Xuân Tân Mão

Xuân Tân Mão
Đảng và Chính phủ luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng với tất cả hoạt động, việc làm của người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia (TTg NT Dũng).

16 tháng 4 2011

Về nhà mình xa quá, Má ơi (7) Chiếc áo bà ba


Trần Thanh Phương
 Chiếc áo bà ba

Một anh bạn vùng sông Hậu tập kết ra miền Bắc kể lại câu chuyện như sau: Vào một ngày đầu Thu nọ ở Hà Nội, anh đạp xe trên đường Tràng Thi, bỗng phát hiện trước mặêt một phụ nữ mặc đồ đen, cổ quấn khăn rằn, cũng đạp xe đi cùng chiều với anh. Anh đạp riết, đạp riết đuổi theo chiếc xe đạp không quen biết đó. Đến gần, anh phát hiện một điều nữa hết sức lý thú: Người phụ nữ đó mặc chiếc áo bà ba. Cứ nhìn sau lưng chiếc áo bà ba ấy mà anh  hình dung hết được những nét đẹp của khuôn mặt, đôi mắt, sống mũi, chân mày, khóe miệng, hàm răng, chiếc cằm và cả tóc mai của cô gái...Không biết có thật vậy không, nhưng anh cho rằng những người mặc áo bà ba và có cái lưng thon thả như thế kia nhất định phải là một người đẹp. Còn đẹp tới chừng nào thì một chuyện, nhưng nhất định phải đẹp, phải có duyên, phải đằm thắm, dịu dàng... Anh tiếp tục gò lưng đạp. Cho tới ngã tư Tràng Thi-Quán Sứ thì anh vọt lên phía trước xe người phụ nữ ấy. Anh ngoái nhìn lại. Y như anh dự đoán, cô gái quả rất xinh như nhiều cô gái ta gặp trên đường phố. Nhưng anh bạn vùng sông Hậu ấy lại băn khoăn: Không hiểu người con gái ấy quê ở Nam Bộ hay miền Bắc (vì những năm sau này, nhiều cô Hà Nội cũng thường mặc bộ bà ba đen và choàng khăn rằn). Rồi lòng dặn lòng: Điều ấy không hệ trọng lắm. Nam hay Bắc không thành vấn đề gì hết. Cái quan trọng là chiếc áo bà ba đen và chiếc khăn rằn bay bay trong gió kia... Hình ảnh đó đã giúp anh hình dung được hết những gì thân thuộc, sâu đậm của quê hương anh.
Nói về áo, ở nước ta cũng có lắm thứ, lắm kiểu. Aùo: có áo dài và áo ngắn, áo trong và áo ngoài. Aùo dài thì có áo dài của phụ nữ, áo dài của nam giới. Aùo trong thì tùy cách gọi. Ở ngoià mặc chiếc áo vet-tông thì bên trong là áo sơ mi. Ở ngoài mặc áo sơ mi thì trong là may ô, còn gọi là áo thun...
Chiếc áo dài phụ nữ nông thôn ngày trước có áo tứ thân và áo năm thân. Aùo tứ thân có môât vạt đằng sau che hết lưng và hai vạt đằêng trước ở hai bên; một vạt bằng một nửa vạt sau. Còn áo năm thân cũng may tương tự như áo tứ thân, chỉ có điều khác là đằng trước vạt áo bên trái cũng may bằng hai thân vải như vạt đằng sau, còn vạt bên phải chỉ may bằng một thân vải. Aùo tứ thân không có khuy, còn áo năm thân thì có khuy như áo đàn ông.
Những chuyện rắc rối về các kiểu áo có thể kể ra hoài hoài. Ngay áo lót của phụ nữ cũng lắm kiểu, nhất là những năm gần đây nhiều mặt hàng của phương Tây nhập sang.
Ở mỗi địa phương cũng gọi bằng những tên khác nhau. Chẳng hạn, chiếc áo cổ truyền đàn ông ở miền Bắc gọi là chiếc áo khách, nhưng trong Nam thì gọi là áo bà ba.
Theo anh Sơn Nam, chiếc áo bà ba xuất hiện cùng dân lưu tán ở đất Đồng Nai từ đầu thế kỷ thứ 19. Đây là kiểu áo du nhập từ đảo Pi-năng của người Bà Ba, tức là người Hoa lai Mã Lai. Sang nước ta, ta có cải tiến  lại.
Đọc sách cũ, thấy nói sự tích chiếc áo bà ba, không hay lắm, nhưng cũng cứ chép ra đây, đọc cho vui.
Dưới thời Hùng Vương thứ 18, có một anh ngư phủ rất nghèo, không có chiếc áo dài như mọi người. Anh phải mặc chiếâc áo ngắn, nối ráp lại bằng nhiều mảnh vải, trông xấu xí. Một hôm,  anh đang mặc chiếc áo ấy đi trên bờ biển, thì nghe tiếng quân lính la ó vang dội. Quýnh quá, anh liền nhảy xuống bùn, chống hai tay xuống trốn. Mình mặc chiếc áo ngắn, lại có màu mốc, tóc vảnh lên nhọn nhọn, ở xa trông anh giống như con rùa. Vừa lúc ấy, vua và các quan, lính đến mé biển. Nhà vua sai quân lính lôi xuống bắt “con rùa” ấy lên. Người thì nói con rùa, người thì bảo con ba ba. Nhưng đến gần mới biết là anh ngư phủ nghèo, không có áo dài, sợ gặp vua, vua trách mắng, cho nên nhảy xuống bùn trốn. Quân lính mời anh lên và báo lại cho nhà vua biết sự tình. Nhà vua mỉm cười, ân tình bảo:
-Khanh đừng sợ, khanh không có tội tình gì hết. Thế mà khi nãy ta cứ ngỡ là con ba ba, chớ có ngờ đâu khanh mặc chiếc áo... ba ba.
Đoạn, nhà vua truyền đem vàng bạc, gấm vóc cho anh ngư phủ.
Anh tạ ơn vua, ra về lòng mừng khấp khởi. Nhờ số vàng bạc ấy, anh trở nên khá giả. Nhưng anh vẫn cất chiếc áo ba ba để khoe với mọi người.
Về sau, nhiều người nghèo cũng bắt chước anh, may áo ngắn để mặc cho đỡ tốn vải và gọi là chiếc áo “ba ba”. Càng ngày kiểu áo này càng được nhiều người dùng. Ban đêm, những người dạy võ dưới trăng thích mặc chiếc áo ba ba cho gọn, nhẹ và còn “oai vệ” nữa. Dần dần trong giới phụ nữ ham nghề cung kiếm cũng thích dùng.
Các chàng trai thấy các cô gái mặc chiếc áo ngắn này thì gọi đùa rằng “bà ba”.
Từ đó, hễ nam giới mặc thì gọi là áo“ba ba”. Dần dà, người ta quên mất sự tích “ba ba” mà chỉ gọi là áo “bà ba” cho đến ngày nay.
Chiếc áo bà ba thật đơn giản. Hầu hết phụ nữ Nam Bộ đều có thể tự mình  cắt may lấy chớ ít khi cần đến thợ. Người nào muốn tập may, tập cắt thì nhờ chị em bạn chỉ qua. Ở nông thôn có em gái 15, 16 tuổi cũng biết cắt may một chiếc áo bà ba hoàn chỉnh, theo ý muốn của mình...
Áo bà ba cái ngắn cái dài
Em may cả đống đó
Sao anh không bận, bận chi hoài áo bình tô .
Chiếc áo quê hương này gồm hai thân trước, một thân sau và hai ống tay. Cổ áo thì hoặc cổ tròn ôm sát, hoặc cổ trái tim chạy xuốâng ngực, hoặc cổ hơi vuông vuông... Tùy theo tuổi tác, tùy dân chợ hay dân đồng quê, hay xưa và nay mà quyết định hình dáng của chiếc áo. Aùo thường may dài tới mông, xẻ tà giữa hai thân trước và sau từ hông trở xuống, phía dưới hai thân trước là hai tuí áo (ngay tíu áo cũng lắm kiểu đến là dễ thương. Có những bà, những chị, những cô gái ở nông thôn ra phố xá, tiền bạc gói trong chiếc khăn mùi xoa thêu tay, bỏ ở túi áo bà ba rồi lấy kim tây ghim lại. Như vậy là coi như chắc ăn rồi, không sợ ai móc túi, cướp giật chi hết.Thật là hồn nhiên , thiệt tình hết sức). Chiếc áo xinh xắn này có một hàng nút chạy dài từ cổ xuống. Phụ nữ thường dùng nút bóp. (Nhưng những năm gần đây, nữ thanh niên ít dùng loại nút bóp để đơm áo bà ba. Trong lao động, chơi thể dục thể thao, chạy nhảy hoặc vui đùa, dùng nút bóp rất dễ xảy ra “nguy hiểm”. Cho nên chị em cảnh giác). Ngoài hàng nút chính năm cái, còn có một hay hai nút phụ ở nơi ngực, nhất là những người có đôi vú nở nang. Ngày xưa, các cô sợ vú to, nên mỗi lần mặc áo bà ba thường nịt sát vú xuống ngực. Ngày nay, vú to được coi là đẹp, là niềm tự hào của giới nữ. Những người trời lỡ sinh ra ngực nhỏ còn độn vú giả để cho đẹp, cho cân đối. Đối với các bà lớn tuổi, hay mặc bên trong  chiếc “áo túi” ngắn tay, loại  vải mỏng, ở ngoài thì mặc chiếc áo bà ba dài tay bình thường. Đó là lúc đi xóm, đi chợ búa. Còn về đến nhà thì cởi chiếc áo ngoài ra, chỉ mặc áo túi là đủ.
Theo thời gian, cùng với nếp sống đô thị, chiếc áo bà ba cũng ngày được thay đổi, cải tiến. Aùo được “nhấn” thêm eo bụng, eo ngực sao cho ôm sát thân mình. Ngoài loại cổ tròn, cổ trái tim, còn sáng chế ra cổ bà lai. Tại sao có tên gọi bà lai, hỏi nhiều người cũng không giải thích êm tai được. Có nhiều loại cổ hấp dẫn như thế, nhưng vẫn không thỏa mãn hết các bà, các cô. Thế là cuối cùng sinh ra một loại áo bà ba... không cổ. Cũng vui, chẳng sao! Chỉ làm phong phú thêm cho đời. Cũng như những năm sau này bắt đầu đầu thập niên 70, cùng với áo dài tay rắc-lăng (raglan), một kiểu áo bà ba mới, gọi là áo bà ba rắc lăng. Nghĩa là hai thân áo trước và sau tách rời vai và hai tay, cắt xéo từ cổ xuống đến nách. Vai cùng tay áo liền một mảnh được nối vào thân áo chỗ đường cắt xéo đó. Tay áo hơi loe ra ở đường cổ tay. Kiểu áo mới này không “nhấn” lưng, không co thắt quá, cũng không rộng quá. Đôi khi người ta bỏ luôn cả hai túi trước. Ưu điểm của kiểu cải tiến này là tránh được nhăn đùm ở vai và nách, tạo nên một sự trẻ trung, dễ ngắm, dễ nhìn vốn nó cũng đã dễ ưa, vừa mắt ở chiếc áo bà ba!
Một lần tôi đi công tác từ thị xã Long Xuyên, sang bên kia huyện Phú Tân, bằng đò máy trên sông Hậu giữa mùa nước nổi. Tôi hỏi một cô gái cùng đi, rằng tại sao các cô thường cắt ống tay áo bà ba hơi ngắn lên một chút. Cô đưa ánh mắt đen láy xuống dòng Hậu Giang xanh trong, cười tăm tắp hàm răng trắng như ngà:
-Để gọn khi vo gạo, rửa rau, rửa chén... mà anh!
Trời ơi! Một câu trả lời thật là dễ mến, dễ thương biết chừng nào. Thì ra đẹp gì thì đẹp, kiểu gì thì kiểu cũng cốt để tiện trong làm lụng ở nhà, cũng như tiện việc sản xuất ngoài đồng áng. Cho nên có phải vì thế mà các bà, các cô thôn nữ thường chọn màu đen để cắt chiếc áo bà ba không? Ngày trước thì vải xiêm, vải tám, vải ú, vải săn đầm đen... được chọn cắt áo bà ba. Nó vừa bền, vừa mịn màng, vừa đẹp. Nay không còn loại vải ấy nữa, có chăng chỉ còn trong trí nhớ của người lớn tuổi.
Thật tình, cổ nhân nói không sai: Y phục xứng kỳ đức. Nghĩa là cách ăn mặc thể hiện tương xứng tư cách, phẩm chất con người, tùy theo thành phần xã hội và tùy theo cả thời đại nữa.
Trở lại câu trả lời của cô gái An Giang ban nãy. Còn một lý do nữa mà cô không tiện nói ra. Đó là để khoe đôi cổ tay. Vì người con gái nào chẳng có đôi tay tròn đẹp. Như nói ở trên, chiếc áo bà ba là kiểu áo dân tộc, rất kín đáo, mặc vào hầu như che hết phần thịt da mà chiếc áo đảm nhiệm. Chỉ còn lại đôi cổ tay trắng mịn. Các cô lợi dụng ống tay áo để trần một phần sắc đẹp của mình mà vẫn không thấy trần tục gì hết. Thật là khôn ngoan biết chừng nào! Bởi vì trong ca dao của ta có biết bao nhiêu câu hay vào loại bậc nhất nói về cổ tay, cánh tay người con gái một cách trong sáng:
-Cườm tay em trắng lại tròn
Em cho ai gối nó mòn một bên.
-Đêm nằm gối gấm không êm
Gối lụa không mềm bằng gối tay em...
Đẹp như vậy mà nỡ nào để ống tay áo bà ba phủ lấp, phải không cô em gái quê lụa Tân Châu?
Chiếc áo bà ba khiêm nhường này đã gắn bó thiết tha với bà con đồng bằng sông Cửu Long nhường nào. Với chiếc áo này, mặc trong lao động, sản xuất, người ta cũng có thể làm dáng, làm đẹp cho nhau được, người ta có thể đi xóm, đi chợ, đi dự tiệc tùng, giỗ tết đều được hết. Ở Sài Gòn, ngay con đường Ca-ti-na-Tự Do, nay mang tên Đồng Khởi, một con đuòng sang trọng, có nhiều dáng dấp “Tây” như thế, thỉnh thoảng ta lại gặp chiếc áo bà ba đen. Cùng với các loại áo thun, áo kiểu, kể cả những thứ may cắt bằng đường nét dữ dội nhất, gây cấn nhất, nhưng cái dáng áo bà ba vẫn độc đáo, vẫn hấp dẫn, vẫn làm rung động lòng người.
Chẳng thương cái cổ em có hột xoàn
Thương em áo vá chẹt, vá quàng năm thân
Trước ngày miền Nam giải phóng, có một số đoàn nghệ thuật của ta biểu diễn ở Liên Xô, Pháp và nhiều nước châu Aâu khác. Trong chương trình biểu diễn có hai tốp ca nữ được bạn bè vỗ tay nhiệt liệt. Đó là bài Tiến về Sài GònCô gái Sài Gòn đi tải đạn. Người ta khen vì nhiều lẽ, trong đó có một tình cảm lớn lao là ủng hộ ta đánh Mỹ, giải phóng miền Nam,  thống nhất đất nước. Đã đành rồi! Nhưng trong tràng pháo tay đó, còn có sự tán thưởng này nữa, ấy là các cô diễn viên của ta đều mặc bộ bà ba đen, cổ quấn khăn rằn, hát bằng giọng Nam Bộ đầy màu sắc dân ca tha thiết. Trông gương mặt và vóc dáng các cô đẹp như thiên thần ấy thì bảo sao người ta đừng dào dạt, đừng yêu mến Việt Nam. Đi đâu thì đi, trộn với ai thì trộn, dù ở phương trời cuối đất nào, chiếc áo bà ba đen không làm sao nhầm lẫn với các loại áo của thiên hạ được. Cũng như chiếc áo dài, áo bà ba khai thác được cái đẹp con người một cách thanh thoát, tự nhiên, đầy văn hóa Á Đông.
Chẳng thế mà nhà văn, nhà báo cộng sản Pháp, chị Ma-đơ-len Ríp-phô và nhà văn, nhà báo Ba Lan, chị Mô-ni-ca sang Việt Nam nhiều lần và lần nào cũng mặc chiếc áo bà ba đen, cổ quấn khăn rằn, đầu đội nón lá, xăn quần lội vào rừng sâu làm phóng viên chiến tranh, viết bài ca ngợi lòng quả cảm của Việt Nam. Và thực tế, từ lâu hai chị đã trở thành những người con gái Việt Nam.
Xin nhắc lại một chút về một người bạn nhà báo nước ngoài đầu tiên đi thăm Thành đồng Tổ quốc. Đó là nhà báo Uùc quen thuộc và kính mến Uyn-phrêt Bớc-sét. Khi còn sống, Bớc-sét thường kể lại , vào năm 1963, tình hình miền Nam đang biến động dữ dội, Bớc-sét xin với Bác Hồ vào miền Nam Việt Nam.  Bác Hồ hỏi nhà báo:
-Chú năm nay bao nhiêu tuổi?
-Thưa Bác, cháu 52!
-Chú cao tuổi thế,  vào miền Nam sao được?
Ngừng một lát, Bớc-sét hỏi lại Bác:
-Thưa Bác, khi Bác 52 tuổi, Bác đang làm gì?
Vô tình Bác trả lời:
-Lúc đó Bác mới ở nhà tù của bọn phản động quốc dân đảng Trung Quốc ra, Bác hàng ngày tập leo núi trên dãy Tây Côn Lĩnh.
-Thưa Bác, khi Bác 52 tuổi, Bác sống một cuộc đời rộng lớn như vậy, sao cháu 52 tuổi, Bác không cho cháu sống một cuộc đời theo gương Bác một phần nào.
Bác của chúng ta cười, hiểu người làm báo, và bảo Bớc-sét muốn vào miền Nam Việt Nam, phải tập đeo ba lô nặng xếp đầy gạch và leo núi.
Vào tới miền Nam, Bớc-sét không phải mặc Aâu phục. Bớc- sét trong bộ áo bà ba đen, vai quàng khăn rằn, đầu đội nón tay bèo, chân mang dép lốp. Ông đi xe đạp trên đường Củ Chi cùng với chị Ma-đơ-len Ríp-phô cũng áo bà ba khăn rằn... Những con lộ 15, đường đất An Nhơn, vùng Xóm Thuốc, Gót Chàng... xanh tươi hồi đó đã in đôi dép lốp của Bớc-sét.
Thế là đã hơn 20 năm rồi, hình ảnh chiếc áo bà ba được bạn bè phía trời Aâu yêu mến. Chúng ta không bao giờ quên.
Nghe nói mấy năm trước đây ở thành phố Huế có tổ chức đêm hội áo dài lộng lẫy lắm, mê hồn lắm. Từ chiếc áo dài đầu tiên, chiếc áo dài trong triều đình vua chúa, cho tới chiếc áo dài tím Huế ngày nay... đều được đủ mọi lứa tuổi mặc vào “trình diễn” hết sức trang trọng đầy vẻ đẹp văn hóa của miền sông Hương, núi Ngự.
Từ đó mà ta ước ao, tại Vĩnh Long hay Cần Thơ, hoặc Cà Mau hay Long Xuyên cũng có một đêm hội áo bà ba Nam Bộ, chắc chắn màu sắc cũng không kém, và sự tạo hình độc đáo làm nổi bật vẻ đẹp ngoại hình của con người chẳng thua ai.
Tôi dám chắc rằng, các bà, các cô sẽ chọn đưa đi “dự thi” chiếc áo bà ba của mình cũng cân nhắc, trân trọng, cũng rực rỡ nhiều kiểu, nhiều dáng không thua kém gì đêm  hội áo dài ở cố đô. Người Nam mình cũng biết cách ăn mặc, “sửa soạn” lắm chớ bộ...
Tôi có người chị gái bạn con dì, lấy chồng ở Rạch Giá. Năm về nhà chồng, chị mới 19 tuổi. Phải nói, cái tuổi đó cơ thể người con gái phát triển thật đẹp. Chị tôi nước da trắng, dong dỏng cao, người thon thả, nhất là đôi vai xuôi xuôi, thon nhỏ rất hợp với chiếc áo bà ba. Cũng ý thức được mình có đôi vai trời phú, nên chị tôi rất thích mặc kiểu áo này. Nhưng buồn thay, về nhà chồng được ít lâu, gia đình nghèo quá chị tôi phải đi gánh nước mướn. Ngày này qua tháng khác, năm này sang năm nọ. Đôi vai chị tôi to hẳn lên, bè ra chớ không còn xuôi xuôi như trước. Cái nghèo đã cướp mất đôi vai đẹp và cướp luôn cả chiếc áo bà ba. Sau này lớn tuổi, chị tôi mới kể lại tôi biết nỗi niềm của chị ngày trước.
- Bây giờ lớn tuổi, có cháu ngoại, cháu nội cả rồi, ăn mặc sao cũng được. Chớ thời con gái, chiếc áo bà ba đối với chị là nhất xứ rồi, cậu Hai à. Nhưng vì miếng cơm, manh áo mà chị phải làm một việc nặng nhọc, hư đôi vai. Buồn lắm chớ cậu Hai. Nhiều đêm tự rờ lên đôi vai mà khóc thầm: Thế là mình mặc áo bà ba không còn đẹp nữa!
Nói tới chiếc áo bà ba mà không nhắc chiếc khăn rằn thì sẽ thiếu quá nhiều. Con người thật là tài hoa, để chiếc khăn rằn đi với áo bà ba sao hài hòa, duyên dáng đến như vậy. Nó là một biểu tượng của miền thôn dã đồng bằng, vườn cây ăn trái và kinh rạch Nam Bộ. Cao hơn nữa, trong vài chục năm trở lại đây, chiếc khăn rằn và chiếc áo bà ba là hình tượng của miền Nam.
Nghe đâu chiếc khăn rằn ra đời từ một xưởng dệt nào đó ở Chợ Lớn. Sau đó chiếc khăn lần lượt xuất hiện trên những khung cửi hiền hòa ở Ba Tri (Bến Tre), Tân Châu (Châu Đốc-An Giang ngày nay), Cao Lãnh (Sa Đéc- Đồng Tháp bây giờ)... rồi lan dần, lan dần qua Vĩnh Long, Rạch Giá, Bạc Liêu, Cà Mau, xuống tận Năm Căn, ra Hòn Khoai, Hòn Chuối, Hòn Tre rồi sang Phú Quốc luôn. Người ta ước tính tuổi đời của chiếc khăn rằn ít lắm cũng khoảng trên 100 năm. Từ thuở “lọt lòng”, chiếc khăn có ô màu đỏ, trắng nhỏ mà ngày nay chúng ta vẫn còn thấy trên vai các bà má ngày ngày ngồi ngoáy trầu dưới mái nhà lá trong rừng dừa, vườn cây. Về sau, khăn được dệt to hơn, chiều dài hơn một mét, chiều ngang từ năm đến sáu tấc; các ô vuông đen, trắng cũng to hơn. Khăn rằn được dùng nhiều ở miền quê hơn là thành thị. Khăn dùng để đội đầu che nắng. (Nếu trời mưa, chị em đội thêm chiếc nón lá nữa, rất êm và ấm). Đi trên các sông rạch, hoặc ở các con đường làng Nam Bộ, ta dễ dàng bắt gặp bóng chiếc khăn rằn thấp thoáng...
Nam giới dùng khăn rằn để quấn cho ấm cổ trong mùa gió bấc; làm khăn tắm, hoặc quấn quanh người khi thay quần áo. Đêm xuống, ở quê Nam, chỉ cần đắp chiếc khăn rằn trên bụng là ngủ một giấc tới sáng, chẳng lạnh lẽo chi hết. Khi đi xuồng, gặp gió thuận, chiếc khăn rằn trở thành lá buồm gọn nhẹ. Đi xóm, đi chợ kẹt không có túi, có giỏ, dùng khăn rằn để bọc trái cây, rau rác rồi túm lại cũng gọn ghẽ như thường. Chiếc khăn rằn còn giúp ta rất nhiều trong các cuộc biểu tình chống địch, hoặc những trận giáp lá cà: người ta dùng khăn làm ám hiệu, dùng khăn để băng vết thương, thậm chí dùng khăn để trói giặc khi cần thiết...
Chiếc khăn rằn tham gia khá nhiều việc trong đời sống chất phác và kiên nghị của người dân vùng đất mới. Nhưng dùng vào việc gì thì dùng, mặc chiếc áo bà ba mà thiếu chiếc khăn rằn trên cổ, trên vai thì nó hơi... trơ trơ thế nào ấy. Aùo bà ba và khăn rằn là bầu bạn, phải ở bên nhau, không thể tách rời được. Cho nên không lấy gì làm lạ, anh bạn vùng sông Hậu lấy hết gân cốt đạp xe đuổi theo cô bạn gái chưa quen mặt, biết lòng giữa đường phố Thủ đô cũng chỉ vì áo bà ba và khăn rằn quấn cổ...

(Rút trong sách Xứ sở phù sa,
NXB Cửu Long, 1986)

 (còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét