Xuân Tân Mão

Xuân Tân Mão
Đảng và Chính phủ luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng với tất cả hoạt động, việc làm của người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia (TTg NT Dũng).

07 tháng 5 2011

Về nhà mình xa quá, Má ơi (10)--NGỌN TẦM VÔNG//CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ...



Trần Thanh Phương

Trên nền cũ của thành Cổ Loa (Hà Nội), tháng 7-1959, ta đã tìm thấy hơn một vạn mũi tên đồng. Đó là những mũi tên đúc bằng đồâng thau, với một kiểu dáng độc đáo, lợi hại. Mũi tên dài 6 xăng-ti-mét đến 11 căng-ti-mét, có hai ba cạnh nhọn sắc, lại có chuôi để có thể cắm vào đó thân cây tên bằng tre. Sách Truyện các ngành nghề cho biết, nhân dân vùng Cổ Loa kể lại rằng những năm ba mươi của thế kỷ này, người ta còn tìm thấy ở gần Cổ Loa những chiếc ống đồng dài, có nhiều lỗ khoét trên thân ống. Người ta ngờ rằng đó có thể là một bộ phận hoặc sự mô phỏng một bộ phận của “nỏ thần”, “nỏ thần Liên Lâu” xưa kia bắn một phát ra nhiều mũi tên cùng lúc. Trong số tên đồng Cổ Loa, có chiếc ở mũi thủng một lỗ nhỏ để buộc kèm theo mồi lửa, làm thành một thứ  “hỏa tiễn” lợi hại khi đánh những trận hỏa công.
Các nhà khảo cổ học nước ta còn phát hiện được loại chông cổ nhất cách đây 1.500 năm. Đó là loại chông củ ấu (còn có tên là chông ba cạnh hay chông ba chạc) tìm được ở khu vực Liên Lâu. Nhìn nghiêng, chông này như hình củ ấu, nhưng thực ra chông có bốn mấu nhọn chổng lên trên và ba mấu kia như chân kiềng cắm chặt xuống đất. Nhưng đó là chông sắt. Về chông làm bằng kim loại, ta còn có thể kể dài dài, tỷ như chông ruột gà, chông bàn có ngạnh, chông bừa, chông phảng, chông hầm...                                
Ngay từ những ngày đầu của thời dựng nước và giữ nước, cây tre có vị trí của nó với truyền thuyết về Thánh Gióng nhổ tre Làng Ngà đánh tan giặc Ân đã để lại cho tâm hồn dân tộc một hình ảnh rất đẹp, rất sâu đậm. Có lẽ kể từ bấy đến nay, tre, trúc luôn luôn gần gũi chúng ta, giúp đỡ và che chở chúng ta trong cơn đất nước lâm nguy cũng như trong cuộc sống thanh bình.
Không riêng gì trong chiến tranh, cho tới hôm nay, khi nhớ lại mũi chông Việt Nam, những tên lính xâm lược vẫn còn rởn tóc gáy. Thời báo Mỹ Niu-Yóc số ra ngày 16-6-1963 đã viết bài nói về cây chông Việt Nam với tựa đề Chiếc đinh gỉ trong thời đại vũ khí tối tân, có đoạn: “Trong thời đại của những vũ khí tối tân, các lực lượng Mỹ ở miền Nam Việt Nam lại thấy rằng vũ khí thô sơ là nguồn gốc gây ra cảnh bối rối thường xuyên và nguy hiểm cho họ. Du kích cộng sản không phải được trang bị bằng máy bay lên thẳng hoặc đạn rốc-két. Mặc dù họ cũng có những loại vũ khí hạng nhẹ khá tốt, nhưng họ đã chứng minh rằng một chiếc đinh gỉ, một mũi tre nhọn cũng hoàn toàn có thể loại một người lính ra ngoài vòng chiến đấu như viên đạn của khẩu súng hiện đại có máy ngắm...”.
Tre, trúc và tầm vông mọc nhiều nơi trên thế giới. Nhưng không hiểu sao, đứng trên đất nước ta, tự nó trở nên hình ảnh cứng rắn, dịu dàng và thành một thứ cây rất riêng của Việt Nam, tiêu biểu cho Việt Nam. Trong những năm vừa qua, nhiều đoàn nghệ thuật của ta đi biểu diễn nước ngoài. Khi bức màn sang trọng của sân khấu dù ở Pa-ri hay Luân Đôn, ở Ro-ma hay Tô-ki-ô... hoặc bất cứ nơi nào khác kéo lên, tấm phông có vẽ cảnh đồng quê, mái nhà, dòng kinh, khóm tre, bụi trúc và tiếng sáo trúc dìu dặt nổi lên giữa cảnh thanh bình đó thì kiều bào ta đến xem đều bật khóc. Nhớ quê hương quá, nhớ nhà quá, không ai chịu nổi. Thì ra tre, trúc, tầm vông đã sâu lắng tự ngày xưa của mỗi đời người. Bởi vì chúng có khác nhau họ hàng nhưng cũng cùng một dáng măng mọc thẳng.
Nhân tiện, nói một chút về cây sáo trúc Việt Nam. Cho tới nay, người ta vẫn chưa biết đích xác cây sáo trúc xuất hiện ở nước ta từ bao giờ. Nhưng trên các trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng Hạ có 2.700 năm tuổi đã thấy hình ảnh của những chiếc khèn và người thổi khèn. Những chiếc khèn ấy do nhiều ống trúc dài ngắn ghép lại mà thành. Khèn phức tạp hơn sáo nhiều. Cho nên cây sáo trúc chắc phải có trước hoặc ít ra cũng phải đồng thời với khèn. Sách Giao Châu Ký của Lưu Hân Kỳ mô tả sinh hoạt của dân ta hồi đầu công nguyên (cách đây 2.000 năm), có đoạn: “Ở nông thôn, trẻ mục đồng thường ngồi trên lưng trâu thổi sáo và hát các bài đồng dao của người Việt Nam...”
Ngày nay, nghệ sĩ thổi sáo nổi tiếng của nước ta Đinh Thìn đã làm một cuộc hành trình từ... lưng trâu vào nhà hát. Nghĩa là tình cờ người ta phát hiện tài năng của anh khi còn là một chú bé chăn trâu say mê thổi sáo trên đồng làng.
Nước ta có hơn 70 loài tre, trúc khác nhau, từ mấy loài kiểng xinh xinh đến các loài mọc rất hùng dũng ở rừng núi. Có loài chỉ cao một, hai mét, thân không đến một xăng-ti-mét; có loài lóng rất dài đến hơn một mét, cũng có loài lóng thật ngắn, xít xít vào nhau nhặt hơn đốt ngón tay em bé. Có loài cơm rất dày gần như đặc ruột, như tầm vông. Có loài vừa nhỏ, vừa đặc ruột, vừa cứng dùng làm cán dù, làm gậy..., cầm rất thích tay. Nhưng cũng có loại mỏng cơm, thân lại suôn, ta có thể dùng làm tách, làm ly, làm hộp đựng trà, đựng kẹo, cắm hoa, hoặc làm ống đũa... rất đẹp. Ở các tỉnh miệt sông Tiền, sông Hậu người ta còn dùng loại tre mỏng cơm này làm ống trúm bắt lươn.
Cũng có những bộ xa lông làm bằng tre, người nước ngoài rất ưa chuộng.
Tay người như có phép tiên,
Trên tre nứa cũng dệt nghìn bài thơ.
Bạn sợ mọt à? Khỏi lo, rất dễ trị. Chỉ cần vùi tre dưới bùn một thời gian là trừ được mối mọt liền. Ở miệt Cà Mau, có gia đình dùng nhiều dụng cụ bằng tre, trúc, trước đó cũng chẳng phải ngâm nước, ngâm bùn gì, mà mối mọt, bù sè... cũng tránh xa. Chẳng có phép bùa gì. Đây là xứ muỗi, ngày ngày bếp un luôn tỏa khói... Khói bám vào mây, tre, lá... riết rồi cũng diệt ba thứ côn trùng có cái răng cứng như sắt thép ấy... Nhưng thời đại khoa học ngày nay đã có hóa chất, cần gì phải ngồi chờ vớt tre dưới mương ụ lên mới đi vào sản xuất.
Nhưng mà thôi, chuyện tre, trúc kể đến bao giờ mới hết. Đã có nhà địa lý người nước ngoài cho rằng nền văn minh châu Á, trong đó có nước ta, là một nền văn minh dựa trên tre nứa đó sao?
Khi quân Pháp chiếm thành Gia Định (18-2-1859), Nguyễn Đình Chiểu rời Bình Vi về quê vợ ở làng Thanh Đa, huyện Phước Lộc, tỉnh Gia Định (nay thuộc xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An). Tại đây, tác giả Lục Vân Tiên đã sống trong tình yêu và niềm kính phục vô bờ, qua bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã chân thành cất tiếng khóc thương những người nông dân mộ nghĩa. Cả hai lẽ riêng chung, đã khiến Cần Giuộc trở thành một phần máu thịt trong cuộc đời thơ văn của nhà thơ mù yêu nước Nam Bộ:
Ngoài cật một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi, trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ...
Như vậy ngọn tầm vông ra đời ở mảnh đất này đã lâu. Nhưng đợi đến Nam Kỳ khởi nghĩa (23-11-1940) và Nam Bộ kháng chiến (23-9-1945) thì cây tầm vông vạt nhọn mới thật sự trở thành biểu tượng cho tinh thần bất khuất của người dân ở xứ này.
Xin nhắc lại câu chuyện vui trong ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Đó là năm 1946. một lần, tên quan ba Đờ Săm-bô-răng đồn trưởng Cao Lãnh (Sa Đéc) cho lính dồn dân về chật sân đồn, trước các họng súng đã dàn sẵn. Sau khi cho lính phát hỏa vài cỡ súng để cho dân chúng thấy rõ “sức mạnh” của quân đội viễn chinh Pháp, hắn bắt đầu diễn thuyết, khuyên dân chúng chớ có khờ khạo nghe lời Việt Minh, đi theo Việt Minh mà vạ lây. Sau đó, tên Săm-bô-răng cầm một cây gậy tầm vông lên cười khẩy:
- Đây là sự thật quá rõ ràng. Tự các người cũng đoán được, cái thứ gọi là vũ khí này thì làm sao mà đối địch được với các cỡ súng kia. Nhất định Việt Minh sẽ bị nghiền nát như cây gậy ốm yếu này bị bẻ gãy!...
Nói xong, hắn giang hai tay nắm hai đầu gậy tầm vông bẻ gập lại. Nhưng lạ thay, cây tầm vông chỉ hơi uốn mình mà không gãy. Thằng Tây bắt đầu nghiến răng, trợn mắt cố lấy sức làm lại. Nhưng cây tầm vông vẫn cứ trơ trơ! Bà con ta cười ồ lên! Thằng Tây bực tức, dùng hai tay chập lấy một đầu chiếc gậy giơ cao, rồi dồn sức mạnh đập xuống thềm gạch. Bất thần chiếc gậy bật lên, đánh “cốp” vào giữa trán, làm hắn ngã ngửa. Bà con ta lại thêm một trận cười nôn ruột...
Câu chuyện trên đây có thật hay là chuyện vui kháng chiến? Điều ấy ta không cần tranh luận. Ý nghĩa ở đây là thằng Tây mầy đừng làm tàng ỷ có súng to, súng nhỏ mà coi thường chiếc gậy bình thường của xứ sở này. Tên quan ba hoàn toàn không biết tầm vông là “trường côn” trong họ hàng nhà tre. Ở Nam Bộ, nhất là các tỉnh miền Đông, Củ Chi những bờ tầm vông vươn cao, trông rất hiên ngang, hùng dũng... Dáng tầm vông đứng thẳng, không gai, không có nhiều nhánh mọc um tùm như tre. Ruột tầm vông đặc, ở giữa có cái lỗ nhỏ bằng đầu đũa. Cây tầm vông đực nhỏ hơn một chút, choắt lại và mắt khít. Người ta thường chọn cây đực để làm roi, làm thanh gài cửa (nếu cần nó trở thành vũ khí ngay lập tức), làm đòn xóc gánh lúa, lưỡi giáo, lưỡi mác cũng được tra bằng cán tầm vông... Càng xài càng rắn chắc, càng đanh lại, và “lên nước” đến mát tay. Có khi cả đời, người ta chỉ dùng mỗi chiếc cán dao bằng khúc tầm vông bền bỉ, dẻo dai ấy.
Năm 1949, trung đoàn lê dương của Pháp đóng ở vùng châu thổ sông Cửu Long được đọc một tạp chí Chiến tranh du kích (Guerilla), trong đó có một đoạn dạy cho lính biết: “Các bạn hãy coi chừng! Trên các đường làng hay ngoài cánh đồng, khi gặp những người dân gánh lúa, đừng thấy cái vẻ nhu mì của họ mà lầm. Có thể trong chốc lát, họ rút cây gậy tròn (ám chỉ cây tầm vông) làm đòn gánh kia, hai đầu của nó nhọn lễu có thể đâm ngay vào bụng trong khi chúng ta chưa kịp lên cò súng...”
Một đoạn khác: “...Trên cái đất đai chết tiệt này, một mũi tên, một cây chông (từ tầm vông hoặc tre) trong tay của họ (chỉ du kích Việt Nam) đã có thể làm cho chúng ta hao hụt phân nửa quân số trước khi gặp phải quân chính quy của họ”.
Vậy là chúng ta nhìn lại bộ mặt kinh hoàng của hai tên đế quốc Pháp và Mỹ đối với một loại vũ khí thô sơ của ta: Mũi chông và ngọn tầm vông, cách nhau một thời điểm không xa mấy.
Trong kháng chiến chống Mỹ, tại một làng quê Hà Tây, nhân dịp tiễn những thanh niên lên đường vào Nam chiến đấu, các cụ già đã long trọng trao cho mỗi chàng trai một cây gậy tre để giúp đôi chân thêm dẻo dai trên đỉnh Trường Sơn. Chiếc gậy Trường Sơn ấy đã đi vào bài hát mà hôm nay nghe lại vẫn còn giục giã ta như thường.
Nhưng tre, trúc và tầm vông của ta đâu chỉ dành riêng để đánh giặc. Người ta dùng măng tre làm món ăn (tre tàu, tre mỡ, tre mạnh tông...) cho ta mụt măng ngon, lá tre làm thuốc trị bệnh, thân tre làm cầu bắc qua sông rạch, ao, làm cột kèo, đòn tay, khung cửa, vách nhà (Tháng 4-1975, trong cuộc thi kiến trúc quốc tế tổ chức ở thủ đô Tây Ban Nha, sinh viên Đại học Việt Nam học khoa kiến trúc ở Cu Ba tham dự và đoạt giải nhất bằng một phương án thiết kế bắt nguồn từ tre). Trong nghệ thuật thư pháp cũng như hội họa trong nhiều thế kỷ từng được trân trọng ở các nước Đông Nam Á cũng như ở Việt Nam, không thể nào phát triển nếu như không có những cây bút làm bằng ống trúc, những tờ giấy chế bằng bột tre. Tre, trúc còn làm mành mành, chiếc nôi đưa trẻ, lồng chim, cần câu, ống máng hứng nước, làm bàn ghế, mui ghe xuồng, bè mảng, đòn gánh, cán dao, cán mác, cán chổi, dùng để đan quạt, thúng rổ, dần, sàng, nia, ống điếu, chiếc diều, cây sáo trúc, cho đến cả đôi đũa, cây tăm... Một ống tre bông dùng để cán bánh phồng, quấn chỉ, hay dùng cất tờ khai, tờ mua đất, mua vườn, tờ khai sanh... cho thẳng thớm, một vật gần gũi đối với nông thôn Nam Bộ. Nhưng không hiểu sao mươi năm trở lại đây, tre bông lại vắng bóng trong mảnh vườn quê ta?
Ngày trước, có ai nghĩ rằng rổ rá, thúng mủng ở ta lại xuống tàu hoặc lên máy bay đem đi bán cho nước ngoài? Nếu có nghĩ thì chắc cũng ít người có tầm nghĩ lớn lao và xa vời như vậy. Thế mà nay, việc đó chẳng những là việc của đất nước, của khu vực, một tỉnh, một thành phố, ngay trong một xóm, một ấp cũng thành lập riêng cơ ngơi để làm nhiệm vụ đó. Tại ấp Mũi Lớn, xã Tân An Hội thuộc huyện Củ Chi, cách Sài Gòn vài chục phút đường xe hơi, hàng năm xuất hàng chục ngàn rổ rá xuất khẩu. Riêng năm 1985, sản xuất một trăm ngàn bộ. Cái nghề truyền thống này ngỡ rằng chết luôn cùng với bụi tre, bụi trúc, bụi tầm vông ở Mũi Lớn trong chiến tranh. Nhưng may thay, bà con khôi phục lại. Khi chúng tôi đến thăm thì Mũi Lớn đã có hơn 300 gia đình có người làm nghề này. Để có một bộ rổ rá đủ tiêu chuẩn xuất khẩu đâu có dễ. Từ khâu đầu tiên chọn tuổi cây tầm vông, tre, trúc như thế nào rồi phải chẻ nhỏ ra và vót thành nan cho mềm mại, dai và bóng mượt ra sao. Có nan, có vành rồi thì gầy sườn, dát lận, lận vành, nức vành... khó nhất là khâu lận vành. Chỉ đôi tay và cặp mắt thôi nhưng phải “lận” sao cho chiếc rổ tròn đều, cứng cáp... Làm cái gì cũng vậy, đòi hỏi có tay nghề phải thiệt yêu nghề, sống chết với nghề mới làm nên công chuyện, mặc dù chỉ là nghề đan rổ, đan rá. Đúng là vào việc mới biết thợ hay. Một nghệ nhân ở đây nói vui: không biết ở Thụy Sĩ thợ làm đồng hồ tỉ mỉ, chính xác đến mức độ thế nào, chớ nghề đan hàng tre trúc xuất khẩu ở đây tỉ mẩn đến từng ly, từng tí chớ chẳng phải “hoa lá cành” được. Trong đám thợ lâu năm chúng tôi, không phải ai cũng biết vót nan. Vót một cọng nan coi cho được mắt phải ăn hết cơm hết gạo...
Việt Nam ta có những câu Tre già măng mọc; Tre già để gốc cho măng hay Tre già yêu lấy măng non... Tre già yêu lấy măng non là đề tài bộ phim truyền hình đầy xúc động nói về trẻ em Việt Nam mà người trực tiếp thực hiện bộ phim này là Ca-rin Brao, nữ nghệ sĩ điện ảnh, đảng viên Đảng cộng sản, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng ở Cộng hòa Liên bang Đức. Ca-rin Brao biết mình đã lâm vào cơn bệnh hiểm nghèo không qua khỏi, nhưng vì xúc động những câu tục ngữ trên, vì yêu mến thiếu nhi Việt Nam, chị xin bằng được đến Việt Nam để hoàn thành bộ phim mà chị đã ấp ủ. Nguyện vọng của chị đã được thực hiện. Trước khi đoàn làm phim kết thúc những cảnh quay cuối cúng thì Ca-rin Brao trở bệnh. Chị lên đường trở về quê hương Phran-phuốc của chị. Về đến Tổ quốc hôm trước thì hôm sau, trái tim của người cộng sản 46 tuổi còn dang dở sự nghiệp Việt Nam ấy đã ngừng đâp!
Cái câu quen thuộc Tre già yêu lấy măng non vẫn còn thủ thỉ mãi bên chúng ta...
Như vậy là tre, trúc, tầm vông của quê Nam mình đã vượt đại dương, vượt không gian bao la đến nhiều phương trời Á, Aâu rồi mà có phải ai cũng biết đâu!
Ngày xuân ở đồng bằng Bắc Bộ đón xuân, mừng xuân, vui xuân bằng cây đu quen thuộc cũng lại bằng tre. Cây đu “Tám cột khen ai khéo khéo trồng” (Hồ Xuân Hương). Tám cây tre đực chắc chắn, được tuyển lựa hết sức kỹ càng, đủ cho sức nhún, sức rướn của một cặp thường là một trai, một gái. Tám cột tre chụm đầu vào nhau, chân dạng ra hai phía đối xứng, mỗi bên bốn cây. Từ trên ngọn đu, hai thân tre thật đẹp, thật tốt buông thõng xuống. Người đánh đu tưởng chừng như tâm hồn được bay bổng vào không trung. Còn người ngồi coi thì hồi hộp không kém phần thú vị khi “trai đu gối hạc khom khom cật”, khi “gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng” và “hai hàng chân ngọc duỗi song song”...
Cho nên có thể nói, từ lúc lọt lòng cho đến khi trở về cát bụi, con người Việt Nam xưa kia cũng như hiện nay không lúc nào là không sử dụng hoặc tiếp cận với họ hàng nhà tre trúc. Ở nước ta, có hai loài cây thân thiết nhất là cây lúa và cây tre. Hai cây ấy lại có họ hàng với nhau về mặt thực vật học cũng như về công dụng cần thiết của nó.
Trong sinh hoạt và chiến đấu của người Nam Bộ, tre trúc nói chung, cây tầm vông nói riêng đã trở thành một biểu tượng thân thương, gần gũi biết nhường nào. Có một bài vè cũng đã lấy tên tầm vông làm câu mở đầu:
Tập tầm vông
Chị lấy chồng
Em ở giá
Chị ăn cá
Em ăn xương...

(Rút trong sách Xứ sở phù sa,
NXB Cửu Long, 1986)
CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ...

Sau khi tốt nghiệp khoa ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tôi được phân công về công tác ở Ban miền Nam của báo Nhân Dân, nghĩa là một Ban chuyên viết và biên tập những tin bài về cuộc kháng chiến chống Mỹ của đồng bào miền Nam. Đó là năm 1967. Năm ấy, tôi 27 tuổi. Tại đây, tôi được phân công cùng nhà báo Hoàng Tuấn Nhã chuyên đi viết những mẩu chuyện về cuộc chiến đấu ở miền Nam mà hồi ấy các anh thường gọi viết về chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Đối với tôi như thế là quá lớn, quá sức. Tôi không được vào miền Nam, thì lấy tài liệu ở đâu để viết? Mà yêu cầu của những bài viết phải từ những người thật, việc thật và viết sao cho sinh động, dễ đi vào lòng bạn đọc, như người trong cuộc.
Trong những năm tháng ấy, hậu phương lớn đón tiếp nhiều đoàn đại biểu của miền Nam ra thăm miền Bắc. Nhiều anh hùng dũng sĩ, cán bộ, chiến sĩ và đồng bào miền Nam ra Bắc công tác, học tập hoặc chữa bệnh. Đó là ở các đơn vị được mang mật danh K5, K15, bệnh viện E1, E2, các trường văn hóa ở Từ Hồ, Tam Đảo, Ban đón tiếp T.72 ở Sầm Sơn (Thanh Hóa)... Ở đó, có biết bao tấm gương tiêu biểu cho cuộc kháng chiến ở tuyến đầu Tổ quốc trong những năm đất nước tạm thời bị chia cắt. Tại Hà Nội, chúng tôi được gặp và nghe các Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh Đình Thảo, các vị Phùng Văn Cung, Nguyễn Thị Định, các chị Tạ Thị Kiều, Võ Thị Thắng, Phan Thị Quyên và hàng trăm anh hùng, dũng sĩ, cán bộ, chiến sĩ kể nhiều chuyện nóng bỏng về cuộc kháng chiến ở miền Nam. Nhưng thể hiện ra bằng chữ nghĩa của những bài báo không phải dễ dàng đối với tôi. Vì đặt ngòi bút để viết về một trận đánh, viết về một dòng kênh, một con sông, về bóng dừa xiêm, về trái sầu riêng, trái vú sữa, hoặc những hàng me trên đường phố Sài Gòn; hoặc chiếc áo bà ba, chiếc khăn rằn... thật là khó khăn, vất vả. Bởi vì, như đã nói, tôi tập kết ra Bắc lúc 15 tuổi, tôi chỉ lưu giữ được trong trí nhớ những xúc cảm về quê nhà chứ không nhiều tư liệu phục vụ cho nghề nghiệp. Những hình ảnh về miền Nam ở trong tôi rất lờ mờ hoặc hoàn toàn mù tịt, nhất là những phong tục, tập quán của từng vùng đất, của mỗi địa phương.
Để bù lại những thiếu hụt ấy, tôi bắt tay vào làm tư liệu. Tôi đọc và cắt dán lưu giữ lại những gì mà mình chưa biết về miền Nam để “làm vốn”khi cần thiết. Cứ cần mẫn đọc và cắt dán, cứ kiên trì ghi chép đều đặn từ ngày này qua tháng khác, từ năm này sang năm nọ, và cuối cùng có được một vốn liếng mơ ước. Nhờ đó, tôi đã viết gần 1.000 bài báo về miền Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ chỉ qua lời kể lại, mà ít gặp khó khăn về những chi tiết trước đó ngòi bút còn ngần ngại, đắn đo.
Nhân đây, cũng xin được kể, là lúc bấy giờ, tất cả những bài viết, tôi ký tên là Trần Thanh và bao giờ phía dưới cũng có hai chữ “miền Nam” đặt trong ngoặc đơn, ý muốn nói là bài từ miền Nam gửi ra. Bài của Hoàng Tuấn Nhã thì ký Phong Vũ, tên của hai người con anh ấy. Bài của chúng tôi in ra, hầu như đều được Đài phát thanh Giải phóng hoặc Đài Tiếng nói Việt Nam đọc.
Có một kỷ niệm trong những năm làm “phóng viên chiến trường” nhưng ở hậu phương, là ngày 16-12-1968, báo Nhân Dân đăng một bài hơn 1.000 chữ với tựa đề “15 tuổi, hai lần dũng sĩ”, cũng ký tên Trần Thanh. Báo vừa phát hành, anh Trần Kiên lúc bấy giờ là Trưởng Ban miền Nam của báo Nhân Dân gọi tôi và hỏi: “Anh lấy tài liệu ở đâu để viết bài này? Đồng chí Tố Hữu cần gặp tác giả bài báo”. Tôi hoảng quá, mình mới vào nghề, nhà thơ Tố Hữu lúc ấy là Trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương, đọc và hỏi tôi về nội dung một bài báo nhỏ của mình, tôi không khỏi lo lắng và báo cáo lại nhân vật và nội dung câu chuyện của bài báo để Ban biên tập báo với đồng chí Tố Hữu. Sau đó, anh Trần Kiên cho hay rằng, đồng chí Tố Hữu hỏi như vậy để biết mà liên lạc với nhân vật trong bài báo, vì  thấy câu chuyện thú vị và em thiếu nhi 15 tuổi ấy lại là đồng hương với nhà thơ. Tôi thở phào. Vài ba tuần sau, tôi được đọc bài thơ Chuyện em... theo thể lục bát dài 112 câu của nhà thơ Tố Hữu, mở đầu bằng câu:
Tên em là Nguyễn Văn Hòa
Mẹ em thì gọi em là cu Theo...
Người ta thường nói, trên đời này nghề nào chân chính cũng cao quý và đáng trân trọng. Nhưng nghề báo quả là nghề đầy gian khổ, nhưng rất vẻ vang. Ngay từng con chữ văn chương của báo chí phải có độ chính xác cao và trong sáng. Muốn thế, dấu chân người làm báo phải in trên nhiều nẻo đường của đất nước và có sự rung động thật sự mới chuyển hết những gì mình đã nghĩ, đã cảm. Và muốn thể hiện được điều đó, một trong những yếu tố hàng đầu là phải tích lũy tư liệu. Vì đó là nguyên liệu để làm nên sản phẩm một bài báo.
Lời khuyên này, tôi chỉ dám dành cho những bạn trẻ mới bước vào nghề báo. Mong các bạn hãy bắt tay thật nhanh vào việc chuẩn bị hành trang cho nghề nghiệp của mình, vì thời gian sẽ trôi qua rất mau. Khi tôi cảm nhận được những gì cần thiết cho nghề nghiệp thì đã đến tuổi nghỉ hưu.

(Nguyệt san Đại Đoàn Kết, số tháng 6-2005)

sau liên tiếp đăng tải 10 bài bút kí, NLG xin tạm ngừng ở đây. Các bạn quan tâm xin tìm mua "Về nhà mình xa quá, Má ơi" của Trần Thanh Phương (nxb Tổng hợp TPHCM). Xin chân thành cảm ơn tác giả.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét