Xuân Tân Mão

Xuân Tân Mão
Đảng và Chính phủ luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng với tất cả hoạt động, việc làm của người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia (TTg NT Dũng).

04 tháng 4 2011

Vượt lên sự nghiệt ngã của thời gian


Cảm tạ 

NLG chân thành cảm ơn GS-TS Trần Văn Thọ và Nhà xuất bản Tri Thức đã cho phép đăng lại toàn bộ tác phẩm mới nhất "Vượt lên sự nghiệt ngã của thời gian" vừa mới xuất bản vào cuối tháng 3/2011. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc gần xa. Chúng tôi sẽ lần lượt trích đăng từ  mục lục đính kèm.



LỜI GIỚI THIỆU

Chúng tôi hân hạnh được giới thiệu với bạn đọc ấn phẩm đặc sắc “Việt Nam từ năm 2011” và tác giả của nó – GS Trần Văn Thọ (Đại học Waseda Nhật Bản).
“Việt Nam từ năm 2011” là tập hợp các bài viết của tác giả về những vấn đề nóng bỏng của thời cuộc Việt Nam, phần nhiều ở tầm chiến lược và với những kiến nghị cụ thể, suốt từ thời kỳ cuối thập niên 1990 cho đến, và chủ yếu là năm năm gần đây.
Trước khi đọc từng phần hoặc từng bài cụ thể, tuỳ theo mối quan tâm của từng người (chứ không nhất thiết phải đọc lần lượt theo mục lục), chúng tôi thiết nghĩ độc giả nên bỏ chút thời gian đọc kỹ Lời tựa mà tác giả đã gửi vào đó tất cả suy tư, trăn trở và khát vọng cháy bỏng được cùng với dân tộc mình “vượt qua sự nghiệt ngã của thời gian”, vươn lên phía trước kịp thời, mạnh mẽ và vững chắc. Khi đặt tên cuốn sách là “Việt Nam từ năm 2011” là tác giả đã gửi gắm niềm tin vào một thời kỳ mới của đất nước đang được bắt đầu. Lạc quan là tư chất của những người tin vào sức mạnh của Nhân dân.
GS Trần Văn Thọ đã sang Nhật Bản du học từ hơn 40 năm trước; hiện định cư ở  bên đó, nhưng vẫn giữ quốc tịch Việt Nam. Là người viễn xứ lâu năm, nhưng học giả - trí thức Trần Văn Thọ luôn luôn gắn bó với Tổ quốc, hàng ngày theo dõi tình hình ở Quê hương; có quan hệ mật thiết với anh chị em trí thức, giới hoạt động chính trị - xã hội và giới truyền thông trong nước. Chỉ trong điều kiện như vậy, GS Trần Văn Thọ mới có thể bám sát từng bước vận động của xã hội để góp phần xây dựng chủ trương và giải pháp phát triển đất nước với nhiều kiến nghị sáng tạo.
Để có những trang viết sinh động và sâu sắc này, tác giả không phải chỉ có một bầu tâm huyết luôn luôn sục sôi, mà trước hết là phải có một kiến thức sâu rộng; am tường bối cảnh và kinh nghiệm phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của nhiều nước, đặc biệt là của Nhật Bản; để rút ra những bài học bổ ích cho Việt Nam, không phải bằng những luận giải uyên bác dài dòng, mà chủ yếu bằng những yếu tố sống động trong thực tiễn phát triển của các dân tộc và các nhân vật lịch sử tiêu biểu; gửi lý luận vào thực tế và thực tiễn một cách giàu sức thuyết phục.
Sẽ là hết sức bổ ích nếu độc giả có thể dành thời gian đọc hết cuốn sách này để chia sẻ với tác giả tình yêu Quê hương-Đất nước và sự hữu trách của sỹ phu thời nay đối với vận mệnh của Dân tộc.
Xin chân thành cám ơn các bạn đọc.

Chu Hảo

GĐ – TBT NXB Tri thức



Việt Nam từ năm 2011:
Vượt lên sự nghiệt ngã của thời gian

Trần Văn Thọ


Lời giới thiệu (Chu Hảo)
Sự nghiệt ngã của thời gian: Thay lời nói đầu

Khí khái người xưa và bản lãnh thời nay
1.    Từ xuân Quang Trung đến thể kỷ 21
2.    Xác lập tinh thần Nguyễn Trãi trong quan hệ kinh tế Việt Trung
3.    Hình tượng anh hùng trong thời đại phát triển
4.    Suy nghĩ về tinh thần Võ Văn Kiệt

Tầm nhìn thời đại và chiến lược phát triển
5. Đã qua rồi một thời đổi mới
6. Từ cải cách tiệm tiến đến xây dựng cơ chế chất lượng cao
7. Bình luận về Dự thảo Chiến lược phát triển 2011-2011
8. Kinh tế Việt nam trực diện hai cái bẫy: Chiến lược từ năm 2011
9. Phân tích thêm về chiến lược phát triển giai đoạn 10 năm tới
10. Việt Nam thời đại mới: Sức mạnh cứng và sức mạnh mềm
11. Đừng quên nền kinh tế thật: Bài học từ cuộc khủng hoảng toàn cầu
12. Vấn đề xuất khẩu lao động tại Việt Nam
13. Đường sắt cao tốc: Việt Nam ngày nay và Nhật Bản 50 năm trước

Việt Nam và thời đại Đông Á
14. Trung Quốc và Nhật Bản trong trật tự mới ở Á châu
15. Trung Quốc năm 2009 nhìn từ Nhật Bản và Việt Nam
16. Kinh tế Việt Nam trước sự trỗi dậy của Trung Quốc
17. APEC và vấn đề hội nhập của Việt Nam
18. Việt Nam trước cái bẫy của trào lưu mậu dịch tự do
 
Năng lực xã hội
19. Dịch thuật và tinh thần cầu học: Khởi động quá trình cận đại hóa Nhật Bản
20. Du nhập, chuyển giao công nghệ và năng lực xã hội: Kinh nghiệm Đông Á
21. Chuyện kể về quan chức Nhật Bản thời đất nước khó khăn
22. Shibusawa Eiichi: Nhà doanh nghiệp vĩ đại nhất của Nhật
23. Sức sáng tạo và tinh thần doanh nghiệp làm thay đổi hình ảnh đất nước
24. Thượng tôn pháp luật: Sức mạnh của Nhật thời Minh Trị duy tân
25. Chiếc xe hơi Maybach 62 và Matsushita Konosuke
26. Thiếu gia, đại gia và cống hiến xã hội: Tàu Titanic và Đại học Harvard
      
Giáo dục: Ý kiến cũ mà vẫn mới
 27. Ý kiến về giáo dục đại học ở nước ta
28. Để tăng chất lượng đào tạo đại học ở Việt Nam
29. Một trăm bao gạo vì sự nghiệp giáo dục
30. Tính ưu việt của Đại học Harvard
31. Mùa thi đại học: Bạn trẻ chọn ngành học nào?
 32. Suy nghĩ về hội chứng thi vào đại học
33. Về đào tạo và cấp bằng tiến sĩ kinh tế học
34. Bàn lại vấn đề học vị tiến sĩ
35. Vấn đề đào tạo và cấp bằng tiến sĩ
36. Kế hoạch đào tạo tiến sĩ: Cần một cuộc cách mạng chất lượng
37. Một giải pháp dứt khoát cho vấn đề học vị tiến sĩ

Phụ trang: Bút ký thời sự
38. Tưởng nhớ chú Sáu Dân
39. Cuộc cách mạng tháng tư đã cứu đảng LDP
40. Cảm xúc đầu xuân: Nam quốc sơn hà
41. Mùa nhân sự tại một công ty Nhật
42. Đà Nẵng: Sức mạnh cứng và sức mạnh mềm
43. Thế giới và nước Mỹ sau hai sự kiện lịch sử
 44. PMU18 và thể diện quốc gia
 45. PMU18 và ODA Nhật Bản
 46. Hạn chế hay tự do nghiên cứu
47. Đề khởi một phong cách văn hóa thuốc lá tại Việt Nam





Sự nghiệt ngã của thời gian

(Thay lời tựa)


  Đối với con người, đối với một đất nước, một dân tộc, có lẽ dòng chảy thời gian là một yếu tố quan trọng, rất quý, nhưng cũng rất nghiệt ngã. Thời gian chỉ chảy xuôi và không có cái gì có thể níu kéo lại hay giảm tốc độ của nó được. Một cá nhân hay một dân tộc biết chạy đua theo thời gian có thể làm nên những kỳ tích đổi đời, thay đổi diện mạo đất nước; ngược lại nếu không có ý chí tranh đua với thời gian, không có nỗ lực vươn lên thì sẽ bị lịch sử bỏ lại đàng sau.
Đó là chân lý ai cũng nhận biết được. Nhưng sự cảm nhận về tốc độ của thời gian, về ảnh hưởng của thời gian thì chưa hẵn giống nhau. Trong sự cảm nhận nầy có tính chủ quan. Mười năm, hai mươi năm là ngắn hay dài?
Đối với những nước còn ở giai đoạn thấp trong quá trình phát triển, cần bao nhiêu năm để mức sống trung bình của người dân tăng gấp đôi bây giờ? Đó là câu hỏi thiết thân đối với bất cứ nước nào còn nghèo hoặc mới ở mức thu nhập trung bình thấp. Tăng gấp đôi mức sống thể hiện rõ trong các điều kiện về ăn, ở , mặc,  và nhu cầu về văn hóa, giáo dục. Nếu thu nhập bình quân đầu người theo giá trị thực tăng trung bình mỗi năm 7% thì cần 10 năm để tăng gấp đôi mức sống của người dân, nếu 5% thì cần 14 năm, 3% thì khoảng 23 năm và 1% thì cần tới 70 năm.
Trong phát triển kinh tế, một thế hệ (trên dưới 25 năm) có thể xem như một  đơn vị thời gian quan trọng để khảo sát sự thay đổi về chất của xã hội đó. Nếu chỉ phát triển 3% thì phải đợi một thế hệ mới thấy có sự cải thiện đáng kể trong cuộc sống. Ngược lại nếu phát triển 5% thì mức sống con người có thể tăng 3-4 lần trong một thế hệ.
Trên thế giới, khoảng thời gian một thế hệ cũng làm thay đổi hẵn cục diện của một quốc gia, đảo lộn vị trí của từng nước trên bản đồ kinh tế thế giới. Ở Á châu, vào thập niên 1950, Philippines là nước phát triển chỉ sau Nhật, cao hơn cả Hàn Quốc. Năm 1960, GDP đầu người của Philippines gấp đôi Thái Lan nhưng đến giữa thập niên 1980 Thái Lan đã theo kịp Philippines và khỏang năm 2000 hai nước đảo ngược vị trí của năm 1960. Năm 1985, GDP đầu người của Philippines cao gấp 3,5 lần Trung Quốc nhưng sau năm 2000, Trung Quốc đã vượt Philippines.
        Hàn Quốc vào đầu thập niên 1960 là nước kém phát triển nhưng sau đó vượt qua giai đọan phát triển ban đầu và thành công trong giai đọan phát triển bền vững, trở thành nước tiên tiến trong thời gian rất ngắn. Quá trình công nghiệp hóa của nước này bắt đầu từ khi Park Chung-hee nắm chính quyền (năm 1961) nhưng chỉ sau một thế hệ, Hàn Quốc đã trở thành một nước công nghiệp phát triển đáng kể trên thế giới và đến năm 1996 được kết nạp vào Tổ chức hợp tác phát triển (OECD) là tổ chức của các nước tiên tiến.
Nhìn trường hợp Việt Nam ta, từ khi hết chiến tranh, đất nước thống nhất đến nay đã 35 năm, kể từ khi đổi mới đến nay cũng đã qua một thế hệ. Dĩ nhiên thành quả phát triển trong thời gian qua cũng đáng được ghi nhận. Việt Nam đã tách được ra khỏi nhóm các nước nghèo và chen chân vào nhóm các nước thu nhập trung bình thấp. Nhưng ta đã mất hơn một thế hệ để có thành quả đó. So sánh Việt Nam với  Thái Lan, vào thập niên 1950 hai nước xấp xỉ nhau về thu nhập đầu người. Nhưng do bối cảnh lịch sử 20 hoặc 25 năm sau đó, Việt Nam bị tụt hậu trong khi Thái Lan  phát triển nhanh và vào năm 1984, thu nhập đầu người Thái Lan cao gấp 4,5 lần Việt Nam. Sau một thế hệ đổi mới, Việt Nam cũng chỉ mới rút ngắn được một tí, Thái Lan còn gấp gần 4 lần nước ta vào năm 2009.
So sánh với Trung Quốc, thời điểm cải cách tại Việt Nam chậm hơn 8 năm nhưng ta đã bỏ mất nhiều thời cơ nên ngày càng tụt hậu so với nước láng giềng lớn nầy. Năm 1984, thu nhập đầu người của Trung Quốc chỉ hơn Việt Nam 30%, nhưng bây giờ (năm 2009) khoảng cách giữa hai nước trên chỉ tiêu nầy là 3,3 lần! Dĩ nhiên cần xét đến chất lượng phát triển nữa, nhưng chất lượng phát triển của ta cũng không hơn Trung Quốc hay Thái Lan nên không cần đặt ra so sánh chi tiết ở đây. Hơn nữa, khoảng cách đáng kể trong thu nhập đầu người giữa các nước thường phản ảnh trình độ phát triển ở nhiều mặt khác như cơ cấu kinh tế, trình độ công nghệ, sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp trên thị trường thế giới, v.v. Ta cũng đang tụt hậu xa so với Thái Lan và Trung Quốc trên các lãnh vực nầy.  
Nói thêm về khoảng cách phát triển so với Trung Quốc. Vào nửa đầu  thập niên 1990, cụ thể là từ năm 1993, tình hình quốc tế rất thuận lợi cho Việt Nam. Cộng đồng quốc tế bắt đầu một cơ chế giúp vốn vay ưu đãi để xây dựng kết cấu hạ tầng, doanh nghiệp nước ngoài dự định đổ xô vào Việt Nam đầu tư sản xuất nhiều mặt hàng công nghiệp như điện tử và các loại máy móc. Đồng yen Nhật lên giá mạnh làm phát sinh dòng chảy đầu tư trực tiếp (FDI) lớn đang khao khát tìm cơ sở sản xuất mới. Nhưng Việt Nam đã bỏ mất thời cơ nầy do môi trường pháp lý chậm cải thiện, kéo dài chính sách đối xử phân biệt với nước ngoài và chính sách công nghiệp không rõ ràng, thay đổi thường xuyên. Dòng chảy FDI đó kết cuộc đổ sang các tỉnh ven biển Trung Quốc, sau đó kéo theo hàng chục vạn doanh nghiệp nhỏ và vừa đến đầu tư hình thành những cụm công nghiệp lớn ở vùng nầy. Hiện nay, tiền lương ở vùng nầy tăng cao, nhiều công ty đa quốc gia đang nhìn Việt Nam như là nơi co thể chuyển đến những cơ sở sản xuất có hàm lượng lao động giản đơn hoặc những ngành gây ô nhiễm môi trường. Bỏ mất thời cơ 17 năm trước, Việt Nam đã mất đi cơ hội phát triển ngang hàng với nhiều tỉnh ở ven biển Trung Quốc để bây giờ phải ở vào vị thế của một nước chậm phát triển so với họ.
Đó là một biểu hiện sinh động về sự nghiệt ngã của thời gian!
Bây giờ ta phải làm gì để tránh một cú sốc khác của thời gian?
Đây là câu hỏi có lẽ quan trọng nhất đối với những người đang và sắp ở  cương vị lãnh đạo của Việt Nam. 

Qua cuốn sách nhỏ nầy tác giả mong sẽ đóng góp vào việc tìm kiếm những ý tưởng, những chiến lược, chính sách để làm cho Việt Nam phát triển mạnh mẽ và bền vững trong thời gian tới, với hy vọng Việt Nam sẽ lấy lại một phần những gì đã mất và rút ngắn được khoảng cách phát triển với các nước chung quanh. Qua những trang trong sách nầy, tác giả đặc biệt nhấn mạnh khí khái, bản lãnh của nhà lãnh đạo, năng lực và đạo đức của quan chức, tinh thần khởi nghiệp và đạo đức kinh doanh của lãnh đạo doanh nghiệp, và nỗ lực học tập của xã hội. Nhìn toàn cục, Việt Nam hiện nay đang trực diện hai cái bẫy, một là cái bẫy của trào lưu tự do thương mại, hai là cái bẫy của nước thu nhập trung bình. Những chiến lược, chính sách để vượt qua hai cái bẫy nầy cũng sẽ làm cho kinh tế Việt Nam phát triển mạnh mẽ và bền vững trong thời gian tới.  
Hầu hết nội dung trong sách nầy là những bài viết cho các báo trong 4-5 năm qua. Một số bài khác viết cả mười năm trước nhưng bây giờ tính thời gian vẫn chưa mất, nhất là những bài bàn về giáo dục, chứng tỏ đây là lãnh vực chậm hoặc không được quan tâm cải cách. Cũng vì lý do nầy, có vài ý trùng lặp trong các bài về giáo dục vì có nhiều trường hợp bài viết sau phải nhấn mạnh lại một số ý trong bài viết trước. Ngoài ra, hầu hết những bài in trong sách nầy nguyên là những bài báo tương đối ngắn nhưng cũng có một số bài dài và có tính cách học thuật in trên tạp chí Thời đại mới hoặc trong một số kỷ yếu mừng thọ các học giả tên tuổi. Dưới mỗi bài viết có ghi xuất xứ và ngày đăng đầu tiên, và trong một số bài có ghi thêm phản ứng của độc giả, của các báo khác, v.v.. (trong phạm vi tác giả biết được).
Các bài viết dĩ nhiên xuất phát từ thực trạng Việt Nam và đưa ra các đề nghị về chiến lược, chính sách. Nhưng có những ý tưởng cảm xúc bắt đầu từ lòng tự hào đối với các bậc tiền nhân như Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi, Quang Trung,... ; có những ý tưởng gợi lên từ kinh nghiệm nước ngoài, đặc biệt là Nhật Bản,...có những suy nghĩ hình thành qua thảo luận, trò chuyện với bạn bè trong và ngoài nước.
Khi lập kế hoạch tập họp các bài viết để xuất bản, tác giả rất hân hạnh có được sự góp ý và trợ giúp chí tình của các anh Chu Hảo (Giám đốc Nhà xuất bản Tri thức) , Võ Như Lanh (nguyên Tổng biên tập Thời báo kinh tế Saigon), Huỳnh Sơn Phước (nguyên Phó Tổng biên tập Tuổi trẻ) và Mai Đức Lộc (Tổng biên tập Báo Đà Nẵng). Chúng tôi đã gặp nhau tại Đà Nẵng cả một buổi chiều thứ bảy vào giữa mùa thu năm nay để trò chuyện về cuốn sách nầy. Tựa đề cuốn sách cũng như tựa đề cho lời nói đầu nầy do cả tập thể 5 người chúng tối quyết định trong dịp gặp ấy. Các anh cũng là những người bạn đã gợi ý cho nhiều bài viết in trong tập sách nầy. Ngoài ra tác giả cũng xin cảm ơn hai anh Trần Đức Nguyên và Trần Việt Phương (đều là nguyên thành viên Tổ tư vấn cải cách kinh tế và hành chánh của Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Ban nghiên cứu chính sách của Thủ tướng Phan Văn Khải) đã đọc và góp nhiều ý hay cho những bài viết gần đây.
Cuối cùng tác giả xin cảm ơn Ban biên tập Thời báo kinh tế Saigon, Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Vietnamnet, Thời đại mới, Diễn Đàn, Tia Sáng, Doanh nhân Saigon cuối tuần, Nhân Dân và Báo Đà Nẵng, những nơi đã góp phần quan trọng trong việc hình thành những bài viết in trong tập sách nầy. Tác giả cũng  xin cám ơn Nhà xuất bản Tri thức, một địa chỉ tin cậy của những người ham hiểu biết, đã ưu ái đón nhận một viên gạch mới vào trong ngôi nhà ngày càng đồ sộ của tri thức. Đặc biệt cám ơn chị Nguyễn Bích Thủy, biên tập viên của nhà xuất bản, đã có nhiều cố gắng để sách ra đời trong thời gian rất ngắn. Tác giả cũng xin cám ơn Saigon Times Foundation đã tài trợ để việc xuất bản được thực hiện nhanh chóng.   

Trần Văn Thọ,
Tokyo, cuối thu 2010


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét