Xuân Tân Mão

Xuân Tân Mão
Đảng và Chính phủ luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng với tất cả hoạt động, việc làm của người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia (TTg NT Dũng).

22 tháng 4 2011

Về nhà mình xa quá, Má ơi (8)--Sa Mưa

Trần Thanh Phương

Vùng đất phương Nam của chúng ta có hai mùa, mùa mưa và mùa nắng. Mùa nào cũng dễ chịu, cũng đáng yêu, đáng quý... Mưa thì mưa thuận gió hòa. Nắng hì nắng vàng ấm áp. Cái màu vàng của nắng ở đất trời Nam Bộ là vàng tươi, vàng như tơ tằm Tân Châu, như ong mật rừng tràm U Minh, như cánh mai ngày Tết Nguyên Đán. Ra đường dẫu có đầu trần cũng ít khi bệnh, ít khi say nắng như các tỉnh miền ngoài. Không biết nói vậy, các nhà khoa học, các thầy thuốc có cho là “nhắm mắt nói liều” không, “nói lấy được” không. Chớ mươi năm trở lại đây, bà con các tỉnh miền Bắc vào trong này thăm viếng hoặc công tác, rất thèm, rất chịu khí hậu phương Nam. Có người chạy cho được cái hộ khẩu để mang cả gia đình vào vùng đất mới này làm ăn sinh sống chỉ vì “thời tiết trong này sướng quá!” Cũng trong thập niên qua, không ít người miền ngoài vào đây “trốn” rét, “trốn” nắng, nhất là những vị có tiêu chuẩn được Nhà nước ưu đãi, hoặc là những người có bệnh tật kỵ lạnh, kỵ nóng. Cũng may là đất nước ta có một chiều dài đến như thế để có nhiều đới khí hậu nóng lạnh khác nhau. Tùy đó, ai thích miền nào thì cư trú miền ấy, ngắn ngủi hay lâu dài, hoặc vĩnh viễn, tùy hỷ. Đất nước này là của chúng ta mà!
Tôi có cô bạn bị hen suyễn từ năm 17 tuổi, công tác ở một trường Đại học Hà Nội. Cứ mùa đông đến, mỗi lần gió mùa đông bắc tràn về là cơn hen tai ác lại hành hạ cô hết sức nghiệt ngã. Cô dùng không biết bao nhiêu thuốc Tây, thuốc ta, kể cả trong túi lúc nào cũng có cái bơm thuốc, nhưng vẫn không chặn được cơn hen phế quản. Ngược lại, bệnh càng trầm trọng, sức càng hao mòn. Mùa đông vừa rồi, cô vào nghỉ bốn tháng ở thành phố Cần Thơ, bên bờ Hậu Giang. Trong bốn tháng trời ấy, cô chỉ lên cơn hai lần, và đều nhẹ cả. Cô ăn ngon, ngủ thẳng giấc nên đỏ da thắm thịt. Bây giờ ra đường, trông cô khỏe mạnh, tươi tắn, xinh đẹp như vận động viên múa... nhịp điệu. Thế là tự nhiên cô vốn yêu vùng đất Nam Bộ nay lại càng yêu hơn. Cho nên thời tiết khí hậu điều hòa cũng góp phần làm cho con người dễ gần lại, dễ yêu mến nhau chớ đâu phải chơi.
Chuyện nóng lạnh, chuyện bão tố ai cũng dễ thấy, dễ cảm. Chẳng thế mà con người chia một năm làm bốn mùa. Trong bốn mùa đó, mùa nào làm việc gì, mùa nào ăn thứ gì, mùa nào cưới gả, mùa nào bãi trường, mùa nào nhập học... từ xưa đến nay, con người đã tính chính xác đâu vào đấy. Thiệt là giỏi! Nhưng thiên nhiên còn chia nhỏ ra bao nhiêu loại nắng, loại mưa, bao nhiêu loại gió, bao nhiêu loại sóng... Gió thì có gió đông, gió nam, gió bấc, gió tây, gió chướng, gió nồm, gió mùa, gió heo may, gió Lào, gió lốc, gió bão, gió lùa... Mưa thì có mưa bay, mưa bụi, mưa dầm, mưa ngâu, mưa lũ, mưa rươi, mưa phùn, mưa lâm râm, mưa rào... Ở quê Nam Bộ những trận mưa lớn của đầu mùa gọi là sa mưa (xin đừng nhầm với mưa sa). Có thể nói mùa sa mưa kéo dài cả tháng trời. Sau đó thì không còn gọi là sa mưa. Đó là mùa nước, mùa mưa bình thường rồi. Có những trận mưa kéo dài đôi ba ngày, nước ngập bờ, ngập bụi, mưa thúi đất thúi đai hết, làm như nước đọng năm bảy tháng trời không trút đi đâu được, bây giờ đổ xuống cho thế gian tràn trề lai láng chơi. Mưa dài dài cho đến tháng 10 âm lịch thì chấm dứt.
Nói về mưa, nắng, mùa màng, người ở chợ, ở thành thị đâu có cảm hết, hiểu hết được. Mặc dù cách đó mươi mười lăm năm trước, họ là dân ruộng, dân đồng chính cống, nhưng nay thì đối với họ mưa hay nắng, gió hay mây, trăng tròn hay trăng khuyết họ nào để ý. Thế nào cũng được, thế nào cũng xong. Mưa đầu mùa hay cuối mùa, hạn hán hay ngập lụt, đối với người ở biệt thự, cao ốc có đầy đủ tiện nghi, bước ra là xe pháo, đường nhựa, ban đêm điện sáng như ngày... thì làm sao họ cảm giác hết thời tiết. Nếu có nhận xét mưa nắng thì họ cũng nói cho vui vậy thôi. Ngay nước uốâng, có người cả năm chưa uống được miếng nước mưa chớ đừng nói chi xa xôi. Quanh năm suốt tháng, họ chỉ cần vặn nhẹ cái vòi là nước từ trong tường chảy ra ào ào rồi, dù đó là vòi nước đặt ở  lầu mười, lầu mười lăm hay cao hơn nữa...
Trước ngày sa mưa, đất trời âm âm, u u dễ gợi cho con người mộât nỗi buồn vô cớ. Đồng ruộng như ai nâng cao lên một chút, đọt cây đọt cối cũng lêu nghêu... Chân trời thì thấp xuống. Xa xa khói đốt đồng giăng giăng, chốc lại hé lên ánh lửa đỏ dầy. Từ chạng vạng tối trở đi trông mới rõ, mới sướng mắêt: Ngọn lửa như liếm, như táp tới tới về phía trước. Bông rau muống đồng tưởng như tím hơn. Rau cốc, rau đắng, rau diệu cũng muốn già thêm đi. Gốc rạ, bờ giồng cỏ ngã màu vàng. Chỉ cần một mồi lửa là cả cánh đồng láng te. Ôi, cái mùi đốt đồâng trước lúc sa mưa là một mùi đi đâu rồi cũng nhớ, đến chết cũng phải mang theo. Nó thơm thơm, cay cay, nồng nồng... làm ta chảy nước mắt đó, nhưng vẫn cảm thấy mát, cảm thấy dịu... Bởi vì đâu, ấy là sự tổng hợp của biết bao rau cỏ, phân đất đồng lúa. Cái khói, cái mùi đó ta không cảm thấy độc, không cảm thấy sặc sụa chi hết. Nó khác xa với khói xe lam, xe xích lô máy, xe ba gác máy, xe hơi ở thành phố. Đi đường ở Sài Gòn, mà thấy ba cái chiếc xe phun những cuộn khói đặc quánh, đen ngòm ấy thì có nước tìm đường lách lên trước hoặc tà tà lại sau, để “y ta” đi trước, chớ thật thà nối đuôi “chả” có nước bứt hơi luôn.
Ở miệt U Minh, mùa đốt đồng cũng là mùa ăn rùa. Ta chỉ cần châm dăm ba mồi lửa rồi quảy giỏ xuống dưới gió, đi tới, đi lui thế nào cũng đón được vài chú rùa vàng, rùa nắp không chịu được lửa khói, tìm đường thoát. Chúng bò lụp cà lụp cụp, vươn dài cổ ra dớn dác, mắt mũi tèm lem. Nhưng đâu phải con nào cũng lanh chân lẹ cẳng. Hậu quả của sự chậm chạp ấy là bị chết cháy. Đốt một miếng ruộng độ mươi công đất, thế nào ta cũng lượm năm bảy con nằm do lửa thiêu tại chỗ. Biết trước là như vậy, nên khi đám lửa qua rồi, dân đốt đồng quay trở lại, dùng gậy lật lật theo bờ giồng, hoặc quanh miệng bàu có lớp cỏ dày lúp xúp thế nào cũng gặp những chú rùa xấu số ấy. Thường những con chết cháy, thịt chưa chín hẳn, bụng lại mang đầy trứng. Ta tìm ít cỏ, gốc rạ nhen lửa, nướng lại, khui ra ăn tại chỗ thì không có thịt nào ngon bằng. Thịt thì nhiều và ngọt đậm đó, nhưng lại thiếu tí tiêu, thiếu tí muối. Chẳng sao! Cứ nhìn những cái miệng dính tro, dính than đồng đen nhem nhẻm của nhau mà nhai mà nuốt cũng đủ ngon như thường.
Trong đống tro đồng nóng hổi còn có những con ốc bươu. Trời ơi, con vật vùi mình cả năm ba tháng trời để chờ mùa sa mưa nên thịt trắng phau phau, nước ngọt không chê được. Vậy mà xưa nay người ta nói “lạt như nước ốc”, thật oan cho nó quá! Trong lúc tìm rùa, hễ gặp những con ốc ấy thì cứ moi lên, thổi thổi hay quệt quệt ở đầu gối quần cho lớp tro mỏng bay đi rồi đưa luôn vô miệng nhai, đừng có tính toán gì hết. Thịt nó đã chín quá đi rồi, vỏ đã cháy bong ra, miếng thịt vàng hực, tỏa mùi thơm nứt mũi đó, làm sao cầm lòng đặng.
Người ở nơi khác không thông cảm hết, cho rằng ăn uống như thế sao nó trần tục quá, nó hoang dã quá. Nếu nghĩ về khía cạnh nào đó, thì có thể như thế thật. Nhưng biết sao bây giờ? Chẳng lẽ con rùa kia, con ốc đó đem về lại “làm lông”, lại chế biến những món ăn quen thuộc mà ta thường dùng thì còn nói chi nữa. Đã biết cầm bó đuốc đi đốt đồng là phàm phải biết “ăn tươi nuốt sống” tại trận như thế. Mà có gì gọi là mất vệ sinh. Nó tươi rói, nóng hôi hổi thế kia. Nếu đem con rùa con ốc ấy lên lầu 6, lầu 7 hay lầu 10 khách sạn ở Sài Gòn chưa chắc ta được bữa ngon miệng như thế. Ơû đây nếu có hơn là hơn miếng vải trắng trải bàn, hơn những dụng cụ để ăn uống bằng i- nốc, pha lê mà thôi. Nhưng trong cuộc sống nhiều khi ta lại không cần những thứ sang trọng ấy.
Khi ngọn lửa đốt đồng tắt chừng mươi hôm, nửa tháng thì trời lại sa mưa. Một hai đám mưa tức tưởi đầu mùa thường ít ai chú ý. Bà con cho rằng đó là mưa độc, dễ gây bệnh; nước cũng không ai buồn hứng. Nếu có hứng chăng thì dùng để rửa mái, rửa lu, hoặc giặt giũ mùng mền chơi thôi. Cái thứ nước đã “tráng” qua đất trời, tráng qua không trung, vũ trụ rồi, kéo theo biết bao nhiêu bụi bặm chớ có trong lành gì đâu. Những trận mưa đầu tiên ấy cốt báo cho cây cỏ chuẩn bị mà bung mầm, nảy lộc. Đất đai thì mềm lại sau những tháng thi gan với nắng gió. Cho nên, người ta thường chờ sau những đám mưa đầu mùa  để lên liếp vườn, đào đìa, đắp nền nhà... Lúc đó, lưỡi vá, lưỡi mai xắn xuống ngọt và nhẹ tay lắm.
Mưa xuống là tháng ăn cực. Cá trên đồng, trên bàu hết rồi. Nếu nhà ai có đìa tát cũng chỉ rộng được vài ba chục ký lô, lớp ăn, lớp cho cũng hết từ tháng trước. Cá khô hoặc mắm chưng, mắm kho là món ăn chính. Nhưng ở vùng U Minh, sức mấy chịu ăn cơm với mắm hoài. Ngay trong trận mưa đầu, ta xách giỏ, xách cà ròn chạy ra đám ruộng đốt hôm trước mà lượm... lươn có nước “khùng” luôn. Mùa hạn lươn làm “mà” ở dưới hang sâu, chờ mưa xuống vọt lên tung hoành với đồng nước. Nhưng rủi thay cho chúng. Sau trận mưa lớn, tro than trên mặt ruộng kéo xuống “mà”. Chất mặn của tro buộc những chú lươn có sức chịu đựng tài giỏi tới đâu cũng phải trồi lên nằm chết ở miệng hang. Con nào con nấy vàng hực, to bằng cổ tay. Người ta kéo chúng lên quá dễ dàng. Vài ba chục năm trước đây, lươn còn nhiều, sau những đám mưa đầu mùa, có gia đình đi “bắt” lươn kiểu đó xẻ khô chở lên Cà Mau, Bạc Liêu, Cần Thơ bán. Khô lươn có ướp chút sả ớt cũng là món dùng để nhắm rượu ngon không thua bất cứ loại khô nào.
Nhân chuyện nhắc tới lươn, tôi nhớ gần đây đọc một phụ trương của báo Khoa học phổ thông thấy nói một loài lươn khổng lồ. Trong ba thập kỷ nay, hơn một ngàn nhà quan sát tuyên bố là đã từng đụng đầu với con quái vật mường tượng như con rắn khổng lồ. Và cả trong thời đại xa xưa hơn cũng có những người nghĩ là đã từng thấy chúng tận mắt. Một người cho rằng “con rắn” ấy có thể là con hải cẩu cổ dài, với một số người khác thì là con lươn khổng lồ. Các nhà khoa học đã bắt được một con lươn con mà đã dài đến 1,84 mét, giả như con lươn này phát triển tương xứng với chị em dòng họ của nó là những con lươn thường thì khi lớn lên nó phải dài từ 20 đến 30 mét.
Cũng ngay trong trận mưa đầu mùa ấy, có hiện tượng kỳ lạ, đó là “cá lên”. Cá rô, cá sặt, cá lóc... sống ở ao hồ, hay những dòng sông nước lợ, nay gặp mưa, thế là chúng theo những dòng nước ngọt từ trên ruộng chảy xuống mà lóc lên bờ. Chao ơi, sau một cây mưa lớn, cá lên suốt ngày đêm. Trong xóm, trong làng, già trẻ, bé lớn xách giỏ, xách thúng  ra mà dầm mình trong mưa “thu hoạch” mùa cá “trời cho” này. Ta cứ theo các dòng nước ngọt mà hốt, mà xúc chớ không phải bắt từng con. Bởi vì cá đi đến “xanh nước”, làm lay động cỏ sậy, gốc rạ... Chúng còn nhảy, trườn lên cả bờ ruộng, nằm ở những dấu chân trâu, lỗ nẻ, bên gốc chuối, gốc dừa... nhiều khi sau trận mưa vài ba ngày rồi mà chúng còn nằm sống nhăn ở những nơi kín đáo ấy, bà con gặp gọi là “cá ma”. Cho nên “ham vui” mà đi vậy chớ sao bắt hết được. Giống cá lên, đặc biệt nhiều nhớt và sống rất khỏe. Thường cá cái, bụng đầy trứng. Người ta bắt về chủ yếu làm mắm chớ ít ai ăn tươi. Nếu ăn thì cũng phải sả ớt hay cà ri rất dữ.
Cá lóc gần kỳ sinh nở lại khôn hơn ngày thường. Chúng theo nước ngọt bằng con đường nào đó gần ruộng nhất, bất ngờ nhất mà con người khó bề phát hiện. Chính vì thế mà sinh ra chuyện đi soi cá. Soi cá lóc làm ổ đẻ là một cái thú như đi săn thú rừng. Tay cầm đèn, tay cầm dao phay, hay dao yếm hoặc ngọn phảng, tìm đến những vũng nước có bụi cỏ, gốc rạ, hoặc cá quậy làm ổ. Ổ cá thường một con cái, có ổ thêm con đực nằm cạnh. Cá đực ốm và dài hơn cá cái. Gặp ánh đuốc, cá càng nằm im, cái đuôi ngoe ngoảy xanh xanh. Thế là con người muốn chém chỗ nào thì chém, quá dễ dàng như “cá nằm trên thớt”. Cá lóc lên ruộng đẻ trung bình một con trên dưới nửa ký lô. Có người đi soi một đêm hàng chục ký.
Mưa xuống, cá lên đầy ruộng, mà ếch cũng kêu khắp đồng. Đó là những dàn hợp xướng, đồng ca, tốp ca... có khi đơn ca. Không giọng nào giống giọng nào, trầm bổng, khoan nhặt khác nhau. Đôi khi chúng còn đối đáp. Con ếch chết vì cái miệng. Giá chúng đừng lên tiếng, cứ nằm yên đó, thì con người biết đàng nào mà tìm bắt. Nhưng không, chúng cứ kêu to lên, vang lên khắp đồng, khắp ruộng. Mưa xuống mát quá, vui quá, “trai gái” muốn tìm đến nhau, không thể không cất thành lời.
Đêm đêm, nhìn những ngọn đuốc bằng đèn chai nhấp nhô trên đồng ruộng cũng đủ biết sự sống ở đây, nói theo từ khoa học bây giờ, hệ sinh thái còn tốt tươi, mãnh liệt biết chừng nào. Giữa thiên nhiên và con người còn gần gũi với nhau như thế là một điều đáng mừng. Nghe nói ở thủ đô một nước nào đó không hề có một loại côn trùng thông thường nào sống nổi vì sự ô nhiễm ở đây quá nặng nề. Một em bé muốn biết con chuồn chuồn, hay con bướm là thế nào, cha mẹ phải đưa ra khỏi trung tâm thủ đô hơn 100 cây số. Một tờ báo nước ngoài cho hay, tại thủ đô Mê-hi-cô, buổi sáng nọ trước sân nhà riêng của một nhà bác học, bỗng nhiên có hai con chim se sẻ sà xuống giẫy chết. Nhà bác học này mang hai con chim chết “bất đắc kỳ tử” ấy vô phòng thí nghiệm nghiên cứu. Thì ra hai chú chim xấu số ấy chết vì môi trường quá ô nhiễm chớ không phải bị tên bay đạn lạc chi hết. Thủ đô Mê-hi-cô có đến 20 triệu người mà!
Còn ở ta thì sự sống cứ dâng đầy, mơn mởn. Mọi côn trùng dù lớn bé như thế nào vẫn sống và phát triển bình thường. Mùa mưa cũng như mùa nắng, đêm đêm đi trên các sông rạch cứ trông ánh chớp của triệu triệu con đom đóm cũng đủ sướng mắt. Không hiểu vì sao mà ban ngày đom đóm sống ẩn trong lớp vỏ tràm; tối lại bay ra đậu ở cành lá cây bần ven sông và tỏa sáng một cách nhịp nhàng, huyền diệâu như thể có một ai chỉ huy.
Bần gie đom đóm sáng ngời,
Lỡ duyên chịu vậy, trách trời sao nên.
Có người kể rằng, trước đây cây tràm sống trên khô, nghĩa là trên những cánh đồng hoang, còn cây bần thì mọc ven sông rạch. Một hôm, tràm bèn nói với bần: “Anh bạn ơi, anh sống men sông rạch có nước lớn và nước ròng mát mẻ và vui quá. Còn tôi quanh năm suốt tháng đứng phơi nắng trên cạn, lại vắng vẻ, âm thầm. Vậy anh và tôi đổi chỗ cho nhau một thời gian đi. Tôi cảm ơn anh lắm...”.
Thương tràm, bần nghe thế đồng ý. Tràm và bần đổi chỗ cho nhau. Được ít lâu, tràm lại rù rì với bần rằng, tràm muốn sống trở lại trên cạn, còn bần về chỗ cũ của mình ở ven sông rạch. Bần ta lại cũng chiều lòng bạn. Một thời gian sau tràm lại ỉ ôi xin đổi chỗ lại như cũ. Lần này thì bần kiên quyết không chịu. Ai ở đâu ở đó chứ không đổi tới đổi lui, lộn xộn. Tức quá, nhưng tràm không làm gì được. Tìm mưu tính kế, tràm ta nghĩ ra cách, khi màn đêm buông xuống, tràm điều hàng vạn, hàng triệu con đom đóm vốn là quân của mình, bay xuống mà hè nhau bứng nhổ cây bần. Chính vì thế mà trong đêm, nhất là dịp sa mưa, ta thấy hiện tượng đom đóm chớp tắt, chớp tắt trên cành lá cây bần không biết bao nhiêu mà kể. Aáy là lúc những con đom đóm đồng hè nhau lắc nhổ cây bần đó. Đêm này sang đêm khác, bần luôn bị đom đóm lung lay. Mặc, bần vẫn ngạo nghễ đứng vững. Chẳng những thế, bần còn chỏ cặc chơm chởm quanh gốc của mình để trêu tức tràm (xin lỗi bạn đọc).
Mùa sa mưa ở quê hương tôi là một mùa cây cối, đồng cỏ phởn phơ, tươi tắn hẳn lên. Con người dường như cũng đẹp thêm ra và hồn hậu hơn mọi lúc.. Con chim bay cũng thong dong hơn, mây trên trời cũng sạch sẽ hơn, dù đó là mây đen, mây trong cơn chuyển mưa... Sau vài cơn mưa, đứng nhìn cánh đồng, thấy xanh um cả đất trời. Ngọn cỏ theo nước vươn lên với tốc độ nhanh chưa từng thấy. Cọng rau muống trên đìa, trên bàu, trên kinh cũng mau chóng phóng ra xa đến nỗi chưa kiïp mọc lá. Đụng đến là gãy nghe “cụp”. Rau ngổ, rau mác, kèo nèo, bông súng cũng hớn hở đầy sức lực. Xa xa phía dưới ruộng vài ba chiếc xuồng con ai đó phóng đi thấp thoáng ven đám bồn bồn cao quá đầu. Trong chiếc xuồng con ấy, có cô gái đang dầm mưa, nhổ bồn bồn, hay vớt ốc, hái rau... Những hạt mưa đầu mùa vừa nặng, vừa ngọt đậm bám  vào hai cánh tay để trần chắc nụi của cô, hoặc đậu trên bờ vai, chỗ miếng áo rách... Những hạt mưa như vậy thì bảo người ta làm sao đừng nhớ, đừng tơ tưởng đến xứ sở phù sa được.
Mỗi lần ngắm nhìn mùa nước nổi như thế, tôi lại nhớ câu thơ của Nguyễn Bá, mặc dù hoàn cảnh thực tế và ý tứ trong bài thơ có khác nhau:
Nón mật cật trắng tươi màu lá mới
Em bơi xuồng chuyển bộ đội sang sông.
Những cô gái vừa vây đồn thắng lợi
Rủ nhau về gội tóc nước tro trong.
Do hoàn cảnh kinh tế bây giờ khác hơn trước, nay chẳng mấy ai còn gội đầu bằng nước tro. Nhưng chúng ta hãy còn nhớ, lóng nước tro muốn trong, muốn tốt chỉ có nước mưa, mà phải nước mưa đầu mùa. Không hiểu sao như vậy. Cho nên ngày trước, hễ mưa xuống là má tôi chuẩn bị gàu nước tro bằng cây mắm để gội đầu. Gội đầu cho má và gội đầu cả cho tôi nữa.
Rau cỏ ngoài đồng trở nên non và ngon, mà cây cối trong vườn cũng hớn hở. Bụi tre tàu, tre mạnh tông cạnh nhà được phủ rác rưởi, rơm rạ từ mấy tháng trước, nay bắt đầu nhú lên những mụt măng đến là bụ bẫm. Người nông dân chuẩn bị đón mùa sa mưa một cách chu đáo, cẩn thận như vậy. Làm ra đồng tiền rất khó khăn, đâu phải hở cái gì cũng mua, cũng sắm. Muốn thế, phải lo xa. Có thể đây là những mụt măng để chuẩn bị đám cúng cơm ông nội hay bà ngoại nay mai, hoặc dành đem cho người thân ở thành phố, hoặc đem biếu một gia đình tình nghĩa trong làng... Còn lại thì chăm sóc, vun bón để trở thành tre mà dùng vào việc khác. Tục ngữ nói “Ăn cốt để lấy sự thơm tho, chớ không ai ăn lấy no, lấy béo bao giờ”.
Nhân nói về mụt măng, bỗng nhớ lại một hiện tượng lý thú rằng: Hễ năm nào có giông bão nhiều thì măng tre, măng trúc mọc sát vào lòng cây mẹ, mọc sâu vào giữa gia đình anh em, họ hàng của chúng. Đọt măng không bao giờ dám loi nhoi ra khỏi bầy. Nếu mưa to gió lớn, còn nương tựa, che chở nhau đứng vững. Còn nếu như năm nào trời yên, gió lặng thì măng vươn ra thoải mái chung quanh đàn bụi của mình. Chúng không sợ thứ gì trên đời này, cứ mọc lia chia một cách tự do, ngang dọc. Ngẫm ra thiên nhiên cũng khéo sắp đặt tài tình. Đến họ hàng tre trúc cũng cảm nhận được tính nết hung bạo hoặc hiền lành của trời đất.
Măng tốt thì tre tốt. Thông thường là vậy. Nhưng đôi khi cũng không hẳn như thế. Nhiều mụt măng bụ bẫm, không có tỳ vết gì, vậy mà khi đã thành tre thì lại èo uột, thậm chí bị sâu mọt đục phá đến xơ xác.
Mùa sa mưa rau ngon đáo để. Nấm rơm là một trong những món vừa hèn lại vừa sang. Tôi thấy những bữa đại tiệc ở Sài Gòn hoặc Hà Nội đều có món nấm, mà người nghèo ở xứ tôi cũng thường ăn cơm với nấm kho, nấm xào...
Đọc một số truyền thuyết thấy nói rằng, những chữ tượng hình của Ai Cập đã ghi lại nấm là những vật linh thiêng. Vua Ai Cập coi trọng những món ăn được chế từ nấm và ra sắc lệnh mang tính chất đẳng cấp rằng, người bình dân không được ăn nấm. Hoàng gia Anh và Pháp cũng chỉ cho phép trong triều đình và cung điện mới có món ăn nấm. Người xưa còn tin tưởng nấm có khả năng tìm được vật bị mất, chữa khỏi bệnh, tạo ra sức mạnh phi thường, giúp những tâm hồn tạo được nhiều ước vọng...
Cây rơm trước nhà đó, hoặc đống rơm phía sau vườn, chỉ sau vài trận mưa, sáng sớm xách rổ ra mà lặt nấm. Lựa chỗ rơm hơi mục, lật nhẹ sang một bên là nấm phơi ra lởm chởm, búp nào búp nấy bằng ngón chân cái, ngón tay cái, chắc nụi, âm ấm. Ta hãy lựa những cái vừa ăn mà hái. Búp nào còn nhỏ hãy để đó, chiều ra là ăn được. Không hiểu sao sang mùa này, cái mùi rơm rạ nồng nồng, thơm thơm bốc ra thật mãnh liệt. Hầu như cái gì ở đây cũng mới tinh, cũng nguyên chất như vừa mới bị phát hiện lần đầu. Loài nấm sống và lớn lên trong cái không khí đồng quê ấy. Nghe thấy nhiều tài liệu nói rằng, nấm ăn nói chung, trong đó có nấm rơm, qua kết quả phân tích cho thấy chúng chứa rất nhiều chất bổ, và đặc biệt có hầu hết các axit-amin, không thể thay thế, nên nấm gọi là “thịt thực vật” là vì vậy. Nấm rơm làm món gì ăn cũng ngon, cũng dễ ăn. Nhưng có lẽ nấm rơm kho mắm cùng với lươn ăn với bông súng, rau mác đầu mùa là “nhức nhối” hơn cả. Con lươn trước khi đem kho nên kẹp vào lóng trúc còn tươi, nướng qua heo héo rồi cho vào kho chung với mắm đồng, tôi dám chắc trên đời không có loại nước nào ngọt bằng. Bản thân nấm rơm đã ngọt, đã bổ dường nào lại còn “đi” chung với lươn, với mắm thì có nước... nấu thêm cơm. Chả thế mà Quốc hội Pháp đã có phiên họp bàn về nấm. Chẳng là do khai thác quá mức, sản lượng nấm của Pháp từ 2.000 tấn mỗi năm ở đầu thế kỷ 19, sau chỉ còn 20 tấn một năm, cho nên mỗi năm đã nhập thêm 80 tấn của I-ta-li-a và Tây Ban Nha. Do đó, Quốc hội Pháp phải triệu tập phiên họp đặc biệt, lập tiểu ban chuyên trách về nấm cục. Hơn 20 năm khổ công nghiên cứu, tháng 12-1977, một nhóm nhà khoa học do tiến sĩ giám đốc của viện nghiên cứu nông học quốc gia Pháp chỉ đạo, đã chủ động trồâng được nấm cục. Họ đã gieo bào tử vào các cây sồi, dẻ và biến chúng thành vườn ươm mầm cục. Aùp dụng phương pháp này chỉ mất có ba năm, trong khi đó ngoài thiên nhiên phải mất sáu năm.
Nhưng trên đời này, cái gì rồi cũng có hai mặt của nó. Nấm vừa có công mà cũng vừa có tội. Người ta tính rằng các loài nấm phá hoại cây rừng và vật liệu lâm nghiệp hàng năm trên thế giới gây tổn thất tương đương với nạn cháy rừng. Lịch sử ngành trồng trọt quốc tế ghi lại rằng đã có năm, một loài nấm tiêu diệt hết khoai tây, gây nạn đói cho hàng triệu người dân Ai-len; một loại nấm độc khác truyền từ Mỹ, làm cho một mùa nho của Pháp hầu như mất trắng... Những chuyện “thế giới đó... đây” kiểu như thế, ngồi lại kể ra thấy thật là dễ sợ, ta nhớ làm gì. Nói tới nấm, ta nên nhớ tô canh ngọt ngào của loài nấm hương, nấm rơm, rạ hay nấm tràm, nấm mối cho ngon miệng. Còn cái mặt xấu của nó ta chỉ nên “lưu ý” để cảnh giác là đủ. Bởi vì loài nấm độc rất dễ nhận: To lớn, màu sắc sặêc sở, có thứ còn phát sáng như hào quang nữa. Gặp những loại nấm đó, ta đừng ham. Hãy coi chừng, chớ có đụng vô...

(Rút trong sách Xứ sở phù sa,
NXB Cửu Long, 1986)

(còn nữa)



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét