01 tháng 4 2011

Về nhà mình xa quá, Má ơi (5)--Cô Út đi chợ


Trần Thanh Phương

CÔ ÚT ĐI CHỢ

Giữa mùa cấy năm đó, tôi về Trà Ôn thăm người cô bà con. Cô thứ Ba và cũng tên Ba luôn, nên tôi kêu trại thành cô Bá! Tía tôi bảo vậy. Nhỏ tuổi, không được kêu tên người lớn. Ngay tên ông nội, ông ngoại, mãi năm tôi 16-17 tuổi mới biết. Hồi nhỏ, cấm không được biết tên ông bà. Lỡ biết coi như hỗn, phạm thượng. Lâu ngày cô cháu gặp nhau mừng mừng, chuyện nọ bắt sang chuyện kia, không đầu không đuôi chi hết. Nhưng tựu trung cũng là hỏi thăm sức khỏe bà con thân tộc, chuyện làm ăn của mọi người. Hai cô cháu báo cho nhau biết rằng, trong họ, người già đi, người lớn lên. Có vị đã qua đời, lại có người cưới vợ, gả chồng, sinh con, thêm cháu... Người nằm xuống chỉ đôi ba mà người lớn lên và ra đời tính có số chục, số trăm. Dòng họ ngày một đông vui. Người lớn không nhận ra trẻ nhỏ đã đành, mà trẻ nhỏ cũng khó lòng biết hết các bậc cha chú, ông bà. Cô Bá nói:Không khéo đến một lúc nào đó cất nhà sàn trên sông, trên rạch mà ở. Tự nhiên đất co lại trông thấy. Như cô đây cũng con đàn cháu đống. Năm mươi tuổi, cả dâu lẫn rể bốn người. Cháu nội cháu ngoại hơn chục. Nhà có 15 công đất, chia tạm tạm mỗi đứa năm ba công còn thiếu trước, hụt sau. Aáy là không tính con gái. Nay mai nó về nhà chồng, chồng nó lo.
Cô gái Út của cô cũng bước sang hai mươi. Ở Trà Ôn, đáng ra tuổi cô Út đã có nhiều trai làng gắm ghé, nhiều ông mai bà mối. Đằng này nghe im như không. Phải chi cô Út tật nguyền hoặc thiếu duyên dáng cho cam. Hoàn toàn không. Hôm cô dẫn tôi đi chợ đồng, thiệt tình mà nói, tôi rất hãnh diện rằng mình có đứa em được nhiều người chú ý. Không ít chàng trai để ý đến cô. Có người qua mặt cô năm bảy bước chân rồi vậy mà vẫn ngoái lại nhìn cô một lần nữa. Một anh chàng đứng mua thuốc gò bên kia sạp, vậy mà cũng liếc ngang liếc dọc một cô gái đang cúi xuống chọn mua quít. Cô gái ấy cũng lại là cô Út. Cô có biết những tình cảm vụng trộm rất đàn ông ấy không, cô Út? Cô đã lọt được vào mắt nhiều người mà cô đâu có hay! Nếu linh tính có biết thì cô cũng lạnh lùng “cho qua chớ gì”? Sắc đẹp của cô đã gây nên đau khổ âm thầm cho nhiều người mà cô nào có biết. Anh em trong nhà , nói cô đừng giận “như thế là tội ác”, đó nghe cô! Nhưng thôi, ấy là chuyện riêng của cô. Con gái miệt vườn, miệt đồâng kín đáo đến phiền phức và khó khăn. Hỏi cái gì cũng cười cười, đôi mắt nhìn xuống, chớp lia chớp lịa. Nhiều khi thương “người ta” thấy mồ mà “éùp xác” chịu đựng để rồi chết luôn một tình yêu hết sức đẹp. Ngày trước thì được, còn bây giờ đâu có thể lạnh lùng “cắt đứt dây chuông” oan uổng vậy hoài. Nhưng cô Út ơi, tình yêu như cây mạ, cọng rau, cấy ở đất tốt nào mà chẳng mọc. Nhiều anh chàng đẹp trai, khỏe mạnh, có tài làm ruộng và giỏi lên liếp lập vườn kia, thế nào cũng có người “đánh ngã” cô cho mà coi, Cô có biết không, người đàn ông giấu cái gì cũng được, chỉ có lúc say rượu và được yêu thì không giấu nổi. Hiện nay có một chàng trai đang tiến đến gần một trong những cái “không thể giấu được” đó. Cô Bá đã nói nhỏ với anh hết rồi.
Chợ nhóm họp bên ngã ba sông. Hai chiếc cầu ván cong cong nối phiên chợ với hai bờ kia đã lâu rồi, mà sao trông vẫn cứ đẹp, vẫn cứ bâng khuâng nhớ một cái gì xa xôi không cắt nghĩa được. Có lần cô Bá dắt tôi đi trên cầu, tới một đoạn rớt mất chiếc ván, để ra khe hở. Tôi nhìn xuống cái khe ấy. Mặt sông xa thăm thẳm. Bỗng chiếc xuồng khóm bốn chèo lướt qua. Tự nhiên hai chân tôi như hẫng nhẹ hẳn đi. Tôi lại nằm mơ thấy tôi từ trên cao rơi xuống một vực sâu. Nỗi khủng khiếp nhất là cứ lơ lửng trên không hoài, không chịu rớt hẳn xuống đất. Chuyện vậy thôi mà không bao giờ quên. Tiếng là chợ làng, chợ đồng, nhưng trên bến dưới thuyền... Rau cải, khoai bí. Lúa gạo, gỗ, củi... mấp mé be xuồng, be ghe, be tàu. Đứng trên phố nhìn xuống có thể biết được ghe nào bán món gì, xuồng ghe nào bán thứ chi. Chủ hàng tự xưng danh xưng tánh một cách mộc mạc, thật thà, người khó tính đến đâu cũng có thể nhận ra. Xuồng mía thì dựng lên một túm  đôi ba cây mập mạp, để nguyên cả ngọn lẫn lá um tùm. Ghe khoai, ghe bí rợ, bí đao thì treo củ khoai,  trái bí chỗ cao nhất trên mui. Ghe cam, quít, chuối, dưa... thì cũng treo các thứ ấy phía trước mũi, sau lái... Tương tự, ghe hàng xén, xâu một chùm những mặt hàng tiêu biểu bằng nhựa, hoặc bằng thiếc, bằng nhôm... màu xanh, màu đỏ, bên cột buồm, gió lắc la, lắc lư, long lanh, lóng lánh trông thêm vui bến, vui thuyền. Chỉ có ghe bán nồi đất, chảo đất, cà ràng, mái, khạp, bàn ghế, tủ thờ... là không chủ ghe nào có gan giương cao món hàng của mình. Tự nó đã nói, tự nó đã xưng tên và xưng luôn “quê quán”. Phần nhiều những món hàng do bàn tay người thợ làm ra là từ miệt khác đến. Hễ thấy bàn ghế, giường đôi, giường chiếc, tủ thờ... dễ nghĩ ngay rằng ghe ở Chợ Mới qua. Thấy lu khạp, đồ gốm, đồ sành đủ biết là ghe ở Thủ Dầu Một, Lái Thiêu xuống. Có thật vậy không, mấy ai dám chắc. Nhưng bụng nhiều người nghĩ thầm như thế. Những ghe chở hàng cồng kềnh thường là ghe lớn và neo một chỗ nhiều ngày. Không kiểu sao, các chủ ghe này thường là người ngoài năm mươi tuổi và thấp, miệng rộng, ăn nói pha trò vui vẻ. Họ có sự thông tin tự nhiên và chính xác đến lạ lùng. Theo như cô Út nói lại, lâu lắm rồi tại chợ làng ở ngã ba sông này không bao giờ có hai ghe bàn ghế, tủ thờ đậu cùng một lúc; cũng như không khi nào có hai ghe nồi đất, chảo đất, mái khạp cập bến cùng một lượt. Nhờ vậy mà bà con cô bác không phải bận tâm đến sự thiếu hụt các mặt hàng thông dụng đó. Món này đi, món khác đến, cứ luân phiên hoài hoài như nước lớn nước ròng vậy.
Hôm đó, sau khi mua cho cô Bá tôi gói vôi đỏ ăn trầu, cô Út rủ tôi xuống ghe tìm mua một thứ mà cô Bá đang cần. Tôi hỏi món gì, cô Út chỉ cười: “Chút xíu nữa anh Hai sẽ biết. Hôm nay thế nào má cũng thưởng em”. Tới chừng xuống ghe ngồi trước đống hàng xếp thành hàng, từng dãy cao nghệu như cái thành bằng đất nung, tôi mới biết: cái siêu đất. Cô tôi cần cái siêu để sắc thuốc. Ông thầy thuốc bắc dặn đi dặn lại rằng thuốc của ông không được sắc trong nồi nhôm. Nồi đồng, nồi gang. Phải tìm nồi đất, siêu đất càng cũ càng tốt. Nếu mua cái mới về, trước khi cho thuốc vào sắc, phải dùng cám hoặc trấu mà tan đi tan lại coi như đã cũ mới được và nấu bằng lửa củi. Cấm không dùng sức nhiệt của điện. Thành ra không ngại tốn thì giờ, cô Út ngồi chọn cho mẹ cái siêu. Lựa mãi, lựa mãi, cuối cùng cô Út mới ưng bụng một chiếc. Cô mở chiếc khăn mùi xoa lấy tiền trả và nhẹ nhàng cất cái siêu vào trong giỏ bàng, bước sang xuồng chèo về. Tôi nghĩ rằng hôm ấy cô là người vui nhất ở khu chợ ngã ba sông này. Nào dè , mang về đến nhà, coi kỹ lại, miệng siêu méo xẹo. Nắp đi đằng nắp, miệng đi đằng miệng. Thương con gái, cô Bá tôi không rầy la gì. Cô chỉ nói mọât câu: “Thôi, xài tạm cũng được, con. Có dịp mua cái khác. Không sắc thuốc thì dùng đựng muối, đựng cau khô. Buồn làm gì!” Nhưng cô Út thì tự giận mình no đến không thèm ăn bữa cơm trưa hôm ấy. Đành rằng không đáng bao nhiêu tiền, nhưng cô tức. Tại sao có sự nhầm lẫn như ma quỷ ám hại ấy được. Hay là thằng cha chủ hàng trao cho cô cái siêu khác. Không có lý. Người ta bán cả trăm, cả ngàn chớ đâu phải một hai cái đâu mà đem lòng nghi kỵ họ “chơi ác”. Cô nhớ rất kỹ là chính tay cô bỏ cái siêu cô vừa lựa vào túi bàng mà. Còn nếu như ông chủ ghe có trêu ghẹo cô để mang đến đổi thì không lẽ. Ông đã đứng tuổi rồi chớ còn trẻ trung gì nữa. Cô Út nghĩ tới, nghĩ lui trong bụng như vậy.
Cuối cùng, cái siêu không đựng muối, cũng không đựng cau khô. Nó vẫn được dùng theo đúng công việc của nó. Nhưng mỗi lần sắc thuốc phải lấy miếng lá chuối trùm lên miệng siêu. Tuy vậy, mùi thuốc bắc vẫn loang tỏa khắp nhà, nghe đến dễ chịu.
...Món ngon nhất, nhiều nhất ở chợ đồng là tôm cá, rau dưa. Bước chỗ nào cũng gặp cá là cá, rau cùng rau. Lóc, rô, trê... những giống cá quen thuộc, từ Nam chí Bắc không ai lạ lùng. Nhưng phải tới đây, tới cái chợ đồng ở ngã ba sông này mới hiểu hết thế nào sức vóc của từng con cá đồng. Trung bình mỗi con cá lóc nặng trên dưới một ký nằm ve vẩy đuôi trong những chậu nhôm lớn. Kỳ, vảy, đuôi cứ đen xanh như nhuộm. Trong cái màu sắc ấy cũng đủ hình dung thịt cá và chất lượng của bộ lòng béo dòn đến mức nào. Những con cá lóc bị móc câu còn để lại bên mép một đường rách dài lấm chấm máu. Con khác bên “má” bị thủng lỗ nhỏ như một chiến tích của người thợ câu tài năng. Ở đây, người ta bán cá không có chuyện làm dùm cho người mua như các chợ lớn ở Vĩnh Long, Cần Thơ, Sài Gòn. Ưng con nào bắt cân con ấy, sau đó dùng dây lạt bụp dừa, dây chuối xỏ mang hoặc cột ngang cổ cá giao cho khách. Ra khỏi nước, con cá rùng mình giẫy mấy cái trên tay cũng đủ thích.
Cũng như cua biển, lớn gọi là cua kình, ếch to gọi là ếch bà..., ở đây, cá lóc nặng một ký rưỡi trở đi được mang tên là cá lóc nái. Cá rô bằng bàn tay gọi là cá rô mề. Cá trê khoảng hai con đầy ký gọi là cá trê nọng... Những con cá được sinh ra và lớn lên trong nước ruộng ngọt ngào, giàu mồi, người ta rất ngại cặp gắp nướng. Muốn thế phải chuẩn bị than chu đáo lắm. Bằng không, mỡ cá gieo xuống tắt bếp tức khắc. Theo như cô Út, được bữa cá to và béo, nhất thiết phải tìm vài thanh củi đước, trước dùng nấu nồi cơm khô vừa ăn, sau dùng than ấy mới trị được mỡ  ở bụng cá rô mề, mỡ ở kỳ cá trê nọng nhểu xuống.
Cô Bá và cô Út tiễn tôi về chốn thị thành bằng bữa cơm cá trê nướng nước mắm gừng và canh chua lươn bông súng nấu với con mẻ.
Hai anh em lại đi chợ. Ban đầu cô Út bàn với tôi định nấu canh chua lươn bạc hà và giá. Bài bản đúng là vậy. Nhưng không hiểu sao tự dưng đậu xuồng lại, lên chợ, cô đến hàng bông súng. Cô nói: “Ở Sài Gòn, chắc anh Hai không lạ bạc hà và giá. Hôm nay mời anh thưởng thức bữa bông súng đồng quê”. Bông súng mọc chính cống ở đìa, bàu, lung , rạch, cọng to trắng và mềm “dễ sợ”. Người ta nhổ nguyên bụi, lặt bỏ lá già, khoanh tròn lại như ngó sen. Dây dùng để buộc cũng chính bằng cọng bông súng trong bó. Cứ mỗi bó, người bán chừa lại vài ba phiến lá non cuốn tròn như điếu thuốc sâu kèn. Nồi canh chua có được mươi lá “sâu kèn” thì chỉ có đậm đà hơn chớ không dở. Ăn khúc lươn, điểm kèm miếng lá bông súng non nghe bùi bùi, thơm thơm mà lại man mác đồng ruộng. Nhưng cô Út ơi, cô đừng vội cho Sài Gòn không có bông súng nhe. Giữa lòng thành phố là chợ Bến Thành, ngày nào cũng có một người con gái trạc tuổi cô ngồi bán bông súng với vài thứ rau đồng khác. Nghe đâu cô ở tận Thủ Đức. Những cọng bông súng của cô được cắt ngắn hơn một gang tay và bó lại giống bó đũa chớ không để nguyên cọng dài thướt tha như ở Trà Ôn. Chỉ có hoa bông súng là cô để nguyên cọng bó lại thành bó như thể hoa sen. Có bông nở xòe trắng, có bông búp chúm chím. Nhiều bà nhiều cô cả đời không đi chợ và cũng chẳng hiểu đó là thứ hoa mô tê gì, nhào vô hỏi mua để về... chưng. Kể cũng được. Nhưng chẳng mấy ai chuộng, chỉ có đám trẻ ở đồng nhổ làm chuỗi đeo cổ chơi. Bông súng mọc ở ngoại thành Sài Gòn hình như bị nhiễm mùi xăng dầu, hơi khói nhà máy... nên màu cứ nâu nâu, sâm sẩm, ăn cứng và chát chớ không mềm và ngọt như bông súng cô Út mua.
Thấy rau ngổ tươi non, tôi chọn mua nguyên bó lớn. Cô Út cười:
-Có canh chua bông súng rồi, anh Hai mua thêm rau ngổ làm gì?
-Xào ăn cũng ngon chớ, cô Út. Lâu lắm rồi, anh mới thấy lại rau này!...
Trên đường chèo xuồng về, nhìn bó rau ngổ cọng trắng, lá xanh còn dính lốm đốm những cánh bèo cám mỡ màng, cô Út khen:
-Anh Hai biết không, từ nãy em hỏi là hỏi vậy chớ má  em rất thích rau ngổ. Má nói rau ngổ hiền, đàn bà ăn nên thuốc. Nhưng anh Hai định xào rau ngổ với gì?
-“Xào không người lái”!
-Trời đất, mấy thuở anh về đây mà ăn rau suông như vậy, mang tiếng miệt ruộng em chết. Anh biết rau ngổ xào với gì ngon không? Không đợi tôi trả lời, cô Út nói luôn. Thịt rùa hoặc um lươn là nhất hạng. Hay chút nữa anh về hái dừa, em um thêm nồi lươn rau ngổ, nghen anh Hai?
-Để khi khác, cô Út. Có canh chua rồi, lại thêm nồi um nữa, chắc phải mua rượu quá, anh không về nổi Sài Gòn. Mà cô Út à, cô nói rau ngổ ngon là ngon chỗ nào?
-Em còn con nít, đâu rành thưởng thức món ăn, thức uống, anh Hai. Nghe má em nói cái ngon là chỗ nhẩn nhẩn. Hơi đắng một chút, hơi ngọt một chút. Hình như vị thuốc cũng là chỗ ấy. Ăn cá kèo cũng vậy, má em chỉ thích từ bụng trở lên. Em thì ngược lại.
-Vậy là em gái của anh khôn quá rồi. Cô Bá chắc cưng em nhất nhà , há? Hèn gì hôm rồi, em mua lầm cái siêu đất, miệng méo như miệng cá lưỡi trâu, vậy mà cô Bá chẳng những không rầy lại còn “vuốt giận” em, khuyên em đừng buồn. Nhứt xứ rồi đó!
-Đừng chọc em vụ đó nữa, anh Hai. Hôm đó em tức thiếu điều muốn mang cái siêu ra chợ trả lại rồi “mần” cho thằng cha chủ ghe nồi đất một trận. Nhưng có anh về chơi, em không dám làm rùm beng.
-Trời, con gái mà có máu Trương Phi quá ha! Cũng được, sau này khỏi bị chồng ăn hiếp!...
Nắng vàng trải trên mặt sông. Tôi ngồi trước mũi xuồng nhìn cô Út buông những nhịp chèo xuống dòng nước trong vắt, tươi cười hàm răng trắng bóng dưới vành nón lá. Tôi nghĩ bụng, em tôi đã lớn rồi! Đừng nghĩ rằng nó còn nhỏ nữa. Mà cô Út lại hết mực thương mẹ. Cô Bá tôi thật có phước, sinh tám người con thì cả tám đều nguyên vẹn và trưởng thành. Con cái làm đẹp mặt cha mẹ thật! Một lần tôi tỏ ý ấy mà mừng lây tuổi già cho cô Bá. Nhưng cô Bá lại thở dài: Cha mẹ đối với con có quyền oai nghiêm mà  không có quyền sở hữu chúng nó được đâu, cháu ơi! Cháu đi đây đi đó nhiều chắc thấy đó, một mẹ nuôi được mười con, chớ mười con không nuôi được một mẹ đâu! Ông bà ta xưa nay đã thường nói vậy rồi.
Có đúng thế thiệt không cô Bá, có đúng như vậy không cô Út?

(Rút trong sách Xứ sở phù sa,
NXB Cửu Long, 1986)

 (Còn tiếp)















Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét