Xuân Tân Mão

Xuân Tân Mão
Đảng và Chính phủ luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng với tất cả hoạt động, việc làm của người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia (TTg NT Dũng).

11 tháng 4 2011

Đạo đức và năng lực của quan chức: Câu chuyện Nhật Bản thời đất nước khó khăn

Trần Văn Thọ
 

    Trong một nước còn nghèo, quan chức khi đi công du nước ngoài cần có hành động như thế nào? Có lẽ có hai điểm quan trọng. Thứ nhất, phải luôn chú ý làm sao để qua hành động của mình, người nước ngoài thấy khâm phục, quý mến dân tộc mình. Về điểm nầy, điều quan trọng là quan chức phải hiểu biết văn hóa tối thiểu của quốc gia mình thăm viếng để ứng xử đúng phong cách, và có tinh thần học hỏi cái hay, cái mới để mang về áp dụng cho công cuộc phát triển của đất nước. Thứ hai, nếu là đi công du, tham quan do ngân sách nhà nước mình phụ đảm thì dĩ nhiên phải tiết kiệm, phải quý từng đồng ngoại tệ để ít phí phạm vào nguồn lực tài chính ít ỏi của đất nước. Điểm nầy càng quan trọng đối với một nước phải nhận viện trợ, phải vay mượn nước ngoài.
    Tôi xin kể hai câu chuyện về quan chức Nhật Bản liên quan đến điểm thứ hai nói trên. Những câu chuyện nầy có vẻ khó tin vì có lẽ ít ai có thể tưởng tượng nỗi tinh thần yêu nước qua thái độ tiết kiệm công quỹ một cách triệt để như vậy. Nhưng đây là những chuyện có thật.
Chuyện thứ nhất liên quan đến Phái đoàn Iwakura vào những năm đầu của thời Minh trị Duy tân. Năm 1871, chính quyền Minh Trị tổ chức một phái đoàn lớn do đại thần Iwakura Tomomi (1825-1883) dẫn đầu sang Mỹ và một số nước Tây Âu. Đoàn gồm nhiều đại thần (bộ trưởng) và quan chức cao cấp. Phái đoàn Iwakura có hai mục đích: một là thương lượng với các nước Âu Mỹ sửa đổi lại Hiệp ước bất bình đẳng mà chính quyền trước Minh trị (thời Edo) bị bắt buộc  phải ký kết với Mỹ và một số nước Tây Âu. Hai là tìm hiểu luật lệ, chế độ, phương pháp tổ chức liên quan đến thể chế chính trị, kinh tế tại các nước tây phương để mang về cận đại hóa, kiến thiết đất nước. Đây là phái đoàn lớn, đi hơn 2 năm (1871-1873), tuy không đạt được mục tiêu thứ nhất nhưng thành công trong mục tiêu thứ hai, đã đóng góp to lớn vào việc canh tân nước Nhật vào cuối thế kỷ 19. 
Phái đoàn bắt đầu qua Mỹ. Chuyện kể rằng khi đến New York, đoàn nghỉ chân tại một quán cà phê. Yasuba Yasutomo, một thành viên trong đoàn, gọi nhân viên nhà hàng mang thêm đường, nhưng nhân viên lại mang thuốc lá đến. Ông ta lấy làm lạ nhấn mạnh lại là “tôi gọi đường uống cà phê kia”. Nhưng nhân viên nhà hàng vẫn không hiểu. Cuối cùng mọi người mới hiểu ra rằng ông phát âm chữ sugar (đường ) thành cigar (thuốc lá) nên nhân viên nhà hàng không hiểu. Biết được vậy ông thấy xấu hổ và hết tự tin là mình sẽ đóng góp gì cho phái đoàn nên mới xin đoàn trưởng cho mình trở về Nhật ngay. Yasuba nói: “Chúng ta đi lần nầy là dùng ngân sách nhà nước. Tiếng Anh của tôi thế nầy nếu tham gia đi tiếp chỉ tốn thêm tiền thuế của dân một cách vô ích. Xin cho tôi về để dành tiền dùng cho chuyện có ích hơn”. Và ông đã cương quyết quay về Nhật ngay.
   Chuyện thứ hai gần đây hơn, mới hơn 50 năm trước.
   Vào đầu thập niên 1950 Nhật Bản là nước còn nhận viện trợ và đi vay mượn nước ngoài. Đất nước Nhật còn bị Mỹ chiếm đóng 6 năm từ khi Nhật bại trận trong thế chiến thứ hai. Thế nhưng kinh tế Nhật hồi phục nhanh, trở thành cường quốc kinh tế sau khi trải qua giai đoạn phát triển thần kỳ. Trong những nguyên nhân làm nên thành công kỳ diệu nầy phải kể đến năng lực, đức độ, phong cách sống và làm việc của các quan chức.
   Sau đây tôi xin kể một câu chuyện về sự tiết kiệm công quỹ và khí khái vì dân vì nước của 3 quan chức cấp cao. Hai trong 3 người nầy sau đó trở thành những thủ tướng nổi danh của Nhật, còn người thứ ba cũng đi vào lịch sử hậu chiến Nhật Bản vì đã dùng trí tuệ và bản lãnh của mình dành lấy vinh dự cho đất nước Nhật trong nỗ lực thu hồi chủ quyền quốc gia từ Mỹ.
   Vào năm 1950, Bộ trưởng tài chánh Ikeda Hayato được lệnh của thủ tướng  dẫn đầu một đoàn đại biểu sang thăm Washington, thủ đô của Hoa Kỳ, mục đích để thăm dò dư luận và không khí trong chính truờng Mỹ liên quan đến việc trao trả độc lập cho Nhật. Trong đoàn của Ikeda có Miyazawa Kiichi, quan chức cao cấp Bộ Tài chánh, và Shirasu Jiro, quan chức cấp cao Bộ Ngoại giao. Ikeda trước đó cũng là quan chức Bộ Tài chánh, làm đến thứ truởng, sau đắc cử nghị sĩ hạ viện, chuyển sang làm chính khách.
Vì đất nước còn khó khăn, phải đi vay mượn nước ngoài, ngoại tệ phải được tiết kiệm để nhập khẩu nguyên liệu phục vụ sản xuất nên đoàn của Ikeda đến Washington phải tìm một khách sạn loại trung bình và  2-3 người  phải ở  chung một phòng, kể cả Bộ trưởng. Miyazawa ở chung phòng với Bộ trưởng Ikeda mà căn phòng cũng rất đơn sơ, không có gì cả ngoài chiếc giường đôi, giá phòng là 7 USD (theo hồi ký của Miyazawa). Ban ngày tiếp xúc với các quan chức và chính khách Mỹ, tối về pha nước nóng với rượu sake mang theo từ Tokyo vừa uống vừa bàn bạc phương châm chiến lược cho hoạt động ngày hôm sau. Không có bàn ghế nên mọi người phải ngồi trên giường trò chuyện. Thời đó tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đầu người của Nhật độ 210 USD/năm nên có thể nói Bộ trưởng và một quan chức cao cấp ở chung căn phòng với giá bằng 1/30 thu nhập bình quân năm của một người Nhật.
Mười năm sau, Ikeda trở thành thủ tướng của Nhật (1960-1964). Đặc biệt ông nổi tiếng với kế hoạch bội tăng lợi tức quốc gia, góp phần quan trọng vào việc đưa nước Nhật vào giai đoạn phát triển thần kỳ. Miyazawa sau đó mấy năm cũng đắc cử nghị sĩ quốc hội. Ông giữ nhiều chức vụ quan trọng trong nhiều nội các như Bộ trưởng Ngoại giao, Bộ truởng Tài chánh,.v.v. và trở thành thủ tướng từ 1991 đến 1993. Đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chánh ở Á châu (1997-98), Miyazawa, mặc dù là cựu thủ tướng, đã theo yêu cầu của thủ tướng Obuchi Keizo sẳn sàng nhận chức vụ Bộ trưởng Tài chánh để đưa ra các chính sách phục hồi sự ổn định tiền tệ và kinh tế Á châu. Ông đã đưa ra một chính sách được chính phủ và giới báo chí gọi là Sáng kiến Miyazawa, trong đó Nhật chi ra 30 tỉ USD để giúp Thái Lan, Malaysia, Inđonesia, Hàn Quốc và Việt Nam khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng tiền tệ Á châu.
Shirasu làm quan cho đến khi về hưu. Ông được người đời truyền tụng về năng lực và khí khái của một nhà ngoại giao xuất sắc. Hai sự kiện nổi bật được ghi lại như những điểm son của một quan chức yêu nước và đầy tự trọng. Chuyện kể rằng trong thời gian Mỹ chiếm đóng Nhật (1945-1951), có lần Shirasu được lệnh mang quà biếu của Thiên hoàng đến tặng Thống soái Douglas MacArthur, người trách nhiệm tối cao của đội quân chiếm đóng. MacArthur tỏ thái độ trịch thượng, chỉ vào gói quà còn trên tay của Shirasu: “Cứ để đâu đó cũng được”. Shirasu nổi nóng phản ứng ngay: “Chúng tôi chỉ là nước bại trận chứ không phải là nô lệ của các ông”. Thấy thái độ khảng khái, đầy tự trọng, không sợ quyền lực, không sợ khả năng mất chức tước, mất quyền lợi của Shirasu, Mac-Arthur chột dạ phải xin lỗi và từ đó có thái độ khác đối với Nhật. Chuyện thứ hai liên quan việc chuẩn bị bài diễn văn cho Thủ tướng Yoshida Shigeru đọc trong buổi lễ Mỹ trao trả độc lập cho Nhật tại San Francisco. Dự thảo bài diễn văn được soạn bằng tiếng Anh và nội dung có nhiều chỗ quá nhún nhường đối với Mỹ. Shirasu đã cương quyết đòi phải sửa nội dung bản dự thảo nầy và chủ trương rằng thủ tướng phải đọc bằng tiếng Nhật trong buổi lễ long trọng đó. Chính ông đã viết lại bản mới bằng tiếng Nhật với một nội dung vừa giữ được thể diện của Nhật vừa hợp với thông lệ trong quan hệ quốc tế.
Quan chức Nhật Bản nổi tiếng là ưu tú vì đã qua đào tạo ở các đại học danh tiếng và phải thi đỗ trong các kỳ thi tuyển nghiêm túc. Trong thời đất nước còn khó khăn, họ ý thức được sứ mệnh cao cả mà dân tộc giao phó để đem tài năng, trí tuệ đưa đất nước theo kịp các cường quốc. Câu chuyện của ba quan chức giới thiệu ở trên là những điển hình ở các cấp khá cao, nhưng ở những mức độ khác nhau, các tố chất cơ bản của những người ấy có thể nói là khá phổ biến trong giới quan chức ở Nhật nhất là trong những giai đoạn đất nước còn khó khăn, còn ở trong thời kỳ đầu của quá trình phát triển.
 Nhiều người thường hỏi tôi tại sao Nhật là nước Á châu đầu tiên thành công trong quá trình cận đại hóa và trở thành một nước công nghiệp tiên tiến. Khó có thể có câu trả lời đơn giản. Nhưng một trong những yếu tố thành công của Nhật là họ luôn có những quan chức luôn đặt lợi ích của đất nước lên trên hết, luôn tiết kiệm công quỹ trong khi tích cực học hỏi kinh nghiệm nước khác và tranh thủ tối đa lợi ích của đất nước mình trong khi thương lượng với nước ngoài./.

(Phần đầu đăng ở báo Đà Nẵng Xuân 2010, phần sau đăng ở Thanh Niên tuần san 28/4/2006

Trích từ
Trần Văn Thọ, Việt Nam từ năm 2011: Vượt lên sự nghiệt ngã của thời gian, NXB Tri thức, 2011.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét