Xuân Tân Mão

Xuân Tân Mão
Đảng và Chính phủ luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng với tất cả hoạt động, việc làm của người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia (TTg NT Dũng).

06 tháng 7 2011

HẠT BỤI NÀO HÓA KIẾP THÂN TÔI ĐỂ MỘT MAI TÔI VỀ LÀM CÁT BỤI…

HẠT BỤI NÀO HÓA KIẾP THÂN TÔI
ĐỂ MỘT MAI TÔI VỀ LÀM CÁT BỤI…

Trần Thanh Phương

3 giờ chiều chủ nhật 1-4-2001, cô bạn đồng nghiệp gọi dây nói cho tôi, báo tin: Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã qua đời cách đây vài tiếng đồng hồ. Tôi biết Sơn lâm bệnh từ nhiều năm nay, và gần đây, anh vào nằm ở bệnh viện Chợ Rẫy vì sức khỏe rất xấu. Biết vậy, nhưng tôi vẫn chưa tin, vì hôm nay là ngày 1-4. Tôi gọi điện thoại sang nhà Sơn ở 47C Phạm Ngọc Thạch thì gặp Hà, em của Sơn, Hà nghẹn ngào: “Sơn mất rồi!”.
Trong giờ phút đau buồn này, tôi xin nhắc lại đôi chút về người cha của Trịnh Công Sơn mà ít người biết. Một lần Sơn bộc bạch với bạn bè: có những điều vừa mới xảy ra đã vội quên. Thời thơ ấu của tôi luôn luôn bị ám ảnh về cái chết. Trong giấc ngủ hàng đêm, tôi thường thấy cái chết của ba tôi.
Nỗi ám ảnh ấy chắc hẳn không bắt nguồn từ lớp dày tro bụi của vô thức làm nên từ những cái chết của tổ tiên mà có lẽ từ những năm tù tội tra tấn chết đi sống lại của ba tôi, trong kháng chiến chống Pháp. Những năm cuối thập niên 40, chỗ ở chính của ba tôi gần như là nhà tù. Và cái trò chơi “đo lường thể xác” của những tên cai ngục thường buộc ba tôi phải nằm dài trên giường bệnh nhiều hơn  là đi chân trên mặt đất. Thời gian này, tại Huế, mẹ tôi và tôi thay nhau đi thăm nuôi và năm 1949, tôi được vào nhà lao Thừa Phủ ở cùng ba tôi một năm trước khi gia đình kéo về Sài Gòn.
Rõ ràng là cái chết ấy được báo động qua một tâm hồn nhạy cảm của tuổi thơ. Ba Sơn mất đi khi anh vừa 15 tuổi. Sau này rất nhiều bài hát đầu đời của Sơn đã phảng phất cái không khí vắng lặng của sự mất mát. Càng về sau, lúc tiến dần về tuổi trưởng thành, giữa bức xúc của cuộc sống, giữa những năm tháng buồn vui, nỗi ám ảnh ấy đã trở thành lúc nào không hay ngọn nguồn của một nỗi âu lo thường trực và sự vắng bóng con người.
Anh hát lên lòng nhân ái đó, đã hát lên trong một thời niên thiếu và mãi mãi. Anh đi sâu vào cội rễ của nó để cố gắng hoàn thiện một tiếng hát mới mẻ đầy nhân hậu cho những ca khúc của riêng anh, như ta đã biết và đã hát.
Tôi là một đứa bé thích hát – sinh thời, Sơn tự bạch: Ngạn ngữ Pháp có nói rằng, cái gì bắt đầu tốt thì sẽ kết thúc tốt. Tôi không hiểu trong những địa hạt kinh tế, xã hội, khoa học như thế nào, nhưng trên lĩnh vực văn nghệ đôi khi hoặc nhiều khi nó không hoàn toàn như thế. Có không ít những trường hợp người nghệ sĩ đã khởi đầu rất hay và kết thúc rất tệ.
Tôi bước chân vào đất đai nghệ thuật tương đối sớm. Từ tuổi 13, 14 tôi đã làm những lưỡi sóng liếm láp mạn thuyền văn nghệ. Trước đó, 10 tuổi, biết chép lại những bài hát yêu thích, đóng thành tập, chơi đàn măng đô lin. 12 tuổi có cây đàn ghi ta đầu tiên trong đời và từ đó sử dụng ghi ta như một phương tiện quen thuộc để đệm cho chính mình hát. Trong huyết quản tôi, có thể thời ấy đã luân lưu những lượng máu bất bình thường. Và từ đó tôi rơi vào một cơn mộng mị triền miên. Tôi nhớ mình đã viết những ca khúc đầu tiên từ những đòi hỏi tự nhiên của tình cảm thôi thúc bên trong. Ca khúc là đời sống thứ hai sau cái thân thể mà cha mẹ đã sinh thành ra Trịnh Công Sơn. Bài hát đầu tiên của anh do nhà xuất bản An Phú phát hành năm 1959 tại Sài Gòn, do Thanh Thúy hát quanh những phòng trà. Đó là những cảm xúc được ghi lại từ những giọt nước mắt của ca sĩ nữ sinh vừa rời ghế nhà trường. Hát để kiếm tiền nuôi mẹ đang hấp hối bên giường bệnh.
Trịnh Công Sơn gốc Huế, sống tại Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh, nhưng lại chào đời ở Đak Lăk. Anh là một nghệ sĩ tài hoa. Lời của ca khúc họ Trịnh đầy tính triết lý về cuộc đời, về thiên nhiên, trời đất. Nói về con người, người đẹp của Sơn phải là người gầy, không gầy thì không đẹp. Ví dụ: Vai gầy: Tuổi nào vừa thoáng buồn do gầy vai (Còn tuổi nào cho em). Tay gầy: Bàn tay em năm ngón ru trên ngàn năm, trên mùa lá xanh, ngón tay em gầy nên ru mãi trên ngàn năm (Ru em từng ngón xuân nồng). Đóa hoa hồng tàn hôn lên môi em gầy ngón tay dài (Tuổi đá buồn). Gầy và xanh: Mưa vẫn mưa bay trên từng tháp cổ, dài tay em mấy thuở mắt xanh xao (Diễm xưa) hoặc: Bàn tay xanh xao đón ưu phiền (Nắng thủy tinh)… Bài hát Nhớ mùa thu Hà Nội  của anh có thật nhiều chi tiết khiến cho ai đã từng thân thương Hà Nội đến phải sững sờ: “Cây cơm nguội vàng… cây bàng lá đỏ…những con đường nhỏ nằm chờ tôi qua và những con sâm cầm cất cánh trên Hồ Tây… Rất ít ai hạ bút viết được những ý này như Sơn. Giai điệu âm nhạc của anh thì ai cũng cảm thụ được. Cũng cái đẹp này, Khánh Ly viết: “Tôi không nhớ Hà Nội bao nhiêu. Không yêu Sài Gòn nhiều lắm mà chỉ xót xa đến Huế nóng cháy da, mềm thịt. Huế lạnh buốt, lạnh từ trong lạnh ra. Dường như Huế chỉ thực sự huyền ảo, đẹp nên thơ bởi những nghệ sĩ viết về quê hương mình. Có lẽ đó là điều dĩ nhiên của mọi người, mọi miền khi viết về nơi mình sinh ra. Âu  cũng không phải điều làm ta ngạc nhiên. Nhưng không phải vì những điều người Huế viết về người Huế đã làm tôi yêu Huế. Vì như vậy thì tôi phải yêu Hà Nội nhiều hơn mới có lý. Phải yêu Sài Gòn hơn, Đà Lạt hơn mới phải. Vậy mà tôi yêu Huế, thỉnh thoảng gặp lại một vài người bạn tôi năn nỉ Mi noái cho tau nghe chút chi cho đỡ nhớ. Con gái Huế nói như hát, dịu dàng, đi đứng khép nép, nhẹ nhàng. Có một cái gì thật mong manh, như tơ, như sương khói, nhưng một điều không có thật trong con người của các cô gái Huế. Tôi có cảm tưởng họ không phải là sự hiện hữu. Một chút hương khói hư ảo chập chờn. Chỉ một tiếng động khẽ, dù là tiếng rơi của một chiếc lá, cũng làm tan biến đi tất cả…”. Cho nên cái vẻ mong manh như sương khói của Huế là một sức mạnh cường tráng và dữ dội của thác ghềnh. Như nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn, mơ màng đó, sương khói đó, nhưng không tan biến theo thời gian mà vẫn đọng, vẫn chảy trong lòng người.
Nhiều cụm từ trong nhạc sĩ Trịnh Công Sơn dường như đã đáp lại tiếng thì thầm nhu mì, ảo diệu của thiên nhiên và để kịp ghi những sắc thái bí ẩn mà vũ trụ lưu lại: vết lăn trầm, màu xanh lá vội, ngón tay rêu, cọng buồn cỏ khô, cụm chiều, ngón xuân nồng, nụ đời, phiếu môi em mềm… Những sáng tạo ngôn từ của Sơn sáng tạo mà không cầu kỳ, ngẫu nhiên mà không tùy tiện, giàu chất suy tưởng mà không duy lý, bởi chúng thấm nhuần cái tinh thần sống động tươi xanh mềm mại của thiên nhiên…
Các tuyển tập: Ca khúc da vàng; Kinh Việt Nam; Ta thấy mặt trời; Cỏ xót xa đưa; Như cánh vạc bay; Khói trời mênh mông; Tự tình… trong các thập niên 60-70, được nhiều thế hệ thanh niên, sinh viên, học sinh yêu thích, đặc biệt ca khúc Nối vòng tay lớn được chọn hát trên Đài tiếng nói nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trưa ngày 30-4-1975, giờ phút miền Nam hoàn toàn giải phóng. Sau ngày đất nước thanh bình, đã mở ra những chân trời mới trong sáng tác của người nghệ sĩ. Ngoài sáng tác ca khúc, anh còn viết báo, viết văn, làm thơ với bút pháp trau chuốt, mượt mà, tinh tế, với vốn kiến thức uyên thâm, được nhiều nhà văn, nhà báo đánh giá cao. Ở giai đoạn này, về ca khúc đáng chú ý nhất là: Huyền thoại mẹ; Em ở nông trường em ra biên giới; Sài Gòn mùa xuân; Nhớ mùa thu Hà Nội; Muôn trùng biển khơi; Hoa vàng mấy độ; Tôi ơi đừng tuyệt vọng; Đồng dao năm 2000; Bốn mùa thay lá… anh còn viết nhiều nhạc cho phim.
Lúc còn sống, anh tâm sự với bạn bè rằng, cả cuộc đời tôi đi vào âm nhạc, có buồn, có vui, nhưng vẫn thủy chung. Tôi đã cố gắng trong khả năng của mình nói hết những điều cuộc đời đã hé mở cho tôi và tôi cũng đã trải lòng mình không giấu diếm. Trong cuộc chơi này, có lúc tôi thấy đời với tôi là một. Chỉ có một điều không có gì an ủi nổi là tôi thì không già đi mà đời cứ trẻ mãi!... Trong tự bạch của mình, Trịnh Công Sơn viết: “Nhìn lại quãng đường mình đi, tôi cảm thấy không có gì phải ân hận. Tôi vẫn là đứa trẻ thơ trong nghệ thuật, lòng còn tràn đầy cảm hứng. Tôi vẫn còn ham mê học hỏi quanh mình và còn đủ hào hứng mở ra những cuộc đối thoại với cây cỏ thiên nhiên, với con người, qua ca khúc dưới ánh sáng hiền hòa nhân hậu của những ngày tôi đang sống.
Phải chờ đến lúc soi gương nhìn thấy tóc không còn mang màu xanh cũ nữa mới nhận ra được hết nỗi khát khao được yêu thương mãi mãi con người và cuộc sống. Yêu thương con người cũng là yêu thương tiếng hát, bởi vì tiếng hát mang trong nó tâm hồn của con người. Tiếng hát sẽ mọc lên xanh tươi rên cuộc đời này như những cây tử đinh hương mọc tràn thơm tho trên những cánh đồng vô tận.
Với ca khúc, tôi là người tình của thiên nhiên, là người bạn của những em bé. Qua ca khúc, tôi đã đến gần và đã đi xa những chuyện tình, đã tham dự những nỗi hân hoan của đời  người và cũng gánh nhẹ dùm những phiền muộn.
Ca khúc là đời sống thứ hai sau cái thân thệ mà cha mẹ đã sinh thành…”.
Anh còn vẽ tranh. Uống rượu và vẽ tranh, vẽ tranh và uống rượu, hay cả hai cùng chia sẻ với anh nổi quạnh hiu đêm đêm. Những thập niên cuối đời, Trịnh Công Sơn vẽ tranh là một hoạt động hào hứng và thường xuyên. Ngoài một tài năng lớn về âm nhạc, Sơn còn là một họa sĩ có phong cách hội họa hiện đại quyến rũ vượt trội mặc dù không hề qua trường lớp mỹ thuật nào. Cũng như âm nhạc, tài năng hội họa được bộc lộ mạnh mẽ trên các tác phẩm sơn dầu của anh, nhất là những tác phẩm vẽ chân dung hoặc khỏa thân. Trịnh Công Sơn là một tài năng bẩm sinh. Thật ra anh có khả năng lớn để đi theo con đường nghệ thuật tạo hình từ những năm cuối của thập niên 50; anh đã từng thực hiện một số tranh bằng bột màu. Một trong những bức tranh thời đó còn lưu lại là bức vẽ B Diễm (Diễm xưa) với hàng cây long não phía sau bằng một gam màu lạnh…. Có lần anh trả lời phóng viên báo Đại Đoàn Kết: “Tôi không thấy có ranh giới nào giữa thế giới âm thành và thế giới im lặng cả. Những gì không nói được bằng ngôn ngữ của âm nhạc thì tôi nhờ đến ngôn ngữ màu sắc. Nếu cả hai phương tiện này cũng chưa chuyên chở hết những suy nghĩ của tôi về đời và con người thì tôi lại phải tính đến văn chương”.
Người nhạc sĩ tài hoa 62 tuổi ấy có sức hút lạ lùng, mạnh mẽ. Chỉ cần với tên gọi đơn giản của chương trình “Đêm nhạc Trịnh Công Sơn cũng đủ để người đến đông nghẹt. Nhưng Sơn ơi, anh đã nằm xuống, âu cũng là một cõi đi về, nhưng chắc chắn âm thanh của âm nhạc sẽ bay xa mãi và còn vang vọng trong lòng nhiều thế hệ.
Ngày còn sống, Sơn đã mơ thấy chuyến đi xa của mình. Anh đã viết trước thành câu chữ về chuyến đi đó như sau: “Càng sống nhiều, người ta càng thấy cái chết dễ dàng đến với bất cứ ai. Chết quá dễ dàng mà sống là quá khó. Hôm qua gặp nhau đấy, ngày mai lại gặp nhau. Sống thì có hẹn hò hôm nay, ngày mai. Chết thì chẳng bao giờ có cuộc hẹn hò nào trước. Một buổi sáng cách đây 4 năm (Bản tự bạch này đăng ở  đặc san Thơ số 3 của quý III năm 2003 ở phụ trương báo Văn nghệ Hội nhà văn Việt Nam), lúc tôi đang ngồi uống rượu với bạn, mẹ tôi bảo “Má đi chơi một chút nghe”. Thế rồi một giờ sau, tôi được điện báo tin mẹ đã mất ở nhà người bạn.
Nhạc sĩ Xuân Hồng cũng đã từ biệt chúng tôi như thế. Không kịp nói một lời, không kịp đưa tay vẫy chào bạn bè, vẫy chào cuộc sống. Thế kỷ XXI thế mà cũng khó đến được, dù chỉ còn mấy năm.
Càng yêu ta càng thấy: Có tình yêu thì khó mà mất tình yêu quá dễ. Hôm qua nói yêu nhau đấy, hôm nay đã mất rồi. Mất sạch như người buôn mất đi vốn liếng. Cứ tự an ủi mình rằng mình đau khổ thì có một kẻ khác đang hạnh phúc. Và biết đâu cái thời gian mình được yêu thì một người khác đang đau khổ vô  cùng. Nghĩ thế thì thấy cuộc đời bỗng nhẹ nhàng hơn và cũng dễ tha thứ cho nhau. Sống mà giữ mãi trong lòng hờn oán thì cũng nặng nề.
Có người bỏ cuộc đời đi mà như một giấc ngủ quên. Có người bỏ cuộc tình đi như người đãng trí. Dù sao cũng đã lãng quên một nơi này để đi về một chốn khác. Phụ đời và phụ người hình như cũng vậy mà thôi. Người ở lại bao giờ cũng nhớ thương một hình bóng người đã mất. Khó mà quên nhanh, khó mà xóa đi trong lòng một nỗi ngậm ngùi.
Tưởng rằng có thể quên đi dễ dàng  một cuộc tình, nhưng hóa ra chẳng bao giờ quên được. Mượn cuộc tình này để xóa cuộc tình kia thì chỉ là một sự vá víu cho tâm hồn. Những mảnh vá ấy chỉ đủ để làm phẳng lặng bên ngoài mà thôi. Mỗi một con người vì ngại chết mà muốn sống. Mỗi con người vì sợ mất tình mà giữ trong lòng nỗi nhớ nhung…”.
Để kết thúc cho bài viết này, tôi xin nhắc một chút về “Những người tình” của Trịnh Công Sơn. Cách đây vài năm, một phóng viên hỏi ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh, cô em út của Sơn (Gia đình Sơn có tám anh chị em, ba trai năm gái: Sơn, Hà, Tịnh, Thúy, Tâm, Ngân, Diệu và Trinh. Người cha mất sớm, khi đó Trinh vẫn còn nằm trong bụng mẹ mới được bốn tháng tuổi. Vì vậy, Sơn luôn thương và chăm sóc cho Trinh nhiều nhất), rằng: “Gần đây, một người được cho là người tình cuối cùng của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã đi lấy chồng, không biết gia đình có quan tâm đến điều đó không?”. Ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh cười, đáp: “Người nào cũng đòi làm người tình cuối cùng của anh Sơn hết. Cái đó tôi không biết và cũng không để ý. Anh Sơn là một nhạc sĩ, một bóng hồng đẹp đi qua, anh cũng làm được một bài nhạc hay một bài thơ…”.
Câu trả lời của ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh rất ấn tượng đối với những người nghiên cứu nhân văn. Người tình cuối cùng, người tình đầu tiên, người tình trong giai đoạn X, Y, Z gì gì đó không đáng quan tâm mà chỉ nên lưu ý đến “những bóng hồng đẹp” đã đi qua đời Trịnh Công Sơn và đã giúp cho anh để lại cho đời “một bài nhạc hay bài thơ” mà thôi.
Nếu là mối tình đầu của Trịnh Công Sơn, ta hãy nghe  Sơn kể “Diễm của những ngày qua” được đăng trên báo Gia đình và xã hội cuối tuần số ra từ ngày 12 đến 18-1-2002: “Thuở ấy có một người con gái rất mong manh đi qua những hàng cây long não lá li ti xanh mướt để đến trường Đại học Văn khoa Huế. Nhà cô ấy bên kia sông, mỗi ngày phải băng qua một cây cầu rồi mới gặp hàng long não để đến trường. Từ ban công nhà tôi nhìn xuống, cái bóng dáng đi đi về về mỗi ngày bốn bận. Người con gái ấy đã đi qua một cây cầu bắc qua một dòng sông, qua những hàng long não, qua những mùa mưa nắng khắc nghiệt để cuối cùng đến một nơi hò hẹn. Hò hẹn nhưng không hứa hẹn một điều gì. Bởi vì trong không gian liêu trai ấy, hứa hẹn chỉ là một điều hoang đường. Giấc mơ liêu trai nào cũng sẽ biến mất đi. Người con gái ấy là Diễm của những ngày xưa…”.
Thôi, nhưng đã trót nói thì nói ra cho hết, tuy có hơi dài dòng một chút. Sau gần nửa thế kỷ, hơn 300 bức thư tình mới được chủ nhân của nó – bà Ngô Thị Dao Ánh tiết lộ, hé mở phần sâu thẳm trong trái tim một nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn, gắn với một thời đoạn khai sinh những ca khúc bất hủ về tình yêu và thân phận. Nhân dịp kỷ niệm 10 năm ngày mất của Sơn, nhà thơ Nguyễn Duy, người được gia đình Sơn tin cậy giao phó việc biên tập và xuất bản tác phẩm Thư tình gửi một người, thổ lộ: “Đọc hết 320 lá thư tình, tôi gần như choáng váng. Cảm ơn những người tình như Dao Ánh đã biết gìn giữ tình yêu của anh Sơn trong 46 năm qua, tức là gần nửa thế kỷ Dao Ánh vừa là một tình yêu rất cụ thể, đồng thời là một tình yêu biểu tượng. Một tình yêu cụ thể đã chấm dứt, nhưng biểu tượng tình yêu thì bất tử với thời gian”.
Xin trích một trong những bức thư buồn ấy.

B’lao, ngày 25 – Mars – 1967
Bây giờ đã quá khuya, chương trình chuyên đề về tình yêu còn để lại một vị đắng rất mỏng. Mọi người cũng đã ngủ từ lâu và anh cũng phải quyết định một lần cho Ánh lẫn cho anh. Một quyết định thật khó khăn và chẳng ai trong cuộc dám dứt khoát với chính mình. Quyết định nào cũng có sự khổ sở của nó. Anh cam đành là kẻ bội bạc để mở ra cho Ánh sự ngạt thở bấy lâu trong đó người này hay kẻ kia đã cố gắng đóng cho trọn vai trò của mình. cho đến phút này anh vẫn cảm thấy chỉ riêng anh đã sống thật hồn nhiên trong tình yêu đã qua.
“Chúng mình chấm dứt tình yêu đó ở đây”.
Hãy xem mọi lầm lỗi đều ở anh và cả sau quyết định này là một lối ngỏ thênh thang trên đó, Ánh hãy đi vào những phiêu lưu mới đừng ăn năn, đừng băn khoăn gì cả. Tất cả đã rõ như một khoảng trắng. Cũng đành vậy thôi.
Anh đã nhìn tình yêu ở một độ cao nhất của thủy triều. Quyết định như không thuộc về anh. Anh xin cảm ơn bốn năm ròng rã nâng niu tình yêu đó. Cũng xin cảm ơn những buổi chờ đợi thật dịu dàng không bao giờ còn có được. Để vĩnh biệt nhau trong tình yêu đó. Anh chỉ muốn khuyên Ánh, trong tương lai hãy tự tin hơn và bớt suy tính.
Anh đã bất lực không cứu vãn gì được cho tình yêu của mình. Thêm một lần đánh mất và thất lạc những vàng son.
Đã viết quá dài ngoài ý muốn, nhưng nói một lần mà cho tất cả về sau.
Cầu mong thật nhiều bình an cho Ánh và đời đời hạnh phúc trong những dự tính mới ở tương lai.
Thân yêu,
Trịnh Công Sơn
Nghệ thuật là phong phú và đa dạng, đôi khi nó cũng cần vu vơ thẩm mỹ và hướng thiện như là ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau…
Cao Bá Quát đã từng nói: “Đời người há không viết gì lên đấy, như một tấm bia không chữ”. Người đời sẵn sàng phê phán thói hư danh, nhưng không nên nhầm lẫn với sự hiếu danh; khát vọng lưu danh là chính đáng và là đòi hỏi đáng giá để đặt ra trước cuộc sống trần thế. Chẳng biết ở cuộc đời mà Sơn đã sống, không dài mà cũng không quá ngắn ngủi ấy, với anh buồn nhiều hay vui nhiều, nhưng chắc chắn anh vô cùng cô đơn, nỗi cô đơn của một tài năng đúng nghĩa. Anh không có nhà cửa nguy nga, của cải vật chất và không có vợ con. Nhưng Trịnh Công Sơn có một cái tên lưu truyền cho hậu thế. Trong kho tàng đồ sộ mà anh để lại cho chúng ta hôm nay và cả mai sau, bất cứ ai còn biết trăn trở của mình ở đó… Theo thống kê cho đến nay, anh có hơn 600 ca khúc, hầu hết đã đi vào lòng người và khoảng 6.000 bài báo viết về anh (cả báo nước ngoài) và do anh viết về nhiều mặt trong cuộc sống. Và tất cả cái đó để làm gì? Cũng theo lời bài hát của Sơn, Để gió cuốn đi. Trịnh Công Sơn đã sống với ý niệm đó.

                              Đại Đoàn Kết, 4-4-2001

trích từ  "Chân dung bằng chữ"của Trần Thanh Phương &  Phan Thu Hương biên soạn, nxb Văn hóa-văn nghệ tháng 4/2011


1 nhận xét: