25 tháng 4 2011

Cha tôi, đại tá liệt sĩ Nguyễn Thế Truyện

lời dẫn nhỏ


Chị  Nguyễn Thế Thanh là một nhà báo, vốn là Tổng Biên Tập báo Phụ Nữ TPHCM, PGĐ Sở Văn Hóa Thông Tin  và hiện là TGĐ Cty truyền thông Sài gòn Media.

24/04/2011

- “Hồi chia tay vợ năm một chín sáu hai, Hà Nội đang vào mùa cuối xuân, hoa sữa thơm suốt cả con đường Nguyễn Du nơi có căn nhà cơ quan bố trí cho người sắp đi B tiếp khách (để giữ bí mật), ông đã nắm tay vợ và hẹn ngày gặp lại...” - 
Bài viết của nhà báo Nguyễn Thế Thanh về người cha, anh hùng liệt sĩ Nguyễn Thế Truyện có thể làm lay động tận sâu thẳm tâm hồn người đọc không chỉ bởi những chi tiết chân thực về sự chia ly....

1.
Tôi không có may mắn như nhiều đứa trẻ khác được nằm trong vòng tay rắn chắc của cha ngay khi cất tiếng khóc chào đời... Lúc tôi tượng hình trong bụng mẹ, cha tôi vì nhiệm vụ phải chia tay người vợ trẻ khi ấy mới hai mươi tuổi để đến một chiến trường xa xôi tận phương Bắc. Mẹ tôi kể, trong đêm chia tay, cha tôi đặt tay lên bụng mẹ dặn. "Con đầu lòng của chúng mình dù trai hay gái cũng lấy chữ lót tên anh và chữ lót tên em đặt tên cho con, nha em".
d
Nguyễn Thế Truyện và người vợ trẻ

Vài tháng sau đó, tổ chức phân công mẹ về công tác ở nội thành Sài Gòn. Bụng mang dạ chửa, thiếu kinh nghiệm hoạt động đô thị, mẹ bị địch bắt và đem giam bót Catinat cùng với nhiều đồng đội khác: dì Năm Bắc (sau này từng là Bí thư Quận 10), dì Tám Phượng (sau này từng là ủy viên vụ Hội Liên hiệp phụ nữ TP.HCM), dì Lý (vợ bác Hai Ngọc, Chánh văn phòng Sở VHTT TP.HCM). Những lần bị địch tra khảo, mẹ đã cố xoay trở để cái bụng tránh được những ngọn đòn. Mẹ kể, lúc đó mẹ không sợ đau, chỉ sợ hư thai đứa con đầu là kỷ niệm đẹp của cha mẹ. Nằm trên nền khám xi măng lạnh lẽo, mẹ đã nguyện thầm với con bằng cái tên kết chữ lót của tên cha và tên mẹ: "Con ơi, con phải được chào đời và phải được gặp mặt cha con...".

2
. Gửi lại phương Nam người vợ trẻ và đứa con đầu lòng chưa chào đời, cha tôi ôm súng đi về hướng Bắc, ở đó, ông đã được gửi đi học quân sự ở nước ngoài một thời gian ngắn, rồi năm 1958 được Nhà nước phong quân hàm thiếu tá trong đợt phong quân hàm đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Cùng đợt phong hàm ấy có các bác, các chú: Trần Văn Trà, Lê Trọng Tấn, Trần Độ, Tô Ký (Đại tá), Trần Đình Xu  (trung tá), Hoàng Cầm,  Trương Văn Ban (thiếu tá), Nguyễn Thới Bưng - thượng úy...

Những năm tháng ấy, cha tôi và nhiều đồng đội từng sát cánh bên nhau trên chiến trường chống Pháp ở miền Đông Nam Bộ nay lại cùng nhau chia sẻ cái cảnh "ngày Bắc đêm Nam" mà nhà thơ Nguyễn Bính đã viết “Sao đặc trời sao sáng suốt đêm/ Sao đêm chung sáng chẳng chia miền/ Trời còn có bữa sao quên mọc/ Anh chẳng đêm nào chẳng nhớ em " . Chính vì đã nhiều năm tháng sống trong cảnh " ngày Bắc đêm Nam" như thế cho nên mùa xuân năm 1958 với cha tôi là mùa xuân thật đặc biệt. Ông được tổ chức thông báo chuẩn bị ra sân bay Gia Lâm đón vợ và con. Cùng chuyến bay ấy còn có vợ con một số cán bộ, trong đó có vợ con của các nhạc sĩ Đắc Nhẫn, Trần Kiết Tường...


Cha tôi kể với mẹ, để chuẩn bị đón vợ con ông đã phải chạy đi chạy lại giữa Tây Bắc (nơi cha tôi công tác) và Hà Nội không biết bao nhiêu lần. Đã mấy lần mừng hụt, những tưởng được ôm vợ và con vào lòng, nhưng rồi lại phải quay về một mình vì không có chuyến bay.
Rồi thì phút giây trùng phùng ngập tràn hạnh phúc cũng đã đến. Những vòng tay ôm chặt lấy nhau của chồng vợ, cha con. Những nụ hôn đầm đìa nước mắt sung sướng. Cha tôi kể đi kể lại với bạn bè: "Con bé đầu lòng của mình bốn tuổi rưỡi chưa từng gặp mặt cha, vậy mà nó đi  từ trên thang máy bay xuống, chạy thẳng đến trước mặt mình và kêu thật lớn "Ba!". Mình sung sướng quá trời. Thiệt là đã đời, mấy ông à!".
d
Cuộc sống gia đình đầm ấm nhưng ngắn ngủi của liệt sĩ Nguyễn Thế Truyện.

Hạnh phúc bên vợ con được mấy ngày rồi cha tôi lại phải trở lên đơn vị. Dạo ấy ông là trung đoàn phó kiêm tham mưu trưởng ở Nà Sản - Tây Bắc. Chỉ mấy ngày thôi mà ông đã kịp quan sát cái nết ăn ở của tôi. Nghịch ngợm, bướng bỉnh. Gần năm tuổi đầu mà vẫn bú bình vì không biết uống sữa bằng ly, lại không biết nhai thịt, nhai rau nên cái gì cũng phải nghiền nát! Ông nói như chỉ thị với mẹ, rằng con bộ đội mà nuôi kiểu nhà giàu như vậy là chết rồi. Phải "cải tạo" ngay mới kịp.

Cuộc "xung đột" đầu tiên của cha và mẹ sau nhiều năm xa cách hóa ra lại xuất phát từ tôi. Mẹ giận dỗi cho rằng cha đã nặng lời, mẹ phải gửi con cho bà ngoại nuôi mới rảnh chân tay để đi công tác. Bà ngoại lại giao cho bà vú nên mới ra nông nỗi đó. Thôi thì, nếu cha muốn huấn luyện con như huấn luyện bộ đội thì xin mời đem đi. Chỉ chờ có vậy, cha tôi lập tức "bốc" tôi đi theo ông lên đơn vị ngay trong tuần đầu tiên cha con biết mặt nhau.


Ở đó, ông đã kiên nhẫn hết ngày này sang ngày khác tập cho tôi uống sữa bằng ly, tập cho tôi nhai hết cọng rau muống luộc tới hàng chục phút, kiên  nhẫn chịu đựng cái cảnh tôi ọe lên oẹ xuống khi bị ép nuốt hết miếng thịt đã được xắt nhỏ. Lau mồ hôi và nước mắt cho tôi sau những cuộc "huấn luyện kinh hoàng" ấy, cha đã khen nựng tôi, rằng con gái của ba giỏi quá,con bộ đội thì phải vậy chứ! Cho đến tận bây giờ, khi đã có hơn nửa thế kỷ tuổi tác ở trên đầu, tôi vẫn còn như cảm nhận được hơi ấm của cha, khi ông bế tôi đi ra sau vườn ngôi nhà công vụ của ông, hái cho tôi những quả đào nửa xanh nửa đỏ với lớp lông măng mịn màng tuyệt đẹp. Khi tôi trở lại Hà Nội với mẹ, câu nói đầu tiên của tôi thay cho lời chào sau một tháng đi "cải tạo" là: "Má ơi, rau muống ngon lắm" !


3.
Lúc sinh thời, các bác Trần Văn Trà, Tô Ký, Lê Trọng Tấn, Lưu Quang Tuyến thường kể về cha cho tôi nghe. Trong mắt của các bác ấy, những người vừa là cấp trên trong công việc vừa là người anh trong cuộc sống của cha tôi, Nguyễn Thế Truyện là một con người có nhân cách đẹp đẽ và là một chỉ huy quân sự tài năng. Bác Ba Tô Ký thường nói: "Truyện là một tướng trận. Thông minh và dũng cảm lắm. Người như Truyện ngồi ở miền Bắc yên bình trong khi miền Nam chiến đấu là không thể được. Thế nên cậu ấy cứ nằng nặc đòi tôi cho đăng ký trở lại chiến trường miền Nam. Truyện gửi gắm tôi và chị Năm Bi (Đại tá Hồ Thị Bi) : "Em giao Cầm và các cháu lại miền Bắc, nhờ anh Ba và chị Năm quan tâm chăm sóc dùm. Em phải trở lại chiến trường mới được, anh Ba à". Tôi hiểu Truyện và đồng ý để cậu ấy đi. Đúng là chiến trường miền Nam rất cần những người như Truyện. Tôi tháo cái đồng hồ đang đeo trao cho Truyện như một cử chỉ chấp thuận, như một sự tin tưởng".

Hồi chống Pháp, trên cương vị đại đội trưởng và sau đó là  tiểu đoàn trưởng, các chú đồng đội của cha tôi kể ông giỏi cả về chỉ huy đánh công kiên và đánh vận động. Tháng 8 năm 1948, ông chỉ huy đại đội đánh trận Láng Le - Bàu Cò nổi tiếng ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Tiểu đoàn 302 mà có giai đoạn ông là tiểu đoàn trưởng từng được lịch sử quân sự Việt Nam ghi nhận đã sáng tạo ra cách đánh đặc công, là tiêu đoàn mạnh nhất của phân liên khu miền Đông Nam Bộ thời bấy giờ.


Trong chống Mỹ trước 1975 những trận đánh lớn trở thành mốc son trong lịch sử quân sự nước nhà như Ba Gia, Bình Giã, Đồng Xoài, Bàu Bàng, Nhà Đỏ - Bông Trang, Dầu Tiếng, Bàu Cỏ, Bến Cầu... đều có những đóng góp mang tính chất dấu ấn của Nguyễn Thế Truyện trong cương vị trung đoàn trưởng và sau này là Sư  đoàn trưởng... Sâu sát, cụ thể, quyết đoán và quả cảm - những cán bộ cùng công tác với cha tôi thường có chung nhận xét như vậy về ông.


Khi chuẩn bị chiến dịch Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, chính cha tôi đã đề xuất ý kiến xin được đích thân vào nội thành Sài Gòn để trực tiếp điều nghiên trước về hướng tấn công xung yếu mà đơn vị và phân khu do ông làm Tư lệnh phụ trách trong chiến dịch. Một đề nghị táo bạo nhưng hợp lý và khả năng cho phép nên đã được cấp trên chuẩn y và phòng tình báo quân giải phóng miền Nam triển khai thực hiện.


Chuyến đi đặc biệt nguy hiểm nhưng có ý nghĩa lớn đó của cha tôi đã được cụm tình báo A20 bố trí và tình báo viên H3 đảm trách trực tiếp (H3 khi đó là Nghị sĩ quốc hội Sài Gòn, sau năm 1975 là đại tá QĐNDVN Ba Nghĩa – nhân vật trong bài viết của Thiếu tướng Phùng Đình Cung, sách “Sài Gòn dưới những tầng khói”, NXB Văn Nghệ TP.HCM năm 1998). Chuyến đi ấy của cha tôi đặc biệt là vì lần đầu tiên quân ủy và bộ tư lệnh Miền cử một cán bộ từng là sư đoàn trưởng và khi ấy đang là tư lệnh phân khu Bắc Sài Gòn – Gia Định vào sào huyệt địch ở nội đô Sài Gòn, vào tận sân bay Tân Sơn Nhất thị sát, điều nghiên tình hình. Sự lựa chọn nhân sự ấy trong công tác chuẩn bị cũng là nhắm tới mục tiêu giảm thiểu tối đa những hy sinh không thể tránh khỏi của quân ta trong một chiến dịch lớn lần đầu tiên nổ ra đồng loạt tại các đô thị trọng yếu ở miền Nam.


Trong cuộc tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân 1968, sau những ngày chiến đấu ác liệt đợt đầu tiên, cha tôi được lệnh rời bộ chỉ huy tiền phương để đi họp ở Bộ Tư lệnh Miền. Cùng đi với ông còn có chú Năm Xuân (Mai Chí Thọ - sau này là Ủy viên Bộ Chính Trị, Bộ trưởng Công an). Ông hẹn với chú Năm "sẽ đi sau một đỗi và sẽ gặp nhau ở cuộc họp". Nhưng rồi, trận pháo kích ngay sau đó của địch vào đúng vị trí căn hầm của bộ chỉ huy đã ngăn bước di chuyển của ông...


Nhớ về cha tôi, trong cuốn "Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm" (NXB Văn Nghệ TP.HCM, 1983), Thượng tướng Trần Văn Trà đã viết: "Đồng chí Nguyễn Thế Truyện, một Tư lệnh Sư đoàn dũng cảm vô song đã vào tận thủ đô ngụy trong Tết Mậu Thân 1968 và đã hy sinh anh dũng trên vùng ven ác liệt ngày nào...". Đại tướng Lê Trọng Tấn thì từng nói với những cán bộ của thành phố Hồ Chí Minh đến thăm ông tại nhà riêng ở Hà Nội tháng 12 năm 1976, vào dịp ra dự Đại hội Đảng toàn quốc lần IV: "Nguyễn Thế Truyện là một người chỉ huy thông minh, quyết đoán và quả cảm. Các trận đánh do anh ấy chỉ huy, cuộc sống và sự hy sinh của anh ấy nói lên điều đó”.


Là một trong số những người còn được sống khi cuộc chiến sắp kết thúc, Lê Trọng Tấn đã dẫn đầu một cánh quân tiến vào bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn. Tại đây, ông lấy nhanh một tấm ảnh nằm trong đống tài liệu bề bộn địch để lại khi tháo chạy, lật phía sau ảnh ghi rất nhanh và trao cho sĩ quan thư ký: " Chuyển ảnh này ngay cho chị Cầm vợ anh Nguyễn Thế Truyện". Tấm ảnh ấy đã đến tay mẹ con chúng tôi ở Hà Nội, chỉ hai ngày sau khi Sài Gòn giải phóng, với dòng chữ "Gởi chị Cầm, niềm vinh dự của chị và các cháu" - Ba Long, ngày 30 tháng 4 năm 1975" (Ba Long là bí danh của ông Lê Trọng Tấn).


đ
Tấm ảnh thu được từ văn phòng tổng tham mưu trưởng chính quyền Sài Gòn. Trong ảnh: người đứng giữa, đeo kính là đại tá Nguyễn Thế Truyện, tư lệnh phân khu 1 Sài Gòn - Gia Định


d
Mặt sau tấm ảnh với bút tích của tướng Lê Trọng Tấn ngày 30-4-1975

4.
...Nhiều năm sau khi cha tôi mất có người hỏi chúng tôi về việc tại sao với những đóng góp lớn lao như thế mà cha tôi lại chưa được tặng danh hiệu anh hùng. Lúc ấy, chúng tôi cũng băn khoăn bởi không biết làm thế nào cho đúng với cha - đại tá Nguyễn Thế Truyện.

Đại tá Nguyễn Thế Truyện - cha tôi khi cầm súng ra chiến trường, để lại phía sau người vợ trẻ và ba đứa con nhỏ, ông có đời nào nghĩ đến việc sẽ được phong tặng những huân chương hoặc danh hiệu nào đó nếu may mắn sống sót trở về.

 Điều mà ông có thể đã lan man nghĩ, lan man nhớ khi nằm tòn ten trên chiếc võng vải dù màu xanh cỏ úa, ở khoảng thời gian ngắn ngủi giữa hai cuộc hành quân, là hình ảnh ông - trong phút ngẫu hứng bế bổng vợ lên cầu thang căn hộ tập thể ở 18 bis Nguyễn Biểu Hà Nội năm 1961 sau khi đi xem vở kịch Luba về. Hành động lãng mạn ấy của một sĩ quan chỉ huy của quân đội đã bị ông Hai Đốc - một vị lãnh đạo của Ban Thống nhất trung ương và là hàng xóm lớn tuổi của ông Truyện - bắt gặp. Ông Truyện đã xấu hổ đỏ mặt nhưng ông Hai Đốc thì lại khuyến khích: “Được, được đó, làm tới đi đồng chí chỉ huy!”.

Hay là, ông Truyện có lẽ đã nhớ chuyện này chăng: nhỏ Ánh y tá (là bà Đồng Thị Ánh, sau này là Chánh án Tòa án Nhân dân TP.HCM, hiện là Chủ tịch Hội Luật gia TPHCM) không biết có nhớ để dành phần nước mắm tiêu chuẩn của ông cho mấy đứa cần vụ ăn cơm không, tội nghiệp, tụi nó thèm nước mắm, mà nhỏ Ánh thì "rít", nó luôn sợ thủ trưởng đã không đủ ăn mà còn hay để dành cho lính…


Và có lẽ ông lại nhớ, hồi ông chia tay vợ năm một chín sáu hai, Hà Nội đang vào mùa cuối xuân, hoa sữa thơm suốt cả con đường Nguyễn Du nơi có căn nhà cơ quan bố trí cho người sắp đi B tiếp khách (để giữ bí mật), ông đã nắm tay vợ và hẹn ngày gặp lại. Gặp ở đâu cũng được, ở vùng ven Sài Gòn nơi ông bà gặp nhau lần đầu tiên vào năm 1950, hay ở Hà Nội – nơi ông lần đầu tiên chia sẻ cùng bà cuộc sống gia đình đầm ấm nhưng ngắn ngủi. Mùi hoa sữa và hơi ấm bàn tay người vợ trẻ đã đi theo ông suốt sáu năm cuối cùng cuộc đời chinh chiến kéo dài hơn hai mươi năm.


Khi Đại tá Nguyễn Thế Truyện nằm xuống vĩnh viễn ở khu vực Bộ chỉ huy tiền phương Bắc Sài Gòn Gia Định, ông tròn bốn mươi tuổi. Năm ấy, em gái út của tôi mới đứng cao hơn cái mặt bàn chút xíu. Nó tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy một trong những tấm ảnh chân dung cha tôi được phóng to khác thường, phía trước là bát nhang trầm hương khói. Và khi nó được cho hay là cha sẽ không bao giờ có thể trở về để bồng nó trên tay như nó từng ao ước, em tôi đã khóc thút thít như vừa bị ai lấy mất đi thứ gì đó rõ ràng là thuộc về nó. Nhưng rồi chỉ lát sau, nó đã lại chạy ra sân với đám bạn loắt choắt trong khu tập thể .


Tội nghiệp em, nó chẳng có bất cứ kỷ niệm nào về cha, vì khi ông đi vào chiến trường, nó mới 10 tháng tuổi…


NTT


Ngày 17 tháng 4 năm  2010, Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết đã trao tặng Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang cho đại diện gia đình Đại tá Liệt sĩ Nguyễn Thế Truyện. Buổi lễ được tổ chức trọng thể tại Nhà hát lớn thành phố Hồ Chí Minh và được truyền hình trực tiếp trên Đài truyền hình thành phố.
 http://www.bee.net.vn/channel/1984/201104/Cha-toi-dai-ta-liet-si-Nguyen-The-Truyen-1797107/

1 nhận xét:

  1. Bạn TVT nhắn:

    Chị Thế Thanh ơi,
    Chị là tác giả bài nầy phải không? Rất cảm động:

    http://www.bee.net.vn/channel/1984/201104/Cha-toi-dai-ta-liet-si-Nguyen-The-Truyen-1797107/

    Biết thêm được về thân thế của chị.

    Trả lờiXóa