Xuân Tân Mão

Xuân Tân Mão
Đảng và Chính phủ luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng với tất cả hoạt động, việc làm của người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia (TTg NT Dũng).

01 tháng 5 2011

Tìm hiểu chữ "Nước" trong tiếng Việt

 Hồng Lê Thọ


Nước là một chất trong vũ trụ gần gũi và không thể thiếu được trong sự sống của loài người, động thực vật; là chất đảm bảo sự cân đối của những vận động tuần hoàn không những của trái đất vĩ mô mà còn cả những chuyển hóa vi mô trong từng tế bào là đơn vị nhỏ nhất của sinh, động thực vật. Nhà hiền triết Hi Lạp cổ đại xem Nước là nguồn gốc của muôn loài vạn vật và như những nhà bác học về sinh hóa ngày nay dần dà chứng minh và xác định được Nước là chất cơ bản, cái nôi của sự sống, là môi trường chất chứa khả năng hấp thụ chuyển hóa vô cùng tinh vi giúp sinh động thực vật tồn tại, phát triển và đào thải liên tục.

Trong ngôn ngữ Việt Nam ngày nay, Nước không những là một danh từ chung được định nghĩa theo hóa lý là một chất lỏng, không mùi, trong suốt, với ký hiệu hóa học là H2O mà còn bao hàm ý nghĩa về vũ trụ quan, thế giới quan thuộc phạm trù triết học, không gian, khoảng cách, tốc độ; có khi Nước trở thành một đại danh từ mang tính tiêu biểu, khái quát hay là một trạng từ diễn tả trạng thái của sự vật, cảnh vật hay tâm lý con người mà chúng ta sẽ lần lượt xem xét dưới đây.


Trong câu nói thường ngày, Nước là một danh từ chung như Uống Nước: động từ = Uống + danh từ = Nước, Pha Nước, Nấu Nước…thì rõ ràng Nước ở đây là H2O nhưng nếu động từ đứng trước nó là Nhớ Nước, Yêu Nước, tức loại động từ diễn tả cảm thụ của tâm hồn hay tư duy thì Nước trở thành một đại danh từ mang nghĩa “Tổ quốc” hay “đất nước” danh từ ghép nước nhà hoặc nước non cũng vậy.

 
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân ngoảnh lại trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta

(Bà Huyện Thanh Quan)

Ở những câu trích dẫn dưới đây, chúng ta thấy Nước có khi là một cách tiến thoái, mô tả phương hướng, thái độ của hành động ví như dòng chảy của nước như “đường đi nước bước”, “nước cờ” hay “nước đôi” lập lờ. Trong đánh cờ người ta thường gọi “Nước” để chỉ một cách đi chiến thuật và gặp cảnh “bí”, lại nói “hết nước”. Phủ định hay ví von như Nguyễn Khuyến, có lúc ta gặp cảnh:


Cờ đương dở cuộc không còn nước
Bạc chữa thâu canh đã chạy làng.
                                               (Tự Trào)

Trong tình thế “khốn khó” ấy, khi cố tháo gỡ người ta lại sử dụng câu nói ”chỉ còn nước này”: lối, phương cách. Nếu ngược lại khi đang ở thế chủ động thuận chiều, dễ “được nước làm già”; thế, vị trí hay thuận lợi - nước trên hoặc làm cao đi “nước kiệu” khoan thai, chậm rãi; động viên hay tự an ủi thì nói “còn nước còn tát”! Khi Nước đứng chung với một tính từ như nóng, lạnh, đục, trong để diễn tả tính cách thì có lúc tùy vào ngữ nghĩa của tính từ đó mà nghĩa của Nước thay đổi như “Nước đại”, phi nước đại để chỉ tốc độ hay Nước biếc non xanh, nước biếc nói lên cái đẹp, trong sáng và nên thơ của cảnh vật.


               Nước biếc trông như tầng khói phủ
               Song thưa để mặc bóng trăng vào
(Thu Vịnh, Nguyễn Khuyến)
và:
 

Nước non vắng khách hữu tình
Non xanh, nước biếc, cho mình nhớ ai

(Phong Dao, Nguyễn Khắc Hiếu)

Trong dòng thơ văn yêu nước vào cuối thế kỷ 18 đầu 19, người ta tìm thấy chữ “Nước” được sử dụng khá phổ biến, đặc sắc nhất là bài “Thề Non Nước” của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu. Ông sử dụng đến 12 chữ Nước trong một bài thơ chỉ có 22 câu nhưng không hề trùng lắp, nêu rõ mối quan hệ chia cắt trùng phùng và hạnh ngộ giữa núi non và sông nước trong chuyển hóa của thế giới thiên nhiên qua một bức tranh một cách tài tình.


Nước non nặng một lời thề

Nước đi đi mãi không về cùng non
Nhớ lời “nguyện nước, thề non”
Nước đi chưa lại, non còn đứng không
........
Non cao đã biết hay chưa
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn

Chữ Nước ở dòng thi ca đó có khi được sử dụng như một đại danh từ mang tính cách khái quát của không gian và tình cảm hùng tráng, thiêng liêng để chỉ “Tổ quốc” mà chúng ta đã thấy ở trên hay như câu ca dao dưới đây, Nước = núi sông trong đó sông = Nước mang ý nghĩa là người mẹ trong khi đất = núi được xem là người cha như truyền thuyết “con rồng cháu tiên”. 50 người theo cha lên núi và 50 người theo mẹ xuống biển.

Công cha như núi Thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Điều nầy tính khái quát thấy được rất rõ ở những cách vận dụng như:


“ Đất Nước Đứng Lên “ Nguyên Ngọc

“ Trường ca Đất Nước “ Nguyễn Khoa Điềm
“ Đất Nước hình tia chớp “ Trần Mạnh Hảo
“ Nước Non Ngàn Dặm “ Tố Hữu

Và được nhân cách hóa:

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương
                    (Thăng Long Thành Hoài cổ - Bà Huyện Thanh Quan)


Anh dặn ra đi thắng mới về
Phút giây cảm động nói năng chi
Lời Anh là cả lời non nước
Ngàn dặm Trường Sơn có sá gì

(Lê Đức Thọ)

“Lời non nước” hay “Lời sông núi” ấy có một ý nghĩa thiêng liêng được hiểu là lời nói đại diện cho cả dân tộc với lòng mong đợi của hàng chục triệu người ở đất nước này gởi gắm.


Không chỉ có thế, từ “Nước” của chúng ta cũng đã được khá nhiều nhà thơ sử dụng, như một số câu sau để tả cảnh vật một cách lãng mạn và yểu điệu như Huy Cận:

Lòng quê dờn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
                                                   (Trường giang)

Và cũng có khi Nước trở nên bi tráng như Thế Lữ:


Giải nước đen, giả suối chẳng thông dòng

Len dưới nách những gô mò thấp kém
Dăm rừng lá, hiền lành không bí hiểm
Cũng học đòi bất chước cách hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả, âm u
Hỡi oai linh cảnh nước non hùng vĩ
                                              (Nhớ Rừng)

Hững hờ và êm ả như giòng sông dưới bóng chiều tà, lúc trăng lên đã làm rung động, gây nguồn cảm hứng cho biết bao tâm hồn. Ngày xưa Nguyễn Du đã mô tả:

Gương Nga chênh chếch dòm sang
Vàng gieo ngấn nước càng lồng bóng sân
                                            (Truyện Kiều)

Nỗi cô liêu và thân phận bơ vơ của nàng Kiều đã được Cụ diễn tả đến tột cùng trước sự bao la của cảnh vật thiên nhiên vì “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”


Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu

Khó có ai tài tình được như Nguyễn Du, không những vận dụng ngữ nghĩa của từ Nước để mô tả tâm trạng, cảnh vật mà còn diễn đạt cái đẹp của người phụ nữ qua hai chị em Thúy Vân, Thúy Kiều rất tượng hình và tao nhã:

 
(Thúy Vân)

Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da

(Thúy Kiều)

Làn thu thủy nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh
Một hai nghiêng nước nghiêng thành
Sắc đành đòi một tài đành họa hai

Chúng tôi tìm thấy có gần 60 câu sử dụng từ “Nước” trong truyện Kiều. Nguyễn Du đã phong phú hóa ngữ nghĩa của nó, trong đó có những cụm từ khó thấy ở nơi khác như “Sắc nước”, cũng có câu "Sắc nước hương trời" để diễn tả cái đẹp của người phụ nữ - không phải của Nguyễn Du hay “Nước đời”: Nước đời lắm nỗi lạ lùng khắt khe. “Nước thủy”: Lững lờ nước thủy mai gầy tóc sương. “Nước bèo”: Nước bèo để chữ tương phùng kiếp sau. “Cá nước”: Cười rằng cá nước duyên ưa. “Nước mây”: Thăm tìm luống những liệu chừng nước mây... cho thấy Cụ đã lấy Nước đi kèm với cuộc đời của nàng Kiều khi nói đến sự bạc phận và nỗi lòng đau đớn mà nàng đã phải gánh chịu.


Qua những dẫn chứng trên và còn nhiều tác giả khác mà chúng tôi không đề cập để tránh dài dòng chúng ta thấy được chữ Nước trong tiếng Việt rất phổ cập trong ngôn ngữ thường ngày, trong cách cảm thụ và tư duy của con người Việt Nam, nhất là khi mang nghĩa “đất nước”, “Tổ quốc” thì không gian và cung bậc của Nước rất bao la thâm thúy đến mức phải suy nghĩ chậm rãi mới thấu được hết ý tứ mà tác giả đã vận dụng. Khi Alexandre De Rhodes la tinh hóa tiếng Việt, chủ yếu là để giảng giải kinh thánh ở Việt Nam 1624 - 1646, chúng tôi không rõ ông đã dựa vào phát âm nào để chuẩn hóa chữ “Nước” như chúng ta đang sử dụng bằng cách viết “N-Ư-Ơ-C”. Ban đầu ông gọi Thiên Đàng là Nước Chúa, Nước của Đức Chúa Trời. Nhưng không phải tự nhiên mà A.De Rhodes đặt ra, hẳn là ông đã đi vào ra “Đàng Trong” và “Đàng Ngoài” qua tiếp xúc, hiểu được chữ Nước trong ngôn ngữ Việt Nam vốn rộng nghĩa đến mức ông có thể dùng cả từ “nước Chúa” khi nói về cộng đồng của những người theo đạo Kitô “mở mang nước Chúa” trong khi giảng đạo về cõi thiên đàng của Đức Chúa trời.


Trong ngôn ngữ Việt Nam, chữ Nước còn có mặt ở nhiều câu ngạn ngữ, thành ngữ hay ca dao như:

 
Nước chảy đá mòn…
Nước đổ lá môn…
Nợ nước thù nhà…
Nước mắt cá sấu…
Đục Nước béo cò…
Nước đến trôn mới nhảy…
Uống Nước nhớ nguồn…
Một giọt máu đào còn hơn một ao nước lã…
Lạy trời mưa xuống, lấy nước tôi uống…

Linh đinh một chiếc thuyền tình

Mười hai bến nước biết gởi mình vào đâu

Sông sâu nước đục lờ đờ

Cắm sào mà đợi bao giờ cho trong

Ngoài ra những từ vựng cũ mà chúng ta thỉnh thoảng vẫn còn nghe thấy như “Việc Nước”, “Phép Nước”, “Nước Nhà”, “Nước Mẹ”: mẫu quốc, nước tôi, nước người cho thấy bản thân chữ “Nước” đã có từ lâu đời và là một tiếng Việt thuần túy. Theo Giáo sư Lê Ngọc Trụ thì chữ “Nước” đã có từ thuở bình minh của Tổ quốc, thời Hai Bà Trưng đã nói đến chữ “Nước thù” khi cưỡi voi đuổi giặc. Không thể nhầm lẫn giữa từ “Nước” với “Thủy” trong âm Hán Việt mặc dù Thủy là nước trong tiếng Hán và được xem là một trong những bộ chủ yếu. Bộ Thủy đi kèm với một Hán tự khác biến thành một từ mới như:


Lưu = dòng chảy

Giang, Hà = sông
khi ghép với chữ Sơn (núi) như:
Giang sơn (san), Sơn hà
Hai chữ trên đều có cùng một nghĩa ở tiếng Việt: Núi sông = non nước = Tổ quốc


Trong tiếng Hán, bộ Thủy(水) + một từ khác rất phong phú và đa dạng nhờ cách ghép này nhưng trong tiếng Việt từ “Thủy” rất ít được dùng trừ một vài thuật ngữ khoa học, chuyên môn như “Thủy văn”, “Thủy tạ”, ”Thủy lôi”, “Thủy triều”, “lưu thủy”... vốn là tiếng Hán phổ âm Việt. Điều này khá giống với từ “Thủy” - Sui - trong tiếng Nhật. Khi nói về “Nước”, cho dù văn viết vẫn là “Thủy” nhưng khi đọc lại là Mizu - nước. Cách đọc chữ Hán trong tiếng Nhật có hai lối ít nhất là âm đọc theo Hán tự “On-yomi” và âm đọc theo tiếng Nhật “Kun-yomi” (訓読み, ). Nếu là Hán tự thì người Nhật đọc theo âm Hán = On-yomi(音読み) nhất là những từ ghép hoặc cụm từ như tiếng Việt nhưng khi đứng một mình thì lại đọc Kun-yomi và ngữ nghĩa của Nước ở Kun-yomi cũng không kém phong phú như chữ “Nước” trong tiếng Việt.

Một vài thí dụ:

On-yomi
(音読み)
1: Thủy tố: Hydrogen
đọc là sui sô âm Hán
2: Thủy nguyên: Nguồn nước, đọc là sui gen, âm Hán Kun-yomi
3: Mizu ni nagasu: âm Nhật: Cho chảy theo dòng nước = bỏ qua, không nhắc lại.
4: Mizu o waru: âm Nhật: Châm nước, làm nhạt đi = Pha loãng
5: Mizu ni ataru: âm Nhật: Trúng nước = đau bụng do không hợp thức ăn, nước uống
6: Mizu o tsukeru: âm Nhật: Cách một con nước = vượt lên, bứt xa đối thủ trong cuộc đua thuyền

Và trong tiếng Nhật, cũng có nhiều ngạn ngữ, tục ngữ nói về “Nước” tương tự như tiếng Việt nhất là trong ngôn ngữ đời sống (
. 水入らず. 水と油. 水に流す,煮え湯に水を差す...).như Thí dụ:
On-yomi
- Haisui no jin
(背水の陣) = nước cùng, cùng đường bí lối
Kun-yomi
- Mizu shobai(
水商売) = bán “nước”, nghề bán rượu, bán bar hay bán nước bọt
Kun-yomi
- Yakeishi ni Mizu(
焼け石に水) = chẳng thấm tháp, hề hấn gì như “Nước đổ lá môn” ở tiếng Việt.

Những dẫn chứng trên đây không nhằm để so sánh về ngôn ngữ sự phong phú, đa dạng… mà để bạn đọc có thể thấy từ những điểm tương đồng đó chúng ta tạm đi đến một kết luận: cho dù bị ảnh hưởng của nền văn hóa chữ Hán từ nghìn xưa cả Nhật Bản lẫn Việt Nam và luồng tư tưởng triết học Trung Hoa và tôn giáo Nho giáo, Phật giáo khá đậm nét trong dòng lịch sử - nhất là trong ngôn ngữ bác học - thì Nhật Bản và Việt Nam vốn đã có một nền văn hóa và ngôn ngữ riêng biệt song song tồn tại và phát triển trong cộng đồng làng xã với nghề trồng lúa nước, chăn nuôi, trồng dâu nuôi tằm… luôn được gìn giữ theo bản sắc riêng biệt của mình, không bị đồng hóa trước luồng văn hóa ngoại lai mà chữ “Nước” hay “Mizu” với ngữ nghĩa phong phú của nó đã thể hiện được một cách đầy đủ và điển hình nhất.


Tuy nhiên có một điều lạ thứ hai chữ “Mizu” trong tiếng Nhật lại không có từ nào mang nghĩa “đất nước” hay “Tổ quốc” như từ “Nước” trong tiếng Việt của chúng ta. Sưu tra mãi, chúng tôi chỉ thấy được một từ cỗ duy nhất đó là “suigô”
(水郷)
= Thủy hương* có nghĩa là nơi con sông mình đã sinh ra chôn nhau cắt rốn, rất ít sử dụng trong khi chữ “Nước” trong tiếng Việt với nghĩa này được dùng một cách đa dạng hơn. Tò mò tìm ở tiếng Pháp, hay tiếng Anh chúng tôi cũng thấy hầu như không có từ “eau” tiếng Pháp hay “water” tiếng Anh có nghĩa là “đất nước” hay “quê hương”.
Việt-Nhật- Pháp- Anh
nước non: sanga (Nhật), patrie (Pháp), mother/fatherland (Anh)
đất nước: furusato, kokyo (Nhật), pays natal (Pháp), homeland (Anh)

Trong thi ca và các tác phẩm văn học, ngoài cụm từ khá phổ biến “còn Non còn Nước...”, trong dòng văn học yêu nước, ca dao hay truyện Kiều, chúng tôi còn tìm thấy hai câu sau đây của Bác Hồ vào năm 1969:

Còn Non còn Nước còn Người
Đánh thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay

“Còn Người” ở đây có lẽ là câu duy nhất trong dòng thơ Việt Nam thể hiện tư duy nhân văn một cách lôgíc. Cái mới là nói rõ vai trò và tính làm chủ của những con người đang sống trên mảnh đất “nước non” ấy. Với tinh thần bất khuất của con người Việt Nam lúc bấy giờ; làn bom đạn ác liệt vẫn không thể nào hủy diệt được một dân tộc anh hùng. Người đã nói “ Sông có thể cạn, Núi có thể mòn” song chân lý “Không có gì quí hơn độc lập tự do” vẫn không hề thay đổi. 

Bác Hồ đã đưa mọi người Việt Nam trở về với cội nguồn của mình, chiến đấu để giữ Nước, điều đó đã được thể hiện ở câu “Còn non còn nước còn người” mà Người để lại trong di chúc.

http://tuoitrebinhdinh.net/archive/index.php/t-328.html


Chú: bài báo nầy tác giả viết vào tháng 7/ 1998, trong loạt bài  khoa học về "Nước"(sách chưa xuất bản) nhưng hôm nay phát hiện bài cuối"Nước trong tiếng Việt" trong tập nầy xuất hiện ở đây(Tuổi Trẻ Bình định) , lạ thật xin copy vào đây để bạn đọc thưởng lãm.

2 nhận xét:

  1. Lê Uyên(Bình Dương) nói:

    Ai chôm bài này để đưa lên Tuổi Trẻ Bình Định, may là còn để tên tác giả ! Dẫu sao đọc bài này mới thấy tiếng Việt độc đáo.Xin cảm ơn.

    Trả lờiXóa
  2. Hồ Như Thúy(Huế) nói:

    Công nhận bác HL Thọ chịu khó, bài viết nào của bác cũng công phu, tìm hiểu rất kỹ...nét độc đáo của từ NƯỚC ở bài viết này khá thú vị.

    Trả lờiXóa