cuộc sống đã làm rung động biết bao người. Báo hiệu những giá trị truyền thống nhạt phai như hình ảnh ông đồ với “mực tàu trang giấy đỏ” chỉ còn lại trong kí ức, hoài niệm chứ nào phải hô hào một phong trào kéo nhau ra Văn Miếu sắp hàng để khoe, "cho" hay "bán" chữ rộn rịp mang tính "phục cổ" vào mỗi độ xuân về !

Ngày nay, các “cụ đồ”không còn khăn đóng áo dài, chẳng có chòm râu bạc phất phơ trong gió…và vung bút thoải mái với lối viết “phá cách”(hay phá phách) phóng khoáng để tiêu khiển, năng động, ngó ngoáy ra vẽ chứ chẳng phải bình tâm như người xưa. Thời nào chữ ấy. Có thể nói thế chăng ?.

Hồng Lê Thọ
1/2008
Chuẩn bị đón tết năm tuổi

*5 lối viết trong thư pháp Trung hoa : Khải(chân),Triện,Lệ,Hành và Thảo. Người Trung quốc xem thư pháp là cách “học tập thư pháp khả dĩ tu thân, dưỡng tánh, đào dã tâm tình”.

**Các thời Vua nước ta cũng không kém: Đinh chuộng “ý” , Lý chuộng “vận” , Trần chuộng “luật” , Lê chuộng “pháp” , Mạc chuộng “biến” , Nguyễn chuộng kỹ “技”.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét