25 tháng 3 2011

Về nhà mình xa quá, Má ơi (4)--HỌ HÀNG XA KHÔNG BẰNG LÁNG GIỀNG GẦN

Trần Thanh Phương

Hồi còn ở nhà, thỉnh thoảng má tôi làm bánh cho anh em tôi ăn. Gia đình nghèo, không có nhiều đường, đậu làm những thứ bánh ngon, bánh quý. Má thường nấu bánh canh cá lóc, bánh canh ngọt, bánh luộc, bánh lá mơ... Lâu lâu má có nồi chè đậu trắng hoặc trôi nước... Xong, bao giờ má cũng dành những phần tươm tất nhất, sai tôi mang cho dì Hai Tần và chú Chín Thăng, hai gia đình ở cạnh nhà. Má còn nhắc kêu mấy đứa nhỏ bạn thường chơi với tôi “đến ăn cho vui”. Má nói: “Mình ăn thì hết, người ta ăn thì còn”. Mà thật vậy. Mang cho qua cho lại, hóa ra lúc nào cũng có quà để ăn. Khi thì dĩa cơm nếp trộn dừa, khi thì vài miếng chuối chiên, miếng dưa hấu, miếng mít, hoặc ấm trà ngon... dì Hai Tần và chú Chín Thăng mang biếu gia đình tôi. Không biết tục lệ này có từ bao giờ? Nhưng khi tôi lớn lên đã thấy mấy gia đình chung quanh làm chuyện tình nghĩa đó một cách bình thường đến tự nhiên không có vẻ gì khách sáo theo quan niệm “có đi có lại”.
Gia đình nào gặp chuyện “đại sự”, lập tức cả xóm đến thăm viếng, chào mừng, hoặc chia sẻ nỗi buồn. Hình như họ coi đó là nhiệm vụ của bất kỳ người nào. Aáy chưa kể hàng ngày, hàng ngày, trái ớt, tép tỏi, cọng hành, lon dầu thắp sáng, viên thuốc nhức đầu, đau bụng... Những chuyện “tối lửa tắt đèn có nhau” ấy không thể thiếu được. Vì trên đời, không ai có thể tự hào là mình đã giàu có đầy đủ mà không cần đến láng giềng. Người ta sống với nhau nhiệt tình, chân thật, hồn nhiên, không hề vụ lợi. Dẫu có sụt sịt, xích mích nhau chuyện “con gà, con vịt, cọng rau”, nhưng rồi có món ngon, vật lạ nhất là khi hoạn nạn, không bao giờ quên nhau, bỏ nhau. Ở làng quê thường nghe nói “giận nhau thì chém đằng sống, không ai chém đằng lưỡi” bao giờ. Có cái hay là đôi khi giận hờn nhau đó, nói với nhau những câu rất ác, rất độc, tưởng rằng họ sẽ không bao giờ nhìn mặt nhau. Vậy mà một trong hai gia đình rủi có chuyện “sáng nhà sáng cửa” thì không thể vắng gia đình kia. Lúc bấy giờ, họ đặt tình làng xóm lên trên hết, “ba cái lẻ tẻ” kia coi như không bận tâm nhớ tới nữa. Con nít rất mau quên. Vài ba ngày sau, người ta vẫn thấy chúng rủ rỉ, rù rì với nhau. Chẳng lẽ người lớn lại không làm lành?
Đấng trượng phụ đừng thù mới đúng
Đấng anh hùng đừng oán mới hay.
Đó là lòng vị tha và cũng là đức tính bao dung giữa con người với con người.
Đâu phải chỉ miếng ăn, miếng uống. Ăn không đúng lúc, đúng chỗ thì một miếng ăn tiếng muôn đời. Người đời xưa nay vẫn nhắc nhở như vậy. Cao hơn thế, ý nghĩa lớn lao hơn nhiều là tình nghĩa ở đời. Đông Tây kim cổ đều công nhận rằng cách cho còn quý hơn món cho. Ở Việt Nam ta có câu tục ngữ rất hay: “Ăn cháo để gạo cho vay”, cũng là ý muốn nói thà mình chịu thiệt một chút, nhường miếng ngon cho người khác, nhất là lúc người khác đang cần hơn mình.
Năm nay đã gần 50, vậy mà tôi không bao giờ quên một kỷ niệm lúc tôi 9-10 tuổi. Cạnh nhà tôi có bà Sáu Điền rất thương tôi, và tôi hết mực kính yêu bà, gọi bà bằng bà ngoại. Nhà ngoại nghèo nên không phải lúc nào cũng có của ăn của để, sẵn quà cho con trẻ. Thôi thì, khi trái ổi, trái khế, thậm chí trái bình bát chín rụng trôi sông, ngoại cũng vớt lên mang về cho tôi. Cũng có khi trái nhào dú trong hũ muối, ăn chua chua, ngọt ngọt mà bà biết tôi rất thích. Đi đây đi đó, gặp yếm rùa, ngoại cũng không quên xách về, kêu tôi qua “con giữ đó để đổi bánh tai heo. Đổi bòn bon”.
Ngoại đã mất từ lâu rồi, nhưng những tình cảm đó tôi không bao giờ quên. Dường như hương vị của những viên kẹo bòn bon xanh, trắng, vàng; hương vị của chiếc bánh tai heo to gần bằng bàn tay, có vân vân giống cái lỗ tai heo mà nay rất ít khi gặp, vẫn còn ngọt ngọt ở cổ họng tôi. Sao mà sâu sắc đến như vậy? Cho nên, ở đời cần gì phải cho nhau cao lương mỹ vị. Sau này lớn lên, tôi được đi đây đi đó, ăn nhiều bữa tiệc cao sang. Nhưng rồi chẳng mấy khi nhớ lại. Còn trái nhào, trái bình bát đến cái yếm rùa đổi kẹo bà Sáu Điền cho đến chết tôi vẫn cứ nhớ và mang theo.
Ở trong tôi, tình nghĩa làng xóm mở đầu bằng những lời ru thô sơ ấy. Và hồi đó, cứ ngỡ rằng chỉ tôi là người có diễm phúc được một bà cụ thương, cho quà và dạy bảo khi tôi làm điều sai trái. Lớn lên, học biết chữ, đọc sách thì mới biết đâu đâu ở quê hương cũng giaù tình thương. Mà tình thương ở xứ sở phù sa này thì tấm lòng luôn rộng mở, còn miệng thì ngậm lại. Làm ơn há chịu cho người trả ơn. Tình quê, làng quê là chất thô của gỗ, là hương của hoa rừng chân chất..., cho nên chữ “quê” trong tình cảm tôi thật thiêng liêng, thân thiết. Vậy mà xưa nay danh từ “quê” bị người ta nhắc đến như một điều gì thiếu văn vẻ, mộc mạc: nhà quê, quê mùa, lời quê, quê quê, quê kệch, gái quê, quê người... Thiệt tội nghiệp và thương cho chữ “quê”, oan ức cho chữ “quê”.
Lịch sử phát triển bờ cõi của dân tộc ta là từ Bắc xuống Nam. Trên đường đi khai phá đầy gian khổ và hiểm nguy ấy, nếu không đùm bọc nhau, không yêu thương nhau không thể tồn tại, không sống nổi. Đó là một trong những lẽ khiến cho con người ở vùng châu thổ Cửu Long này- và kể cả những miền khác- phải nương tựa vào nhau để sống, và chiến đấu bảo vệ thành quả lao động của mình. Ngoài ra không có cách nào khác. Đôi lúc quan hệ tình cảm láng giềng lấn át, đậm đà hơn quan hệ huyết thống, thân tộc. Tục ngữ ta có những câu Máu loãng còn hơn nước lã, hoặc Một giọt máu đào hơn ao nước lã... thì bên cạnh đó lại có câu: Người dưng có ngãi, ta đãi người dưng. Anh em vô ngãi ta đừng anh em; hoặc Họ hàng xa không bằng láng giềng gần... Điều này nhiều giấy mực nói tới. Nhưng ở đời, đôi khi có chuyện rất bình thường, rất gần với cuộc sống mà ta không tự giải thích được, không biết đó là như thế nào. Có lần Giáo sư Trần Văn Giàu tâm sự: Hồi nhỏ, tôi ở Pháp thường nghe người Pháp tự chế giễu như vầy: Người Pháp là người ăn nhiều bánh mì mà không biết địa lý nước Pháp. Nhại câu dí dỏm đó, bây giờ thỉnh thoảng tôi nói với các cháu gọi tôi là ông cố rằng: Người Sài Gòn là người ăn nhiều hủ tiếu mà không biết lịch sử thành phố mình. “Người làng”, “người cùng xã”, “người cùng xóm”, “người cùng quê”... mấy tiếng ấy thân thiết, gắn bó biết chừng nào đối với những ai xa quê hương, xứ sở. Nhiều khi chỉ trong quan hệ ấy thôi cũng đủ trở nên quý trọng như ruột thịt. Ngay những chuyến đi xa, ta chỉ cần có người ở xóm, ở xã đi cùng con tàu, chuyến xe đã thấy yên tâm hơn nhiều. Trong kháng chiến, nhất là những năm Bắc- Nam tạm thời chia cắt, hai tiếng đồng hương được hiểu như những người thân thích nhất. Anh đồng hương, chị đồng hương, em đồng hương, bạn đồng hương... Chỉ cần gợi lên như thế là đủ hết ý nghĩa tình cảm mà mình muốn diễn đạt. Nhiều nơi, hai tiếng đồng hương được trở thành một tổ chức hẳn hoi. Cái tổ chức dễ thương ấy chỉ có mỗi nhiệm vụ là làm cho tất cả những người có cùng một xứ sở tỉnh, huyện hoặc xã, hay thành phố ấy thỉnh thoảng được gặp nhau, giúp nhau trao đổi tình cảm, nhất là dịp Tết Nguyên Đán, để rồi từ đó mọi người sống hạnh phúc hơn, công tác và học tập tốt hơn. Nếu ở quê nhà có việc gì xảy ra bất thường thì họ lại thông báo để cùng nhau bàn bạc hướng lòng mình về nơi chôn nhau cắt rún. Trong những năm gần đây, nhiều hội đồng hương có hẳn một chương trình thiết thực giúp đỡ quê hương trong nhiều lĩnh vực. Có người quê ở chỗ khác nhưng vì sống và làm việc hoặc chiến đấu ở nơi ấy nhiều năm, họ tự coi mình là con em của xứ sở thứ hai.
Người cùng hàng xóm bất ngờ gặp nhau ở một nơi lạ thì có một sức mạnh đáng kể trong tình cảm. Xin kể một câu chuyện vui. Những năm đất nước chưa thống nhất, tại đường phố Hà Nội, hai người đi xe đạp đụng nhau. Một chiếc xe hư khá nặng. Dẫn vào công an lập biên bản để giải quyết ai đúng ai sai. Hai người khai tên họ, tuổi tác và quê quán. Thì ra hai ông này đều là người ở thị xã Trà Vinh. Họ mừng rỡ và ôm nhau hỏi tới tới về xứ sở, về con ông này, con bà kia, về gia đình ở đường có hàng cây sao hay hàng cây gõ..., để mặc cho đồng chí công an ngơ ngác. Tất nhiên là cái biên bản ấy lập tức bị hủy bỏ. Và họ kéo nhau đi “lai rai” để câu chuyện quê hương thêm đậm đà.
Đó, tình cảm láng giềng đáng yêu như vậy. Vừa trong sáng, vừa nồng nàn, bộc trực. Ngày nay, có phải do cuộc sống cuốn hút đi nhiều việc lớn làm ta dễ bỏ qua việc nhỏ. Hoặc ta để tâm nhiều đến cái cao xa mà không mấy khi chú ý đến cái gần gũi, cận kề. Có phải vậy không? Con người sinh sống trong lũy tre, vườn dừa, trong ruộng đồng mênh mông hình như không mấy khi mắc sai lầm này. Càng xa các trung tâm thành phố, xa các trục đường giao thông chính, họ càng nương tựa nhau, đùm bọc nhau.
Một lần về quê ăn Tết, tôi chứng kiến một việc hết sức cảm động. Nửa đêm, bên nhà dì Hai Tần, có tiếng kêu thất thanh. Tôi tốc mùng chạy ra thì đã thấy bên nhà dì Hai đèn lửa sáng lên. Năm ba người chạy về phía có tiếng la. Rồi cả xóm trở dậy, lần lượt kéo đến. Đứa cháu bảy tuổi độc nhất của gia đình này tự nhiên lên kinh phong, chân tay co quắp, bọt mép bọt miệng sủi ra. Cha mẹ cháu lại đi vắng. Dì Hai Tần già yếu, chỉ biết ngồi ôm cháu mà cầu trời khấn Phật. Ai có mặt hôm đó cũng nóng lòng, không thể cứu đứa bé bằng cách ấy. Thế là người một chân một tay chuẩn bị xuồng, máy móc, xăng dầu, đèn pin, đèn bão, nổ máy đưa cháu ra bệnh viện huyện cách đó hơn mười cây số đường sông đầy trắc trở. Đứa bé được các thầy thuốc cứu sống. Cháu sống được nhờ hai lẽ: Đưa đến bệnh viện kịp thời và đủ thuốc men. Mấy hôm sau, cha mẹ đứa bé về, nghe chuyện, lấy làm cảm động hết sức. “Không có bà con cô bác xóm giềng nhanh tay cứu giúp con tôi, chưa chắc con tôi đã còn. Thật tình, nếu nói không quá lời, bà con cô bác đã sanh cháu lần thứ hai...”
Những việc giúp đỡ tương tự, ở nông thôn rất bình thường. Giúp mà không cần trả ơn. Và nếu ai đó tỏ lời cảm ơn thì người làm việc nghĩa đó nói coi nhẹ như không: “Có gì đâu, xóm giềng với nhau mà!”. Họ không cần hội họp, bàn cãi nhiều. Hễ thấy việc nghĩa là xăn tay áo làm, còn thấy điều phi nghĩa thì lên án, diệt trừ hoặc tránh xa nó. Tất cả hình như đã trở thành máu thịt. Không như thế, họ không sống được.
Còn nếu như vì một lý do gì đó, họ bứt ra khỏi tổ ấm đầy tình người thì không khác nào cái cây bị tróc gốc. Những giá trị về tinh thần, về văn hóa dân tộc hầu như dần dần héo đi. Tôi có quen một thầy thuốc đi tu nghiệp ở Pháp về, kể nhiều chuyện thương tâm của đồng bào Việt Nam, nhất là các cụ già phải sống cô độc, hắt hiu vì buồn chán, tuyệt vọng trên đất khách quê người. Bác sĩ ấy gặp một bà cụ Việt Nam sống tại Pháp, bà tâm sự rằng:
Từ tấm bé tới giờ mới đi xa như thế này. Bước chân sang đến đây, không câm mà cũng thành câm, không điếc mà cũng thành điếc, có đủ cả hai chân mà như què, suốt ngày bị giam lỏng trong căn buồng này, không biết đi đâu được. Bạn bè không có, hàng xóm láng giềng cũng không. Con cái thì lâu lâu tạt qua năm mười phút xem tôi còn sống không, chưa nói đôi hồi, nó đã vội vã bỏ đi rồi!
Cái khổ tâm nhất, cái bi kịch nhất của bà cụï này là tưởng sang đây sum họp, đoàn tụ được với con với cháu nhưng mọi việc đã hoàn toàn khác hẳn. Ngay cả khi bà muốn vồ vập thương yêu con dâu (người Pháp), cháu nội, nhưng cả hai phía đều thấy gượng gạo, xa lạ, rất khó gần gũi.
Giữa lúc ấy thì bà lại nhớ tới mảnh vườn xum xuê của bà nằm kẹp giữa sông Tiền, sông Hậu. Bà thèm một tô canh chua cá lóc, một gắp cá rô nướng ăn với chén cơm gạo mới Nàng Hương. Bà thèm một miếng trầu vàng và cau tươi vừa hái ở sau vườn. Và nhất là bà thèm tình người, thèm hơi ấm của làng xóm. Thèm bước ra ngõ là gặp anh Bảy, chú Mười, thím Năm, gặp con Hai, cháu Út... trong xóm, trong làng. Chao ơi, những cái tên sao mà đằm thắm, mộc mạc và gần gũi đến như vậy mà ở đây rất khó lòng tìm thấy. Rồi bà thèm gặp những người bạn già thân thiết từ thuở còn con gái thường giặt chiếu, gánh nước bên sông Chà Và...
Theo bác sĩ Ngô Văn Quỹ, tại Pháp đầu năm 1983, một tờ báo xuất bản ở Pari đăng tải một chuyện đã gây nhiều xúc động trong công chúng Pháp và những người Việt Nam sống ở nước ngoài. Chuyện kể rằng, một bà cụ 70 tuổi, vì con cái đã đi ở riêng cả nên phải sống một mình trơ trọi trong căn phòng cùng với đàn mèo, là những sinh vật gần gũi nhất đã được cụ chăm sóc và trút cả tình thương yêu vào. Một ngày đông lạnh lẽo nọ, cụ vốn đã bị bệnh sẵn, bỗng chết đột ngột. Cả hàng xóm láng giềng không hay biết gì hết. Các cửa căn nhà đều đóng kín. Đàn mèo không làm sao thoát ra ngoài được. Đói quá, chúng trở thành những con vật hoang dại và xâu xé ăn thịt ngay người nuôi chúng. Qua một thời gian, nghe tiếng gào thét quá đỗi của đàn mèo, người ta mới phá cửa vào. Người đầu tiên bước vào căn buồng đầy mùi hôi thối nồng nặc ấy đã bị những con vật hóa điên nhảy lên cắn vào cổ, vào mặt.
Câu chuyện rùng rợn kể trên chắc không nhiều. Nhưng thực tế ở các nước Aâu-Mỹ không phải chỉ xảy ra lần đầu. Có phải do nhịp sống quá căng thẳng của nền công nghiệp hiện đại đã làm cho tình cảm con người dễ trở nên xơ cứng, đông lạnh lại chăng?
Xin người thành phố đừng giận, khi tôi viết những dòng dưới đây. Không hiểu sao tình người ở đô thị không sâu đậm, không thiết tha gắn bó bằng tình người ở miệt ruộng, miệt vườn. Mà thật lạ, xét cho cùng họ đều là những người có gốc gác ở nông thôn. Tôi có nhiều người bạn đang sống ở Sài Gòn mấy chục năm nay, nhưng hỏi ra không có anh nào sinh đẻ tại thành phố này cả, trừ con cháu họ, những lớp người thuộc thế hệ sau này. Anh thì ở Tân Châu, Chợ Mới, anh ở Chợ Gạo, Long Định, anh ở Cầu Kè, Trà Cú, Chợ Lách. Có anh ở tận Cái Đôi Vàm, Sào Lưới, mũi Tràm tận Cà Mau, lại có người ở Ý Yên, Gia Khánh, Gia Viễn, Đáp Cầu, Phố Đu, Phố Nối... tận miền Bắc... Có anh phát âm còn sai chữ “l” thành chữ “n” , chữ “r” thành “d” v.v... vậy mà cứ nghĩ mình là dân Sài Gòn, dân thành phố chính cống, để rồi tự đặt cho một tính nết, một cách sống khác hẳn với thời ở nhà lá, bờ sông, khăn rằn, chân đất...
Nhưng thôi, nói đi vẫn nói lại, một lúc nào đó, dù là khoảnh khắc, tôi tin họ vẫn nhớ về cội nguồn. Ngày trước có những người tha phương cầu thực hoặc vì một hoàn cảnh riêng biệt nào đó tạm xa quê hương, nhưng cuối cùng cũng muốn quay về làng cũ cho chắc ăn, yên tâm, chí ít là ổn định về tinh thần. Đó là tâm lý. Mọi người đã biết câu ca dao cũ:
Ta về ta tắm ao ta
Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn.
Đáng tiếc, “nói vậy mà không phải vậy”. Những tiện nghi do khoa học ngày càng phát triển đã níu kéo người ta lại thành thị mộât cách khá mạnh mẽ.
Ở thành phố, không ít người cùng sống với nhau một chung cư, đi chung cầu thang, ra vào cùng một cửa, nhưng rồi có đôi người gặp nhau vẫn cứ nhàn nhạt, đều đều. Thật đáng buồn...! Gặp nhau luôn mà vẫn không thấy nhau, không hiểu nhau. Aáy là chưa kể cá biệt có những người ở lầu trên, lầu dưới mà không hề biết mặêt, hoặc có biết, rủi gặp nhau ngoài đường cũng lờ tránh. Trời ơi, vậy mà họ vẫn sống nổi với nhau năm này sang năm khác, có khi suốt đời.
Tôi có anh bạn, nhà ở một con đường khá sang tại trung tâm  Sài Gòn. Trước cửa nhà anh chừng mươi bước là một căn lầu ba tầng. Vì quá gần nhau, hầu như một số sinh hoạt ở gia đình bên căn lầu ấy vô tình làm anh biết hết. Như ăn cơm, đọc sách báo, tiếp khách, ngồi lựa gạo, ủi quần áo... Đến nỗi cây ớt ở bên ấy từ khi trồng đến lúc có trái, rồi ớt chín ra sao, anh vẫn thấy. Bụi bông quỳnh nở rồi tàn từng đêm, anh cũng hay... Vậy mà anh bạn tôi cố tình không quen biết, nói đúng hơn không chào hỏi người chủ bên căn lầu ấy, cho dù một nụ cười, một cái gật đầu...
Hỏi vì sao lạ vậy, anh trả lời lạnh lùng rằng: Làm quen cũng được mà không quen cũng chả chết ai!...
Thật đáng buồn! Tại sao họ có thể sống với nhau một cách lạnh lẽo kéo dài như thế được. Đối với những người khô khan như vậy không bao giờ có bạn, không biết tình bạn là thế nào. Nếu có quan hệ với ai, ấy chỉ là trên tình anh em , “đồng chí” chung chung mà thôi.
Một lần tôi đến thành phố nọ, đang dạo chơi thì mưa ập tới. Mọi người chạy dạt lên vỉa hè, tìm chỗ trú. Tôi chậm chân, đành đứng dưới một mái hiên không ra mái hiên. Mưa mỗi lúc một lớn. Người tôi ướt sũng. Khi ấy nhìn qua cánh cửa sắêt tôi thấy căn phòng cạnh tôi đứng rất rộng , cả nhà đang quây quần trò chuyện vui vẻ, ấm áp. Tất cả họ nhìn ra thấy tôi, nhưng không hề hé cửa mời tôi vào trong cơn mưa trút như thác. Sống ở thị thành đông người, khó biết ai hiền dữ như thế nào, tôi không trách. Nhưng cớ sao giữa con người với con người, tôi vẫn thấy lạnh tê tái, lạnh hơn cả cơn mưa mà tôi đang dầm mình.
Một cụm dân cư, dù nông thôn hay thành thị đâu phải chỉ hình thức bên ngoài của sự ăn, ở. Nơi ấy còn nuôi dưỡng và phát triển tình cảm tốt đẹp của con người. Mặc dù nhà này cách nhà kia một đám xương rồng, một hàng rào bông bụt, “một dậu mồng tơi xanh rờn”, hoặc một bức tường xi măng có gắn miểng chai, miểng sành đi chăng nữa, thì người ta vẫn phải có một lẽ sống đoàn kết, đùm bọc, tin vào nhau, tin vào nhau để tạo nên một tình yêu rộng lớn hơn, sâu đậm hơn, ấy là tình yêu quê hương, đất nước. Nếu không, con người làm sao đứng vững trên mặt đất này?

(Rút trong sách Xứ sở phù sa,
NXB Cửu Long, 1986)

 (còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét