Xuân Tân Mão

Xuân Tân Mão
Đảng và Chính phủ luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng với tất cả hoạt động, việc làm của người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia (TTg NT Dũng).

11 tháng 3 2011

Việc gán cho rùa Hồ Gươm tính cách “linh thiêng” cản trở việc làm sạch hồ và chữa bệnh cho rùa

11/03/2011


Trọng Thành
Anh Dương Trung Quốc là chỗ bạn bè với chúng tôi, là một trong những Nghị sĩ “dám nói” giữa một Quốc hội mà nếu không bảo là “gật” – chẳng ai dám mạo phạm gọi xách mé như thế cả – thì xét cho cùng, sự thẳng thắn đóng góp những điều hữu ích tính đến nay quả cũng chưa được bao lăm người. Tuy nhiên, có lẽ cũng vì ở tư cách một Nghị sĩ Nhà nước nên trong vấn đề này, anh chưa dám nói hết mọi điều cần nói. Bổ sung vào ý kiến của anh một đôi điều tưởng cũng là cần thiết.
Chúng tôi nghĩ, đời sống tâm linh gắn với một cộng đồng người nhất là cộng đồng người châu Á như Việt Nam, vốn có gốc rễ lâu đời của nó. Truyền thuyết rùa thần ở Hồ Gươm phải nói đã có từ lâu, từ thời Lê Lợi kia, hoặc muộn hơn chút ít, và mấy trăm năm qua vẫn sống trong lòng dân tộc như một phản ánh sâu thẳm của tâm thức yêu nước, yêu cuộc sống thái hòa, không thích gây sự, của dân tộc chúng ta. Nhưng từ khi những người làm cách mạng theo đường lối mác-xít lên nắm quyền thì cái gọi là “tín ngưỡng dị đoan” bị dẹp bỏ, trong đó có cả những truyền thuyết linh thiêng như truyền thuyết rùa thần (dẹp bỏ ở đây là dẹp bỏ niềm tin hiện hữu về nó chứ không phải dẹp bỏ ở trong sách vở). Nhưng sự dẹp bỏ chỉ có giá trị nhất thời, khi người ta đang ít nhiều xây dựng được một lòng tin khác, về một thể chế mới sẽ dẫn con người Việt Nam đến một thế giới tươi đẹp, không còn người bóc lột người, và thể chế ấy là do toàn dân vùng lên chống ách đô hộ của ngoại bang giành lại độc lập toàn vẹn thiết lập ra nó.

Nhưng sau sáu mươi năm trải nghiệm, rõ ràng lòng tin nhất thời ấy đã bị sụp đổ. Một xã hội công bằng, dân chủ, tự do, hạnh phúc không những không hề có mà một đất nước hoàn toàn độc lập không phải luồn cúi nước ngoài hóa ra cũng không. Mà khi lòng tin từng được hồ hởi truyền bá bởi những vị khai quốc công thần khai sáng ra thời đại mới bị thực tế làm cho tắt ngấm cùng với lớp người khai quốc ấy – một “thế hệ vàng” như anh Dương Trung Quốc nói – thì cái cũ đương nhiên lại sống dậy. Người ta lại phải trở lại gửi gắm ước vọng vào một thế giới huyền bí, xem đó là sự cứu rỗi cho mọi nỗi đau hữu hình và vô hình đang diễn ra chồng chất trên cõi đời này.
Về phương diện cá nhân, dân chúng không còn chỗ nào bấu víu hơn là đi tìm các đình chùa được tiếng “thiêng” xưa nay để lễ bái, cầu cúng, mong cho vợ chồng con cái có chút tài lộc và giữ được sức khỏe cũng như sự yên ấm gia đình, trong thời buổi khắc nghiệt của kinh tế thị trường định hướng XHCN mà trong đó chỉ có một phần may còn chín phần là rủi (do chỗ nền kinh tế này thực chất dựa trên “quy hoạch” đất đai của dân và buôn bán đầu cơ bất động sản cũng như vay tiền nước ngoài để lập ra các dự án... không có lãi, nên đại bộ phận nhân dân đều ở vào tình cảnh bất hạnh), giáo dục và an sinh xã hội thì xuống gần đến đáy. Nhưng có một đám giàu nổi mới phất lên nhờ vào vô khối hành vi chạy chọt chức quyền, xí phần quy hoạch, dự án này nọ..., chủ yếu là quan chức và các doanh nhân thì trong tâm lý lại thường lo sợ theo một hướng khác: họ lúc nào cũng ngơm ngớp lo bị mất chức, mất hết tiền tài, nên cứ thảng thốt không yên, như ngồi trên đống lửa. Về mặt tư tưởng, họ lại cũng chính là đám người sớm hơn ai hết từ bỏ cái chủ nghĩa duy vật biện chứng mà thế hệ cha chú từng truyền dạy, mặc dù ngoài miệng họ vẫn luôn luôn tuyên truyền học tập chủ nghĩa Mác, học tập tấm gương đạo đức của cụ Hồ. Cứ xem những việc như phá gần hết di tích Điện Biên Phủ để xây phố xá, khách sạn, phá di tích Hội trường Ba Đình và rất nhiều di tích khác chứng tỏ họ đã đi đến chỗ “hoàn toàn thất học” (sự suy xét lý tính trong họ nhường chỗ cho những tín điều, tín niệm hết sức thực dụng). Vì thế, không phải họ theo đuôi nhân dân đi lễ bái cho an dân đâu. Phải nói chính họ đã đầu têu ra những chuyện xây chùa chiền đồ sộ cực kỳ tốn tiền (kéo theo hàng đám “sư sãi chức sắc” cũng lập hết dự án này dự án kia, ngồi ô tô, che lọng vàng, tiền của không để đâu cho hết), những chuyện lễ bái cầu cúng, cầu an, mừng sinh nhật... tốn kém không thể nào kể xiết (mà đi đến đâu ta đều nghe dân gian đàm tiếu), cốt cầu thần thánh “ban” cho mình được leo lên những “cái ghế” cao hơn, vững chãi hơn cái ghế mình đang ngự trị, và làm sao cho núi tiền của mình ngày một đầy hơn hoặc đã đầy rồi thì không suy suyển đi. Vậy thì, từ cái cực duy vật máy móc đến chùa chiền nào cũng đập, bia đá nào cũng ghè, sách Nho nào cũng đốt... chuyển sang một cực trái ngược hẳn như hôm nay trong xã hội chúng ta, phải đâu là do chính quyền nể nang dân chúng mà sinh ra thói tệ ây. Nói thế e có phần oan uổng cho người dân đấy, thưa anh Quốc.
Còn về một phương diện khác, phương diện xã tắc – tức niềm tin vào vận mệnh dài lâu của đất nước – trước đây, với hai cuộc kháng chiến đánh Pháp và đánh Mỹ, trong nhân dân ai cũng nghĩ rằng dân tộc này quả thật đã làm nên lịch sử, tự mình giành lại được nền độc lập tự chủ của mình. Nhưng mỗi ngày, lịch sử lại lộ ra một phần sự thật bị giấu giếm, những sự thật ghê gớm không ai ngờ được –rằng vào năm 1974 chúng ta đã mất Hoàng Sa về tay Trung Quốc; rằng vào năm 1988 chúng ta lại mất thêm một phần Trường Sa; rằng từ sau 1979, sau chiến thắng oanh liệt đánh đuổi đội quân xâm lược hung ác của Đặng Tiểu Bình tiến sang triệt phá nhiều tỉnh biên giới, những tưởng chúng ta đã có thể ngẩng cao đầu, thì có ngờ đâu lại phải ngậm cay nuốt đắng chấp nhận một đường biên giới thua thiệt, có nhiều phần bị bọn đại Hán ngoạm sâu vào lãnh thổ mà không dám lên tiếng tranh cãi (đặc biệt là các cuộc giao tranh đẫm máu vào năm 1984, chúng ta mất thêm cao điểm quan trọng 1509 vùng núi Đất, bây giờ kẻ ăn cướp gọi đó là Lão Sơn). Không những thế, khi một thế hệ thanh niên Việt Nam cảm thấy bất bình, đứng lên biểu tình chống Trung Quốc, đòi công khai việc giành lại quyền tự chủ trên vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa, thì bất nhẫn thay, họ lại bị chính quyền đương nhiệm giải tán, thậm chí bắt bớ, đưa vào tù. Thế là niềm tin vào chính sức mạnh của dân tộc cũng lung lay – do một bọn đớn hèn cứ dùng dùi cui và roi điện để bịt miệng dân chúng.
Còn chỗ nào để “phát tiết” tinh hoa của dân tộc nữa đây nếu không là những huyền thoại như huyền thoại rùa thần Hồ Gươm vốn nổi tiếng linh ứng từ hàng mấy trăm năm? Truyền thuyết Cụ Rùa dẫu có âm thầm “ngủ kín” trong tâm khảm người dân một thời gian nào đấy, do chiến tranh hay vì lẽ gì đi nữa, thì đâu phải đã là chết hẳn. Bỗng chốc nó lại sống dậy, nổi bật lên trong vòng mấy thập kỷ qua, cũng chính vì sự hẫng hụt nói trên. Anh Dương Trung Quốc hãy nhớ lại xem, tiêu bản “Cụ Rùa” hiện còn ở đền Ngọc Sơn chẳng gắn với lời đồn về việc cụ Hồ tạ thế năm 1969 là gì. Nếu cần hiểu thêm về sức sống của truyền thuyết rùa thần ở cái hồ trung tâm thủ đô này anh nên tìm tập truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Dậu – một người đã từng nương náu tại Hồ Gươm trong nhiều năm – mà đọc, sẽ còn biết thêm vô khối huyền thoại khác nhau về nó. Ở đây chỉ xin nêu một câu hỏi: Chẳng lẽ cái nơi ẩn náu cuối cùng sức mạnh tinh thần của người Việt là Cụ Rùa cũng bị Nhà nước “quét sạch” đi nốt? Mà “quét sạch” đi thì chính ông cầm quyền phải sợ trước chứ đừng nói ai! Chính đó, theo tôi, đó mới là cái lý do sâu xa để chính quyền Hà Nội phải long trọng hóa một việc như việc cứu “Cụ Rùa” Hồ Gươm.
Nói về việc bảo vệ môi trường, phải nhìn thẳng vào sự thật, Hà Nội là thành phố yếu kém nhất trong mọi thành phố ở Việt Nam. Có một hồ nước nào ở Hà Nội đạt tiêu chuẩn giữ gìn nước sạch và môi trường không bị lấn chiếm hay không? Tuyệt đối không. Ngay Hồ Tây to lớn và đáng giữ gìn biết bao nhiêu, vậy mà cứ lên Hồ Tây mà xem, Hồ Tây và hồ Trúc Bạch nay còn lại được mấy phần so với trước đây hơn nửa thế kỷ? Số liệu quá khứ chắc còn nguyên vẹn để ta so sánh. Có những khách sạn nay đã đóng cọc ra ngoài Hồ Tấy đến gần 1/2 km, thử hỏi ai được hưởng những món “lại quả” kếch xù vào đấy? Lại còn hồ Thủ Lệ nữa, ngày xưa hồ này dài rộng đến thế nào, ai mà chẳng nhớ, thế mà sau một nhiệm kỳ của ông Hoàng Văn Nghiên lên làm Chủ tịch thành phố, cho Hàn Quốc lấp Hồ để xây khách sạn Daewoo (mà nghe nói hình như một vài quan chức vào cỡ ông có cổ phần đáng kể ở trong đó?), nay hồ Thủ Lệ chỉ còn là một lạch nước nông choèn, không đủ chỗ cho trẻ em chơi vui trong ngày Chủ nhật. Giá thử không lo cứu “Cụ Rùa” và làm sạch nước Hồ Gươm, hẳn giải đất hình chữ S này sẽ không còn cái gì để mà nhắc nhở, và chính quyền này sẽ không còn cái gì để “nói” với dân. Ấy, vấn đề gọi bằng tâm lý xã hội nó là sâu xa như vậy chứ không phải giản đơn. Phải chi nếu không có truyền thuyết “Cụ Rùa” thì chắc việc làm sạch Hồ Gươm cũng sẽ còn lâu lắm đấy. Các vị ngồi trên biết rằng chẳng ăn cái giải gì khi làm cho một thủ đô thật sự xanh, sạch, đẹp. Vài nhát sơn để bôi phết lại các tường nhà ở các khu phố Hà Nội lâu năm, hay phá ra để lát lại các lối đi vừa mới lát... sẽ là những dự án còn “thực”... tế hơn gấp nhiều lần.
Nguyễn Huệ Chi
http://boxitvn.blogspot.com/2011/03/viec-gan-cho-rua-ho-guom-tinh-cach-linh.html

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét