18 tháng 3 2011

Về nhà mình xa quá, Má ơi (3)--CÂY DỪA NƯỚC VÀ MÁI NHÀ AI !

CÂY DỪA NƯỚC VÀ MÁI NHÀ AI !

Tại khu nhà bảy tầng ở đường Trần Hưng Đạo (Sài Gòn), tôi và một anh bạn người miền Đông ngồi bên ấm trà, nhắc chuyện kháng chiến. Chuyện nọ chưa dứt, lại tiếp chuyện kia, hào hứng như đang được sống lại những năm tháng dầy đặc kỷ niệm. Nào chuyện chống càn, chạy càn, những lần chịu B52, chuyện về đồng đội hy sinh, chuyện về xây dựng hạnh phúc cho một đôi lứa, chuyện đào hầm, đào giếng, cõng gạo, chuyện trồng dây bầu, dây bí sai trái, đi săn, chuyện nuôi đàn gà, chuyện cái giò phong lan quý mà lần nào dời cơ quan cũng vác theo. Giò phong lan ấy giờ đang sinh sôi nảy nở giữa thành phố Sài Gòn. Thật là một kỳ công, một sự kiên nhẫn hiếm có. Rồi anh quay sang chuyện dời cứ, chặt cây làm nhà. Chao ơi, không hiểu sao những năm ấy con người làm được nhiều việc mới mẻ và lớn lao đến như thế? Anh bạn kể lại, nhiều cô gái ở cơ quan vừa trong thành phố mới ra chiến khu “chân yếu tay mềm”, những cô văn công “mặt hoa da phấn” vẫn vào rừng hạ cây, hái lá trung quân về dựng cơ quan, làm nhà ở. Họ làm chắc chắn và khéo léo nữa mới lạ chớ! Thiên nhiên cũng có con mắt. Trong hoàn cảnh thiếu thốn trăm bề của kháng chiến, thì rừng miền Đông lại giăng khắp nơi khắp chốn những lá trung quân. Trung quân, cái tên đến là đẹp. Chỉ cần nghe qua, làm người ta tin liền ở sự che chở đùm bọc của nó. (có người giải thích có vẻ tầm chương trích cú rằng: Trung quân là quân chủ lực do viên chủ tướng trực tiếp chỉ huy. Chớ không phải trung quân là trung với vua...) Những chiếc là xinh xinh như bàn tay học trò, như miếng ngói trên mái đình cổ được ghép lại, lợp nhà thật lý tưởng. Vừa đẹp, vừa bền, lại che được mắt địch. Đã thử thách nhiều lần, lá trung quân gặp lửa không bao giờ cháy ngay, kể cả khi giáp mặt với bom na-pan. Hội trường của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trước đây, do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát thiết kế, cũng lợp bằng hàng triệu chiếc lá mang cái tên trung thành ấy.
Nghe anh bạn miền Đông nhắc tới chiếc lá đặc biệt của quê hương anh dùng trong việc làm mái che rất tiện lợi mà tôi nhớ tới cây dừa nước xứ sở. Theo sự mô tả, tôi hình dung trung quân là loài cây hơi yếu ớt- mặc dù thần lửa cũng phải kiêng nể- so với cọng dừa nước của miền phù sa ven sông rạch.
Cây dừa nước phát triển mạnh mẽ ở vùng sình lầy nước lợ và cả nước ngọt. Dừa nước còn sống được ở những cửa sông đổ ra biển... Chúng rất thích loại đất ẩm thấp, sình lầy dọc các bờ mương, kinh rạch, bãi bồi có nước ròng, nước lớn hàng ngày. Trung bình mỗi bụi cây có từ  năm bảy tàu lá và một cờ bắp (tàu lá chưa nở) nhọn hoắt, vươn thẳng, rắn chắc, trông sạch sẽ thơm tho. Những đám dừa nước được dọn sạch các cây tạp, dây leo ăn bám vứt bỏ các tàu sâu mọt đi, ta có đám lá thật đẹp dù nhìn xa hay nhìn gần. Nó vừa suông suông, vừa uy nghi mà mơ màng như sương giăng, như tranh vẽ...
Có người tính toán một cách tỉ mỉ, chính xác rằng, vùng đất Cà Mau cây cối được thiên nhiên sắp xếp, tạo lập theo thứ tự sau đây, nếu bắt đầu tính từ bờ biển vào: tiên phong là cây mắm, rồi đước, rồi tràm, tiếp theo là cỏ, sậy rồi tới dừa nước. Chẳng thế mà có câu hát:
Mắm trước, đước sau, tràm theo sát
Sau hàng dừa nước, mái nhà ai.
Tàu dừa nước thật có nhiều công dụng. Lợp nhà, dừng vách thì ai cũng biết. Lợp nhà có hai cách: lá xé và lá chầm, còn gọi là lá “chầm đóp”. Có giả thuyết cho rằng lá chầm đóp là của người Khơ- me chăng? Nhà mái lá dừa nước mát hơn nhiều so với mái tôn, mái nhựa, mái giấy dầu, hay bất cứ loại gạch ngói nào. Sau một buổi ra đồng về, anh ăn một bụng cơm với cá kho mắm, dưa bồn bồn, rồi ngã mình trên bộ ván đước hay trên chiếc võng thắt bằng dây chuối, dây bố mà nghe gió thổi hai đầu nhà làm khua dậy những phiến lá cứ như hát, như nhạc đến buồn buồn. Ta đang lim dim nhìn lên cây kèo, cây đòn tay trên trần nhà, bất thần gặp con rắn rồng (một loại rắn rất hiền) đang dũi mình tìm chuột... rồi từ từ biến mất trong kẽ lá. Xa xa, tiếng gà nhà ai cất tiếng gáy... rồi anh “đánh” một giấc không còn biết trời trăng mây nước gì nữa. Ngủ trong sự che chở, đùm bọc của cây lá quê hương, của thiên nhiên xứ sở thì giấc ngủ đó đâu phải ai cũng có. Mặt trời nghiêng về chiều, ánh nắng xuyên qua kẽ vách, rọi từng đốm trắng, đốm vàng trên ngực, trên mặt anh. Những giọt nắng êm và nhẹ ấy đánh thức anh trở dậy. Anh cảm thấy như vừa uống một liều thuốc bổ và được ngấm trong máu, trong thịt. Sau đó, anh lại vác phảng ra đồng...
Nhà lợp mái dừa nước chỉ chịu được mưa nắng năm ba năm. Chẳng sao! Hư chỗ nào ta “dọi” lại chỗ ấy ở tạm, chờ mùa lúa, mùa cá năm sau sẽ sắm bộ cột “ngon” hơn, lợp lại. Vả lại, đám lá trước nhà cần phải “dưỡng” một thời gian nữa. Mới trồng đôi ba năm, chúng còn “yếu” quá, chưa thể đốn được. Cây dừa nước có cái lạ là đã không khai thác thì thôi, còn bằng khai thác thì phải khai thác triệt để, đừng tiếc. Có như vậy, sau này lá mới tốt, mới sung sức. Người ta chặt và chừa lá như sau: Đốn tất cả, chừa một dáo; hoặc đốn chừa một dáo và một cờ bắp, hoặc đốn chừa hai dáo và một cờ bắp. Cho nên sau khi khai thác xong, nhìn thấy thương đám lá hết sức. Chúng thưa rỉnh thưa riểu như vừa trải qua một trận bom. Nhưng không sao! Năm bảy tháng sau, lá lại xanh mướt kín hết.
Lá dừa nước đâu có chỉ lợp nhà, dừng vách. Lá còn dùng chằm nón, chằm quạt, kéo gàu múc nước, làm mui ghe, rèm xuồng, chằm cà vung, những nơi thiếu tre đặt ống trúm đặt lươn, người ta chọn những phiến lá già, tốt nhất chằm lại, rồi cuốn tròn làm ống trúm... Những vật dụng bình thường , đơn sơ ấy nhưng hết sức gần gũi với đời sống người dân sông Tiền, sông Hậu. Bánh lá dừa hay còn gọi bánh cờ bắp là loại bánh độc quyền ở các tỉnh miền Tây. Bánh được gói bằng nếp, nhưn chuối hoặc đậu trắng, bao bọc bằng lá non vàng mịn như mỡ gà tách ra từ cờ bắp. Đi lỡ đường, có cặp bánh lá dừa là chắc bụng rồi. Người ăn không quen, nghe hơi “ở cổ” nhưng hiền chớ không độc. Sau ngày giải phóng Cà Mau vài tuần lễ, nhà thơ Huy Cận vào tận đất mũi thăm người và cảnh ở miền đất trẻ này. Ông đã làm nhiều thơ ca ngợi con người và những đặc sản mà lần đầu ông xúc động. Bài Bánh cà bắp là một trong những bài thơ ông sáng tác trong chuyến đi đó:
Bánh cà bắp gói lá dừa
Ngọt bùi nhân chuối cho vừa lòng nhau.
Gửi anh du kích Cà Mau
Đánh lâu, anh thả dưới ao để dành.
Mỗi lần xuân về, sau khi đưa ông Táo về trời, chợ hoa đường Nguyễn Huệ, Sài Gòn rực rỡ màu sắc. Người ta tưởng như các vườn hoa ở ngoại thành và một số tỉnh chung quanh được chuyển đến chợ hoa này. Ở đây, có đủ loại hoa quen thuộc: mai, cúc, thược dược, hồng, vạn thọ, păng-xê, hạnh (quất), phật thủ, ớt kiểng... Mấy năm gần đây còn có thêm mãn đình hồng. Người ta đựng hoa vào trong những chậu sành, chậu gốm hình phễu xinh xắn. Các chủ hoa ở Đồng Tháp, Cửu Long dùng những phiến lá dừa nước bao bọc cây hoa, cây cảnh của mình rồi cho vào trong cái rọ tre đan sơ sài đầy ắp phân đồng quê mịn xốp. Mua hoa về ta nhẹ tay sang chiếc chậu của ta, ta sẽ phát hiện những phiến lá dừa nước sắp ngã thành phân. Cứ để nguyên vậy cho vào dưới đáy chậu. Theo năm tháng, lá biến thành phân và phân sẽ giúp cho cây thêm hoa thêm lá .
Đi ghe, đi xuồng giữa chừng gặp gió lên thì đừng có thật thà cầm dầm, cầm chèo hoài. Ta ghé vào bờ, chặt đôi ba tàu lá làm buồm. Vừa nghỉ tay, vừa tăng thêm tốc độ. Có cái lạ, ngồi bẻ lái cho xuồng chạy bằng lá dừa nước, ta cảm thấy mát hơn, khỏe hơn đứng chèo. Thuận buồm xuôi gió, gặp nơi sông sâu nước chảy, kinh xáng trống trải, xuồng buồm lá dừa có thể chạy hoài chạy hoài..., chừng nào tàu lá héo mới bỏ. Nói thì nói vậy, lá dừa nước giữ được màu xanh và thẳng thớm rất lâu. Aáy là ngày trước. Đôi ba chục năm trở lại đây, máy móc đã hạ thuyền buồm xuống một cách có tính toán. Dù vậy, rải rác ta vẫn gặp những chiếc xuồng xuôi ngược bằng tàu lá dừa nước trên sông rạch rất nên thơ.
Nhắc tới chiếc cà vung, lại nhớ những năm chống Pháp. Ở Bạc Liêu, Cà Mau, sông rạch nhiều như bàn cờ, vậy mà hàng trăm, hàng ngàn cái cảng được đắp bằng triệu triệu cà vung đất. Đáng tiếc, từ bấy đến nay, ít mấy ai nhắc tới công trạng của chiếc cà vung giản dị đã âm thầm góp phần đánh thắng thực dân Pháp ở vùng sông nước này. Có phải hôm nay công việc quá  bề bộn, người ta lãng quên chuyện cũ ?
Ở Gò Công (nay thuộc Tiền Giang), có đám lá tối trời, in đậm chiến công của người anh hùng Trương Công Định và nhân dân trong vùng. Những ai đã đặt chân tới đám lá này đều cảm giác gợi tới một thời tiền sử xa xưa. Ba bề bốn phía là lá dừa nước mọc cao vút, dày đặc, rất khó lòng nhìn thấy mây trời, dù chỉ một mảng nhỏ qua kẽ lá. Đang giữa trưa nắng chang chang vậy mà đứng trong đám lá tối trời cũng chỉ nhìn thấy lác đác những đốm nắng nhỏ xíu, nhỏ xíu, yếu ớt...
Sau khi đại đồn Chí Hòa thất thủ, tháng 2-1861, Trương Công Định rút về Gò Công, xây dựng lực lượng, chiêu mộ nghĩa quân, tiếp tục chống Pháp. Trong khi đó, triều đình nhà Nguyễn  đã ký hòa ước 5-6-1862 cắt dâng cho Pháp ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường rồi ra lệnh cho các cuộc khởi nghĩa phải dừng lại, phong chức Lãnh binh cho Trương Công Định rồi điều đi An Giang. Hay tin, nhân dân yêu cầu ông ở lại tiếp tục lãnh đạo chống Pháp, chống triều đình. Trương Công Định ở lại, nhậm chức “Bình Tây Đại Nguyên Soái”do nhân dân phong, làm nên những chiến công:
Rạch Giá, Gò Công mấy trận, giặc thấy đã kinh
Cửa Khâu, Trại Cá mấy nơi, ai nghe chẳng hãi.
Ngày 20-8-1864, Huỳnh Công Tấn (đội Tấn), một tên ra đầu thú, dẫn đường quân Pháp bất ngờ bao vây Trương Công Định. Sau khi anh dũng đánh giáp lá cà với giặc, Trương Công Định bị trúng đạn ngã xuống tại đám lá tối trời. (Có tài liệu nói ông bị chém, có tài liệu nói ông tử tiết). Năm đó Trương Công Định 44 tuổi.
Tiếng đồn đám lá tối trời
Có ông Trương Định trải phơi gan vàng.
Thi hài ông được đưa về tỉnh lỵ, đặt tại nhà lồng chợ ba ngày để thị oai. Các ông già bà cả kể lại: Nằm trong quan tài, Trương Công Định đầu bịt khăn đỏ, mặc áo song khai nỉ màu xanh đậm. Thực dân Pháp hoảng sợ đưa một ngàn quan tiền tới điếu tang. Đám tang Trương Công Định được nhân dân đưa tiễn rất đông và trọng thể. Tấm bia trên mộ chí người Anh hùng mang dòng chữ:
Sơn hà thâu chánh khí
Nhật nguyệt chiếu đơn tâm.
Dịch :
Chánh khí về với núi sông mãi mãi
Lòng son, nhật nguyệt soi sáng muôn đời.
Gần một thế kỷ sau, đám lá tối trời lại vang lên tiếng súng kháng chiến của nhân dân ta. “Rừng dừa nước âm u bao vây quân thù, chở che bộ đội, du kích. Thực dân Pháp đem đại bác bắn vào rừng lá rồi cho lính thổi kèn đồng để phá bớt không khí ghê rợn ở đây. Chúng dùng đủ mọi cách nhưng không thể nào tiêu diệt nổi ý chí cứu nước của nhân dân”.
Tiếng đồn du kích Gò Công
Từ trong đám lá xung phong lấy đồn
Giặc Tây khiếp vía kinh hồn
Gò Công, Kiểng Phước mồ chôn quân thù.
Câu ca dao kháng chiến thuở nào đang còn được lưu truyền ở quê hương đám lá tối trời như một niềm kiêu hãnh.
Từ lòng ngưỡng mộ sâu sắc vị anh hùng đánh Pháp đầu tiên, sau cách mạng tháng Tám, nhân dân và chính quyền cách mạng Gò Công (bấy giờ là một tỉnh) đặt tên cho địa phương mình là tỉnh Trương Công Định. Mới đây, những nhà làm công tác lịch sử ở miền Nam may mắn sưu tầm được tại kho lưu trữ Trung ương 2 bản Bố cáo của Ủy ban Nhân dân tỉnh Trương Công Định đề ngày 17-1-1946. Thật ra đây là một bài hịch của chính quyền cách mạng Gò Công trong những ngày đầu cách mạng. Xin trích một vài đoạn mở đầu:
Hỡi Quốc dân!
Hỡi anh em, chị em đồng bào tỉnh Trương Công Định!
Ngót 70 ngày qua, chúng ta sống trong vòng khói lửa, mà cũng là một dịp chúng ta chỉ cho giặc Pháp thấy sự hy sinh anh dũng của chúng ta để giành lại nền độc lập. Hay nói một cách khác, chúng ta tỏ cho 25 triệu đồng bào nhứt là trong Nam Bộ, thấy rằng chúng ta rất xứng đáng là con cháu của cụ Trương Định vậy.
Kháng chiến! Phải, chúng ta cần phải kháng chiến nữa.
Hy sinh! Phải, chúng ta đã hy sinh nhiều về tính mạng và tài sản. Nhưng chưa đủ, còn phải hy sinh nữa để tỏ cho quân thù biết rằng chúng ta “Thà chết tự do hơn sống làm nô lệ”.
Giờ phút nghiêm trọng này đối với Tổ quốc chúng ta có trách nhiệm nặng nề, mà cũng là lúc chúng ta phải thực hành đúng lời thề trước kia cùng Tổ quốc.
Đứng trước cảnh mất còn của quê hương, chúng ta phải làm sao cho khỏi hổ với tiền nhân nơi chín suối, hơn nữa cho khỏi hổ với bao nhiêu chiến sĩ đã vì nước quên minh, thịt rơi máu chảy, oanh oanh liệt liệt đem máu đào mà rửa nhục cho đất Việt trời Nam...
Nhân nói tới đám lá tối trời của anh hùng Trương Công Định đánh Pháp mà nhớ tới cây súng bụp dừa thuở nhỏ. Những ngày ấy, hễ mặt trời chen lặn là lũ nhỏ chúng tôi trong xóm không hẹn mà gom lại tại cây rơm trước sân nhà. Mỗi một “tướng” mang ngang mình khẩu súng bụp dừa tự tạo theo sự tưởng tượng riêng về súng ống đương thời. “Tướng” nào khéo tay-hoặc nhờ người lớn làm dùm- thì khi đánh nhau súng nổ “lách chách” hẳn hoi, nhưng súng nổ từ miệng là chính. Miệng vừa hô “xung phong”, vừa hô luôn “đùng... chéo”. Hai bên “mình “và “nó” quần “đánh nhau” chung quanh cây rơm cho đến lúc trăng lên khỏi ngọn dừa vẫn còn nghe tiếng “súng đạn” “đùng chéo”. Có “tướng” đã “chết” rồi “sống” lại, rồi lại “chết”, không biết bao nhiêu phen. Những khẩu súng bằng bụp dừa có bôi lọ nghẹ te tua hoặc gãy khúc ra hết vậy mà “mình” và “nó” vẫn chưa phân thắng bại. Tuy nhiên, cuối cùng “đằng mình” vẫn thắng “đằng nó”. Nhưng đó là lúc chưa phải “đằng nó” thua thật sự, mà là lúc má gọi cả hai phe về tắm, khuya rồi!...
Một số nơi ở châu thổ sông Cửu Long, người ta còn lợp nhà bằng cây đưng. Đưng là một loại cỏ, bẹ nó ốp lại nhiều lớp thành thân và lá cao lút đầu người. Ở Đồng Tháp Mười, đưng mọc mênh mông, dày đặc. Mùa nước nổi, cây đưng tươi tốt vượt lên. Dưới ánh nắng, lá xanh biêng biếc, lấp lánh trong gió như tấm lụa khổng lồ trải trên Tháp Mười. Đến mùa hạn, cây đưng già khô, ngả màu sậm, trông dữ tợn. Chỉ cần mồi lửa nhỏ là cả cánh đồng đưng để lại một màu tro đen kịn, “đi cách xa đôi ba cây số vẫn dòm thấy gót chân” như cách nói của đồng bào Đồng Tháp. Trong kháng chiến, ban ngày bộ đội, cán bộ ta chống xuồng ra đồng, túm đưng lại để làm việc, hội họp... Năm này sang năm khác đồng đưng của Tháp Mười  trở thành mái nhà thiên nhiên che chở cho bao nhiêu sinh mạng con người. Đừng bao giờ quên có những lúc ta sống trong những “ngôi nhà đưng” gian khổ.
Nhà ở đồng bằng châu thổ sông Cửu Long thường cất nhà quay mặt ra hướng sông, hướng kinh rạch. “Cưới vợ hiền hòa, cất nhà hướng nam”. Tùy theo thế đất, hướng kênh rạch không phải bao giờ cũng là hướng nam như ông bà ta đã nói, nhưng nhà quay mặt ra phía dòng nước chắc chắn có nhiều tiện lợi. Ở đó đông vui, đi lại dễ dàng. Việc chọn hướng cất nhà của người Thái ở Tây Bắc nước ta cũng được coi là khâu quan trọng. Sống ở miền núi, việc ngắm những ngọn núi, những dòng sông làm chuẩn là điều hệ trọng. Người Thái quan niệm rằng ngọn núi và dòng sông là những vật cố định, có sức sống thể hiện ở bên ngoài rất mãnh liệt: Dòng sông chảy quanh năm không bao giờ hết nước, ngọn núi suốt bốn mùa có cây cối xanh tươi và chen nhau vươn lên đỉnh cao. Chọn thế nhà nhằm vào dòng sông, thế núi chính là để chủ nhà được thừa hưởng tất cả sự sống mãnh liệt của tự nhiên...
Nói hướng nhà đây là hướng của cả làng, cả bản, cả thôn xóm.
Cái lồng dầu đẹp đến đâu cũng không nuôi nổi con chim. Ngôi nhà đẹp và vững chắc, được nhiều người chiêm ngưỡng khi nó là nơi cư trú của những con người dũng cảm, hào hiệp, thông minh, luôn hướng lòng mình về nghĩa lớn. Ngôi nhà ở quê ta là những ngôi nhà nuôi dưỡng lớp lớp người như thế. Đã biết bao lần nhà cháy vì bom  đạn của kẻ thù, nhưng ngôi nhà lại mọc lên. Lại cháy. Lại mọc! Thà chết chớ nhất định không rời bỏ mảnh đất cha ông. Ở miền Tây, nhiều người chắc nghe tên “Anh Tư Nhà Mới”? Con người hiếm thấy. Thành ra, chủ ngôi nhà làm đẹp ngôi nhà chớ không phải ngược lại. Có phải vậy không?
Trần Thanh Phương
(Rút trong sách Xứ sở phù sa,
NXB Cửu Long, 1986)


 (còn tiếp)


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét