01 tháng 5 2011

Về nhà mình xa quá, Má ơi (9)--TUỔI THƠ ĐỒNG RUỘNG

Trần Thanh Phương 

Tía tôi tham gia cách mạng sớm. Năm lên sáu, lên bảy, tôi đã phải sống với má và ông nội. Tôi là cháu đích tôn, lại là trai nên ông càng yêu quý tôi. Chiều tôi không thể tưởng. Đêm đêm tôi thường ngủ với nội chớ ít khi ngủ với má. Khi ngủ, được nội xoa lưng, thành quen. Cho tới bây giờ, tôi dám chắc ít có điệu ru nào đưa trẻ con vào giấc ngủ êm ái, nhẹ nhàng bằng đôi tay ông bà, cha mẹ xoa vào lưng. Mãi tôi chín, mười tuổi “lời ru trên lưng hàng đêm ấy của nội tôi vẫn còn. Ban ngày tôi nhổ tóc ngứa cho nội. Cứ nhổ được cọng tóc ngứa thì nội phải trả cho cái gì đó, bằng không tôi không nhổ hoặc nhổ lấy lệ, qua loa. Có lần nội tôi nói: “Ông gãi lưng cho con ngủ, ông đâu có kể công với con. Sao con lại tính với ông như vậy?” Tôi nghĩ bụng, ông lớn, tôi nhỏ, tôi có quyền đòi hỏi. Nhưng đến khi hiểu được câu nói của nội thì nội không còn nữa. Tôi trả ơn nội tôi bằng cách hàng năm tới ngày giỗ nội, tôi mua rượu, thịt, bánh trái thật ngon cúng nội. Nội có hưởng được hương hoa gì không, tôi không thấy. Nhưng về tinh thần, tôi rất yên tâm. Rằng tự cho mình là đứa cháu có hiếu, biết nhớ và thương ông bà. Rốt cuộc cũng chỉ vì mình, thương bản thân mình. Chắc là vậy?
Hồi nhỏ, tôi rất nghịch mà nghịch dại. Không biết tự mình nghĩ ra hay nghe lời ai, nhưng đối với nội tôi, tôi có những việc làm “rất ác”, suốt đời tôi không quên. Thường nội sai tôi ra tiệm Chệt Hẹ- cách nhà không bao xa-khi mua rượu, khi mua dầu hôi, đèn chai, khi mua đá lửa... Nói là đi tiệm cho lớn chuyện, chớ rất dễ dàng. Chỉ cần cầm tiền đến và nói mua thứ gì là ông Chệt Hẹ bán đầy đủ, cẩn thận, Hai gia đình đã quen nhau từ lâu, lại là xóm giềng nên việc mua bán lặt vặt ấy trở thành bình thường. Một lần, và đời tôi chỉ mắc một lần ấy thôi, nội sai tôi mua đá lửa. Tôi lấy tiền ăn bánh hết. Về nhà, tôi cắt một đoạn bút chì dài tương tự như cục đá lửa, gói lại, đưa cho nội tôi. Nội tôi cho vào ống quẹt và quẹt. Tất nhiên là không thể nào phát  ra lửa. Nội tôi mày mò xem lại lò xo, bánh xe của ống quẹt, rồi kiểm tra bông gòn, dầu... một cách chi li...Vẫn bình thường. Nội tôi quẹt tiếp và cũng không nháng lửa. Thế là nội tôi bắt đầu “nổi điên” chưởi ông Chệt Hẹ rằng bán đá lửa giả, đá lửa “thúi”. Trong cơn giận, nội tôi ném vù ống quẹt xuống ao trước nhà. Chừng ấy hoảng quá, tôi trốn ra sau nhà ngồi khóc. Vừa thương nội, vừa thương ông Chệt Hẹ, vừa xỉ vả bản thân mình. Tôi buồn không biết để đâu cho hết. Chiều tối hôm ấy, tôi chỉ ăn một chén cơm, rồi leo lên giường nằm. Nội tưởng tôi khi chiều đi tiệm về ấm đầu, nội càng thương tôi, xoa xoa bàn tay nham nhám quen thuộc vào lưng tôi... Tôi ngủ lúc nào không biết. Mấy ngày sau đó, hễ thấy nội tôi quấn thuốc, khỏi cần nội sai, tôi chạy xuống bếp gắp cục than lên cho nội. Tôi cố chuộc lại tội lỗi, nhưng không bao giờ tôi cảm thấy yên bụng. Tại sao nội không phát hiện ngay ra, đó là khúc ruột bút chì chớ không phải đá lửa, rồi nội nện cho tôi một trận. Như vậy sau này tôi đỡ đau đớn hơn không? Lợi dụng tuổi già mắt mũi kém, tôi đã “qua mặt” nội tôi để ân hận suốt đời về sự dối trá. Ông Chệt Hẹ không hề hay biết về chuyện này. Nhưng tôi thì mỗi lần ra phố không bao giờ dám đi ngang qua tiệm ông. Có một lần thấy ông đàng xa, tôi đã vội tránh đi đường khác. Và bất kỳ nghe ai đó nói đến hai tiếng “Chệt Hẹ”, tôi đã thấy nao nao. Tôi có lỗi với ông lớn quá. Nhưng tuổi ấu thơ không đủ can đảm để gặp ông nhận lấy tội. Lớn lên, đi kháng chiến, tôi mang theo luôn chuyện này, rồi lòng dặn lòng ngày về tôi sẽ đến gặp ông mà tạ tội. Hòa bình lập lại, về thăm quê thì ông đã già và chết từ lâu. Tôi đến trước bàn thờ ông thắp nén nhang mà thầm nhớ lại câu chuyện mấy mươi năm về trước. Sự hối hận nhiều khi còn đau thương vật vã hơn đòn hằn. Nhưng rồi tôi tự an ủi rằng, mình đã ăn năn thì coi đó như sự mở đầu một cuộc sống tốt hơn, một nhân cách tốt hơn, giống như bình minh mở đầu cho một ngày mới. Con người tự bào chữa tội lỗi của mình êm ái và nghe đến dễ lọt tai đến như vậy!
Quê tôi nghèo chứ không trù phú sung túc như người ta tưởng. Sau này đi đây đi đó tôi mới nhận ra, so sánh. Quanh đi quẩn lại chỉ có lúa và lúa. Kế lúa là cá đồng. Lúa một năm một vụ. Cá đồng không phải tháng nào cũng có. Không còn một thứ gì khác ngoài sự cần cù buông dầm, cầm chèo. Mà buông dầm cầm chèo cũng không ngoài hột lúa, con cá. Ở đây người dân không có nghề phụ. Tiêu pha, mua sắm, nhất nhất đều trông vào mùa lúa. Đau ốm không tiền mua thuốc, xúc lúa bán. Ăn thịt heo cũng bằng “lúa tới mùa”. Mà có phải năm nào lúa cũng đầy bồ đâu. Có năm nước mặn tràn vào, có năm bị chuột cắn..., là coi như “húp cháo”. Quả không sai. Gia đình tôi đã từng ăn cốm dẹp, ăn mò om luộc, ăn bông súng trộn dừa với mắm kho thay cơm. Có ăn những thứ đó trừ bữa, ta mới thấy giá trị một bữa cơm, mới thấy hột lúa, hột gạo là quý chừng nào. Sau này lớn lên, tôi suy nghĩ: Tại sao ở xứ lúa lại thiếu gạo ăn? Có phải đó là lần xảy ra đầu tiên và cũng là lần cuối cùng chưa?
Ăn uống đã thế, tìm đâu ra quần áo lành lặn. Ở xóm tôi có nhiều đứa trẻ 11, 12 tuổi rồi mà vẫn trần truồng. Gia đình dì Hai Nghệ rất đông con, hầu hết lại là gái. Từ nhỏ tới lớn mang chài mang lưới, ai thấy cũng muốn xuống nước mắt. Tôi nhớ mãi trong số những người con của dì Hai, chỉ có chị Mận, người con thứ  sáu là xinh đẹp hơn cả. Da dẻ trắng trẻo, gương mặt sáng và thanh tú. Tôi với chị thường chống xuồng vô lung lá câu cá rô. Lần nào cũng vậy, đến nơi, chị cởi hết quần áo tìm chỗ nước trong giặt sạch, phơi trên bụi ráng rồi mới bắt đầu ngồi câu. Lúc giỏ cá gần đầy thì  áo quần chị cũng sắp khô. Năm đó chị Mận đã 12-13 tuổi rồi chớ phải chi còn nhỏ. Một hôm tôi đem chuyện này nói với má tôi. Má tôi bưng mặt khóc. Má nói: “Má biết hết rồi, con đừng nói nữa! Nhà chị Sáu Mận nghèo, lại đông anh chị em nên mới thiếu thốn như vậy”. Sau đó tôi cho chị Mận bộ bà ba vải ta trắng đã cũ. Chị mừng lắm, sửa lại, mua mực tím về nhuộm hết cả bọâ, trông chỗ đậm, chỗ lợt, lại càng thương chị. Vậy mà chị rất ưng ý, lúc nào cũng ngắm vuốt, mặc hoài. Chị nghèo cho đến năm 19 -20 tuổi vẫn còn nghèo. Mấy chị em gái chuyên đi cấy mướn, hết mùa cấy quay sang nhổ bồn bồn nhận dưa bán...
Tuổi thơ của tôi sống rất nghèo nàn về những thứ đồ chơi dành cho con trẻ. Sau này lớn lên, tôi mới hiểu được điều đó. Chớ lúc bấy giờ vẫn ngỡ  rằng mình là đứa trẻ được nhiều may mắn, hạnh phúc nhất trần đời. Những xâu chuỗi màu đen bằng hạt bo bo già được các bạn gái làm duyên ở cổ, ở tay không bao giờ chán. Bọn con trai thì oai vệ, ra dáng: Viết máy cao-lô dắt túi cắt từ ống trúc, ống sậy... Chỉ đơn sơ vậy thôi mà đêm nằm ngủ vẫn mang theo, sáng dậy dập nát hết. Nhưng mê thì mê vẫn không qua món đá banh. Tất nhiên là không thể tìm  đâu ra banh da, banh cao su. Chúng tôi thắt banh chuối... Chao ơi, những trái banh chuối có sức cuốn hút tuổi thơ chúng tôi đến kỳ lạ. Tháng hạn, chúng tôi kéo ra đồng mới gặt xong, chia thành hai đội, “đội ở trần” và “đội mặc áo”. Vậy mà quần nhau đến tối mịt mới chịu về. “tướng” nào “tướng” nấy mặt đỏ lơ đỏ lưởng, mồ hôi bê bết... Còn trái banh thì sút xổ tung “ruột gan” đến thảm hại. Cũng có những trận chúng tôi thay banh chuối bằng banh bụp bè. Chọn chiếc bụp bè (phía dưới của tàu dừa nước) lớn nhất, chúng tôi xắn mang về gọt thành trái banh. Banh bụp bè đá không êm và không bền bằng banh chuốâi. Có khi vào trận chưa được nửa tăng đã tét bể ra trắng xác, trông “thấy ghét”.
Chúng tôi còn nhiều thứ để chơi nữa. Chỉ cần vài chiếc vỏ sò, vỏ vọp, cái yếm rùa là có thể cặm cụi chơi suốt ngày. Aáy là trò chơi “cất nhà chòi-cúng Cuội”. Vỏ sò, vỏ vọp đó là chén dĩa, hay nồi niêu xoong chảo gì cũng được, tùy đó mà đặt tên. Tất cả đều quy ước mà! Thức ăn, thức uống chỉ được vài ba lá ổi, cọng rau, cọng cỏ hoặc trái cứt quạ, nhãn lồng, trái nhàu là đủ, không kén chọn. Mấy đứa con khéo tay thì hay điểm thêm vào “thức ăn” một ít bông cỏ mực, cỏ hôi, bông cỏ mần trầu, hoặc nặn vào một vài giọt mùng tơi chín có màu tím tím “cho nó thơm thơm một chút”, nó “đèm đẹp một chút”. Cột kèo dựng nhà chòi là những que tre, que trúc hoặc sậy rút ở hàng rào và lợp bằng lá chuối. Hôm nào ngon lành thì lợp bằng chiếc chiếu manh. Aáy là ngôi nhà được coi “sang”nhất.
Chơi nhà chòi chán, quay sang đánh so đũa. Môn này đòi hỏi chút ít kỹ thuật. Có nhiều bạn chơi đôi tay dẻo như quay chỉ, trông mát mắt. Nhưng nói chung, trò chơi cất nhà chòi-cúng Cuội và đánh đũa thường là môn hạp với bạn gái. Bọn con trai chơi những trò mạnh mẽ hơn, nhiều sáng tạo hơn. Thí dụ như làm súng giả, dùng cọng rơm thắt con cào cào, châu chấu, moi đất sét nắn trâu, nắn tu na... “Nắn tu na, ba ta cùng vỗ”... Vỗ tu na là một trò chơi khá thú vị. Dùng đất sét nhão nhưng xôm xốp, nắn một hình tròn như cái dĩa, cái chén rồi giơ cao, vụt mạnh phía rõng xuống đất. Do sức nén của không khí, phát ra tiếng nổ. Tu na ai gây ra tiếng nổ lớn, chắc, gọn thì hơn, được cả bọn tấm tắc khen. Sau tiếng nổ, phầân trên quả tu na vỡ ra đôi ba lỗ bằng ngón tay, ngón chân, trông xinh xinh như nụ hoa. Tu na ai nổ tung nhiều lỗ được coi là nhất. Sẽ được một trận chê cười, nếu quả tu na của bạn nào ném xuống chỉ nghe cái “bạch” mà không gây nổ. Đó là những quả thúi, quả lép, thường do nắn quá dày hoặc khi ném, cạnh tu na rơi nghiêng trên mặt đất.
Nhưng chơi gì thì chơi, chúng tôi không mê lâu một món nào. Hết “phong trào” vỗ tu na, chúng tôi quay sang nắn tu hú. Những con chim tu hú mới xinh xắn làm sao. Sau khi phơi độ nửa nắùng, tôi lấy chiếc cật tre “o lại” thân chim láng đến mát tay. Tiếng kêu của nó bay xa nghe đến buồn buồn, mênh mông. Nhất là buổi trưa, tiếng tu hú đất sét của lũ nhỏ trong xóm cất tiếng, chao ơi, cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ, vẫn còn hình dung ra hết mọi chuyện ấu thơ và phong cảnh ở quê làng...
Rồi đánh trõng, đánh khăng, rồi bắn cu ly, cúp bắt, trốn kiếm, rồi bẫy chim manh manh, áo già ở các đống trấu, đống lúa lép cạnh cây rơm... Bao nhiêu trò chơi là bấy nhiêu kỷ niệm. Hồi đó ở nông thôn hẻo lánh, làm gì có đồ chơi dành cho trẻ con sản xuất bằng công nghiệp.  Ngay trái “banh” dùng đánh so đũa, chúng tôi cũng vò bằng đất. Lâu lâu có dịp may tìm lượm trái chanh, trái cam rụng ở vườn nhà ai đó là coi như “đã đời” rồi. Viên đạn chơi cu ly cũng vậy, từ đất mà ra cả. Bạn nào khéo tay thì đem hầm  hòn đạn cho đỏ lên, bắn kêu “cốp, cốp” là cho rằng oai lắm rồi.
Những trò chơi gọi là có chút ít “văn hóa” ở đồng ruộng xứ sở tôi chỉ đơn giản vậy. Cách đây đã bốn mươi năm rồi. Bây giờ trở lại, thỉnh thoảng vẫn còn gặp con cháu chơi những trò mà thuở trước đã cuốn hút chúng tôi. Thì ra, làm thay đổi được một tập quán, một nét sinh hoạt về tinh thần không phải dễ.
Thuở bé, ai chẳng một lần vào vườn hái trộm trái cây. Trái cây hái trộm ăn ngon hơn mua, ngon hơn người khác cho bội lần. Bẻ được trái nào cho ngay vào bụng trái ấy “ăn tươi nuốt sống” vậy mới đã đời. Chín ra chín, sống ra sống, ngọt ra ngọt, chua ra chua... cứ tươi nguyên, không bị dập, bị héo. Hái trộm xoài là nặng tay nhất. Chúng tôi, một tốp ba đứa, ngó trước, ngó sau không có ai, leo phắt một cái. Lựa những trái bụ bẫm nhất cành, vỏ ửng vàng, vặt thật nhanh. Cởi áo túm lại. Tụt xuống. Chạy ra mé vườn, tìm chỗ kín, ngồi cạp lấy cạp để, hết trái này đến trái khác... Cả mấy đứa cùng đưa mắt nhìn nhau, khúc khích cười, mặt đỏ rần. Giờ phút ấy có cái gì vừa mạo hiểm, vừa sờ sợ nhưng lại thinh thích. Xoài chín cây vừa ngọt, vừa thơm làm sao. Ăn xong, vỏ và hột phi tang một cách mau lẹ, triệt để. Bằng không, chủ vườn phát hiệân, phăng ra thủ phạm không phải khó khăn gì. “Có ai trồng khoai đất này”. “Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò” mà!. Trong xóm chỉ có bọn tôi.
Trộm trái cây muốn an toàn là chớ ăn ngay tại chỗ. Vào vườn, chọn hái những trái mãng cầu, đu đủ, chuối, mít... thật già rồi đem ủ giấu ở gốc chuối, hoặc một gốc cây  nào khác bất ngờ nhất. Năm ba ngày sau trở lại, moi ra... Trời ơi, cứ thơm điếc mũi. Hình như chất lá ủ, hơi sương, hơi nắng của đất trời làm cho hương vị của trái cây giữ được “tự nhiên” hơn thì phải? Nhưng cách này cũng năm ăn năm thua. Thường loài chuột lại dễ hưởng trước chúng tôi. Cũng có lúc bất chợt người ta đi dọn cỏ vườn phát hiện. Nhất là giấu mít rất khó lòng giữ kín được. Mít càng chín, mùi thơm càng đậm, càng bay xa. Nhưng sự rủi ro đó lại ít xảy ra.
Ăn trộm dừa dễ bị phát giác, lại nguy hiểm. Có lần một  thằng bạn trong bọn tôi leo lên được hai phần ba cây thì đứt nài, rớt xuống, gãy hẳn một xương cánh tay. Gia đình mời hết thầy gần đến thầy xa để chạy chữa. Nhưng vì “trèo cao té nặng”, cánh tay của thằng bạn xấu số của chúng tôi trở thành “cán vá” suốt đời. Sau trận đó, chúng tôi từ luôn “nghề” ăn trộm dừa. Khi nào ngứa chân ngứa tay thì rủ nhau vô vườn lượm dừa chuột ăn rụng, chớ không dám lên “đạp” nguyên buồng. Thật lạ, cũng là dừa, nhưng nước của trái dừa rụng uống lại thâm trầm hơn, ngọt một cách khác thường hơn trái dừa hái ở cây. Nhà thơ Nguyễn Bá và anh bạn Nguyễn Hồ quê gốc Bến Tre giải thích rằng: Giống chuột khôn lắm, bao giờ nó cũng chọn đúng trái ngon nhất trong buồng dừa mới khoét. Điều này lũ chuột không bao giờ lầm lẫn. Và chính vì thế, bọn trẻ chúng tôi tuy bị tiếng ăn mót của chuột mà lại hóa ngon. Ờ, mà sao ăn vụng, ăn mót lại ngon hơn ăn có mâm, có bàn. Ngồi tìm trong đám đọt mía mà nhai, hoặc bới trong mớ ổi sâu, trong đống khoai lang hà, khoai mì “chạy chỉ” hoặc trong cần xé dưa ủng... mà được miếng còn nguyên, ăn được, tôi dám chắc miếng đó ngon... để đời. Có lẽ vì thế mà chuyện ăn mót, chúng tôi nhớ hoài, nhớ hoài. Hôm nay, trong chúng tôi , người có cháu ngoại, cháu nội, vậy mà vẫn còn say sưa nhắc chuyẹân ăn mót thuở nào một cách... không biết mắc cỡ.
Có một trò chơi mà người lớn không bao giờ vừa bụng là tệ tước đòng đòng ăn. Thời kỳ lúa ngậm đòng là lúc trời quang mây tạnh, khô ráo. Chúng tôi gồm năm bảy đứa, thụp ló theo bờ ruộng, chọn tước những cọng đòng đòng non, mập nhất ăn chơi. Vừa man mát, vừa ngòn ngọt, thơm mùi sữa, nhai hoài không chán miệng. Ăn tại đồng chưa đã, chúng tôi tước mang về để dành. Chốc chốc buồn miệâng nhai vài ba cọng. (hình như đòng đòng héo một chút lại ngọt hơn tươi). Má tôi rầy,ăn như thế là có tội. Cấm! Tuyệt đối không được ăn tươi nuốt sống hột lúa đang nằm trong bụng mẹ. Còn mấy ông lực điền gặp, không nói không rằng chi hết, thẳng tay bẹo tai, đứa nào đứa nấy nước mắt nước mũi ròng ròng và phải hứa “từ nay xin chừa” ổng mới tha.
Lớn lên tôi mới biết, trong mùa ruộng, người nông dân có hai lần sướng mắt nhất, là lúc gieo mạ lên xanh tốt và lúc thu hoạch. Cho nên thời kỳ lúa ra đòng là thời kỳ thiêng liêng. Ai đụng đến coi như phạm điều hệ trọng.
Nghịch phá thì nghịch phá , nhưng tới mùa gặt, bọn tôi vẫn xách thúng đi mót từng bông, từng hột lúa rụng, lúa rơi. Ham lắm! Sáng sớm, sương còn đọng trên mạng nhện giăng ngang lối mòn, chúng tôi đã ra ruộng. Cho đến mạêt trời lên ấm tóc, mỗi đứa được gần một táo. Lúa mới bao giờ cũng chắc, mười hột như mười, đều trang hết.
Chơi sao thì học hành vậy. Xóm tôi có một ngôi trường. Nói là trường học vì ở đây có bàn ghế và tấm  bảng, còn các thứ khác không giống ai hết. Không dừng vách, mái trống thấy từng mảng trời, cột cái, cột con xiêu vẹo đến “dễ sợ”, chung quanh sậy, lức, dây trái dác, dây nhãn lồng bò leo dầy bịt như rừng... Học trò muốn sang được trường phải cởi quần lội sông, hoặc chờ xuồng quá giang. Trường không ra trường, lớp không ra lớp, nhưng thầy thì đúng là một ông thầy. Hồi đó chúng tôi không thể biết thế nào là tiêu chuẩn của một thầy giáo. Chỉ thấy thầy ăn mặc sạch sẽ, giọng nói nhỏ nhẹ, đàng hoàng, chữ viết lại đẹp và nhất là một lòng một dạ yêu thương chúng tôi, vậy là từ người lớn đến trẻ nhỏ đều kính trọng, mến phục. Thầy người miệât trên xuống, nghe nói ở Mỹ Tho hay Vĩnh Long gì đó. Thầy tên Bá, dáng cao, viết bảng như “rồng bay phượng múa”. Nhứt là mỗi khi thầy viết các chữ hoa sao mà tài nghệ đến như vậy. Chữ m thầy ngoéo không biết bao nhiêu nét nhưng đọc vẫn ra chữ m. Chữ v, thầy vạch như con chim sắp cất cánh nhưng mới nhìn vẫn nhận biết chữ v. Tài tình là ở chỗ đó. Hồi ấy chúng tôi cho rằng ai viết chữ đẹp coi như người đó học cao, biết rộng. Thầy giáo Bá là một người tài đức như thế. Giờ lên lớp, thầy rất nghiêm khắc. Có thể nói, từng cái dấu, từng nét chữ thầy cũng tường tận. Chữ b, chữ h, chữ g... kéo xuống, “đá” lên như thế nào, thầy uốn nắn rất cẩn thận. Chữ a, chữ u... viết thấp hơn chữ d, chữ t... mấy dòng nhỏ ra sao cũng đã trở thành bài học. Không thể tùy tiện được. Trò nào viết sai vài lần mà không chịu sửa, coi như bàn tay “bị lãnh” của thầy vài ba thước. Nhờ vậy mà sau này đám học trò của thầy ra đời ai cũng viết chữ đẹp, dễ coi.
Không hiểu sao trong số 24 chữ cái, đối với tôi, chữ k là viết khó hơn cả. Tôi tập viết ở trường, ở nhà không biết cơ man nào mà kể, nhưng không tài nào viết nổi chữ k cho ra chữ k. Còn chữ y thì tôi đánh vần một cách khó nhọc. Cứ mỗi lần học tới chữ ấy là tôi muốn né tránh, muốn nhức đầâu đau bụng gì đó mong cho nó qua nhanh. Không hiểu tại sao người ta không bỏ quách chữ y có hơn không? Thì ra cái làm cho ta buồn nản, vất vả lại chính là một điều rất quý. Bạn đọc có biết không, sau này tôi viết chữ k và chữ y đẹp hơn các con chữ khác rất nhiều.
Lớp này sang lớp khác, chữ nghĩa ở xóm tôi có được là do công lao của thầy Bá. Nói theo cách nói bây giờ, thầy là người đầu tiên  đem ánh sáng văn hóa đến một nơi hẻo lánh, xóm Đường Cày-Đất Mũi. Sau này,  trong chúng tôi có người đỗ tới bác sĩ, kỹ sư xây dựng nhà lầu, kỹ sư nghiên cứu đại dương, biển cả, lại có người làm cả chức cao trong chính quyềân cách mạng... đều là những người học chữ của thầy Bá. Chúng tôi lớn lên, mỗi người một phương. Còn thầy vẫn ngồi đó, vẫn bài dạy đơn sơ thuở nào “Nhỏ mà không học lớn mò sao ra...”. Năm này sang năm khác thầy đem chữ nghĩa của mình “mở mang dân trí” quê tôi mà không hề đòi hỏi một điều gì.
Thời gian như con nước lớn, nước ròng, không chờ đợi ai cả. Và nó đi rất nhanh. Khi thầy gần tuổi 60 thì tay thầy bỗng nhiên run rồi trở thành một căn bệnh, không chữa được. Nhưng thật kỳ lạ, chữ thầy viết vẫn cứ đẹp, vẫn cứ sáng trưng trưng. Thầy qua đời do một cơn cảm đột ngột trong khi đang cầm phấn giảng bài. Cho đến khi nhắm mắt, thầy Bá vẫn không có vợ con.
Đám tang của thầy được dân làng tổ chức theo nghi lễ xúc động nhất, nghiêm trang nhất trong vùng kể từ xưa đến giờ.

(Rút trong sách Xứ sở phù sa,
NXB Cửu Long, 1986)
 (còn tiếp)


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét