Xuân Tân Mão

Xuân Tân Mão
Đảng và Chính phủ luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng với tất cả hoạt động, việc làm của người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia (TTg NT Dũng).

08 tháng 4 2011

Về nhà mình xa quá, Má ơi (6)--ĐI TRÊN SÔNG RẠCH

 ĐI TRÊN SÔNG RẠCH

Trần Thanh Phương
Sông ở đây là sông nhỏ, sông đi bằng xuồng chèo, xuồng bơi. Cứ tà tà như chim lắc nước, vậy mà đi từ nơi này sang nơi khác đến hồi nào không hay. Trong đời, bạn đã mấy lần đi như thế rồi? Nếu chưa, tôi khuyên bạn nên tìm dịp mà bồng bềnh một chuyến. Đi kiểu này không phải dành cho kẻ ăn không ngồi rồi đâu há! Đây là cách đi lại của người bình thường, người dân tạm đủ ăn đủ sống của miền phù sa sông nước Cửu Long.
Những người khá giả một chút sức mấy mà dám liều mạng trôi nổi như thế. Hoặc những chuyến công vụ cũng không ai đi như thể rùa bò bao giờ. Chậm chạp lắm. Người ta đi bằng máy nổ rầm rầm ngoài sông cái, tung bọt trắng xóa đằng sau lái, sóng dạt vô hai bờ ào ào, trẻ nhỏ lé mắt hết...
Còn đi trong sông con, rạch nhỏ, vừa chậm, vừa ngồi tê chân tê cẳng, mỏi xương sống mà trời nước thì vời vợi. Nhưng được cái nó bù lại cho ta nhiều cái bổ ích mà đi bằng máy không có. Nhờ vậy người ta mới sống được, mới tồn tại được chớ. Sông con, rạch nhỏ ở vùng này cớ sao nhiều lạ lùng. Sách vở mỗi cuốn giải thích một kiểu, không biết đâu mà rờ. Cái đó để dành cho các nhà khoa học địa lý. Ở đây, mấy anh em ta chịu khó ngồi kể ra thôi, riêng ở vùng đất bãi bồi Cà Mau này nói ra hết tên các rạch cũng khô cổ, mỏi miệng. Còn bằng viết ra giấy thì hết trang này tiếp trang khác, trang khác tiếp trang khác nữa... cũng không hết. Này nhé, bây giờ chép ra để bạn đọc chơi một vài tên gọi có chữ “rạch” đầu tiên, tất nhiên chỉ một số ít thôi: Rạch Lùm, Rạch Ruộng, Rạch Ráng, Rạch Bần, Rạch Cui, Rạch Thăm Trơi,  Rạch Ông Bích, Rạch Ông Tự, Rạch Lăng, Rạch Giáng, Rạch Giếng, Rạch Bà Đặng, Rạch Bà Hội, Rạch Ông Bường, Rạch Ông Hương, Rạch Trại Trú, Rạch Cái Sắn, Rạch Xóm Lở, Rạch Cây Khô, Rạch Bầu Mốp, Rạch Mũi, Rạch Xẻo Mác, Rạch Xẻo Rô, Rạch Xẻo Tre, Rạch Bà Điểm, Rạch Xẻo Cui, Rạch Xẻo Tràm, Rạch Bà Aùng, Rạch Đội Tâm, Rạch Hàn Nhỏ, Rạch Hàn Lớn, Rạch Ông Sâu, Rạch Tênh, Rạch Giồng Ông, Rạch Ổ Ó, Rạch Bà Sở, Rạch Cây Xộp,  Rạch Chệch, Rạch Thầy Đò, Rạch Tắt, Rạch Chui, Rạch Phó Nguyên, Rạch Thầy Hai, Rạch Phó Quản, Rạch Chú Huệ, Rạch Bà Thầy, Rạch Làng, Rạch Chùa, Rạch Cỏ, Rạch Gốc, Rạch Bù Mắt, Rạch Cây Thơ, Rạch Lò Răng, Rạch Thùng... Nghe có ngán chưa ?
Ở Vĩnh Long, một vùng đất so với Cà Mau không nhiều sông rạch bằng, nhưng làm dấu hết mười ngón tay, mười ngón chân rồi tiếp tục đếm hụt hơi cũng chưa kể ra hết. Này đây: Rạch Cái Cá, Rạch Cái Cam, Rạch Cái Đôi, Rạch Cái Da Lớn, Rạch Cái Da Nhỏ, Rạch Cái Sao, Rạch Trà Quởn, Rạch Cái Vồn, Rạch Ba Kè, Rạch Cái Ngan, Rạch Ba Càng, Rạch Cái Sơn, Rạch Bằng Tăng, Rạch Danh Tẩm, Rạch Ba Phố, Rạch Sóc Tro, Rạch An Hòa, Rạch Xã Xỉ, Rạch Phú Qươí, Rạch Cái Lóc, Rạch Vòi Coi, Rạch Cái Cạn, Rạch Cái tranh, Rạch Cái Kè, Rạch Thủy Thuận, Rạch Hòa Phú, Rạch Rít, Rạch Măng Thít, Rạch Ruột Ngựa, Rạch Cái Nhum, Rách Bà Phong, Rạch Lung...
Một lần tôi dẫn hai anh bạn văn miền Bắc “đi chơi” sông rạch Cà Mau suốt một tuần lễ. Nói nào cho ngay, chuyến này đi bằng máy một nửa, bằng chèo, bằng dầm một nửa và chỉ đi được vài ba cái gọi là “Rạch” thôi chớ làm sao đi giáp hết được. Sau chuyến đi, hai ảnh nhớ nhất là những đoạn xê dịch bằng đôi tay. Nói chung, sông rạch Cà Mau mỗi ngày có hai con nước: nước lớn và nước ròng. Cho nên đi về hướng nào cũng có thể xuôi dòng. Lợi dụng thiên nhiên thuận lợi đó mà đi lại trên sông không gì thú bằng.
Trở về miền Bắc, mấy tháng sau, tôi thấy bài ảnh viết, đăng báo, nói về chuyến đi, đọc khá hay. Thì té ra, có gì đâu, đi bằng cách cà rịch cà tang, mấy ảnh thấy nhiều thực tế, dò xét, ngẫm nghĩ được nhiều chuyện đời, gặp được, hỏi được nhiều người thành ra các ảnh “có vốn”. Mà lại “vốn” lớn, “vốn” mới nữa. Vả lại đây là lần đầu hai ảnh đặt chân tới cái mũi đất thiêng liêng này của đất nước, nên cảm xúc lúc nào cũng dào dạt.
Ngồi trên xuồng, gặp cái gì hai bạn tôi cũng ngạc nhiên, cũng thắc mắc. Thế là tôi giải thích. Có những điều giải thích để người khác hiểu đâu dễ. Thí dụ con nước lớn, con nước ròng. Ở xứ này, sự chuyển động của dòng nước, cũng có lắm tên gọi. Nào là nước rong, nước kém, nước trôi, nước dềnh, nước sụt, nước giựt, nước bò, nước đứng, nước nằm, nước chửng, nước nhửng, nước ương, nước sình, nước chết, nước sát, nước rặt... Ở vùng Châu Đốc, Long Xuyên, mùa nước lên gọi là nước nổi, nước dâng, hoặc nước về. Mồng năm tháng Năm âm lịch thì “nước quay”. Tháng Bảy thì “nước nhảy lên bờ”... Kể ra coi phức tạp, lộn xộn, ấy vậy mà chỉ cần nói lên một cái là người dân địa phương biết liền, hình dung được hết. Còn nước ròng thì ai cũng dễ thấy. Đêm đêm, con sông đầy tràn bỗng dưng sáng nước rút đi đâu gần hết, phơi đôi bãi bùn mịn màng, thoai thoải. Mặt trời lên, chiếu sáng lấp lánh trên nền bãi mới đẹp làm sao!
Từ cây ô rô, cốc kèn, mái dầm, đến cây dừa nước, cây bần sẽ, cây bần ổi... cũng phải giới thiệu cho hai ảnh nghe. Cây đước khác cây vẹt chỗ nào, con cá thòi lòi khác con cá bống kèo chỗ nào; đìa, bàu và lung, ba thứ đó khác nhau chỗ nào cũng phải giảng giải. Tam bản khác xuồng chỗ nào cũng phải “phân tích” để hai ảnh biết. Ngay xuồng thì cũng lắm thứ xuồng: xuồng be bảy, be tám, be chín, be mười... Tại sao lại gọi là “be bảy”, “be tám”...? Ghe thì có ghe chài, ghe cửa, ghe cui, ghe lườn, ghe hàn... Nghe đâu ghe, xuồng của Việt Nam ta cũng đi ra thế giới, được thế giới biết tới chớ đâu phải xoàng. Trong quyển bách khoa từ điển La-rút-xơ của Pháp có in chiếc thuyền buồm Việt Nam và ca ngợi nghệ thuật tạo hình cũng như kỹ thuật dùng buồm của người Việt. Chưa hết. Ra-nê-đơ Kéc-xốp khi soạn quyển Từ điển hàng hải quốc tế không quên ghi nhận chiếc thuyền buồm cánh dơi Việt Nam đứng vào hàng ngũ 1.500 các loại thuyền buồm trên thế giới...
Vậy đó, cứ ngồi trên xuồng mà “học” qua, “học” lại cũng bộn kiến thức chớ phải nghèo nàn gì. Cho nên nói là “đi chơi”, chớ thực ra đầu óc phải làm việc luôn luôn. Nhờ vậy mà đi hoài được hoài “chả mệt”. Mà mệt sao được, ăn uống sung sướng thấy mồ. Trên xuồng lúc nào cũng có đồ ăn. Không bánh lá dừa thì cũng bánh ú, bánh tét, không bánh ú, bánh tét thì bánh bò, bánh xôi vị. Còn chuối, mía, cam, chanh thì ê hề, chất gần đầây mũi xuồng. Ai muốn ăn bao nhiêu thì ăn, ăn lúc nào thì ăn. Ở nhà sức mấy được như vậy. Hơn nữa, đây toàn bà con cho không hà, có bỏ ra đồng xu nào đâu.
Một buổi  trưa nọ, đang chèo trên con rạch thì thấy người ta dỡ chà. Tôi rà rà xuồng lại, cốt để cho hai “văn sĩ Bắc Hà” thâm nhập thực tế. Hai anh em mải mê nhìn người ta gỡ tôm, cá từ những chiếc mắt lưới mà mắt hai ảnh như sáng ra, muốn thu tóm tất cả hình ảnh đặc biệt này. Nhất là những con tôm càng xanh bằng cổ tay búng trong tróc trong các khoang xuồng chủ chà thì hấp dẫn hai ảnh đến là “cực kỳ”. Đây chỉ mới gặp cảnh dở chà thôi, chớ đến những gia đình chuyên làm nghề tôm cá trên sông nước, hai anh bạn tôi còn mê biết chừng nào!
Cha chài, vợ lưới, con câu
Thằng rể đóng đáy, con dâu ngồi nò...
Một người lớn tuổi, hình như chủ chà, đang đứng dưới nước sâu tới vú, vui vẻ hỏi chúng tôi:
-Các chú từ đâu tới đó?
-Dạ thưa, các cháu ở Cà Mau tới. Các cháu làm nghề viết văn, viết báo, đi thực tế. Tôi thay mặt anh em trả lời thiệt thà.
-Đi thực tế mà đứng ở sông rồi dòm lên bờ thì nằm ở nhà cũng có chuyện mần văn mần thơ được chớ đi đây đi đó làm gì. Có nhiều ông cán bộ của ta bây giờ cũng khơi không can được. Chưa hề đặt chân tới vùng này bao giờ vậy mà mấy ổng dám quyết ở đây tôm cá nhiều hoặc ít, lúa thóc, cau , dừa ra sao...Hay thiệt! Làm cán bộ kiểu đó... qua làm cũng được...
Rồi ông già cười khà khà, nói tiếp:
-Nhân tiện hôm nay nhà có dở chà, mời các chú ghé lại dùng bữa cơm, sau đó để biết thêm dân tình sống và làm ăn ra sao chớ!...
Bị ông già “làm” cho một mách, cả xuồng thấy “rung rinh” hết. “Rêm” nhưng mà đã! Mặc dù chúng tôi cũng dân chịu lau lách, lặn lội, nhưng nghe ông già “chấn”câu đó vẫn thấy “êm” chớ không tự  ái chút nào. Vì trên đời này, đâu ít người quan liêu, xa rời cuộc sống mà vẫn cứ  “nói trời”, lại còn bắt thiên hạ nghe và làm theo. Cho nên câu nói chơi chơi vậy của ông già ngẫm ra thật chí phải.
Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau. Trời cũng trưa rồi. Hơn nữa nhìn đôi mắt ông già, chúng tôi đoán đây là “ông già gân” chớ chăng phải chơi. Chắc có lắm điều hay. Hơn nữa ông mời là mời thiệt tình. Chúng tôi nhận lời, ghé lại xin bữa cơm.
Ông già rất mừng. Ông thứ Chín, đang đứng trước ngưỡng cửa bảy mươi, nhưng trông còn “phong độ” lắm, dáng dấp nhanh nhẹn không thua trai tráng mấy. Lên tới nhà, câu đầu tiên ông sai “mấy đứa nhỏ nổi lửa nướng tôm đãi mấy chú nhà văn, nhà báo”. Còn chú xách rổ ra sau nhà cắt rau thơm. Chúng tôi theo chú Chín đi thăm vườn. Vườn có nhiều loại cây ăn trái quen thuộc ở Nam Bộ. Thấy chúng tôi chắt lưỡi hít hà tấm tắc khen vườn cây ăn trái của chú, tay chú Chín cắt rau, miệng nói: “Chịu khó một chút thì có tất cả, các cháu à! Hữu chí cánh thành mà (có chí thì làm việc gì cũng thành). Cái con rạch trước nhà mà các cháu đang đi, coi nhỏ và chật hẹp vậy, nhưng các cháu thử đi mãi coi, cuối cùng cũng ra tới biển như thường. Sau độc lập, chú trở về, miếng vườn này cỏ sậy mọc lút đầu. Cha con chú rị mọ riết hôm nay mới coi được mắt chớ...”
Bữa cơm thiệt ngon. Tất nhiên ăn cơm với tôm càng nướng thì nhứt hạng rồi. Nhưng ngon hơn cả vẫn là món nước mắm. Mới kỳ chớ! Dĩa nước mắm vừa ngọt vừa mặn, lại chua chua, cay cay, phảng phất chút tỏi... Trời ơi, chấm một chút đầu đũa đưa vô miệng ngậm lại mới “thấy” hết cái thi vị của nó. Ngon kỳ cục là ngon. Nước mắm này cũng “mấy đứa nhỏ” pha chế. “Mấy đứa nhỏ” là ai mà tài nghệ quá vậy? Cứ nghe chú Chín nói “mấy đứa nhỏ” hoài. Có ai trồng khoai đất này. Con gái Út của chú Chín đó! Mới 17, 18 tuổi mà đã “làm khổ” nhiều chàng trai ở con rạch này. Cô không có ác độc gì ai, chỉ tại nhan sắc cô Út nên nhiều người tương tư đó thôi. Nghe lỏm bỏm chuyện riêng của con gái Út chú Chín mà nhớ tới một truyện ngắn của anh Sơn Nam, truyẹân Cô Út về rừng trong Hương tràm Cà Mau. Câu chuyện của nhà văn Sơn Nam xảy ra ở rạch Bình Thủy, làng Long Tuyền, tỉnh Cần Thơ đâu cũng vào khoảng năm 1939 hoặc 1940 gì đó. Có người ở tận Cạnh Đền, Cà Mau lên Cần Thơ hỏi cô Út. Nhưng bà già cổ không bằng lòng vì xứ Cạnh Đền xa xôi, rừng rú “muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội lềnh như bánh canh”. Đọc truyện đó tôi cứ nhớ hoài. Nay gặp cô Út con chú Chín, cứ ngỡ cô Út trong truyện của Sơn Nam ngày trước mà bủi ngủi, bùi ngùi:
Má ơi đừng gả con xa
Chim kêu vượn hú biếât nhà má đâu
Đó là chuyện cô Út. Vì đàn ông con trai, hơn nữa khách lạ, được chủ nhà mời ghé lại ăn cơm, chẳng lẽ thấy con gái người ta đẹp, chưa chồng, lại làm nước mắm ngon rồi cứ hỏi tới tới. Chúng tôi “stop” lại tại đó, không dám thật thà “khai thác” tiếp nữa.
Chúng tôi lại tiếp tục đi. Hai bên bờ hiện ra những hàng dừa trái đỏ au. Phần lớn là dừa tơ trồng trước, sau giải phóng một chút. Nhân thấy ống bọng nước làm bằng thân dừa, nhô ra ở bờ rạch, một người tò mò muốn biết về cây dừa, hỏi:
-Theo các anh biết, ở vùng đất phù sa này có bao nhiêu giống dừa tất cả? Và từ khi cây dừa ra hoa đến lúc có trái khô ta bẻ xuống là bao lâu?
- Câu hỏi này thuộc về “khoa học kỹ thuật” một trăm phần trăm rồi, không thể nào trả lời lơ mơ được. Phải hỏi mấy ông bên Trung tâm cây có dầu. Mấy ổng rành chuyện này. Nhưng theo những người làm vườn, thì ở đây có hai giống dừa được trồng phổ biến là dừa dâu và dừa ta. Dâu thì có dâu vàng, dâu xanh. Ta thì có ta vàng, ta xanh. Ngoài ra còn có dừa nhiếm, dừa bị (còn gọi là dừa bung), dừa tam quan, dừa xiêm, dừa éo, dừa dứa, dừa sữa... Những giống dừa kể sau này chỉ dùng để uống nước. Từ khi ra hoa cho đến lúc hái trái khô phải mất tròn một năm. Mà dừa thì trổ hoa quanh năm suốt tháng, cho nên lúc nào ta cũng thấy dừa có trái là vì vậy. Và dừa có thể sống đến trăm năm vẫn còn ngạo nghễ trước mưa gió kia mà.
Nói về cây dừa thì có lắm chuyện hay. Ấn Độ là một đất nước trồng nhiều dừa cũng vào loại nổi tiếng trên thế giới, có câu phương ngôn về cây dừa rằng: “Nếu tưới cho ta đầy đủ khi ta còn bé, ta sẽ cho ngươi đủ uống suốt đời người”. Quả đúng không sai. Ở trên đời, hiếm có cây nào lại cho ta giá trị kinh tế nhiều như dừa: dầu ăn, bánh kẹo, nước chấm, rượu, xà bông, thuốc trị bệnh, thuốc nổ, thức ăn gia súc, than hoạt tính, tấm lợp nhà, cho đến cái gáo, đôi đũa, chiếc muỗng, cây cầu bắc qua sông rạch, cột kèo trong nhà, đến sợi dây luộc, chiếc túi xách, chiếc nón cho đến miếng thảm chùi chân, miếng giẻ chùi xoong nồi đều từ dừa. Gần đây, một số nơi dùng xơ dừa làm đệm xa lông, đệm lót cho sân bay trực thăng phục vụ công nghiệp dầu khí ngoài biển Vũng Tàu. Và làm đệm ngủ. Đêm đêm nằm ngủ trên đệm xơ dừa tưởng như nằm trên triệu triệu chiếc lò xo nhỏ li ti, vừa êm, vừa mát... Vì vậy, cây dừa, trái dừa là biểu trưng cho quê hương, xứ sở nầy. Nói thế chắc cũng không quá đáng?
Tự hào thì tự hào vậy, nhưng ở ta hiện nay nghe đâu chỉ mới sản xuất vài ba chục mặt hàng từ dừa. Còn ít quá, Trong khi đó, sản phẩm làm từ dừa ở Phi- líp- pin là 270 sản phẩm, ở Ấn Độ là 200, ở Xri- lan- ca cũng nhiều tương tự. Đó là con số tôi ghi lại được đầu những năm 80. Chớ sau này, do trình độ khoa học kỹ thuật phát triển, sức mấy họ chịu dừng lại đó. Dữ dội thiệt!
Nói gì thì nói, cây dừa đã gắn bó  rất chặt với đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội và cả quân sự nữa đối với người dân châu thổ Cửu Long này. Một lần về công tác ở đất cù lao Bến Tre, được nghe nói lại nhiều chuyện về cây dừa, nhân viết bài này cũng xin nhắc ra đây tí chút. Trong những ngày đồng khởi, đồng bào Bến Tre đã dùng cây dừa kết bè thả theo dòng nước, đánh sập cầu Bình Chánh, Hòa Lộc. Trái dừa còn làm phao nổi để đưa liên lạc sang sông. Ngọn dừa là nơi họp chi bộ, họp tổ Đảng bàn kế hoạch đánh địch, mà bấy giờ nói vui rằng “ăn cơm dưới đất, nói chuyện trên trời”. Có cán bộ, chiến sĩ sống nhiều ngày trên đọt dừa, mà đồng chí Bùi Hoàng Bá hiện nay kà  Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Mỏ Cày là một ví dụ. Các bạn có biết không, đồng chí ấy đã sống 97 ngày đêm trên đọt dừa. Chưa hết, gần đây báo Thời Mới (Liên Xô) kể lại rằng: Một người In-đô-nê-xi-a tên là Tô-hi-ran đã trèo lên một ngọn dừa cao 20 mét để trốn các chủ nợ. Ông ta sống trên đó ròng rã 18 tháng trời và tính tiếp tục cho đến khi nào Thượng đế chỉ cho ông cách trả nợ. Nhưng chủ nợ đã tìm thấy ông trước khi ông gặp Thượng đế...
Chỉ nhìn thấy mọât cái ông bọng nước làm bằng thân dừa lão rồi nhân đó kể lể ra những giá trị về cái cây công nghiệp có dầu ấy cho bạn bè nghe đã là dài dòng như vậy. Nhưng biết làm sao bây giờ. Ngày nay, đi trên sông rạch Nam Bộ, đâu đâu cũng thấy dừa. Nó đã trở thành một trong những cây chủ lực để phát triển nền kinh tế nước nhà chớ đâu phải chỉ trồng năm mười cây uống nước hoặc làm cảnh chơi như ngày trước.
Như con tôm càng xanh cũng vậy. Mươi năm trước đây, bắt được con nào ăn con nấy, bắt được ký lô nào là nghĩ tới việc rủ bạn bè nhậu một trận cho đã đời. Nay thì không thể thế được. Tất cả dành cho xuất khẩu. Nhìn cái chà tôm của ông Chín thì cũng đủ thấy. Trong tay ông có mấy chục ký lô tôm như vậy, nhưng cũng chỉ dành đãi khách năm ba con, còn lại thì chở ra ngoài vàm cân cho cửa hàng.
Người khôn của khó. Tôm cá bây giờ ít hơn ngày trước nhiều lắm. Nhắc tới con tôm càng làm nhớ lại những khi “tôm dại”, chúng nằm gần như xếp lớp dọc theo kinh rạch ở miệt này. Người ta chỉ việc tóm lấy râu, lấy càng mà xách lên từng chùm từng chùm bỏ trong giỏ, trong xuồng. Cứ ngó thấy cũng đủ ớn xương sống rồi. Chớ ăn uống gì nữa. Thế mà nay tôm trở thành mặt hàng xa xí phẩm, gần như một thứ quốc cấm.
Trước đây có ai nghĩ rằng phải bỏ công sức ra nuôi cá trê, cá lóc, nuôi tôm đâu. Ngoàiø biển, ở sông rạch, ao đồng tôm cá đầy đàn, đầy đống, có sức thì tha hồ mà bắt. Còn ai có điều kiện, có siêng thì đào đìa để đó, đến mùa hạn, bỏ một đêm ra tát nước rồi gánh cá về nhận mắm, xẻ khô mang cho bà con, bạn bè . Vẫn không hết, đào hầm rộng, ăn tới sa mưa. Vậy mà bây giờ đi đâu cũng thấy đăng nò, vuông tôm, vuông cá. Đi đâu cũng nghe bàn  kỹ thuật nuôi trồng thủy sản, o bế từng con cá, con tôm ngay từ khi chúng còn bằng cọng tăm. Đến con cá trê cũng phải nuôi đến là công phu. Ngày xưa, đọc Truyện Trê Cóc cứ tưởng rằng để giáo dục con người đừng tham lam, nhưng nay suy ra thì còn có mộât ý nghĩa là họ hàng nhà trê sinh sôi hiếm lắm. Tỷ lệ “hữu sinh vô dưỡng” rất cao. Truyện kể rằng: Một chiều thư thái nọ, vợ chồng cá trê dạo chơi quanh ao, gặp một đàn nòng nọc, trê trông giống con mình liền đem về nhà nuôi. Sáng hôm sau, vợ chồng cóc ra bờ ao tìm con. Tìm mãi mà không thấy, lòng buồn bã vì mất con. Mãi tới gần tối mới thấy đàn nòng nọc cùng trê mẹ dạo quanh ao. Cóc mừng rỡ đòi con về, nhưng bị vợ trê mắng như tát nước vào mặt: “Cóc nhận tầm bậy, tầm bạ, không biết hổ thẹn à? Đây là đàn con của tao...” Vợ chồng cóc lủi thủi ra về, nỗi lòng tê tái.
Cóc vợ bàn với cóc chồng, phải đi kiện. May nhờ có thầy kiện là nhái bén thông minh, khuyên cóc không cần kiện. Về sau nòng nọc đứt đuôi lên bờ thành những con cóc con, lại trở về với vợ chồng cóc thôi...”.
Do hiếm và có giá trị như vậy, nên một thời ở nước ta, từ Nam chí Bắc có phong trào nuôi cá trê phi “hết biết nói”. Nhất là “chàng trê” và “Nàng trê” giống được các kỹ sư, tiến sĩ, những nhà khoa học chuyên môn về thủy sản cưng hếât sức, được nuôi bằng những thức ăn có đầy đủ thành phầân dinh dưỡng, các hàm lượng Vi-ta-min A,B,E,I... đàng hoàng. Nói xin lỗi, đến những nơi chăm sóc cá con mới thấy mức độ kỹ lưỡng, tỉ mỉ đầy tinh thần trách nhiệm như ở nhà trẻ, nhà mẫu giáo của người vậy. Hèn gì mà người ta đua nhau, chạy theo như “cơn sốt cá trê phi”. Cũng như năm nào nuôi chim cút, phong trào nuôi cá trê phi có hiệu quả kinh tế cao thật, nhiều gia đình phất lên ngó thấy. Sau đó thì tắt luôn, không ai thèm nói tới nữa. Nghĩ cũng ngộ thiệt.
Còn con tôm, con tép thì báo chí không ngớt ca tụng. Càng ngày nó càng có giá trị xuất khẩu ăn đứt nhiều mặt hàng khác.
Trên thị trường thế giới, trong khi giá nông sản đang giảm sút thì ngược lại, giá thủy sản, nhất là tôm xuất khẩu, có chiều hướng tăng lên. Tờ báo Nhân Dân đưa tin: Đầu năm 1985, giá một ký lô tôm tươi tại Pa-ri, thủ đô nước Pháp tương đương với một máy thu thanh Phi-lip thông dụng. Cho nên câu thành ngữ “đắt như tôm tươi” đã được khẳng định từ xưa cho tới bây giờ vẫn còn nguyên giá trị của nó. Vậy mà chúng tôi hiện đang chèo xuồng trên các kinh rạch dạt dào những tôm cùng cá. Và ở trên bờ, dưới các mương dừa, mương chuối cũng cũng cá cùng tôm luôn luôn sinh sôi nảy nở.
Tiềm năng thiên nhiên nước mình giàu có như vậy, nhưng không hiểu sao con người cứ vất vả hoài, chưa được no đủ, sung sướng?

(Rút trong sách Xứ sở phù sa,
NXB Cửu Long, 1986)

(còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét