Xuân Tân Mão

Xuân Tân Mão
Đảng và Chính phủ luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng với tất cả hoạt động, việc làm của người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia (TTg NT Dũng).

03 tháng 10 2011

Ghi chép thực về việc Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp(PHẦN 3-hết)


ĐOÀN CỐ VẤN QUÂN SỰ TRUNG QUỐC VÀ CUỘC CHIẾN TRANH CHỐNG PHÁP CỦA VIỆT NAM
Trương Quảng Hoa


Đầu năm 1950, theo yêu cầu của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chính phủ Trung Quốc quyết định thi hành nghĩa vụ quốc tế, dốc mọi nỗ lực viện trợ cuộc đấu tranh chống pháp của nhân dân Việt Nam trong tình hình đất nước còn rất khó khăn, Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc tuân theo chỉ thị của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Quân uỷ Trung ương, từ tháng 3/1950 đến tháng 7/1954 đã cung cấp số lớn trang bị vũ khí và vật tư quân nhu hậu cần cho quân đội Việt Nam, giúp huấn luyện bộ đội chủ lực quân đội Việt Nam. Đồng thời nhận lời cử Đoàn cố vấn quân sự, giúp đỡ toàn diện xây dựng quân đội Việt Nam, hỗ trợ tổ chức chỉ huy tác chiến, đã có đóng góp quan trọng vào thắng lợi của cuộc đấu tranh chống Pháp của Việt Nam.

Stalin nói việc viện trợ Việt Nam chủ yếu do Trung Quốc phụ trách, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định cử Đoàn cố vấn quân sự

 Tháng 9 năm 1949, vào lúc đấu tranh cách mạng Trung Quốc giành được thắng lợi cơ bản, Chủ tịch Hồ Chí Minh cử đồng chí Lý Ban đã từng làm việc nhiều năm ở Trung Quốc, mang bức thư viết tay của Người đến Trung Quốc trực tiếp liên hệ với Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc yêu cầu Trung Quốc viện trợ cuộc đấu tranh giải phóng của Việt Nam. Ngày 1/10/1949, sau khi nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời, quan hệ hai đảng, hai nước Trung – Việt bước vào giai đoạn phát triển mới. Ngày 18/1/1950, hai nước Trung – Việt lập quan hệ ngoại giao, Trung Quốc là quốc gia đầu tiên công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Với sự giúp đỡ và liên hệ của Trung Quốc, Liên Xô và rất nhiều nước Đông Âu cũng kế tiếp nhau công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Ngày 30/1/1950, Hồ Chí Minh bí mật đến Bắc Kinh. Lúc đó, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai đang ở thăm Moskva, Lưu Thiếu Kỳ thay mặt Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc biểu thị rõ, Trung Quốc sẵn sàng viện trợ cuộc đấu tranh chống Pháp của Việt Nam, dù việc đó làm cho Pháp bất mãn, đẩy lùi việc công nhận Trung Quốc cũng không tiếc, Lưu Thiếu Kỳ còn nhanh chóng thu xếp cho Hồ Chí Minh đi Moskva gặp Stalin, Mao Trạch Đông cùng bàn kế sách viện trợ Việt Nam chống Pháp. Ngày 6/2, Hồ Chí Minh đến Moskva. Mấy hôm sau Stalin tiếp Hồ Chí Minh có Đại sứ Trung Quốc tại Liên Xô Vương Gia Tường tham gia. Sau khi Hồ Chí Minh tóm tắt tình hình đấu tranh chống Pháp của Việt Nam và nêu ra yêu cầu Liên Xô viện trợ, Stalin nói, Việt Nam và Trung Quốc vị trí địa lý kề nhau, tình hình hai nước có rất nhiều chỗ tương đồng, công việc viện trợ chủ yếu do Trung Quốc phụ trách. Sau đó Hồ Chí Minh lại yêu cầu hai nước Việt Nam, Liên Xô cũng ký một hiệp ước hợp tác hữu nghị, Stalin từ chối khéo.

Ngày 17/2, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Hồ Chí Minh cùng lên tàu về Trung Quốc. Trên tàu lửa, Hồ Chí Minh một lần nữa nêu ra với Mao Trạch Đông yêu cầu Trung Quốc viện trợ vật tư quân sự và cố vấn quân sự cho Việt Nam. Mao Trạch Đông biểu thị rõ, viện trợ về vật tư quân sự thì cố hết sức tương trợ. Đây là trách nhiệm quốc tế của một nước cách mạng thắng lợi như chúng tôi phải làm, còn cán bộ quân sự Trung Quốc phần nhiều trưởng thành từ quê mùa, nếu các đồng chí thật sự cần thì cũng là “ cố vấn vườn ” thôi ! Hồ Chí Minh nói “ cố vấn vườn ” chúng tôi cũng cần, chúng tôi tin các đồng chí đó có thể giúp chúng tôi đánh bại người Pháp, các đồng chí chẳng phải đã tiêu diệt quân đội Quốc dân đảng được Mỹ hết sức viện trợ đó sao ? Mao Trạch Đông nói việc này sau khi về Bắc Kinh, Trung ương chúng tôi sẽ nhanh chóng nghiên cứu đưa ra quyết định.

Ngày 4/3 sau khi về đến Bắc Kinh chẳng bao lâu, Mao Trạch Đông cùng các đồng chí lãnh đạo Trung ương, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Chu Đức v.v.. nghiêm chỉnh nghiên cứu vấn đề Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp, cho rằng sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, chúng ta có trách nhiệm, chi viện và giúp đỡ, đó cũng là điều cần thiết để củng cố thắng lợi của cách mạng Trung Quốc, phá vỡ bao vây của đế quốc đối với Trung Quốc mới. Sau khi đến Bắc Kinh, Hồ Chí Minh nói với Hoàng Văn Hoan đang ở Bắc Kinh, các đồng chí lãnh đạo Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đồng ý giúp chúng ta tiến hành chiến tranh chống Pháp, trong lúc vừa mới thắng lợi, mọi mặt rất khó khăn, các đồng chí ấy vui vẻ đồng ý đem hết sức chi viện không hoàn lại cho Việt Nam, thật là điều đáng quý, hiếm có ! Trọng điểm công tác ở nước ngoài của chúng ta từ nay về sau nên chuyển từ Thái Lan sang Trung Quốc, đồng chí sẽ là đại diện của đảng và nhà nước ta cử sang Trung Quốc. Sau đó, Hồ Chí Minh nhanh chóng trở về Việt Nam.

Trước khi Hồ Chí Minh đến Bắc Kinh, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cử La Quý Ba làm đại diện liên lạc Trung ương sang Việt Nam. Sau khi được biết Hồ Chí Minh đã đến bắc Kinh, La Quý Ba sau khi vòng vèo một thời gian, mãi đến tháng 3 mới đến Việt Nam, sau khi cùng với Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam nghiên cứu, La Quý Ba điện cho Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nói để cho vật tư viện trợ Việt Nam chống Pháp, đưa vào Việt Nam thuận lợi cần phải đánh trước một trận ở biên giới Trung – Việt, nhằm khai thông con đường quan trọng, đồng thời trong điện cũng báo cáo ý kiến của phía Việt Nam yêu cầu nhanh chóng cử Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc. Quân uỷ Trung ương Trung Quốc lập tức nghiên cứu quyết định, tổ chức một Đoàn cố vấn quân sự do Vi Quốc Thanh nguyên Chính uỷ binh đoàn 10 Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, văn võ song toàn, làm Trưởng đoàn đi Việt Nam.

Đầu tháng 4, Vi Quốc Thanh đã ở Bắc Kinh theo chỉ thị của Lưu Thiếu Kỳ, xin ý kiến mấy vị lãnh đạo Dã chiến quân Đặng Tiểu Bình, Bành Đức Hoài, Lâm Bưu đang họp ở Bắc Kinh về lựa chọn điều động cán bộ cần thiết để tổ chức Đoàn cố vấn, lãnh đạo các Dã chiến quân đều biểu thị ủng hộ tích cực. Đặng Tiểu Bình nêu ra, các cố vấn có thể do các Dã chiến quân lựa chọn điều động, còn để công tác tiện lợi, cán bộ Ban chỉ huy có thể do Dã chiến quân số 3 lựa chọn điều động. Trung tuần tháng 4, Quân uỷ Trung ương truyền đạt mệnh lệnh cho Dã chiến quân số 2, số 3, số 4 về việc lựa chọn điều động nhân viên cố vấn và nhân viên công tác các cấp. Đảng uỷ và thủ trưởng các dã chiến quân rất coi trọng công tác này, rất nhanh lựa chọn điều động 59 cán bộ quân sự, chính trị, hậu cần từ tiểu đoàn trở lên có kinh nghiệm chiến đấu thực tế và trình độ chính trị nhất định, trong đó có 33 cán bộ cấp tiểu đoàn, 17 cán bộ cấp trung đoàn, 6 cán bộ cấp đại đoàn, 2 cán bộ cấp quân đoàn, 1 cán bộ cấp binh đoàn, cùng với nhân viên công tác khác, tất cả có 281 người tổ chức thành Đoàn cố vấn quân sự.

Tiếp theo đó, Quân uỷ Trung ương căn cứ ý kiến của Nhiếp Vinh Trăn ngày 20/5 và chỉ thị của Lưu Thiếu Kỳ cùng ngày, điện cho cán bộ trung đoàn trở lên sang Việt Nam làm cố vấn về Bắc Kinh lên nhận chỉ thị trực tiếp. Ngoài Vi Quốc Thanh đã có mặt tại Bắc Kinh, do thời gian báo điều động cán bộ không thống nhất và nguyên nhân khác, đến trung tuần tháng 6, chỉ có Phó đoàn trưởng Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàm v.v... hơn 20 người đến Bắc Kinh, chờ tiếp kiến. Ngày 27/6, đúng hai ngày sau nổ ra chiến tranh Triều Tiên, ngày Tổng thống Mỹ Truman tuyên bố vũ trang can thiệp nội bộ Triều Tiên và đưa hạm đội 7 xâm chiếm Đài Loan Trung Quốc, các vị lãnh đạo chủ chốt của đảng và nhà nước Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức trong vô vùng bận rộn đã gặp gỡ các cố vấn đến Bắc Kinh tại Di Niên đường Trung Nam Hải, những người đến dự được cổ vũ sâu sắc. Hôm đó Chu Ân Lai có việc khẩn cấp, không thể tham gia buổi tiếp.

Hai hôm sau, mời Hồng Thuỷ (tức Nguyễn Sơn), nguyên Tư lệnh Liên khu 4 Việt Nam, giới thiệu với các cố vấn về phong thổ, địa lý, khí hậu Việt Nam, tình hình địch ta và tình hình quân đội Việt Nam. Hồng Thuỷ gốc người Hà Nội, năm 1925 vào học trường quân sự Hoàng Phố, tham gia khởi nghĩa Quảng Châu và trường chinh, năm 1945 sang Việt Nam tham gia chiến tranh chống Pháp, giữ chức Tư lệnh kiêm chính uỷ Liên khu 4, năm 1950 trở lại Trung Quốc nên đồng chí khá am hiểu tình hình Việt Nam. Hạ tuần tháng 7, ngoài các cố vấn đến từ Dã chiến quân 2 đi theo Trần Canh sang Việt Nam, những người còn lại đều tập kết đúng ngày tại Nam Ninh, chính thức thành lập Đoàn cố vấn quân sự sang Việt Nam. Để giữ bí mật, Đoàn cố vấn mang biệt hiệu “ Đoàn công tác Hoa Nam ” để liên hệ với bên ngoài. Trong thời gian tập kết ở Nam Ninh, Vi Quốc Thanh truyền đạt cho các cố vấn tinh thần chỉ thị của các đồng chí lãnh đạo Trung ương, tổ chức học tập, thảo luận để nâng cao nhận thức, uốn nắn thái độ, xây dựng “ quy tắc công tác của Đoàn cố vấn quân sự ”, yêu cầu mọi người nghiêm chỉnh triệt để chấp hành. Đồng thời thành lập Đảng uỷ Đoàn cố vấn quân sự được Trung ương phê chuẩn, 6 người là Vi Quốc Thanh, Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàm, Mã Tây Phu, Lý Văn Nhất, Đặng Thanh Hà làm uỷ viên ; Vi Quốc Thanh làm Bí thư, Đặng Dật Phàm làm Phó bí thư.

Trong thời gian này, Hoàng Văn Hoan đã được bổ nhiệm làm đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc từ Bắc Kinh xuống Nam Ninh để giới thiệu cho Đoàn cố vấn quân sự tình hình Việt Nam và quân đội nhân dân Việt Nam và đưa Đoàn cố vấn vào Việt Nam. Những đồng chí phụ trách quân khu Quảng Tây, Trương Vân Dật, Lý Thiên Hựu, Mặc Văn Hoa rất quan tâm và ủng hộ công việc chuẩn bị trước khi Đoàn cố vấn ra nước ngoài, và bố trí chu đáo công tác bảo vệ an ninh trên đường đi. Ngày 9/8/1950, Đoàn cố vấn quân sự lên đường từ Nam Ninh, qua Điền Đông, Bách Sắc, Tịnh Tây, rạng sáng ngày 12/8 đến Bộ chỉ huy tiền phương chiến dịch biên giới quân đội nhân dân ở Quảng Uyên tỉnh Cao Bằng. Việt Nam.

Tại cuộc nói chuyện ở Di Niên đường, Lãnh đạo Trung ương giao cho Đoàn cố vấn hai nhiệm vụ

Cử Đoàn cố vấn quân sự sang đảng anh em và nước láng giềng hữu nghị, đây là lần đầu tiên trong lịch sử đảng cộng sản Trung Quốc, và trong lịch sử phong trào cộng sản quốc tế cũng không có kinh nghiệm thành công. Trong đấu tranh cách mạng lâu dài, tuy đảng cộng sản Trung Quốc đã tích luỹ kinh nghiệm đấu tranh quân sự phong phú, nhưng muốn vận dụng những kinh nghiệm đó vào một nước và quân đội khác, tất nhiên là một việc hết sức gian khổ và phức tạp. Và việc Đoàn cố vấn quân sự có thể thực hiện đúng đắn nghĩa vụ quốc tế, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ lớn lao mà mình gánh vác hay không, sẽ là vấn đề trọng đại ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc chiến tranh chống Pháp của Việt Nam và quan hệ hai đảng, hai nước Trung – Việt. Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc hết sức coi trọng vấn đề này. Vì vậy, khi Đoàn cố vấn quân sự quân sự thành lập sơ bộ, trong buổi tiếp ngày 27/6, các vị lãnh đạo Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức đã chỉ thị rõ ràng, sâu sắc và cặn kẽ tỉ mỉ về ý nghĩa, nhiệm vụ và tư tưởng chỉ đạo cũng như phương pháp làm việc, tác phong v.v.. của Đoàn cố vấn quân sự sang công tác tại Việt Nam.

Căn cứ vào yêu cầu của phía Việt Nam và tình hình đấu tranh giải phóng của Việt Nam, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc giao cho Đoàn cố vấn quân sự hai nhiệm vụ : một là giúp Việt Nam đánh thắng trận, tống cổ bọn xâm lược Pháp ; hai là giúp Việt Nam xây dựng quân đội chính quy. Mao Trạch Đông nói : “ Các đồng chí đến Việt Nam, trước hết phải giúp đánh thắng trận. Mở ra một địa phương để tập trung quân đội, sau đó sẽ càng đánh càng lớn ”. Lưu Thiếu Kỳ nói : “ Sau khi các đồng chí đi, phải giúp Việt Nam xây dựng một quân đội chính quy, từng bước có thể tác chiến chính quy, và nhất định phải tổ chức đánh thắng trận. Đánh trận sẽ có nhiều thương vong, phải đào tạo hàng loạt cán bộ huấn luyện ”. Chu Đức nói, nhất định phải giúp Việt Nam xây dựng tốt quân đội, phải đánh thắng trận. Đồng chí còn nói, nguyên tắc của chúng ta là có con người như thế nào thì đánh trận như thế ấy. Đánh lúc nào ? Phải tìm cơ hội thích đáng, không thể làm theo cách làm của chúng ta trước đây, cần phải biết đánh trận dũng cảm và khôn khéo, quan trọng nhất là khôn khéo, bởi vì trang bị vũ khí của địch mạnh hơn Việt Nam. Còn phải giúp họ làm tốt công tác đối với quân địch, ưu đãi tù binh, đó là kinh nghiệm quý báu chiến thắng kẻ thù.

Phát biểu trong cuộc gặp lần này, các đồng chí lãnh đạo Trung ương còn nhấn mạnh chỉ rõ tư tưởng chỉ đạo công tác của Đoàn cố vấn quân sự, nêu ra yêu cầu nghiêm khắc đối với thái độ công tác, phương pháp công tác, tác phong tư tưởng, đặc biệt là đoàn kết tốt với phía Việt Nam. Một là, phải phát huy tinh thần quốc tế chủ nghĩa. Mao Trạch Đông nói : “ Không phải tôi muốn cử các đồng chí đi Việt Nam, chính Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu tôi. Ai bảo cách mạng chúng ta thắng lợi trước ! Thế thì phải giúp đỡ người ta, đó gọi là chủ nghĩa quốc tế ”. Lưu Thiếu Kỳ nói : “ Trung ương ra quyết định này là có lý do to lớn, Việt Nam là nơi khiến người ta để mắt tới nhiều nhất trên thế giới hiện nay, nhiệm vụ của các đồng chí chấp hành lần này có ý nghĩa thế giới. Đây là công việc cần phải làm, nếu chúng ta không đi giúp Việt Nam, để cho bọn địch nằm lì ở đó, khó khăn của chúng ta cũng sẽ lớn hơn, rắc rối cũng sẽ lớn hơn ”. Chu Đức nói : “ Chúng ta là người theo chủ nghĩa quốc tế, cần phải coi việc giúp Việt Nam là nhiệm vụ quốc tế lớn lao, phải không tiếc mọi thứ giúp họ đến thắng lợi ”. Mao Trạch Đông còn đặc biệt nhấn mạnh, toàn thể các đồng chí trong đoàn cố vấn phải coi sự nghiệp của nhân dân Việt Nam là sự nghiệp của mình để hành động.

Hai là, phải đoàn kết tốt với các đồng chí Việt Nam. Mao Trạch Đông nói : “ Việc đầu tiên sau khi các đồng chí đi là phải đoàn kết tốt với các đồng chí Việt Nam nhất là phải đoàn kết tốt với lãnh đạo Việt Nam. Phải chú ý đoàn kết không tốt thì thà không làm còn hơn ”. Chủ tịch còn nói : “ Việt Nam là một dân tộc tốt, tình hình cách mạng mấy năm gần đây phát triển nhanh, thành tích rất tốt, không nên coi thường người ta. Đứng trước quần chúng Việt Nam không được biểu hiện tư tưởng kiêu căng chúng ta là người chiến thắng. Thắng lợi của chúng ta, mọi người đều biết, không cần chúng ta bày tỏ ”. Lưu Thiếu Kỳ nói : “ Mọi người phải chú ý thận trọng, không nên có bất cứ biểu hiện nào coi thường người ta, không nên tỏ vẻ nước lớn. Sau khi các đồng chí đi ngoài giúp Việt Nam xây dựng quân đội, đánh giặc ra, nên ít phát biểu ý kiến bởi vì nói nhiều dễ gây hiểu nhầm. Tất nhiên phải tích cực nêu ý kiến về mặt quân sự, nhưng phải chú ý ít phê bình làm nhiều thao tác làm mẫu. Có thể nêu nhiều biện pháp để cho người ta lựa chọn quyết định, người ta cũng có thể không nghe ý kiến của đồng chí. Nhưng nếu quan hệ tốt thì ý kiến của đồng chí sẽ được áp dụng ”.

Ba là, phải xuất phát từ thực tế của Việt Nam, Mao Trạch Đông nêu rõ : “ Muốn giúp người ta cho tốt, chỉ dựa vào ý muốn chủ quan thì không ổn, cần phải căn cứ vào tình hình thực tế giúp đỡ cho xác đáng. Phải bàn bạc kỹ lưỡng với người ta, có thể nói cho người ta biết, chúng ta cũng có thất bại, giới thiệu nhiều bài học cho họ, ít nói : 'Qua năm ải chém sáu tướng' ”. Người còn căn dặn, trong quá trình giúp người ta, phải thường xuyên kiểm tra lời nói và việc làm của mình, mỗi ngày một lần, ba ngày một lần, ít nhất phải mỗi tuần một lần. Phải kiểm điểm cái nào chúng ta làm đúng cái nào chúng ta làm sai. Chu Đức cũng chỉ rõ : “ Về hành động quân sự, nhất thiết phải xuất phát từ thực tế, thực sự cầu thị không được nóng vội, phải nói cho họ biết kinh nghiệm thất bại của chúng ta, để họ được gợi ý giáo dục từ trong đó ”.

Bốn là, phải giúp Việt Nam đi trên con đường tự lực cánh sinh. Trong phát biểu, Chu Đức lấy kinh nghiệm lịch sử của cách mạng Trung Quốc để nói lên ý nghĩa cực kỳ quan trọng của việc giúp Việt Nam đi con đường tự lực cánh sinh. Đồng chí nói : “ Sự giúp đỡ của chúng ta không phải là biện pháp duy nhất, phải nói cho họ biết đi con đường tự lực cánh sinh. Kinh nghiệm của chiến tranh cách mạng Trung Quốc là chủ yếu dựa vào lấy vũ khí địch đánh địch, đồng thời cũng dựa vào mình sản xuất vũ khí. Tự lực cánh sinh là cái gốc thắng lợi của cách mạng chúng ta, chúng ta có lựu đạn, có tinh thần dũng cảm, nhào nặn nó lại, nò còn có ích, còn tốt hơn máy bay đại bác. Chiến tranh của chúng ta trước tiên dựa vào thuốc nổ đánh giặc, về sau mới lấy được đại bác của địch ”. Chu Đức còn nhấn mạnh nói, dù thế nào chăng nữa cũng phải giúp Việt Nam xây dựng căn cứ địa vững chắc kiên trì nguyên tắc và tinh thần tự lực cánh sinh.

Năm là, phải phát huy tinh thần phấn đấu gian khổ. Mao Trạch Đông nói : “ Tôi biết, cử các đồng chí đến một nơi rất khổ, đứng trước nhiệm vụ rất nặng nề, nếu mắc bệnh sốt rét còn có nguy hiểm hy sinh. Cho nên nhất định phải chuẩn bị tư tưởng khắc phục khó khăn không nên tính toán nhiều đến thuận lợi ”. Chủ tịch còn nói, bao giờ các đồng chí có thể trở về ? Không nên vội, các đồng chí đi Việt Nam không chỉ phải chuẩn bị khắc phục khó khăn còn phải chuẩn bị thời gian cũng không thể quá ngắn như vậy sẽ làm người ta thất vọng. Lưu Thiếu Kỳ nói : “ Thời gian thắng lợi của cách mạng Việt Nam sẽ không quá nhanh, bởi vì kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc, tôi thấy cần chuẩn bị ba năm ”. Chu Đức cũng nói : “ Các đồng chí sang Việt Nam công tác là rất gian khổ, phải tính đến phấn đấu gian khổ lâu dài ”.

Những chỉ thị quan trọng này của các đồng chí lãnh đạo Trung ương là kim chỉ nam hành động của Đoàn cố vấn quân sự, tiến hành viện trợ Việt Nam đấu tranh chống Pháp. Những chỉ thị đó đã đóng vai trò chỉ đạo to lớn đối với Đoàn cố vấn quân sự thi hành đúng đắn nghĩa vụ quốc tế, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ lớn lao mà mình gánh vác.

Bàn bạc quyết định đánh Đông Khê trước, chiến dịch biên giới giành được thắng lợi hoàn toàn

Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc vừa tiến vào lãnh thổ Việt Nam là lập tức lao vào chiến dịch biên giới nhằm khai thông tuyến giao thông vận tải giữa hai nước, mở ra cục diện có lợi cho cuộc đấu tranh chống Pháp. Để bắt đầu tổ chức chiến dịch biên giới trong kế hoạch được tích cực tính toán trước khi Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc đến Việt Nam, theo đề nghị của Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc định Phó tổng tư lệnh quân khu Tây Nam kiêm Tư lệnh quân khu Côn Minh Trần Canh ở gần đi trước sang Việt Nam, với cương vị đại diện Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ngày 7/7, Trần Canh rời Côn Minh, ngày 28 gặp Hồ Chí Minh, ngày 14/8 đến Bộ chỉ huy tiền phương quân đội Việt Nam ở Quảng Uyên và gặp Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc do Vi Quốc Thanh dẫn đầu đã đến đây trước hai ngày, nhanh chóng nắm bắt kế hoạch cụ thể chiến dịch biên giới và công việc chuẩn bị trước cuộc chiến.

Trần Canh, Vi Quốc Thanh v.v... nghe thêm Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái và cơ quan tác chiến tình báo v.v.. giới thiệu tình hình liên quan hai bên địch ta, nhất là tình hình cụ thể chiến trường Đông Bắc, toàn cảnh khu vực chiến đấu Việt Nam hiện ra trong đầu óc họ. Tổng binh lực của quân Pháp ở Đông Dương có khoảng 230.000 người, trong đó bộ đội gốc Pháp hơn 40.000 người, còn lại là lính đánh thuê Âu – Phi và nguỵ quân Việt Nam. Binh lực ở Bắc bộ Việt Nam là 70.000 người, hơn 100 máy bay (máy bay chiến đấu và máy bay vận tải, mỗi thứ một nửa). Trong thế công mùa xuân năm 1950, quân Pháp đã đánh chiếm tỉnh Thái Nguyên, Hà Nam và Ninh Bình, cơ bản khống chế vựa lúa đồng bằng sông Hồng. Ở biên giới Trung – Việt tiếp giáp với Quảng Tây, binh lực quân Pháp có 11.000 người, đại thể ở vào thế thủ bố phòng trọng điểm dọc quốc lộ 4. Tháng 5/1950, quân đội Việt Nam mở công kích vào Đông Khê, cứ điểm nhỏ nằm giữa Cao Bằng, Thất Khê, nhưng không hiệu quả. Sau đó, quân Pháp tăng cường lực lượng phòng thủ các cứ điểm Cao Bằng, Thất Khê và Đông Khê v.v...

Tổng binh lực của quân đội Việt Nam khoảng 160.000 người, trong đó chủ lực là bộ đội của năm trung đoàn thuộc đại đoàn 308 v.v... vừa trải qua hơn ba tháng huấn luyện ở Vân Nam, Quảng Tây, Trung Quốc và thay toàn bộ trang bị, tất cả có hơn 20.000 người, do Bộ tổng tư lệnh trực tiếp nắm giữ, toàn bộ hiện tập trung ở gần Cao Bằng. Quân Pháp ở Cao Bằng có khoảng 2000 người, quân đội Việt Nam chiếm ưu thế tuyệt đối về số người hơn nữa sĩ khí quân đội Việt Nam đang lên cao. Từ trên xuống dưới quân đội Việt Nam khi bắt đầu đều chủ trương chiến dịch Biên Giới sẽ tấn công Cao Bằng trước và đã chuẩn bị dư luận và động viên rất nhiều để làm việc này. Khi nghiên cứu trận đầu của chiến dịch, ra tay từ đâu, Trần Canh, Vi Quốc Thanh và các đồng chí cố vấn quân sự nhất trí cho rằng, trận đầu nên tấn công Đông Khê, đánh lấy Đông Khê, quyền chủ động toàn bộ chiến dịch nắm chắc trong tay quân đội Việt Nam. Không ít cán bộ trung đoàn trở lên của quân đội Việt Nam chủ trương đánh Cao Bằng trước, nói nếu đánh Đông Khê trước, địch tăng cường phòng ngự Cao Bằng thì càng khó đánh Cao Bằng. Để thuyết phục cán bộ quân đội Việt Nam, tại hội nghị cán bộ ngày 23, 24 tháng 8, tập đoàn cứ điểm và Vi Quốc Thanh đã trình bày lý lẽ có lợi vì sao đánh Đông Khê trước, cuối cùng thống nhất tư tưởng vào kế hoạch đánh Đông Khê trước.

Trung tuần tháng 9, được sự giúp đỡ cụ thể của cố vấn Trung Quốc, công việc chuẩn bị cho chiến dịch Biên Giới cơ bản hoàn thành, Trần Canh, Vi Quốc Thanh và Võ Nguyên Giáp từ Quảng Uyên chuyển ra vùng Bản Viên phía đông Đông Khê, để chỉ huy gần cuộc chiến tấn công Đông Khê. Ngày 16/9, cuộc chiến đấu tấn công Đông Khê nổ súng. Khi bắt đầu tương đối thuận lợi, rất nhanh áp sát công sự trọng điểm của địch, nhưng chiến đấu đến sáng ngày 17, bọn địch phản kích dưới sự yểm trợ của lính nhảy dù, bộ đội tấn công tiền duyên của ta rút khỏi trận địa. Vào giờ phút then chốt này, sau khi đến Bộ chỉ huy tiền phương tìm hiểu cụ thể tình hình, Trần Canh nêu ra với Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, cần phải ra lệnh cho bộ đội, không tiếc bất cứ giá nào, tiếp tục kiên trì, đồng thời kiến nghị điều chỉnh lại bố trí, công kích từ bốn phía, trọng điểm là phía nam, bắc. Sau khi bộ đội mở lại cuộc công kích, rất nhanh phát triển vào trung tâm, chiến đấu đến 18g, cuối cùng tiêu diệt hơn 270 tên địch đóng giữ Đông Khê thu nhiều vũ khí đạn dược và vật tư quân dụng khác. Đây là lần đầu tiên trong lịch sư quân đội Việt Nam tấn công tiêu diệt cứ điểm có hai đại đội địch đóng giữ. Nhưng đang lúc này Vi Quốc Thanh ngã bệnh sốt cao, không thể không về Long Châu chữa bệnh. Trọng trách giúp chỉ huy chiến dịch biên giới đành phải giao hoàn toàn cho Trần Canh và các cố vấn Trung Quốc khác gánh vác.

Sau khi kết thúc trận đánh Đông Khê Hồ Chí Minh thăm dò ý kiến của Trần Canh về trận đánh này, Trần Canh trả lời rằng : “ Trận Đông Khê đã thắng, ý nghĩa rất lớn, nhưng phải nói rằng đây không phải là cuộc chiến đấu thành công, quân đội nhân dân thương vong hơn 500, tiêu diệt địch lại không đến 300, trả giá quá lớn ”. Khi nói đến vấn đề của quân đội nhân dân bộc lộ ra trong chiến đấu, Trần Canh nói : “ Chiến sĩ dũng cảm then chốt là không ít cán bộ thiếu kinh nghiệm tác chiến kém năng lực chỉ huy, ở quá xa trận địa, từ nay về sau nên lựa chọn đề bạt cán bộ từ trong chiến sĩ cũ và cốt cán chiến đấu có kinh nghiệm thực tiễn ”. Hồ Chí Minh nghe chốc chốc lại gật đầu.

Kế hoạch cũ là đánh Thất Khê sau khi lấy Đông Khê, lúc này ở Thất Khê địch tăng quân lên đến 4 tiểu đoàn, xét tình hình tấn công Đông Khê, quân đội Việt Nam với lực lượng hiện có tấn công Thất Khê rõ ràng là khó khăn. Vì vậy sau khi Trần Canh và Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp nghiên cứu bỏ kế hoạch cũ tấn công Thất Khê, chuyển sang mai phục ở nam Đông Khê, để chờ tiêu diệt địch từ Thất Khê tiến lên phía bắc. Lúc này quân Pháp ở Thất Khê án binh bất động, lại tập kết 5 tiểu đoàn binh lực tấn công Thái Nguyên trực tiếp đe doạ an ninh của cơ quan đầu não của Đảng, Chính phủ Việt Nam. Một số cán bộ quân đội Việt Nam chủ trương bỏ mai phục kéo quân về Thái Nguyên. Trần Canh quả đoán biểu thị với Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, tấn công Thái Nguyên là quỷ kế của địch, mục đích là dụ quân ta rút về để bảo đảm an toàn cho địch ở Cao Bằng rút về phía nam, nhất thiết không được mắc lừa, và kiến nghị cho một trung đoàn làm động tác giả vờ rút lui. Quả nhiên không ngoài dự đoán của Trần Canh, ngày 30/9, bọn địch ở Thất Khê bắt đầu tiến lên phía bắc, ngày 3/10 bọn địch ở Cao Bằng cũng bỏ thành kéo xuống phía nam. Hai cánh quân Pháp do Lepage và Charton chỉ huy này mưu toan sau khi hội quân ở Đông Khê chạy về Thất Khê, Lạng Sơn để tránh số phận bị tiêu diệt.

Binh đoàn Lepage tiến lên phía bắc bị quân đội Việt Nam kiên quyết chặn đánh ngày 4/10 chuyển lên vùng núi Cốc Xá, tây nam Đông Khê. Trong cuộc tấn công ngày 5/10, quân đội Việt Nam thương vong tương đối nhiều, đại đoàn 308 liên tục tác chiến 4 ngày liền đứng trước một vấn đề tạm ngừng tấn công hay là kiên quyết đánh tiếp. Vào giờ phút then chốt này, Trần Canh nói với Võ Nguyên Giáp trong điện thoại : “ Trận này không đánh thì không có trận nào có thể đánh được ”, “ nếu bộ chỉ huy dao động thì sẽ chôn vui thắng lợi của chiến dịch ”. Sau khi ngắt điện thoại, đồng chí lại lập tức báo cáo Hồ Chí Minh, mong Hồ Chí Minh lập tức cổ vũ cán bộ chiến sĩ tiền phương hạ quyết tâm, kiên trì đến cùng, tập trung lực lượng tiêu diệt binh đoàn Lepage trước, sau đó tiêu diệt nốt binh đoàn Charton, giành toàn thắng của chiến dịch. Hồ Chí Minh hoàn toàn đồng ý ý kiến của Trần Canh, nhanh chóng ra lời kêu gọi yêu cầu bộ đội “ phải kiên quyết tiêu diệt toàn bộ quân địch, giành toàn thắng ”.

Trước đòn tấn công kiên quyết của quân đội Việt Nam, tình hình chiến trường chuyển biến nhanh chóng. Đến ngày 7/10, hai cánh quân địch lần lượt bị quân đội nhân dân tiêu diệt hoàn toàn, Lepage, Charton cùng các tham mưu của họ và tỉnh trưởng nguỵ quyền Cao Bằng đều bị bắt sống. chiến dịch biên giới tiêu diệt 8 tiểu đoàn hơn 800 tên địch, giải phóng một vùng rộng lớn biên giới Trung – Việt khai thông tuyến giao thông với Trung Quốc phá vỡ bao vây của quân Pháp đối với căn cứ địa Việt Bắc, quân đội nhân dân có khoảng đất trống vu hồi rộng lớn. Đến ngày 23/10 quân Pháp đóng giữ trên biên giới dài hơn trăm cây số lần lũ lượt rút lui, từ Đồng Đăng, Na Sầm, Lạng Sơn, Đình Lập, Yên Châu v.v... rút về gần Tiên Yên ven biển. Tình hình chiến trường Việt Nam từ đó có bước ngoặt quân đội nhân dân từ bị động phòng ngự chuyển sang chủ động tấn công, từ đánh du kích chuyển sang giai đoạn mới đánh vận động công kiên kết hợp với đánh du kích, bắt đầu nắm vững quyền chủ động hành động chiến lược.

Hồ Chí Minh hết sức vui mừng, nói tại hội nghị tổng kết chiến dịch : chúng ta đã đánh hai trận thắng, một là chúng ta đã tiêu diệt địch, giải phóng Cao Bằng, Đông Khê, Thất Khê v.v.. hai là chúng ta đã thấy được ưu điểm và khuyết điểm của mình. Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh chỉ rõ : thắng lợi của chiến dịch biên giới là một thắng lợi lớn nhất từ khi Việt Nam kháng chiến đến nay, là thắng lợi của chủ nghĩa quốc tế vô sản. Thắng lợi trận đầu sau khi Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc đến Việt Nam đã giành được sự tin cậy của quân đội nhân dân Việt Nam đối với cố vấn Trung Quốc, mở ra cục diện cho Đoàn cố vấn quân sự triển khai công tác. Ngày 1/11, Trần Canh đã hoàn thành nhiệm vụ công tác ở Việt Nam về nước.

Sau bốn lần tác chiến ở đồng bằng, chuyển hướng chiến lược lên vùng Tây Bắc.

Quân đội Việt Nam, giành được thắng lợi to lớn trong chiến dịch biên giới, nhưng nhìn chung cả nước Việt Nam, quân Pháp vẫn chiếm nhiều ưu thế, đang khống chế Nam Bộ và vùng rộng lớn Trung Bộ, ở Bắc Bộ cũng vẫn khống chế vựa lúa đồng bằng đông dân cư và vùng núi Tây Bắc có giá trị chiến lược quan trọng. Bọn xâm lược Pháp mưu toan chiếm lại vùng biên giới Đông Bắc, và tiếp tục duy trì chiến tranh xâm lược, nhưng lực bất tòng tâm, không thể không ngày càng phải dựa vào viện trợ của Mỹ. Ngày 23/12/1950, Mỹ, Pháp và chính quyền bù nhìn Bảo Đại đã ký hiệp định chính thức về viện trợ quân sự, sau đó Mỹ cung cấp số lớn viện trợ. Ngày 6/12/1950, Pháp cử nguyên Tư lệnh lục quân liên minh Tây Âu Jean de Lattre de Tassigny giữ chức Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp. Sau khi lên nhậm chức, Tassigny lập tức đưa ra “kế hoạch bốn điểm”, nội dung trung tâm là tập trung bộ đội tinh nhuệ gốc Âu – Phi, thành lập bộ đội cơ động lớn mạnh, ở đồng bằng Bắc Bộ và vùng trung du xây dựng công sự phòng ngự chùm lô cốt ngầm kiên cố, để đề phòng quân đội Việt Nam tấn công và ráo riết càn quét vùng chiếm đóng và vùng du kích, thực hiện cái gọi là “chiến tranh tổng lực”.

Căn cứ vào tình hình này lãnh đạo Đoàn cố vấn quân sự và lãnh đạo quân đội nhân dân cùng nhau nghiên cứu xác định chọn bộ phận mỏng yếu của địch ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ để thực thi tấn công tác chiến. Kế hoạch này báo cáo Quân uỷ Trung ương Trung Quốc và được đồng ý. Đồng thời được Tổng quân uỷ quân đội nhân dân thảo luận và được Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam phê chuẩn. Chiến dịch đầu tiên của vùng đồng bằng là chiến dịch Trung Du sông Hồng (Việt Nam gọi là chiến dịch Trần Hưng Đạo). Bắt đầu từ ngày 25/12/1950, trước tiên tấn công phòng tuyến cụm lô cốt ngầm ở vùng giáp ranh hai tỉnh Vĩnh Phúc và Bắc Ninh cách Hà Nội 30 km về phía bắc áp dụng chiến thuật bôn tập, bất ngờ, tốc chiến tốc quyết, một mạch tấn công liền 5 cứ điểm cụm lô cốt ngầm tiền tuyến Kim Anh, Đa Phúc, Yên Phong, sau đó tập trung 5 trung đoàn tấn công vào vùng bắc Vĩnh Yên, đến ngày 17/1/1951 thì kết thúc. Chiến dịch này là chiến dịch Đông Bắc (Việt Nam gọi là chiến dịch Hoàng Hoa Thám). Từ ngày 20/3 đến 7/4, tiến hành ở vùng gần Uông Bí trên quốc lộ 18 cách Hải Phòng 30 km về phía bắc, bắt đầu đánh chiếm một số cứ điểm của quân Pháp, do không đủ sức, bảo đảm hậu cần, không thể đánh tiếp. Chiến dịch này bắn chết bắt sống 1175 tên địch, quân đội nhân dân thương vong hơn 1700 người.

Thứ ba là chiến dịch Ninh Bình (Việt Nam gọi là chiến dịch Quang Trung) tiến hành từ ngày 28/5 đến 20/6 ở vùng Hà Nam, Nam Ninh, Ninh Bình thuộc liên khu 3. Đợt 1, đánh chiếm Ninh Bình và hơn 10 cứ điểm phía nam Ninh Bình, đợt 2 tấn công cứ điểm đều không thành công và thương vong tương đối lớn. Tác chiến lần này tiêu diệt tất cả hơn 3100 tên địch, đánh chiếm 22 cứ điểm. Ba lần tác chiến trung du, đông bắc, Ninh Bình là hành động đầu tiên của quân đội nhân dân tấn công vào nơi phòng thủ kiên cố của địch ở vùng trung du và đồng bằng Bắc bộ, tiêu diệt tổng cộng hơn 6000 tên địch quân đội nhân dân tiêu hao không ít lực lượng. Do quân Pháp có phòng tuyến và cụ cứ điểm kiên cố, trang bị kỹ thuật và điều kiện giao thông hơn hẳn, phát huy đầy đủ ưu thế pháo binh, không quân và binh lực cơ động nhanh chóng, có thể tập trung kịp thời tiến hành phản kích, quân đội nhân dân hoặc vì thông tin liên lạc không thông, nắm tình hình không kịp thời để mất thời cơ chiến đấu, hoặc vì lực lượng tiếp ứng phía sau không liên tục, so sánh binh lực có thay đổi mà không thể hoàn thành kế hoạch dự kiến, thành quả chiến đấu tất nhiên rất không lý tưởng.

Ba chiến dịch này đều là lãnh đạo Đoàn cố vấn quân sự Vi Quốc Thanh, Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàm v.v... và lãnh đạo quân đội nhân dân Võ Nguyên Giáp v.v... cùng tổ chức chỉ huy. Khi tiến hành tổng kết ba chiến dịch, Đoàn cố vấn quân sự và Bộ Tổng Tham mưu quân đội nhân dân cùng phân tích nghiên cứu, trong khi khẳng định thành quả đạt được và kinh nghiệm thành công, nhấn mạnh rút bài học bổ ích trong một số vấp váp nào đó. Điều đó có ý nghĩa quan trọng đối với Đoàn cố vấn quân sự nhận thức và nắm vững quy luật khách quan của chiến trường Việt Nam, hiểu rõ hơn quân đội nhân dân tiến hành tác chiến quy mô tương đối lớn ở vùng đồng bằng có trọng binh địch phòng thủ, thời cơ chưa chín muồi, cần phải giúp phía Việt Nam đưa ra chỉ đạo chiến lược sát thực tế hơn, để mong giành được thắng lợi lớn hơn.

Sau ba lần tác chiến ở đồng bằng, đồng thời với việc giúp quân đội Việt Nam huấn luyện quân sự và mở rộng biên chế quân đội, Đoàn cố vấn quân sự kiến nghị phía Việt Nam đưa một bộ phận bộ đội chủ lực vào vùng đồng bằng sau lưng địch, đánh địch, phục hồi căn cứ địa du kích sau lưng địch, ra sức đẩy mạnh đánh du kích sau lưng địch. Phía Việt Nam tiếp thu kiến nghị này, chiến tranh du kích ở vùng đồng bằng sau lưng địch phát triển rất mạnh.

Tháng 1/1952, Pháp cử Salan thay De Lattre, giữ chức Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương. Hạ tuần tháng 12/1951 đến hạ tuần tháng 2/1952, Bộ Tổng quân đội nhân dân tổ chức chiến dịch Hoà Bình, mục đích là khôi phục và phát triển căn cứ địa du kích sau lưng địch, tiêu diệt một phần sinh lực quân Pháp, đập tan âm mưu của quân Pháp mưu toan cắt đứt tuyến giao thông Nam bắc Việt Nam. Chiến dịch giành được thắng lợi tương đối lớn. Lúc này Vi Quốc Thanh, Mai Gia Sinh đều chữa bệnh trong nước, cán bộ đoàn cố vấn đang tập huấn, tổng kết hơn một năm công tác, cho nên không ra tiền phương giúp chỉ huy, nhưng đoàn cố vấn vẫn giữ liên hệ với Bộ Tổng quân đội nhân dân, tìm hiểu tình hình chiến dịch và đề xuất kiến nghị cần thiết.

Cuối năm 1951 đến đầu năm 1952, Đoàn cố vấn căn cứ tinh thần chỉ thị của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Quân uỷ Trung ương, kết hợp tình hình bốn lần tác chiến ở vùng đồng bằng, đi sâu nghiên cứu sự phát triển thay đổi của tình hình chiến trường Việt Nam, đề xuất kiến nghị với Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng quân uỷ về chuyển hướng chiến lược lên vùng Tây Bắc, đồng thời nêu lên ý kiến chuyên đề “về vấn đề nghiên cứu tình hình địch ta ở Bắc bộ và nhiệm vụ phương châm từ nay về sau” và “nhiệm vụ và phương châm năm 1952”. Vùng Tây Bắc Việt Nam là nơi cư trú của các dân tộc thiểu số, núi cao rừng rậm, đất rộng người thưa, nằm ở vùng tam giác biên giới ba nước Việt Nam, Lào, Trung Quốc vị thế chiến lược quan trọng. Đoàn cố vấn quân sự cho rằng, giải phóng Tây Bắc có thể giải toả mối đe doạ sau lưng của căn cứ địa Việt Bắc, giành được hậu phương chiến lược và khu vực vu hồi rộng lớn hơn, việc bảo đảm hậu cần, bộ đội hành động tác chiến ở vùng Tây Bắc có khó khăn nhất định, nhưng chỉ cần làm tốt động viên giáo dục bộ đội và công tác chuẩn bị chu đáo thì những vấn đề đó có thể giải quyết được.

Quân Pháp lâu nay luôn coi Tây Bắc là “vùng an toàn” binh lực canh giữ có 8 tiểu đoàn 41 đại đội, đóng chốt trong 141 cứ điểm, mỗi cứ điểm nhiều nhất có 1 đến 2 đại đội, ít nhất 1 đến 2 trung đội, phần đông là quân nguỵ, sức chiến đấu kém. Sau khi Đoàn cố vấn quân sự đưa ra kiến nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đích thân đến dự hội nghị, kiên nhẫn làm công tác thuyết phục đối với những băn khoăn lo lắng, cuối cùng làm cho trên dưới đi đến đồng thuận.

Tháng 4/1952, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra nghị quyết về chuyển hướng chiến lược bộ đội lên vùng Tây Bắc, tổ chức chiến dịch Tây Bắc. Hồ Chí Minh yêu cầu các đồng chí cố vấn Trung Quốc nhanh chóng giúp vạch kế hoạch tác chiến và làm tốt các công việc chuẩn bị, hoàn thành nhiệm vụ tác chiến Tây Bắc. Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc trong điện trả lời bày tỏ tán thành và nêu ra rõ ràng : “ Chiến dịch Tây Bắc phải áp dụng phương châm “đánh chắc tiến chắc, không đánh thì thôi, đã đánh phải thắng” ”. Sau khi hỗ trợ Bộ Tổng tham mưu quân đội Việt Nam vạch ra kế hoạch tác chiến đánh lấy Nghĩa Lộ, Sơn La trước, sau đó giải phóng Lai Châu, Đoàn cố vấn quân sự lại giúp quân đội Việt Nam làm tốt công việc chuẩn bị trước chiến dịch, động viên giáo dục, huấn luyện công kiên và bảo đảm hậu cần v.v..

Ngày 10/10, tám trung đoàn bộ đội chủ lực đại đoàn 308, 312 quân đội Việt Nam từ căn cứ địa Việt Bắc tiến lên Tây Bắc. Lãnh đạo Đoàn cố vấn quân sự và cố vấn các đại đoàn, trung đoàn cùng đi với quân đội Việt Nam và dân công, kín đáo đến nơi tập kết. Ngày 14, bắt đầu tấn công vào cứ điểm ở Nghĩa Lộ, Bố Trương v.v... tác chiến đợt một đến ngày 23, đánh chiếm tất cả 35 cứ điểm, bắn chết bị thương bắt sống hơn 1700 tên địch, quân đội nhân dân thương vong 947 người. Để loại trừ đe doạ sau lưng Yên Bái, Phú Thọ, Hoà Bình, mở đường tiến vào Thượng Lào triển khai chiến tranh du kích, củng cố vùng bắc sông Đà, ngày 15/11, quân đội nhân dân bắt đầu tác chiến đợt hai chiến dịch Tây Bắc sáu trung đoàn chủ lực vượt sông Đà, trải qua 6 ngày đêm chiến đấu đã giải phóng các thị trấn quan trọng Mộc Châu, Yên Châu, Thuận Châu, Tuần Giáo v.v... tiêu diệt số lớn quân địch.

Ngày 22/11, quân Pháp bỏ Sơn La, 8 tiểu đoàn địch tháo chạy về vùng Nà Sản cách Sơn La 20 km về phía nam, gấp rút xây dựng 21 cụm cứ điểm. Sau đó, quân Pháp lại cho 2 tiểu đoàn nhảy dù xuống Nà Sản, quân đóng giữ ở đây lên đến hơn 7000 tên, âm mưu lấy cứ điểm này để tiêu hao sinh lực của quân đội nhân dân. Vi Quốc Thanh cho rằng đánh tiếp không lợi, qua thỉnh thi quân uỷ Trung ương và cùng với phía Việt Nam nghiên cứu đã dừng cuộc tiến công Nà Sản. Ngày 10/12 chiến dịch Tây Bắc kết thúc thắng lợi. Trong chiến dịch Tây Bắc, quân đội nhân dân đã tiêu diệt 13.800 tên địch, giải phóng khoảng 28.500 km2 đất đai và 250.000 dân. Toàn bộ vùng Tây Bắc trừ Nà Sản của tỉnh Sơn La và nửa phía bắc của tỉnh Lai Châu, đều do quân đội nhân dân kiểm soát toàn bộ. Điều đó đã tạo điều kiện rất có lợi cho chiến dịch Thượng Lào và thắng lợi quyết chiến Điện Biên Phủ.

Thắng lợi quyết chiến Điện Biên Phủ, quân Pháp buộc phải rút khỏi Đông Dương.

Ngày 13/3/1953, Vi Quốc Thanh, Mai Gia Sinh dẫn đầu một bộ phận cố vấn theo bộ chỉ huy tiền phương quân đội nhân dân lên Thượng Lào giúp tổ chức và chỉ huy chiến dịch Thượng Lào. Vùng Thượng Lào tức là vùng phía bắc nước Lào. Bộ đội các đại đoàn 304, 308, 312, 316, quân đội nhân dân vừa vào vùng Thượng Lào, thì quân Pháp bắt đầu rút lui lớn, quân Pháp chạy khỏi Sầm Nứa bị quân đội Việt Nam tiến lên miền tây chặn đường rút lui, bị bao vây tiêu diệt hơn 1000 tên, bọn địch ở cứ điểm quan trọng Mường Khay, Xiêng Khoảng v.v.. cũng nghe tin tháo chạy hoảng loạn, chạy về Cánh đồng chum. Ở hướng Phong Xalì và Mường Xây, quân đội nhân dân cũng đánh chiếm 4 cứ điểm, quân Pháp tháo chạy về Luông Prabang. Chiến dịch Thượng Lào bắt đầu từ trung tuần tháng 4 đến 3/5 kết thúc, tổng cộng tiêu diệt 3 tiểu đoàn và 11 đại đội, giải phóng toàn bộ Sầm Nứa và một phần tỉnh Xiêng Khoảng tỉnh Phong Xalì, mở rộng căn cứ địa kháng chiến của Lào, làm cho nó nối liền một dải với Tây Bắc, căn cứ địa Việt Bắc của Việt Nam, hình thành hậu phương lớn của chiến tranh Đông Dương chống Pháp.

Sau khi quân Pháp bị thất bại thảm hại ở vùng Thượng Lào, Chính phủ Pháp thay Salan, cử Navarre làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Navarre vừa nhận chức đã đưa ra phương châm quân sự “nam trước bắc sau” và kế hoạch “tập trung tổ chức tập đoàn chủ lực, chấp hành tác chiến cơ động”, hòng chiếm đóng toàn bộ Nam Bộ, Trung Bộ trước mùa xuân năm 1954, sau đó tập trung binh lực quyết chiến với quân đội nhân dân Việt Nam ở Bắc Bộ, giành thắng lợi quyết chiến. Vì vậy, đã có điều động 12 tiểu đoàn từ Pháp, Bắc Phi và Triều Tiên tăng viện cho quân viễn chinh xâm lược Việt Nam ; đồng thời chính quyền bù nhìn Bảo Đại cũng bổ sung 95.000 quân nguỵ. Trung tuần tháng 8 năm 1953, quân Pháp rút khỏi Nà Sản, kế hoạch tác chiến của quân đội nhân dân định lấy Nà Sản làm mục tiêu chính phải thay đổi. Ngày 13/8, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam điện đề nghị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc “giúp đề xuất ý kiến” “đối với vấn đề nhận thức tình hình và phương hướng chiến lược từ nay về sau”. Đồng thời, Bộ tổng quân đội nhân dân đặt lại kế hoạch tác chiến mùa đông, đặt phương hướng tác chiến vào đồng bằng Bắc bộ, bổ kế hoạch trước đây đánh lấy Lai Châu, rút bộ đội bao vây Nà Sản về Thanh Hoá.

Ngày 27, 29 tháng 8, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc hai lần điện cho Đoàn cố vấn quân sự và Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, phân tích tình hình từ sau khi Navarre lên nhậm chức, trong điện ngày 29 nêu ra rõ ràng : “ Trước tiên tiêu diệt địch ở vùng Lai Châu, giải phóng miền Bắc và miền Trung nước Lào, sau đó từng bước đẩy lùi chiến trường xuống Nam Lào, Cao Miên, uy hiếp Sài Gòn. Làm như vậy thì có thể thu hẹp nguồn lính nguỵ, nguồn tài chính, phân tán binh lực quân Pháp, làm cho nó rơi vào bị động ”. “ Đó là điều kiện tiên quyết để đánh lấy đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam ”. “ Thực hiện kế hoạch chiến lược này đủ để đánh bại ách cai trị thực dân của đế quốc Pháp ở Việt Nam, Lào, Cao Miên, nhưng cần phải khắc phục mọi khó khăn cần phải tính toán lâu dài ”. Thực hiện kế hoạch chiến lược này sẽ làm cho kế hoạch và ý đồ của Navarre hoàn toàn thất bại.

Tháng 9/1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam họp thảo luận phương án tác chiến mùa đông của quân đội nhân dân, Hồ Chí Minh rút ra kết luận : “ Hướng chiến lược không thay đổi ”. Hội nghị khẳng định phương án đặt hướng tấn công chính vào Tây Bắc và Thượng Lào do Đoàn cố vấn quân sự kiến nghị. Ngày 25/10/1953 sau khi từ Bắc Kinh trở lại Việt Nam, Vi Quốc Thanh gặp Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp truyền đạt thêm ý kiến cụ thể của Mao Trạch Đông, Bành Đức Hoài về kế hoạch chiến lược đánh lấy Tây Bắc và Thượng Lào trước, tiến tới đẩy xuống phía nam và chuyển văn bản kế hoạch Navarre mà Trung ương Đảng Cộng sản có được, Hồ Chí Minh rất tán thành và phấn khởi. Vì thế Võ Nguyên Giáp cũng tích cực quán triệt kế hoạch tác chiến ở Tây Bắc và Thượng Lào. Ngày 20/11, trong khi quân đội nhân dân đang chuẩn bị mở chiến dịch Tây Bắc lần thứ hai tiến quân lên Lai Châu, thì Navarre cho 6 tiểu đoàn nhảy dù xuống Điện Biên Phủ vùng xung yếu chiến lược ở Tây Bắc sát biên giới Lào và tiếp tục tăng cường binh lực, mở sân bay, xây công sự, tích trữ vật tư, xây dựng tập đoàn cứ điểm kiên có, đồng thời tăng quân cho Thượng Lào, xây dựng phòng tuyến sông Nậm Hu, liên kết Thượng Lào với Điện Biên Phủ, hòng ngăn chặn quân đội nhân dân giải phóng hoàn toàn Tây Bắc và tiến quân sang Thượng Lào.

Căn cứ tình hình địch có thay đổi, lãnh đạo Đoàn cố vấn quân sự lập tức cùng Tổng Quân uỷ quân đội nhân dân nghiên cứu, quyết định điều chỉnh kế hoạch tác chiến, đánh Lai Châu trước, đánh Điện Biên Phủ sau, và sắp xếp điều thêm bộ đội bộ binh, cao xạ, pháo binh, công binh v.v... tập trung vật tư tác chiến, chuẩn bị cho tấn công Điện Biên Phủ. Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam họp thảo luận quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Đại đoàn 316 trên đường tiến quân lên Tây Bắc được biết ngày 7/12 bọn địch ở Lai Châu rút về Điện Biên Phủ lập tức theo mệnh lệnh của Bộ chỉ huy tiền phương quân đội nhân dân, truy kích địch, tiêu diệt phần lớn, bọn địch còn sống sót tháo chạy về Điện Biên Phủ, toàn bộ vùng Lai Châu được giải phóng. Sau đó, các đại đoàn 316, 308 hình thành bao vây Điện Biên Phủ từ hai hướng nam, bắc, bộ đội tham chiến khác cũng theo thời gian dự định tiến vào vị trí xung quanh Điện Biên Phủ.

Lúc đó, quân Pháp phòng thủ Điện Biên Phủ chỉ có 6 tiểu đoàn, công sự cũng không kiên cố lắm, để không bỏ lỡ thời cơ, đã từng có ý tưởng mở công kích bất ngờ một đấm tiêu diệt ngay quân địch. Nhưng do núi cao rừng rậm, hoả pháo của quân đội nhân dân không thể tiến vào vị trí chỉ định đúng hẹn, còn binh lực quân Pháp đã rất nhanh tăng lên đến 16 tiểu đoàn, và chia làm ba phân khu nam, bắc và trung tâm, xây dựng 8 cụm cứ điểm gồm 49 cứ điểm lớn nhỏ và 2 sân bay dã chiến. Bộ trưởng Quốc phòng và tướng lĩnh cao cấp Pháp sau khi thị sát về khoác lác nói Điện Biên Phủ là “thành trì không thể công phá” là “Verdun” của Đông Nam Á. Tất nhiên trong tình hình đó, khó thực hiện “đánh nhanh thắng nhanh”. Vi Quốc Thanh, Mai Gia Sinh và lãnh đạo Bộ chỉ huy tiền phương quân đội Việt Nam Võ Nguyên Giáp sau khi nghiên cứu, nhất trí cho rằng, quyết tâm giải phóng Điện Biên Phủ không được dao động, và xác định thay “đánh nhanh thắng nhanh” thành “đánh chắc thắng chắc”, áp dụng phương pháp tác chiến bao vậy chặt, chia cắt đánh chiếm từng cứ điểm một, siết chặt từng bước, bóc vỏ từng lớp, kiểu sóng xô, cuối cùng mở tổng công kích, tiêu diệt toàn bộ quân địch đóng giữ 1.

Để phá ưu thế trên không của quân Pháp, đoàn cố vấn kiến nghị quân đội Việt Nam dùng pháo kìm hãm, máy bay Pháp cất cánh và hạ cánh, phá hỏng sân bay, đánh và hạn chế hoạt động trên không của máy bay Pháp. Đồng thời kiến nghị 4 tiểu đoàn pháo cao xạ 37 ly quân đội Việt Nam đang trang bị, luyện tập ở Trung Quốc trở về Việt Nam trước thời hạn để tham gia chiến đấu. Sau khi quân đội Việt Nam tiếp nhận kiến nghị này đã lần lượt bắn rơi, bắn bị thương hơn 50 máy bay Pháp, chi viện trên không của quân Pháp ngày càng khó khăn, tinh thần binh lính cũng ngày càng sa sút.

Dưới sự lãnh đạo của Đoàn cố vấn quân sự, quân đội Việt Nam học tập quân tình nguyện nhân dân Trung Quốc trên chiến trường Triều Tiên, triển khai hoạt động bắn tỉa, pháo tỉa, buộc quân Pháp không dám ra ngoài công sự hoạt động, luôn luôn ở trong trạng thái nơm nớp lo sợ suốt ngày. Đồng thời cố vấn công binh và hơn 10 nhân viên công trình công binh điều từ chiến trường Triều Tiên, đi sâu vào trận địa tiền tuyến, chỉ đạo cụ thể quân đội Việt Nam xây công sự và đào hào đến phía trước trận địa quân Pháp tạo điều kiện thuận lợi cho tiêu diệt từng cứ điểm. Sau khi hoàn thành các công việc chuẩn bị ngày 13 và 30 tháng 3 năm 1954, quân đội Việt Nam lần lượt mở cuộc tác chiến đợt 1, đợt 2, liên tiếp đánh chiếm cụm cứ điểm của phân khu bắc và tất cả các điểm cao ở phía đông và một loạt cứ điểm ở hai sườn tây, bắc của khu trung tâm Mường Thanh và chiếm sân bay Mường Thanh, cắt đứt liên hệ giữa khu trung tâm và khu nam. Đến đây, khu trung tâm của quân Pháp cô lập đã nằm trong vòng khống chế hoả lực của quân đội Việt Nam.

Vào giờ phút then chốt này, Mỹ đưa hai tàu sân bay vào vịnh Bắc Bộ, tiến hành diễn tập quân sự qui mô lớn, chủ tịch hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ Arthur W. Radford ngang nhiên tuyên bố, sẵn sàng dùng máy bay chiến lược B29 ném bom quy mô lớn xuống quân đội nhân dân bao vây Điện Biên Phủ và ngỏ ý sẽ xem xét “sử dụng bom nguyên tử” ở Việt Nam. Vi Quốc Thanh nói với lãnh đạo Bộ chỉ huy tiền phương quân đội Việt Nam, mục đích doạ dẫm chiến tranh của Mỹ là ép quân đội Việt Nam rút khỏi Điện Biên Phủ, giải vây cho quân Pháp đang rơi vào tuyệt vọng, quân đội Việt Nam đã có đủ điều kiện mở tổng công kích tiêu diệt quân địch, quyết không thể là công dã trang, để mất thời cơ tốt đẹp. Quân đội Việt Nam qua nhiều lần suy nghĩ, quyết định mở tổng công kích trước khi nước sông tràn bờ.

Đồng thời vật tư đạn dược v.v... cho tổng công kích đã từ Trung Quốc chuyển đến, một tiểu đoàn pháo DKZ-75 và một tiểu đoàn hoả tiễn trang bị huấn luyện ở Trung Quốc cũng kế tiếp nhau đến. Quân uỷ Trung ương chỉ thị cho Đoàn cố vấn : “ Để tiêu diệt toàn bộ quân địch, giành toàn thắng chiến dịch, phải tổ chức thật tốt phát huy hoả lực pháo, không nên tiếc tiêu hao đạn pháo. Chúng tôi sẽ cung cấp, vận chuyển đạn pháo đầy đủ ”. Đêm 1/5, tổng công kích chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu. Dưới sự yểm trợ của hoả lực pháo lớn mạnh, quân đội Việt Nam mở tấn công mãnh liệt vào Điện Biên Phủ. Chiều tối ngày 6, quân đội Việt Nam pháo kích dữ dội vào cứ điểm trung tâm quân Pháp, 12 khẩu hoả tiễn 6 nòng vừa vào trận địa đã phát huy uy lực, phá huỷ hết cứ điểm này đến cứ điểm khác của quân Pháp. 17g30’ ngày 7, Tổng chỉ huy quân Pháp ở Điện Biên Phủ, chuẩn tướng De Castries và sĩ quan Ban tham mưu của y lần lượt đi ra khỏi hầm ngầm sở chỉ huy, cầm cờ trắng đầu hàng. Chiến dịch Điện Biên Phủ cả thế giới theo dõi đã kết thúc thắng lợi, tiêu diệt toàn bộ 16.000 lính Pháp và lính nguỵ và thu được rất nhiều vật tư quân dụng.

Thắng lợi quyết chiến Điện Biên Phủ, rất nhanh dẫn đến ký kết Hiệp định đình chiến Đông Dương ở hội nghị Genève, quân Pháp rút khỏi ba nước Việt Nam, Lào, Cao Miên. Miền Bắc Việt Nam hoàn toàn giải phóng. Thắng lợi của chiến tranh chống Pháp của Việt Nam đã đặt nền móng vững chắc cho độc lập hoàn toàn của dân tộc và giải phóng triệt để của nhân dân Việt Nam

         

         

Giúp xây dựng quân đội Việt Nam, tố chất và sức chiến đấu của bộ đội không ngừng được nâng cao.

Đồng thời với việc giúp quân đội Việt Nam tổ chức chỉ huy tác chiến, Đoàn cố vấn quân sự còn từ nhiều mặt giúp quân đội Việt Nam tiến hành xây dựng, không ngừng nâng cao tố chất và sức chiến đấu của quân đội. Chiến dịch biên giới vừa kết thúc, Đoàn cố vấn quân sự theo chỉ thị của quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc kết hợp với tình hình thực tế của quân đội nhân dân Việt Nam, đưa ra kiến nghị phát triển bộ đội chủ lực nhiều hơn. Sau khi cùng với Bộ tổng quân đội nhân dân nghiên cứu đầu năm 1951 giúp quân đội Việt Nam khởi thảo “phương án xây dựng bộ độ chủ lực” và kế hoạch biên chế trang bị. Sau khi được Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam phê chuẩn trên cơ sở sư 308, 312 và sư 304 đã được thành lập, thành lập hai đại đoàn bộ binh 320, 316 và một đại đoàn công pháo gồm 3 trung đoàn pháo binh và 1 trung đoàn công binh do Trung Quốc trang bị. Vào cuối năm này, quân đội nhân dân thành lập thêm đại đoàn bộ binh 325 tại chiến trường Trung bộ. Đến đây, trong hơn một năm, quân đội nhân dân đã từng bước phát triển lực lượng vũ trang chính quy có 6 đại đoàn bộ binh và 1 đại đoàn công pháo. Theo yêu cầu của phía Việt Nam, Đoàn cố vấn cử nhóm cố vấn xuống các sư, cấp đại đoàn, trung đoàn đều có cố vấn Trung Quốc.

Ban đầu cấp tiểu đoàn cũng đều có cố vấn, sau chiến dịch biên giới đều rút về hết. Do bộ đội mở rộng, thống nhất biên chế, cải thiện trang bị, tăng cường huấn luyện, nên sức chiến đấu của bộ đội được nâng cao rõ rệt, điều đó đã đặt cơ sở cho sự chuyển biến đầu tiên về tư tưởng chỉ đạo quân sự, tức chuyển biến từ đánh du kích lên đánh vận động, đánh công kiên. Sau chiến dịch Tây Bắc, Thượng Lào năm 1953, bắt đầu chuyển biến tư tưởng chỉ đạo quân sự lần thứ hai, tức chuyển biến từ đánh công kiên qui mô nhỏ lên đánh công kiên qui mô lớn. Để thích ứng với nhu cầu chuyển biến đó, Trung Quốc viện trợ xây dựng thêm bộ đội trọng pháo, cao xạ pháo. Đoàn cố vấn quân sự còn giúp biên soạn tài liệu tấn công tập đoàn cứ điểm, thống nhất tư tưởng tác chiến, tăng cường huấn luyện kỹ thuật chiến thuật công kiên, nâng cao rất nhiều năng lực tác chiến công kiên của bộ đội.

Sau khi ký Hiệp định Genève năm 1954, Việt Nam thực hiện đình chiến từ môi trường chiến tranh chuyển sang môi trường hoà bình tứng bước thực hiện xây dựng quân đội theo hướng phát triển chính quy hoá, hiện đại hoá, lại một lần nữa chuyển biến tư tưởng chỉ đạo của quân đội Việt Nam. Dưới sự giúp đỡ của Đoàn cố vấn quân sự, quân đội nhân dân thống nhất hơn nữa biên chế toàn quân, cải thiện trang bị, thành lập mới và thành lập thêm bộ đội binh chủng đặc biệt, giúp nghiên cứu và bố trí vấn đề tác chiến tương lai của quân đội, tiến hành huấn luyện chính quy có hệ thống đối với bộ đội, làm cho bộ mặt bộ đội đổi mới, nâng cao thêm một bước sức chiến đấu. Đi đôi với tăng cường xây dựng quân sự cho bộ đội, việc xây dựng chính trị trong quân đội cũng được tăng cường rất nhiều. Trước, sau chiến dịch biên giới để bảo đảm chiến dịch thắng lợi Đoàn cố vấn quân sự đã bắt tay vào việc bồi dưỡng cán bộ, ra sức tăng cường xây dựng chính trị quân đội Việt Nam, tăng cường lãnh đạo tư tưởng đối với bộ đội, tăng cường chỉ đạo công tác chính trị thời chiến. Trong thời gian mấy năm, đoàn cố vấn giúp quân đội Việt Nam có kế hoạch, có bước đi ra sức triển khai nhiều đợt giáo dục tư tưởng chính trị lớn về tình hình thế giới, chỉnh huấn chính trị, chỉnh quân chính trị v.v.. đã nâng cao rất nhiều giác ngộ chính trị của chỉ huy bộ đội, làm trong sạch tổ chức, kích thích nhiệt tình kháng chiến lớn lao và tinh thần chiến đấu quên mình của cán bộ chiến sĩ.

Đồng thời với những việc đó còn ra sức giúp quân đội Việt Nam xây dựng đảng. Sau khi công khai tổ chức đảng trong quân đội giúp xây dựng và kiện toàn chế độ đảng uỷ xây dựng điều lệ công tác của đảng uỷ và chi bộ. Cơ quan chính trị các cấp và ban ngành nghiệp vụ cũng từng bước được kiện toàn, xác định rõ ràng chức trách công tác, đào tạo bồi dưỡng cán bộ nghiệp vụ và xây dựng nghiệp vụ của các ban ngành cũng được tăng cường. Đoàn cố vấn quân sự đã làm rất nhiều việc về giúp quân đội Việt Nam đào tạo cán bộ, thành tích nổi bật. Cố vấn chính trị giúp Tổng cục Chính trị quân đội Việt Nam tổ chức lớp huấn luyện luân phiên trọng điểm là đào tạo cán bộ trung cao cấp, lần lượt mở được 8 đợt, đào tạo hàng loạt cán bộ quân sự, chính trị, hậu cần. Dưới sự giúp đỡ của Đoàn cố vấn, các đại đoàn và các liên khu cũng mở nhiều lớp huấn luyện luân phiên cho cán bộ cơ sở. Trường sĩ quan lục quân Việt Nam do Trung Quốc giúp mở ở Vân Nam (về sau dời sang Quảng Tây, sau đình chiến dời về Sơn Tây) cũng có cố vấn Trung Quốc giúp công tác toàn diện trong mấy năm đã đào tạo trên một vạn cán bộ, đóng vai trò quan trọng đối với tăng cường đội ngũ cán bộ quân đội nhân dân.

Còn giúp giải quyết một vấn đề quan trọng trong công tác cán bộ là từ trong thực tiễn chiến tranh điều chỉnh đường lối, phương châm và chính sách công tác cán bộ. Thực hành phương châm lấy công nông làm nòng cốt, đồng thời cũng coi trọng việc đào tạo và sử dụng cán bộ xuất thân không phải công nông, làm cho số lớn cán bộ công nông ưu tú trong bộ đội trưởng thành nhanh chóng, đề bạt vào cương vị lãnh đạo quan trọng cán bộ xuất thân không phải công nông cũng nâng cao giác ngộ tư tưởng, kiên định lập trường chính trị. Về xây dựng hậu cần quân đội nhân dân, chủ yếu giúp xây dựng tư tưởng chỉ đạo xây dựng hậu cần đúng đắn, coi phục vụ tiền tuyến, phục vụ bộ đội, bảo đảm tác chiến thắng lợi là nhiệm vụ trung tâm của công tác hậu cần; giúp xây dựng, kiện toàn và điều chỉnh tổ chức hậu cần các cấp, tăng cường công tác chính trị của hệ thống hậu cần, bồi dưỡng năng lực nghiệp vụ và tác phong cần kiệm chất phác của cán bộ hậu cần ; giúp xây dựng và hoàn thiện các nội quy điều lệ chế độ, chỉnh đốn công tác tài chính kinh tế tăng cường quản lý tài chính kinh tế, làm cho các các công tác hậu cần từng bước đi vào quỹ đạo, không ngừng nâng cao năng lực bảo đảm.

Về mặt giúp xây dựng hậu phương, cũng làm rất nhiều việc. Khôi phục và xây dựng các đường lớn đi vào căn cứ địa, hậu phương của quân đội nhân dân. Việc xây dựng tuyến giao thông vận tải thuỷ bộ thông ra tiền tuyến và cả việc xây dựng binh trạm và hệ thống cứu hộ bệnh viện v.v... đều tiến hành dưới sự viện trợ của Trung Quốc và giúp đỡ của đoàn cố vấn. Trong các chiến dịch, từ chuẩn bị hậu cần trước chiến dịch đến việc thực hiện bảo đảm hậu cần trong quá trình chiến dịch, đều do Đoàn cố vấn quân sự giúp đỡ cụ thể Tổng cục hậu cần quân đội nhân dân tiến hành. Nhờ công tác bảo đảm hậu cần cho chiến dịch ngày càng tốt đã phát huy vai trò phục vụ giành thắng lợi của các chiến dịch. Quân đội xây dựng và phát triển lớn mạnh tất nhiên gắn liền với trang bị vũ khí được cải thiện và bổ sung đầy đủ. Trong chiến tranh chống Pháp của Việt Nam, Trung Quốc là nước duy nhất cung cấp rất nhiều viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam, từ súng đạn đến ca tráng men, khăn mặt cần gì có nấy. Theo thống kê chưa đầy dủ trong chiến tranh chống Pháp Trung Quốc viện trợ cho quân đội nhân dân Việt Nam 155.000 khẩu súng, 57.850.000 viên đạn, 3.692 khẩu pháo, 1.085.000 viên đạn pháo, 840.000 quả lựu đạn, 1231 ôtô, hơn 1.400.000 bộ quân phục, 15.000 tấn lương thực và thực phẩm phụ, 26.000 tấn xăng dầu và rất nhiều thuốc men và vật tư quan trọng khác. Các cố vấn liên quan trong Đoàn cố vấn quân sự và văn phòng của Ban hậu cần quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đặt tại Nam Ninh đã làm rất nhiều công việc về mặt này.

         

Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo đúng đắn, bảo đảm cho Đoàn cố vấn quân sự hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ lịch sử.

Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quân uỷ Trung ương rất coi trọng công tác của Đoàn cố vấn quân sự. Trước khi ra nước ngoài, Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức v.v.. đích thân gặp gỡ đoàn viên đoàn cố vấn, ra chỉ thị rõ ràng, nêu yêu cầu nghiêm khắc, trong quá trình công tác ở Việt Nam, lãnh đạo Trung ương cũng rất quan tâm, nhiều lần cho chỉ thị quan trọng. Các kiến nghị quan trọng liên quan đến tác chiến và xây dựng quân đội của đoàn cố vấn nêu ra với phía Việt Nam đều được Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Bành Đức Hoài v.v.. đích thân phê duyệt. Rất nhiều bức điện của Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương gửi cho Đoàn cố vấn quân sự đều do Mao Trạch Đông đích thân nêu ra. Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương đều có chỉ thị cụ thể đối với mỗi chiến dịch quan trọng và mỗi một công tác quan trọng. Khi Vi Quốc Thanh, Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàm và La Quý Ba về nước, các đồng chí lãnh đạo Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Bành Đức Hoài, La Vinh Hằng, Vương Gia Tường v.v... nhiều lần gặp mặt, thăm hỏi tình hình và cho chỉ thị. Sự lãnh đạo đúng đắn và quan tâm thắm thiết của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quân uỷ Trung ương là một bảo đảm căn bản cho Đoàn cố vấn quân sự hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ giúp Việt Nam đấu tranh chống Pháp.

Ngày 29/9/1952, Trung ương Đảng gửi điện hỏi thăm động viên toàn thể các đồng chí trong đoàn cố vấn, nêu rõ công tác của đoàn cố vấn có thành tích, “ điều đó có ý nghĩa đối với cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc, và cũng có ý nghĩa đối với cuộc đấu tranh của phe dân chủ thế giới ”. Đồng thời nêu lên “ các đồng chí nhất thiết không được vì thế mà kiêu căng tự mãn ”, “ các đồng chí còn có khuyết điểm ở mức độ khác nhau ”, “ mong các đồng chí nhanh chóng sửa chữa, để nâng cao công tác lên một bước, hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang mà Trung ương giao cho các đồng chí ”. Toàn thể đoàn viên Đoàn cố vấn được cổ vũ và giáo dục rất lớn từ những chỉ thị đó. Ngày 23/9/1953, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ra chỉ thị về công tác của đoàn cố vấn, nhấn mạnh làm cố vấn ở nước anh em thì dù là đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc hay là đối với đảng anh em đều là trách nhiệm chính trị vô cùng trọng đại, phải toàn tâm toàn ý giúp đỡ, cố hết sức tránh không làm vướng chân người ta. Trung ương đặc biệt chỉ rõ : quan hệ giữa cố vấn và Đảng Cộng sản Việt Nam là quan hệ giữa các đồng chí đảng anh em. Cố vấn không thể tự ra tay, cũng không thể là Thủ trưởng phụ trách chỉ có thể đề xuất kiến nghị cần thiết, và chỉ giới hạn trong những vấn đề tương đối lớn. Không được cưỡng ép đối phương chấp nhận, không nên can thiệp vào nhân sự của đối phương, không nên ra sân khấu biểu diễn, càng không nên ra sân khấu đóng vai chính, phải kiên quyết đề phòng và sửa chữa cách làm sai lầm bao biện làm thay, khách lấn chủ.

Tháng 8/1954, sau khi ký kết hiệp định đình chiến Đông Dương, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định chính thức thành lập Đại sứ quán Trung Quốc ở Việt Nam. Ngày 1/9 Đại sứ đầu tiên La Quý Ba trình quốc thư lên Hồ Chí Minh, Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam chính thức ra mắt. Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nêu ra kiến nghị với Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước rút hai Đoàn cố vấn quân sự và chính trị Trung Quốc sau khi thảo luận Trung ương Đảng Việt Nam đồng ý rút bộ máy tổ chức và tên gọi của đoàn cố vấn tán thành từ nay về sau công khai mời cố vấn. Cố vấn hệ thống quân sự vẫn phải giúp công tác với phương thức thích đáng. Tháng 10/1954, Hà Nội giải phóng. Hạ tuần tháng 10, theo chỉ thị của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đoàn cố vấn quân sự theo Bộ Tổng quân đội nhân dân Việt Nam về Hà Nội. Lúc này, đoàn cố vấn phần đông là đoàn viên điều động thay thế từ sau năm 1953, trong đó nhân viên điện đài, cung cấp, y tế v.v... chiếm tỉ lệ khá lớn. Phó tổng cố vấn tức phó đoàn trưởng Đoàn cố vấn quân sự Mai Gia Sinh và một số cố vấn cấp đại đoàn, trung đoàn đang nghỉ ở trong nước, theo chỉ thị của Trung ương không trở lại công tác ở Việt Nam nữa.

Ngày 18/7/1955, trong thời gian Vi Quốc Thanh về nghỉ ở Bắc Kinh, Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình có chỉ thị tỉ mỉ về vấn đề rút Đoàn cố vấn quân sự. Các đồng chí nhấn mạnh chỉ ra, căn cứ vào tình thế mới, Đoàn cố vấn quân sự phải chia từng bước rút về, Đoàn cố vấn quân sự đã giúp đỡ Việt Nam, tổ chức xây dựng bộ đội, huấn luyện bộ đội, tổ chức tác chiến v.v.. đều đạt rất nhiều thành tích, cũng có thành tích giúp tiếp quản thành phố. Trước khi rút về, phải giáo dục toàn thể đoàn viên không được có bất cứ lơ là nào, phải làm tốt công tác từ đầu đến cuối. Hạ tuần tháng 8, Vi Quốc Thanh trở lại Hà Nội, truyền đạt chỉ thị của Trung ương Đảng và lãnh đạo Trung ương cho Đoàn cố vấn quân sự. Lúc này, Đoàn cố vấn quân sự còn có nhóm cố vấn quân sự, chính trị, hậu cần, pháo binh, công binh, hàng không dân dụng v.v... có mấy chục cố vấn và nhân viên kỹ thuật và hơn 40 nhân viên cơ quan Ban chỉ huy đoàn cố vấn. Ngày 2/9, Đảng uỷ Đoàn cố vấn quân sự đưa ra kế hoạch cụ thể để quán triệt chấp hành chỉ thị của Trung ương, xác định trong tháng 9, tháng 10 và cuối năm hoặc mùa xuân sang năm chia làm ba đợt rút về nước, chuyên gia quân sự và nhân viên kỹ thuật đười mời giao cho Phòng Tuỳ viên quân sự Đại sứ quán lãnh đạo, và đề ra yêu cầu cụ thể đối với bảo đảm làm tốt các công tác và làm tốt đoàn kết trong ngoài v.v... trước khi rút.

Ngày 24/12/1955, Bộ Quốc phòng và Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra thông báo chung “quyết định về việc rút Đoàn cố vấn quân sự nước ta tại quân đội Việt Nam và cử chuyên gia quân sự ”, đồng thời chỉ định Vương Nghiên Tuyền làm Tổ trưởng tổ chuyên gia, Quốc Lâm Chi làm bí thư đảng uỷ Tổ chuyên gia. Quyết định này của Chính phủ Trung Quốc được đưa ra trong tình hình phía Việt Nam nhiều lần yêu cầu Trung Quốc tiếp tục cử cố vấn quân sự. Cùng ngày, Bành Đức Hoài viết thư cho Võ Nguyên Giáp. Cuối tháng, Vi Quốc Thanh mang thư trở lại Hà Nội, sau một thời gian giúp Bộ Tổng quân đội Việt Nam, năm 1956, Vi Quốc Thanh trở về Bắc Kinh. Công tác của Đoàn cố vấn quân sự đến đây kết thúc hoàn toàn.

Ở đây còn phải nhấn mạnh nói rõ, trong thời gian Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc công tác tại Việt Nam, được sự quan tâm nhiệt tình, tín nhiệm và ủng hộ rất lớn của lãnh tụ nhân dân Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng Cộng sản, Tổng Quân uỷ Việt Nam. Hồ Chí Minh nhiều lần đã nói : “ Tôi tín nhiệm tuyệt đối ” đối với cố vấn Trung Quốc. Những kiến nghị của Đoàn cố vấn quân sự đối với quyết sách lớn liên quan đến tác chiến và xây dựng quân đội v.v... của Việt Nam đều được Hồ Chí Minh chủ trì hội nghị Trung ương Đảng thảo luận quyết định, sau đó giao cho Tổng Quân uỷ và cơ quan Bộ tổng Việt Nam tổ chức thực hiện. Tổng quân uỷ và Bộ tổng Việt Nam cũng rất quan tâm, tôn trọng và ủng hộ đoàn cố vấn, và cùng với sự phát triển của thực tiễn, họ “ càng tin vào tính đúng đắn của tư tưởng Mao Trạch Đông và kinh nghiệm của quân giải phóng nhân dân Trung Quốc ”. Những điều đó chính là điều kiện quan trọng để Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc hoàn thành thuận lợi nhiệm vụ giúp Việt Nam đấu tranh chống Pháp.

Trương Quảng Hoa

(đăng trong Làn sóng trăm năm số 4-5 năm 2000,
khi đăng vào sách này, tác giả có sửa đổi một ít câu chữ)

1 Sự thực, Mai Gia Sinh chủ trương « đánh nhanh, thắng nhanh », dùng « biển người » để ồ ạt tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, và tiền trạm của Bộ tham mưu chiến dịch đã nghe theo ý kiến này. Khi tướng Giáp từ Việt Bắc tới vùng lòng chảo thì các khẩu pháo đã được « kéo vào » và toàn quẫn đã chuẩn bị thi hành kế hoạch tác chiến ấy. Thay đổi cách đánh là quyết định cá nhân của đại tướng Võ Nguyên Giáp (Bộ chính trị ĐCS, nhiều ngày sau mới nhận được báo cáo). Ông đã tranh thủ được sự ủng hộ của Vi Quốc Thanh. Họ Vi thỉnh thị ý kiến của Bắc Kinh. Điện chuẩn y của Bắc Kinh tới ngày 27.1.1954, tức là hai ngày sau khi tướng Giáp quyết định và kế hoạch mới bắt đầu được thi hành. Xem chú thích ở các phần (3) và (6).

NHÌN LẠI CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
Như Phụng Nhất


Sau khi ký kết hiệp định đàm phán đình chiến Triều Tiên ngày 27/7/1953 tình hình chiến trường Đông Dương trở thành vấn đề được mọi người rất quan tâm. Trận Điện Biên Phủ đã thực tế trở thành tiêu điểm giải quyết vấn đề này. Nhân dân cách mạng toàn thế giới đều khao khát cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam giành được thắng lợi. Nhìn lại tác chiến Điện Biên Phủ, quả thực có rất nhiều cảm xúc. Lúc đó, dưới sự lãnh đạo của Chánh phó Tổng cố vấn Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc cử sang Việt Nam người viết bài này đã tham gia cả quá trình thai nghén, chuẩn bị, tổ chức và thực thi tác chiến đông xuân 1953/1954 của Quân đội nhân dân Việt Nam. Bây giờ vẫn còn đọng trong trí nhớ, nhìn lại mấy vấn đề dưới đây.

I.

Chiến dịch đông xuân 1953/1954 của Quân đội nhân dân Việt Nam rốt cuộc nên chọn hướng nào, vùng nào để tiến hành, tiếp tục lên vùng Tây Bắc, vùng Thượng, Trung Lào nơi phạm vi hoạt động rộng lớn, sự thống trị của địch bạc nhược, binh lực phân tán, bố phòng không kiên cố để tìm cơ hội tác chiến, hay là về đồng bằng sông Hồng nơi trọng binh địch tập kết, bố phòng kiên cố, phạm vi hoạt động chật hẹp để tìm cơ hội tác chiến, đây là chỗ bất đồng quan trọng về lựa chọn hướng tác chiến tồn tại trong thời gian khá dài giữa đồng chí lãnh đạo đoàn cố vấn và cán bộ lãnh đạo của Quân đội nhân dân lúc bấy giờ. Rất rõ ràng, cái trước là tìm điểm yếu đánh, cái sau xông vào chỗ cứng. Theo tình hình chiến trường Đông Dương và thực lực, trình độ chiến thuật, kỹ thuật, tố chất tác chiến của Quân đội nhân dân Việt Nam lúc bấy giờ thì không nên tiến hành tác chiến công kiên ở đồng bằng châu thổ sông Hồng.

Để giải quyết vấn đề này, hạ tuần tháng 5 năm 1953, lãnh đạo Đoàn cố vấn quân sự cùng với nhà cầm quyền tối cao Quân đội nhân dân lúc bấy giờ bàn bạc quyết định, tập trung một bộ phận cán bộ cao cấp hiệp đồng với bộ phận cố vấn thành lập ban biên tập và thẩm định, thông qua nghiên cứu đặc điểm bố phòng của địch, biên soạn tài liệu quân sự, tập huấn cán bộ, để thống nhất tư tưởng tác chiến. Nhiệm vụ này trải qua thời gian hơn 5 tháng đến hội nghị tác chiến Quân đội nhân dân tháng 11/1953, mới hoàn thành, đã hình thành phương án ý tưởng chủ lực tiến quân lên Tây Bắc, đánh lấy Lai Châu tác chiến ở hướng Thượng, Trung Lào. Phát biểu của đồng chí Vi Quốc Thanh, Tổng cố vấn quân sự tại hội nghị tác chiến quân đội nhân dân ngày 24/11/1953 đã có tác dụng hết sức quan trọng đối với việc hình thành từng bước phương án tác chiến này. Lúc đó, đồng chí lấy những sự thật sinh động của Trung ương Đảng ta kiên trì biến khu Thiểm, Cam, Ninh 13 năm và cuối cùng giành được thắng lợi toàn quốc, trình bày sâu sắc ý nghĩa chiến lược sâu xa của chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam tiến lên Tây Bắc và Thượng, Trung Lào tác chiến, đã thuyết phục mạnh mẽ cán bộ cao cấp trong Quân đội nhân dân có ý kiến bất đồng đối với tác chiến ở vùng Tây Bắc không ít cán bộ Quân đội nhân dân nói phát biểu của đồng chí cố vấn rất có sức thuyết phục, thực sự đã giải quyết về mặt tư tưởng vấn đề tiếp tục lên Tây Bắc tác chiến.

Kế đến là quyết sách tiến quân lên Trung Lào tác chiến đã có tác dụng thúc đẩy đối với sự hình thành phương án tác chiến nói trên. Lúc đó quân Pháp đang tập trung một bộ phận binh lực cơ động tiến hành “càn quét” ở Nam Bộ. Để phối hợp tác chiến ở miền nam, đồng chí La Quý Ba lãnh đạo đoàn cố vấn từng kiến nghị với phía Việt Nam tại ngã ba quốc lộ 8, quốc lộ 12, chạy dọc theo dãy núi Trường Sơn xuyên qua quốc lộ 9 làm một con đường chạy thẳng tới Nam Bộ (tức sau này người ta gọi là đường mòn Hồ Chí Minh), khai thông liên hệ giữa Nam Bộ và Bắc Bộ. Trong khi cùng với Cục Tác chiến Việt Nam trao đổi vấn đề này và nghiên cứu tình hình địch, phát hiện binh lực địch phân bố trên quốc lộ 8, 12 rất mỏng yếu. Hai tiểu đoàn địch bố trí trong 38 cứ điểm, mỗi cứ điểm lớn là một đại đội, nhỏ là một tiểu đội, đông tây kéo dài 150 km, nam bắc cách nhau hơn 100 km. Quân đội nhân dân Việt Nam đồng ý kiến nghị của đoàn cố vấn, quyết định tháng 12/1953 tiến quân lên Trung Lào quét sạch cứ điểm của địch phân tán trên quốc lộ 8, 12. Hai trung đoàn của đại đoàn 304 chấp hành nhiệm vụ này rất thuận lợi, trong thời gian rất ngắn đã tiêu diệt hoàn toàn hai tiểu đoàn địch trên hai quốc lộ này, trực tiếp áp sát Thakhẹt, Savanakhet. Lúc này địch điều động tám, chín tiểu đoàn cơ động nhảy dù xuống Trung Lào. Hành động này một lần nữa phân tán binh lực cơ động của địch. Mặc dù bộ đội tiến đến Trung Lào tiến triển không lớn sau khi địch tăng viện, nhưng quần nhau với địch trong thời gian dài ở Thakhẹt, Savanakhẹt và đường 9, đã kiềm chế binh lực cơ động của địch, làm cho chúng không thể điều đi nơi khác, chi viện mạnh mẽ cho tác chiến ở chiến trường Tây Bắc. Thắng lợi của tiến quân lên Trung Lào cũng có lợi cho khai thông tư tưởng của cán bộ quân đội nhân dân lên vùng tây bắc và vùng binh lực địch mỏng yếu tác chiến.

Mục tiêu tiến quân lên Tây Bắc dự tính đấy lấy Nà Sản. Do địch ở Nà Sản tháng 8 bỏ chạy, sau chuyển sang công kích Lai Châu. Khi chủ lực quân đội Việt Nam đang chuẩn bị tiến quân lên Tây Bắc, thì bọn địch ở Lai Châu có triệu chứng rút lui, nhưng đồng thời địch cho 4 tiểu đoàn nhảy dù xuống Điện Biên Phủ và không ngừng tăng thêm. Sau khi chủ lực quân đội Việt Nam tiêu diệt một bộ phận địch trong vận động lên Thượng Lào và vùng Lai Châu quay về bao vây Điện Biên Phủ. Đây chính là nguyên nhân của sự tác chiến Điện Biên Phủ.


II

Đi đôi với giải quyết vấn đề chọn hướng, vùng tác chiển trong cán bộ lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam, còn phải giải quyết vấn đề “ đánh trận gì, đánh như thế nào ” trong bộ đội.

Quân đội nhân dân Việt Nam từ không đến có, từ nhỏ đến lớn, đến năm 1953 ở Bắc Bộ có 5 đại đoàn bộ đội chính quy. Ngoài một đại đoàn (đại đoàn 320) thường xuyên phân tán ở vùng tả, hữu ngạn đồng bằng sông Hồng để kiên trì chiến tranh du kích đồng bằng ra, có thể tập trung bốn đại đoàn chính quy tác chiến cơ động. Những bộ đội này từ đánh du kích phân tán, từng bước phát triển lên có thể đánh vận động quy mô như chiến dịch biên giới, cũng có thể đánh công kiên quy mô một lần tiêu diệt hai ba tiểu đoàn như chiến dịch Biên Giới, Tây Bắc, Thượng Lào. Nhưng đánh công kiên, quy mô lớn hơn, thời gian kéo dài hơn thì chưa trải qua. Khi nghiên cứu đánh cứ điểm Nà Sản, một cán bộ phụ trách quân đội nhân dân thổ lộ với tác giả : “ Nếu binh lực bố phòng của địch trong vòng 6 tiểu đoàn thì chắc chắn tiêu diệt; nếu địch bố phòng 8 tiểu đoàn, có thể miễn cưỡng đánh được, nhưng không chắc lắm ”.

Cùng với sự phát triển của tình hình đấu tranh bố phòng cụm cứ điểm có tính tập đoàn của địch xuất hiện, làm cho phương thức đánh công kiên mang tính tập kích trước đây đã không thể thích ứng với nhu cầu của tác chiến, hơn nữa, bộ đội đã bắt đầu trang bị lựu pháo 105 và vũ khí cao xạ phòng không. Như vậy một loạt vấn đề mở thông đường, xây trận địa, sửa đường, tập kết lương thực súng đạn v.v... đều là những vấn đề thực hiện mới đối với đông đảo cán bộ chỉ huy quân đội nhân dân. Để giải quyết mâu thuẫn trên đây, khi xác định nhiệm vụ thành lập Ban biên tập thẩm định, đồng chí Vi Quốc Thanh Tổng cố vấn Đoàn cố vấn quân sự nhấn mạnh phải làm tốt cơ sở bảo đảm chiến thuật cho chiến dịch Đông xuân. Đồng chí nêu lên cụ thể : phía ta xây dựng đề cương giao cho cán bộ phía ban tổ chức nghiên cứu chiến thuật, thông qua nghiên cứu chú trọng tìm hiểu tình hình, biên soạn tài liệu quân sự, chủ yếu là chiến đấu công kiên, viết từ động tác của người lính, viết đến chiến thuật công kiên hợp thành của tiểu đội, trung đội, đại đội tiểu đoàn cho đến trung đoàn, lấy cứ điểm Nà Sản vùng Tây Bắc lúc bấy giờ làm đối tượng nghiên cứu chủ yếu, khảo sát và chọn tốt bài diễn tập, tổ chức diễn tập, huấn luyện một tốp giáo viên, chuẩn bị tốt cho huấn luyện quân sự bộ đội trước chiến dịch, nghiêm túc làm tốt bảo đảm chiến thuật cho chiến dịch Đông xuân.

Ngày 29/5/1953, khi triệu tập một số đồng chí cố vấn bàn về giáo dục chiến thuật công kiên cho bộ đội phía bạn, đồng chí Vi Quốc Thanh nhấn mạnh : “ Phải xoay chuyển tư tưởng của bộ đội không muốn làm công sự, phải học biết xây công sự, thao tác cuối cùng, xây dựng trận địa tấn công ; học biết đào hào, tích trữ lương thực, đạn dược, sử dụng hoả pháo, phải học biết khống chế sân bay địch, nghiên cứu đặc điểm của địch có thể tốn ít thời gian hơn, biên soạn tài liệu và huấn luyện bộ đội công kiên cần phải tốn nhiều thời gian, biên soạn tài liệu không những giải quyết vấn đề tác chiến hiện thực mà còn phải đặt cơ sở mạnh mẽ cho tác chiến công kiên sau này. Điều đó vừa phải có nội dung tương đối toàn diện, lại cần phải làm nổi bật trọng điểm. Phải coi đó là một chuyển biến về tư tưởng chiến thuật của quân đội Việt Nam ”. Đồng chí còn nhấn mạnh nói, tác chiến Đông Xuân có ý nghĩa quan trọng đối với sự chuyển biến tình hình Việt Nam từ nay về sau, vì vậy cần phải coi công tác hiện nay là nhiệm vụ tác chiến để hoàn thành. Thực tiễn chứng minh, những ý kiến này hoàn toàn phù hợp tình hình chiến trường Đông Dương lúc bấy giờ và thực tế của bộ đội Quân đội nhân dân Việt Nam lúc bấy giờ.

Ngày 30/5/1953, sau khi nghe Ban biên tập thẩm định báo cáo vấn đề biên soạn tài liệu giảng dạy Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp ngoài việc nói thêm tầm quan trọng của biên soạn tài liệu giảng dạy còn nhấn manh : phải lấy học tập kinh nghiệm của Trung Quốc làm chính, phải giáo dục Quân đội nhân dân cần phải học thật tốt kinh nghiệm của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Ban biên tập và thẩm định gồm số ít cố vấn, đồng chí phụ trách ban ngành liên quan của Bộ Tổng Quân đội nhân dân và một số đồng chí phụ trách của các đại đoàn tổ thành, bắt đầu từ tháng 6 năm 1953 bắt tay nghiên cứu tình hình hai bên địch ta, áp dụng phương pháp vừa nghiên cứu, vừa biên soạn vừa thẩm tra, vừa sửa chữa bản thảo, tiến hành công việc biên soạn giáo trình. Quá trình này trên thực tế cũng là quá trình khai thông tư tưởng tác chiến của cán bộ biên soạn. Kết hợp với tiến hành công tác biên soạn, chúng ta không ngừng giới thiệu kinh nghiệm liên quan. Tháng 7 công việc biên soạn giáo trình cơ bản hoàn thành, tháng 8 bắt đầu khảo sát, lực chọn địa điểm diễn tập và chuẩn bị phương án diễn tập, tháng 9 bắt đầu tập huấn và diễn tập làm mẫu cho cán bộ trung đoàn trở lên. Những hoạt động này đã làm tương đối tốt công việc chuẩn bị huấn luyện, quân sự của Quân đội nhân dân.

Sau khi xem giáo trình biên soạn, Võ Nguyên Giáp biểu thị tán thành, đồng thời nêu ra : có thể bổ sung cụ thể một số đặc điểm tác chiến ban đêm và nội dung mấy cách đánh trong tình hình khác nhau được không, đồng thời nêu lên trong giáo trình nội dung hợp đồng giữa bộ binh, pháo binh yêu cầu đối với cán bộ của họ có cao hơn được không : đối với những vấn đề này, nhóm biên soạn đều có bổ sung và sửa đổi, điều chỉnh cần thiết trong thẩm định lại. Đoàn cố vấn quân sự và Bộ Tổng quân đội Việt Nam sau khi trao đổi cho rằng, trong tháng 9 nhất định phải hoàn thành nhiệm vụ tập huấn cán bộ, đợt đầu huấn luyện cấp phó, đợt hai huấn luyện cấp trưởng. Với sự hiệp đồng giữa cố vấn Trung Quốc và Ban biên tập thẩm định đã thực hiện thuận lợi nhiệm vụ huấn luyện cán bộ theo thời gian đã định. Để thực hiện nhiệm vụ huấn luyện cán bộ nói trên, các đồng chí lãnh đạo Đoàn cố vấn quân sự đã nhiều lần dặn dò các đồng chí cố vấn liên quan cần phải kiên trì nguyên tắc công tác và phương pháp công tác đúng đắn. Yêu cầu các đồng chí cố vấn coi trọng cao độ về tư tưởng nghiêm túc, thành khẩn, khiêm tốn, kiên nhẫn và tỉ mỉ về thái độ, nhấn mạnh chỉ được làm tốt, không được làm xấu. Đồng thời nhiều lần vạch rõ : ở trong nước, công tác làm sai dễ sửa chữa, làm cố vấn, công tác làm sai thì không dễ sửa chữa cho nên phải làm việc hết sức tỉ mỉ thận trọng. Lãnh đạo đoàn cố vấn còn đặc biệt nhấn mạnh ; không nên lấy trình độ quân đội Trung Quốc để đánh giá trình độ của quân đội bạn, không nên chỉ thấy khuyết điểm của bộ đội bạn, mà phải thấy nhiều ưu điểm của họ, những vấn đề có tính nguyên tắc liên quan đến phương châm chính sách càng phải thận trọng xem xét, nhiều thỉnh thị báo cáo, không nên bày tỏ thái độ một cách tuỳ tiện hời hợt. Các cố vấn đã nghiêm chỉnh quán triệt chấp hành những yêu cầu và nguyên tắc đó trong thực tiễn công tác.

III

Trên cơ sở cơ bản thống nhất tư tưởng và làm tốt bảo đảm chiến thuật, Quân đội nhân dân Việt Nam bắt đầu tiến quân lên vùng Tây Bắc Việt Nam, vào trung tuần tháng 11/1953. Trong quá trình tiến quân, một vấn đề hiện thực đặt ra trước mắt bộ đội chủ lực lúc bấy giờ là : có nên giữ thái độ tích cực tranh thủ tiêu diệt bọn địch ở Lai Châu hay không ? Trong tình hình binh lực địch ở Điện Biên Phủ tăng lên trên 15 tiểu đoàn còn dám đánh hay không ? Đồng thời một loạt vấn đề tuyến đường cung cấp lên Tây Bắc khá dài, tình trạng đường vận tải tương đối kém, các vũ khí nặng như lựu pháo 105, cao xạ pháo 37 v.v... đều lần đầu vận động đường xa, mở thông đường, xây dựng trận địa bộ đội cung cấp v.v... đã làm cho rất nhiều đồng chí quân đội Việt Nam cảm thấy khó khăn rất lớn, lo lắng rất nhiều. Vì vậy trên đường hành quân, bộ đội hơi lề mề, ba ngày hành quân thì nghỉ một ngày, đi một tuần nghỉ hai, ba ngày. Mỗi ngày hành quân chỉ được 25 km. Hành trình 200 km, dự tính đi 20 ngày.

Bọn địch ở Lai Châu trên thực tế chỉ có 1 tiểu đoàn bộ binh và hơn 10 đại đội vũ trang địa phương. Khi phát hiện địch rút về Điện Biên Phủ, quân đội Việt Nam sử dụng hai trung đoàn bộ binh truy kích tiêu diệt. Bộ đội cử đi chưa thể áp dụng phương thức bôn tập tích cực, hoặc chặn đánh mai phục giữa đường, để tiêu diệt, mà là tiến hành theo cách thông thường, làm cho phần lớn quân địch chạy thoát, chỉ bắt sống được bảy tám chục tên tản mát giữa đường. Lúc đó có người bàn tán rằng : cứ điểm Lai Châu gần biên giới Trung Quốc, đánh Lai Châu để người Trung Quốc đánh, đánh cho Trung Quốc. Thật là luận điệu kỳ lạ. Trong khi bộ đội hành quân, Bộ chỉ huy tiền phương quân đội Việt Nam có đồng chí hai lần thăm dò ý kiến của cố vấn : “ Binh lực của địch ở Điện Biên Phủ tăng lên trên 10 tiểu đoàn, làm thế nào ? Tăng lên trên 15 tiểu đoàn làm thế nào ? ”. Có ý là đánh hay không ? Chứng tỏ quân đội Việt Nam có cán bộ băn khoăn lo lắng rất nhiều đối với công phá cứ điểm có trên 10 tiểu đoàn binh lực đóng giữ. Sau khi quân địch ở Điện Biên Phủ bị bao vây, do ở gần chiến trường đều là rừng núi, không có đường đi, lựu pháo 105, cao xạ pháo 37 lần đầu tiên ra trận đi vào trận địa cực kỳ khó khăn. Sau khi Vi Quốc Thanh và Võ Nguyên Giáp nghiên cứu quyết định động viên cán bộ chiến sĩ dùng sức người kéo pháo, bắt đầu mỗi ngày kéo 500 mét, 1000 mét về sau mỗi ngày có thể kéo ba đến năm kilômét vừa kéo pháo vừa làm đường gần một tháng mới đưa đại pháo vào trận địa dự kiến.

Đang lúc tiền phương tiến hành chuẩn bị tác chiến khẩn trương, ngày 23/11/1953 Tổng tham mưu trưởng QĐNDVN Văn Tiến Dũng cử Cục trưởng Tác chiến Hà Văn Lâu gặp cố vấn Trung Quốc bàn vấn đề. Hà Văn Lâu trình bày bọn địch ở hai nơi Điện Biên Phủ, Trung Lào đều tăng trọng binh, tấn công Điện Biên Phủ có thể gặp khá nhiều khó khăn, đồng thời cảm thấy tuyến đường cung cấp cho hai hướng tác chiến tương đối dài, cung cấp có không ít khó khăn. Lúc đó tôi trả lời rằng : “ Binh lực cơ động đội dự bị chiến lược của địch đều bị ta phân tán, binh lực ta đã tập trung, đang là thời cơ tốt cho hai nơi tiêu diệt địch ”. Tôi còn nói : “ Khi hai trung đoàn của đại đoàn 304 tiến quân lên Trung Lào, vấn đề lo lắng lớn nhất là cung cấp khó khăn, nhưng sau khi bộ đội tiến lên đã đánh thắng trận, Liên khu 4 từng báo cáo nói Trung Lào có tăng thêm hai trung đoàn thì về cung cấp cũng không thành vấn đề. Bây giờ vẫn là binh lực của hai trung đoàn trước đây, đang phát triển thắng lợi, mở rộng chiến quả lại chưa tăng quân có chút khó khăn cũng có thể khắc phục được. Khi bộ đội chủ lực tiến quân lên Tây Bắc mọi người lo lắng lớn nhất cũng là vấn đề cung cấp, kết quả vẫn chẳng phải là khắc phục một cách thắng lợi đó sao ! Tôi lại nói vấn đề bây giờ là phải dám khắc phục khó khăn để giành thắng lợi, không nên sợ khó khăn quá đáng ”. Nghe những ý kiến này, hai đồng chí Văn Tiến Dũng và Hà Văn Lâu vui vẻ gật đầu tán thành. Sau đó tôi nghĩ, lần hẹn gặp này phải chăng định dùng phương thức đó để yêu cầu viện trợ mới nhưng do phía bạn trong trao đổi không đề cập đến vấn đề này, nên tôi cũng không tiện nói nhiều, chỉ phân tích cần thiết theo vấn đề tình thế. Trên thực tế, trong tác chiến Điện Biên Phủ ngoài kế hoạch năm ra Trung Quốc đã tăng thêm viện trợ rất nhiều vật tư quân sự.

IV

Tình hình địch ở Điện Biên Phủ không ngừng tăng quân và bộ đội Việt Nam từng bước hoàn thành thế bao vây địch, thời gian công tác chuẩn bị đã hơn hai tháng. Lúc này dám phát động công kích hay không, công kích vào lúc nào là vấn đề suy xét rất nhiều của những người chỉ huy tiền phương phía bạn. Vì vậy Chánh, Phó Tổng cố vấn Đoàn cố vấn quân sự đích thân ra mặt trận, cùng với các đồng chí Bộ chỉ huy tiền phương quân đội Việt Nam nghiên cứu, đề xuất ý kiến từ khảo sát đến bố trí, từ chiến thuật đến kỹ thuật, lựa chọn điểm công kích như thế nào, xoay quanh vấn đề tập trung binh lực, hoả lực như thế nào và xây dựng trận địa công kích như thế nào v.v.., và nghiêm chỉnh thông qua các đồng chí cố vấn của đại đoàn đi vào phân đội hỗ trợ cụ thể, tổ chức thực hiện.

Đứng trước binh lực hơn 20 tiểu đoàn địch đóng giữ Điện Biên Phủ lúc bấy giờ và công sự phòng ngự tập đoàn cứ điểm có diện tích rộng, vấn đề then chốt là : “ trận đầu ” phải thắng, nhưng làm thế nào để thắng. Điều đó liên quan đến toàn bộ chiến dịch có thể đánh liên tục, không ngừng, tiêu diệt toàn bộ, giành toàn thắng hay không. Vì vậy, lúc đó cùng với Bộ chỉ huy tiền phương nghiên cứu quyết định, xác định “ trận đầu ” dùng hai đại đoàn chủ lực cùng một lúc tấn công tiêu diệt cứ điểm một tiểu đoàn địch. Để nắm chắc thắng lợi hơn, Bộ chỉ huy tiền phương đã tạm thời thay đổi thành lần lượt công kích, tức là đêm 13/3 đại đoàn 312 công kích trước một tiểu đoàn địch ở cứ điểm Him Lam, đêm 14 đại đoàn 308 công kích một tiểu đoàn địch ở đồi Độc Lập. Như vậy hai tiểu đoàn lựu pháo 105 của phía Việt Nam có thể sử dụng tập trung hoả lực mức độ lớn hơn, càng nắm chắc chiến thắng hơn. Sau này xem lại, quyết định và thay đổi như thế là đúng đắn. Tấn công cứ điểm Him Lam rất thuận lợi lúc 20h tiêu diệt toàn bộ địch đóng giữ, chiếm lĩnh cứ điểm. Đêm 14, đại đoàn 308 mở công kích vào bọn địch ở đồi Độc Lập theo kế hoạch, pháo bộ binh đi theo chưa đến kịp giờ, sau khi bắt đầu công kích, hoả lực gián đoạn một hồi, bọn địch lập tức báo cáo lên trên “đêm nay bình yên vô sự”, không ngờ lúc tờ mờ sáng, bộ đội Việt Nam lại bắt đầu tấn công địch buộc phải đầu hàng trong hoảng loạn. Bọn địch chi viện cũng hoảng sợ rút lui trước sự pháo kích của phía Việt Nam.

 Sau khi địch đóng giữ ở Him Lam và đồi Độc Lập bị tiêu diệt hoàn toàn, một tiểu đoàn quân nguỵ đóng giữ Bản Kéo hoang mang cực độ. Đêm 17, hai đại đội và hai trung đội này đầu hàng phía Việt Nam. Như vậy tác chiến Điện Biên Phủ trận đầu phải thắng chính thức mở màn, hai đêm tiêu diệt gọn nhẹ hai tiểu đoàn địch. Sau đó bộ đội Việt Nam chuyển vào tổng kết kinh nghiệm “ trận đầu ” và chuẩn bị khẩn trương cho tác chiến đợt hai. Tác chiến đợt hai qua hai tuần chuẩn bị, đêm 30/3 chính thức nổ súng, về bố trí phía Việt Nam dùng ba đại đoàn mỗi đại đoàn chọn một cứ điểm địch trước mặt để công kích. Sau khi thuận lợi phát triển vào sâu bên trong theo hướng phát triển của mỗi đại đoàn dự định cho đến khi đạt mục đích cuối cùng tiêu diệt hoàn toàn quân địch. Sau khi mở công kích, bộ đội qua một đêm chiến đấu ác liệt chỉ chiếm được các cứ điểm trước mặt. Vì gặp phải cụm cứ điểm bên trong của địch phản kích dữ dội, vô kế khả thi, công kích liên tục năm đêm đều tiến triển không lớn. Thậm chí có bộ đội cơ chế hỗn loạn, mất khả năng đánh tiếp, lần lượt lợi dụng công sự địch chiếm được, cố giữ trận địa đã chiếm, chuyển vào phòng ngự, hình thành thế cầm cự với địch... Lúc này lại triệu tập hội nghị cán bộ, tổng kết bài học kinh nghiệm, cho rằng chủ yếu là nghiên cứu, nhận thức không đầy đủ đặc điểm của bố phòng tập đoàn cứ điểm của địch – vừa có thể cố thủ độc lập, vừa cấu thành hệ thống chi viện hoả lực dày đặc.

Vì vậy khi địch nắm được quy luật chuẩn bị hoả lực của ta, khi bộ binh ta bắt đầu xung kích, lợi dụng khe hở gián đoạn hoả lực của ta hoặc thời cơ kéo dài xạ kích địch phản kích lại hoả lực của ta, gây thương vong khá lớn cho bộ đội, khiến công kích bị trở ngại, cán bộ lại thiếu kinh nghiệm chỉ huy tác chiến liên tục, tỏ ra bất lực trước tình hình thay đổi ; toàn bộ việc bố trí còn thiếu đội dự bị chiến dịch, tất cả bộ đội hầu như triển khai toàn diện, vì vậy một khi công kích bị trở ngại, là không có khả năng đánh tiếp ngay. Dự định thông qua tác chiến đợt hai một cú đấm tiêu diệt toàn bộ quân đich, kết quả là dục tốc bất đạt, hình thành thế giằng co. Đúng vào lúc này đầu sỏ đế quốc Mỹ Dulles bay đến Sài Gòn loè bịp dọa dẫm, đồng thời mùa mưa sắp đến. Đứng trước hiện thực này, tiếp tục kiên trì đánh tới tiêu diệt hoàn toàn quân địch, giành toàn thắng hay là bỏ dở giữa chừng, lui quân kéo về ? Điều này không thể không là một thử thách ác liệt đối với người chỉ huy tiền phương của quân đội Việt Nam lúc bấy giờ. Có cán bộ phụ trách quân đội Việt Nam, luôn luôn phản ánh một số tâm tư lo ngại, từng hỏi cố vấn Vi Quốc Thanh : “ Nếu tiếp tục đánh, Dulles ném bom nguyên tử thì làm thế nào ? ”. Vi Quốc Thanh nói : “ Đừng sợ hắn doạ, khi chiến tranh Triều Tiên, Mỹ cũng doạ Trung Quốc, chúng ta nhất định phải kiên định quyết tâm tiếp tục chiến đấu, quyết không thể dao động quyết tâm ”.

Cũng đúng vào lúc này, hội nghị Genève sắp triệu tập. Các đồng chí lãnh đạo nước ta hết sức quan tâm đến thắng lợi của trận đánh lần này. Bộ trưởng Bành Đức Hòai còn căn cứ vào tình hình tác chiến lúc đó và ý kiến của Đoàn cố vấn quân sự, chỉ thị rõ ràng xác đáng, nên áp dụng phương châm đánh chắc thắng chắc, dùng cách thức gọt củ cải bóc vỏ ngô, chuẩn bị đầy đủ để tiêu diệt địch trước mắt, chuẩn bị tốt hơn tiêu diệt từng cứ điểm của địch, gọt đến một mức nhất định, đến một lúc nhất định thì mở tổng công kích tập trung tiêu diệt địch. Theo tinh thần đó, bộ đội có thể tiến hành luân phiên chuẩn bị, luân phiên tác chiến, luân phiên chấn chỉnh bổ sung, vừa đánh, vừa bổ sung, vừa chỉnh đốn có thể luôn luôn đứng ở vị thế chủ động. Sau khi tác chiến đợt hai Điện Biên Phủ đi vào cầm cự, lập tức dụng cách đánh nói trên, phía Việt Nam gọi là tác chiến đợt ba.

Tác chiến đợt ba, bộ đội Việt Nam cùng với pháo DKZ-75 không ngừng tiêu diệt cứ điểm tiểu đội, trung đội, đại đội địch ở từng nơi, từng bước áp sát sân bay địch, cho đến khống chế sân bay, cắt đứt viện trợ trên không, thả dù của địch, từ đó tăng thêm khó khăn cho địch cố thủ. Vào thời gian này bọn địch ở Điện Biên Phủ báo cáo với Hà Nội “ Xem ra Điện Biên Phủ không còn hy vọng ”. Pháo hoả tiễn nhiều nòng của Trung Quốc điều động cũng được đưa vào chiến trường. Bọn địch hoảng hốt la lên : “ Hoả lực pháo binh của Việt Nam còn mạnh hơn hoả lực chiến dịch Verdun, tương tự hoả lực của quân Liên Xô công phá Berlin ”. Mặc dù như vậy, bọn địch vẫn không cam chịu thất bại cuối tháng 4 đầu tháng 5, địch điều từ Hà Nội ba tiểu đoàn lính dù nhảy xuống Điện Biên Phủ. Những lính dù này vừa chạm đất đã bị quân đội Việt Nam tiêu diệt rất nhanh.

 Lúc bấy giờ đế quốc Pháp có tất cả 8 tiểu đoàn lính dù ở chiến trường Đông Dương, trong đó có 6 tiểu đoàn bị tiêu diệt ở Điện Biên Phủ. Trong tình hình như vậy bộ đội Việt Nam trải qua hơn 20 ngày đánh chắc thắng chắc, cứ đánh nhỏ, đánh vặt, không ngừng giành được thắng lợi, củng cố mở rộng trận địa vốn có, thu hẹp địa bàn địch cố thủ ; đồng thời bộ đội Việt Nam trải qua chỉnh đốn bổ sung đã dần dần khôi phục tinh thần và cơ chế. Nhất là sau khi khống chế sân bay địch, cắt đứt đường vận tải trên không của địch, chúng chỉ còn dựa vào thả dù tiếp tế, mà trên một nửa vật tư ném xuống rơi vào vùng khống chế của phía Việt Nam. Điều đó chuẩn bị điều kiện có lợi, đặt cơ sở có lợi cho tác chiến đợt bốn tổng công kích.

Mùa mưa sắp đến, hội nghị Genève tới gần, Vi Quốc Thanh và Võ Nguyên Giáp nghiên cứu quyết định chuẩn bị thật nhanh mở tổng công kích. Tổng công kích quân địch ở Điện Biên Phủ (Việt Nam gọi là tác chiến đợt bốn) bắt đầu từ đêm 6/5. Dưới sự chi viện của pháo hoả tiễn nhiều nòng, bộ đội Việt Nam trải qua một đêm chiến đấu ác liệt đã đánh chiếm ba cứ điểm quan trọng then chốt trong bố phòng của địch ở Điện Biên Phủ, tức là cứ điểm A, cứ điểm C và Châu Ôn. Đó cũng là ba cứ điểm quan trọng nhiều lần giành giật với địch từ tác chiến đợt hai trở đi. Phản kích của địch đều bị đập tan, lính nhảy dù cũng bị tiêu diệt toàn bộ ngay trong đêm đó. Đến đây, địch đã ở vào trạng thái tuyệt vọng, viên chỉ huy địch cố thủ, chuẩn tướng De Castries báo cáo với Hà Nội nói : “ Tiếp tục chống cự đã vô vọng ”. Viên chỉ huy Bắc Bộ cho phép ông ta “ tự xử lý ”.

Sáng ngày 7/5, phía địch ngừng bắn, quân đội Việt Nam trong khi áp sát cứ điểm địch, bọn địch không bắn súng, mà từ lỗ châu mai lần lượt thò ra các vật khăn trắng, mảnh vải trắng, tờ giấy trắng v.v.. để biểu thị đầu hàng. Buổi chiều, trong lô cốt bốn bề của địch lũ lượt giương cờ trắng. Bộ chỉ huy địch ở Mường Thanh cũng giương cao cờ trắng, bọn địch cố thủ cũng đầu hàng toàn bộ. Bộ đội Việt Nam chia nhau đi tiếp nhận đầu hàng. Tác chiến Điện Biên Phủ bắt đầu từ 13/3, trải qua 57 ngày đêm đến đây kết thúc thắng lợi ; tác chiến Đông Xuân bắt đầu từ tháng 12/1953, trải qua hơn 5 tháng chiến đấu căng thẳng, đến đây cũng kết thúc thắng lợi. Thắng lợi của tác chiến Điện Biên Phủ đã gạt bỏ trở ngại, lót đường cho việc ký kết hiệp định Genève. Nhân dân Việt Nam từ đây có một nửa giang sơn thoát khỏi cảnh đen tối và một chính quyền dân chủ nhân dân độc lập tự chủ, đích thực. Chính phủ Trung Quốc đi đầu cử La Quý Ba nguyên Đoàn trưởng đoàn cố vấn chính trị Trung Quốc tại Việt Nam làm Đại sứ tại Việt Nam, Liên Xô và những nước Đông Âu cũng kế tiếp cử Đại sứ.

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu đứng sừng sững kiên cường ở phương Đông của thế giới. Ngày 8/5 hội nghị Genève bắt đầu thảo luận vấn đề Đông Dương và ngày 20/7 ký hiệp định đình chiến. Pháp buộc phải thừa nhận độc lập của Việt Nam rút khỏi ba nước Đông Dương, cuộc chiến tranh chống Pháp của Việt Nam kết thúc thắng lợi. Thắng lợi của chiến dịch Biên Giới mùa thu năm 1950 đã củng cố mở rộng phát triển căn cứ địa chống Pháp Việt Bắc, tạo điều kiện thuận lợi, đặt cơ sở mạnh mẽ cho giải phóng Bắc Bộ Việt Nam. Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ đã tạo điều kiện thuận lợt đặt cơ sở vững chắc cho giải phóng hoàn toàn lãnh thổ Việt Nam, đánh đuổi thực dân Pháp và đánh bại xâm lược Mỹ về sau.

Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ đã cổ vũ mạnh mẽ cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân thuộc địa, nửa thuộc địa còn chưa được giải phóng lúc bấy giờ. Cuộc đấu tranh giải phóng của rất nhiều dân tộc và nhân dân bị áp bức ở Châu Á, Châu Phi v.v. từ đó về sau càng phát triển sôi nổi hơn nữa. Thắng lợi của tác chiến Điện Biên Phủ đã bồi dưỡng và rèn luyện mạnh mẽ khả năng công kiên của Quân đội nhân dân vào tập đoàn cứ điểm, cũng rèn luyện năng lực chỉ huy của Quân đội nhân dân, tổ chức tác chiến tập đoàn tương đối lớn. Lãnh đạo Trung ương Đảng Cộng sản và Tổng quân ủy Việt Nam đều thấu hiểu và nhận thức sâu sắc điều đó. Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng chỉ huy tiến quân giải phóng miền Nam Việt Nam thập kỷ 70 thế kỷ XX từng nói : “ Phải có một số trận đánh tiêu diệt có tính chiến lược lớn như Điện Biên Phủ, chỉ cần có hai ba trận lớn như thế, thì địch sẽ nhanh chóng sụp đổ ”. Đó là quan điểm của họ đối với chiến dịch Điện Biên Phủ, cũng là phương châm chỉ đạo về quân sự của Quân đội nhân dân Việt Nam giải phóng miền nam.

Chiến dịch Điện Biên Phủ đã trôi qua hơn 40 năm, những ấn tượng trong ký ức người ta dần dần biến mất. Nhưng những người làm công tác sử học của hai nước Trung – Việt sẽ không quên sự kiện này, Tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy chiến dịch này năm đó càng không quên, người con gái của vợ ông sinh ra sau chiến tranh được đặt tên là “ Điện Biên ” để kỷ niệm thắng lợi to lớn quyết định vận mệnh của nhân dân các dân tộc Việt Nam này.

ĐOÀN CỐ VẤN QUÂN SỰ HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ VIỆN TRỢ CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG PHÁP CỦA VIỆT NAM
Trương Quảng Hoa


Từ tháng 8 năm 1950 đến đầu năm 1956, Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc giúp Quân đội nhân dân Việt Nam tác chiến và xây dựng, đã làm rất nhiều việc. Đồng thời, Đoàn cố vấn quân sự còn coi trọng xây dựng nội bộ, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, không ngừng cải tiến lề lối làm việc. Sau khi cuộc chiến tranh chống Pháp của Việt Nam giành được thắng lợi, lập lại hoà bình ở Đông Dương, nhiệm vụ lịch sử viện trợ cuộc đấu tranh chống Pháp của Việt Nam mà Đoàn cố vấn quân sự gánh vác hoàn thành thắng lợi. Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc kịp thời ra quyết định từng bước rút Đoàn cố vấn quân sự đến mùa xuân 1956, toàn thể đoàn viên đoàn cố vấn đã rút về nước. Hành động thực tế của Đoàn cố vấn quân sự gương mẫu chấp hành nhiệm vụ quốc tế đã tăng thêm tình hữu nghị chiến đấu giữa nhân dân hai nước Trung – Việt.

I. Đoàn cố vấn quân sự hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ lịch sử

Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Quân uỷ Trung ương, được sự quan tâm và ủng hộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Đoàn cố vấn quân sự phát huy tinh thần quốc tế vô sản, đã hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ quốc tế gian khổ và vẻ vang của đảng giao cho, đã cống hiến sức mình vào thắng lợi của cuộc chiến tranh chống Pháp của Việt Nam và lập lại hoà bình ở Đông Dương.

Trong thời gian hơn 5 năm, Đoàn cố vấn quân sự chủ yếu làm mấy việc dưới đây.

Thứ nhất : Giúp Quân đội nhân dân tổ chức chỉ huy tác chiến, giành thắng lợi chiến tranh chống Pháp.

Căn cứ vào chỉ thị của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và thực tế đấu tranh của Việt Nam, Đoàn cố vấn quân sự coi việc gúp quân đội tổ chức chỉ huy tác chiến, không ngừng giành thắng lợi trong chiến dịch, chiến đấu, đánh bại bọn xâm lược Pháp là nhiệm vụ trung tâm của mình. Từ tháng 8 năm 1950 Đoàn cố vấn quân sự sang đến Việt Nam đến đình chiến Đông Dương năm 1954, Quân đội nhân dân lần lượt tiến hành tám chiến dịch quy mô tương đối lớn : Biên giới, Trung du, Đông bắc, Ninh Bình, Hoà Bình, Tây Bắc, Thượng Lào, Điện Biên Phủ. Trừ chiến dịch Hoà Bình, do Đoàn cố vấn quân sự đang tập huấn chỉnh đốn chưa ra mặt trận trực tiếp giúp chỉ huy ra, còn các chiến dịch khác đều tiến hành dưới sự giúp đỡ của Đoàn cố vấn quân sự từ quyết sách đến tổ chức thực hiện trong suốt quá trình chiến dịch.

Trong tám chiến dịch nói trên, đặc biệt quan trọng là ba lần thắng lợi Biên Giới, Tây Bắc, Điện Biên Phủ, Đoàn cố vấn quân sự đều đưa ra đúng lúc kiến nghị có tính chiến lược và giúp vạch kế hoạch tác chiến chu đáo, thực thi tổ chức chỉ huy linh hoạt cơ động, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Tổng quân uỷ, Quân đội nhân dân anh dũng tác chiến, đã đập tan thắng lợi các kế hoạch chiến tranh từ De Lattre de Tassigny đến Navarre, từng bước giành được thắng lợi trong chiến tranh chống Pháp. Đồng thời Quân đội nhân dân được rèn luyện và thử thách trong chiến đấu thực tế, nhanh chóng trở thành một quân đội cách mạng có thể nắm vững và vận dụng chiến lược chiến thuật của chiến tranh nhân dân, có khả năng tác chiến kiên cường.

Thứ hai : Giúp quân đội nhân dân tăng cường xây dựng quân sự, nâng cao tố chất quân sự của bộ đội.

Căn cứ theo yêu cầu phát triển của tình hình Đoàn cố vấn quân sự giúp Quân đội nhân dân thực hiện ba lần chuyển biến về tư tưởng chỉ đạo tác chiến và xây dựng quân đội, tiến hành ba lần chỉnh đốn biên chế tổ chức trang bị và huấn luyện quân sự có tính toàn quân. Lần thứ nhất, là chuyển biến từ đánh du kích lên đánh vận động bắt đầu từ chiến dịch biên giới năm 1950. Thích ứng nhu cầu của chuyển biến này, được Trung Quốc viện trợ và Đoàn cố vấn quân sự giúp đỡ cụ thể, Quân đội nhân dân lần lượt thành lập 6 đại đoàn bộ binh và 1 đại đoàn công pháo thống nhất biên chế, cải thiện trang bị, tăng cường huấn luyện chiến thuật kỹ thuật bước đầu nắm vững cách đánh vận động và năm kỹ thuật lớn. Sức chiến đấu nâng cao rõ rệt.

Lần thứ hai là chuyển biến từ đánh công kiên quy mô nhỏ lên đánh công kiên quy mô lớn từ sau chiến dịch Tây Bắc, Thượng Lào năm 1953. Thích ứng nhu cầu của chuyển biến này, Trung Quốc viện trợ quân đội nhân dân thành lập thêm bộ đội trọng pháo, cao xạ pháo, Đoàn cố vấn quân sự giúp biên soạn tài liệu công kiên tập đoàn cứ điểm, thống nhất tư tưởng tác chiến, tăng cường huấn luyện chiến thuật kỹ thuật công kiên, nâng cao năng lực tác chiến công kiên của bộ đội.

Lần thứ ba là chuyển biến từ môi trường chiến tranh sang môi trường hoà bình, từng bước thực hiện chính quy hoá hiện đại hoá quân đội từ sau khi Việt Nam thực hiện đình chiến. Được Trung Quốc viện trợ và Đoàn cố vấn quân sự giúp đỡ, quân đội nhân dân thống nhất hơn nữa biên chế toàn quân, cải thiện thêm một bước trang bị mới và tăng cường bộ đội đặc chủng tiến hành huấn luyện chính quy có hệ thống đối với bộ đội, làm cho bộ mặt bộ đội đổi mới.

Thứ ba : Giúp Quân đội nhân dân tăng cường xây dựng chính trị, nâng cao tố chất chính trị của quân đội.

Một là, giúp đặt đúng vị trí và vai trò xứng đáng của công tác chính trị trong quân đội, chú trọng tăng cường lãnh đạo tư tưởng, tăng cường chỉ đạo công tác chính trị thời chiến, bắt tay từ giáo dục cơ bản, có bước đi tổ chức tiến hành bốn đợt giáo dục tư tưởng chính trị lớn trong toàn quân, từ đó nâng cao rất nhiều giác ngộ chính trị của bộ đội, khích lệ nhiệt tình kháng chiến to lớn và tinh thần chiến đấu quên mình bảo đảm thắng lợi của chiến dịch và hoàn thành mọi nhiệm vụ, đồng thời làm cho cán bộ các cấp trong Quân đội nhân dân nhận thức được tính chất cực kỳ quan trọng của việc tăng cường lãnh đạo chính trị tư tưởng của đảng, từng bước học hỏi bản lĩnh tiến hành công tác chính trị tư tưởng, điều đó có ý nghĩa sâu xa đối với việc xây dựng Quân đội nhân dân.

Hai là, giúp tăng cường xây dựng đảng trong quân đội. Sau khi công khai tổ chức của Đảng Lao động trong quân đội, giúp xây dựng và kiện toàn chế độ đảng uỷ, xây dựng tập thể đảng uỷ, làm sống động sinh hoạt đảng, tăng cường xây dựng cơ sở đảng, chỉnh quân chính trị năm 1953, làm trong sạch đội ngũ của đảng. Những biện pháp cơ bản này đã nâng cao rất lớn sức chiến đấu của đảng uỷ và chi bộ các cấp.

Ba là, giúp Tổng cục Chính trị xây dựng kiện toàn bộ máy các ban nghiệp vụ, xác định rõ ràng chức trách công việc, huấn luyện cán bộ nghiệp vụ, tăng cường xây dựng nghiệp vụ, không ngừng tổng kết kinh nghiệm công tác chính trị và tăng cường chỉ đạo công tác, làm cho cơ quan chính trị các cấp và các loại nghiệp vụ ngày càng kiện toàn và hoàn thiện.

Giới thiệu có hệ thống kinh nghiệm công tác chính trị thời chiến của quân đội Trung Quốc cho Tổng cục chính trị quân đội nhân dân. Quân đội nhân dân theo kiến nghị của cố vấn Trung Quốc triển khai các hoạt động tôn trọng cán bộ, yêu quý chiến sĩ, phát huy dân chủ, thi đua giết giặc lập công v.v.. đã có tác dụng rất lớn đối với giành thắng lợi tác chiến.

Thứ tư : Giúp Quân đội nhân dân đào tạo huấn luyện cán bộ, nâng cao tố chất của đội ngũ cán bộ.

Một là, giúp đào tạo, nâng cao cán bộ. Đây là một khâu quan trọng để làm tốt việc xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội nhân dân, bảo đảm nhu cầu tác chiến và xây dựng quân đội. Giúp tổ chức các lớp huấn luyện luân phiên các cấp nhiều khoá, bồi dưỡng huấn luyện cán bộ mọi mặt. Nhất là nhóm cố vấn chính trị giúp Tổng cục chính trị tổ chức lớp huấn luyện luân phiên trọng điểm là đào tạo huấn luyện cán bộ trung cao cấp, lần lượt tổ chức được 8 khoá, đã đào tạo huấn luyện hàng loạt cán bộ quân sự, chính trị, hậu cần, đạt hiệu quả rõ rệt. Trường sĩ quan lục quân do Trung Quốc giúp đỡ mở tại Vân Nam (sau dời về Quảng Tây, sau đình chiến dời về Hà Nội) cũng cử cố vấn Trung Quốc đến giúp mọi mặt trong mấy năm đã đào tạo huấn luyện trên một vạn cán bộ, đã đóng vai trò quan trọng đối với tăng cường đội ngũ cán bộ quân đội nhân dân.

Hai là, sau chiến dịch biên giới, kịp thời nắm bắt giúp giải quyết vấn đề đường lối, phương châm chinhs ách cán bộ. Thực hành phương châm lấy công nông làm nòng cốt, đồng thời cũng coi trọng việc bồi dưỡng và sử dụng cán bộ xuất thân không phải công nông, uốn nắn cách làm chỉ chú ý đề bạt cán bộ trong phần tử trí thức, làm cho số lớn cán bộ công nông ưu tú trong bộ đội trưởng thành nhanh chóng, cán bộ xuất thân không phải công nông cũng nâng cao giác ngộ, kiên định lập trường chính trị.

Thứ năm : Giúp Quân đội nhân dân tăng cường xây dựng hậu cần, nâng cao năng lực bảo đảm hậu cần.

Một là, giúp Quân đội nhân dân tăng cường xây dựng cơ bản hậu cần. Ngay từ đầu giúp hậu cần xây dựng tư tưởng chỉ đạo đúng đắn coi việc phục vụ tiền tuyến, phục vụ bộ đội, bảo đảm tác chiến thắng lợi là nhiệm vụ trung tâm của công tác hậu cần. Giúp xây dựng, kiện toàn và chỉnh đốn tổ chức hậu cần các cấp, tăng cường công tác chính trị của hệ thống hậu cần và quản lý cán bộ hậu cần, bồi dưỡng năng lực nghiệp vụ và tác phong cần cù tiết kiệm của cán bộ hậu cần. Giúp xây dựng và hoàn thiện các quy tắc điều lệ chế độ, chỉnh đốn công tác tài chính kinh tế, tăng cường quản lý tài chính kinh tế, từng bước khắc phục hỗn loạn về cung cấp quân nhu và công tác bảo đảm hậu cần khác tồn tại do không có quy chế điều lệ để tuân theo, làm cho công tác hậu cần từng bước đi vào quỹ đạo không ngừng nâng cao năng lực bảo đảm.

Hai là, giúp làm tốt xây dựng hậu phương, nâng cao năng lực bảo đảm hậu cần sau chiến dịch. Sữa chữa, làm mới các con đường ở căn cứ địa hậu phương của quân đội nhân dân, xây dựng tuyến giao thông vận tải thuỷ bộ thông ra tiền tuyến, và cả việc xây dựng binh trạm và hệ thống cấp cứu chữa bệnh v.v.. đều tiến hành dưới sự viện trợ rất lớn của Trung Quốc và giúp đỡ của cố vấn Trung Quốc. Trong mấy chiến dịch lớn, từ chuẩn bị hậu cần trước chiến dịch đến thực thi các bảo đảm hậu cần trong quá trình chiến dịch, đều được Đoàn cố vấn quân sự hỗ trợ cụ thể, Tổng cục hậu cần Quân đội nhân dân lãnh đạo tiến hành. Rất nhiều kiến nghị đúng lúc, sát thực tế của cố vấn giúp phía Việt Nam tránh được sai sót, cải tiến công tác, khắc phục khó khăn, bảo đảm nhu cầu của tiền tuyến. Với sự nỗ lực của toàn thể cán bộ hậu cần quân đội nhân dân, công tác bảo đảm hậu cần chiến dịch ngày càng tốt, đóng vai trò xứng đáng trong việc giành thắng lợi của chiến dịch.

Thứ sáu : Hỗ trợ làm tốt công tác viện trợ vật tư quân sự cho Việt Nam, bảo đảm nhu cầu tác chiến và xây dựng của Quân đội nhân dân.

Trong thời kỳ chiến tranh chống Pháp của Việt Nam, Trung Quốc là nước duy nhất cung cấp số lớn viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam. Theo thống kê chưa đầy đủ trong thời kỳ chiến tranh chống Pháp Trung Quốc đã viện trợ cho Quân đội nhân dân Việt Nam 155.000 khẩu súng các loại, 57.850.000 viên đạn các loại, 3692 khẩu pháo các loại, 1.080.000 đạn pháo các loại, 840.000 quả lựu đạn, 1231 ôtô, 1.400.000 bộ quân phục, hơn 14.000 tấn lương thực và thực phẩm phụ hơn 26.000 tấn dầu, và rất nhiều thuốc men và vật tư quân dụng khác.

Viện trợ vật tư quân sự của Trung Quốc cho Việt Nam bắt đầu từ tháng 6 đầu năm 1950. Sau khi Đoàn cố vấn quân sự vào Việt Nam, căn cứ vào tình hình cụ thể và yêu cầu của Bộ tổng Quân đội nhân dân, đã giúp phía Việt Nam vạch kế hoạch yêu cầu vật tư viện trợ nửa năm hoặc cả năm, đề xuất kiến nghị với Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc xem xét kế hoạch viện trợ. Khi cần thiết, còn căn cứ vào nhu thực tế của tác chiến Quân đội nhân dân, đáp ứng yêu cầu của phía Việt Nam, kịp thời đề xuất kiến nghị viện trợ khẩn cấp tạm thời với Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương Trung Quốc, để bảo đảm nhu cầu của tác chiến trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung Quốc đã tăng thêm rất nhiều viện trợ trang bị và vật tư quân sự như ôtô, súng ống, xăng dầu, đạn dược, lương thực v.v..

Công tác sáu mặt trên đây của Đoàn cố vấn quân sự đều tuân theo nguyên tắc tư tưởng của Mao Trạch Đông về chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân, kết hợp với tình hình đã hoàn thành mỹ mãn hai nhiệm vụ to lớn giúp Việt Nam đánh thắng trận và xây dựng quân đội chính quy mà Trung ương Đảng Trung Quốc giao cho.

II. Sự lãnh đạo kiên cường, kịp thời của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với Đoàn cố vấn quân sự

Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương Trung Quốc rất quan tâm và coi trọng công tác của Đoàn cố vấn quân sự. Trước khi ra nước ngoài, lãnh đạo Trung ương Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức đích thân gặp gỡ các cố vấn, ân cần dặn dò ý nghĩa to lớn của công tác ở Việt Nam, giao rõ nhiệm vụ, và đưa ra yêu cầu nghiêm khắc. Trong thời gian đoàn cố vấn ở Việt Nam, các kiến nghị quan trọng liên quan đến tác chiến và xây dựng quân đội nêu ra với phía Việt Nam đều qua Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai v.v.. phê duyệt. Trong các điện chỉ thị của Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương gửi cho Đoàn cố vấn quân sự có rất nhiều cái tự tay Mao Trạch Đông chấp bút. Mỗi một chiến dịch quan trọng và mỗi một công việc quan trọng, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quân uỷ Trung ương đều có chỉ thị cụ thể cho Đoàn cố vấn. Sự lãnh đạo kiên cường, kịp thời của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc là bảo đảm căn bản cho Đoàn cố vấn quân sự hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ viện trợ Việt Nam đấu tranh chống Pháp.

Trong thời gian Đoàn cố vấn quân sự công tác tại Việt Nam, toàn thể đồng chí ghi nhớ chỉ thị của các đồng chí lãnh đạo Trung ương, thành tâm thiện chí phục vụ sự nghiệp giải phóng của nhân dân Việt Nam với nhiệt tình chính trị tràn đầy. Các đồng chí và cán bộ chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam cùng hành quân đánh giặc, ăn ngủ ngoài trời, đồng cam cộng khổ, đoàn kết hợp tác, quân hệ chan hoà. Thi hành nghĩa vụ quốc tế bằng hành động thực tế gương mẫu được Quân đội nhân dân từ trên xuống dưới nhất trí đánh giá tốt. Nhưng do nguyên nhân chủ khách quan sống ở môi trường nước ngoài lâu dài, phân tán chấp hành nhiệm vụ, thiếu kinh nghiệm công tác nước ngoài v.v... nên trong công tác cũng nảy sinh một số vấn đề. Nhất là ở giai đoạn đầu sang Việt Nam công tác có nhiều đồng chí có lúc chủ quan, nóng vội trong công tác không chú ý lắm đến phương thức, phương pháp hoặc bao biện làm thay, thiếu điều tra nghiên cứu có hệ thống, giới thiệu kinh nghiệm Trung Quốc không chú ý lắm đến tình hình thực tế của Việt Nam, yêu cầu quá cao, quá gấp đối với phía Việt Nam, công tác thiếu trọng điểm, dẫn đến có lúc ảnh hưởng đến hiệu quả công tác.

Nhằm vào tình hình nói trên, sau ba chiến dịch vùng đồng bằng, Đoàn cố vấn quân sự tập trung toàn thể cố vấn và nhân viên công tác tiến hành một cuộc chỉnh đốn tư tưởng và tổ chức từ tháng 11/1951 đến đầu 1952. Trong cuộc chỉnh huấn này, chú trọng giáo dục chủ nghĩa quốc tế, tổng kết công tác hơn một năm qua, liên hệ tư tưởng cá nhân và thực tế công tác, trao đổi kinh nghiệm, đẩy mạnh phê bình và tự phê bình. Đồng thời, thành khẩn trưng cầu ý kiến của phía Việt Nam, và mời lãnh đạo Quân đội nhân dân giới thiệu có hệ thống lịch sử, tình hình hiện thực của Quân đội nhân dân và tình hình quân địch. Qua cuộc chỉnh đốn lần này đã làm sâu sắc thêm hiểu biết về nhiệm vụ công tác của đoàn cố vấn, uốn nắn hơn nữa thái độ công tác, nâng cao tính tự giác chấp hành “quy tắc công tác của đoàn cố vấn”, tăng cường đìều tra nghiên cứu tình hình Việt Nam, làm cho kinh nghiệm Trung Quốc và thực tế Việt Nam được kết hợp một cách chặt chẽ hơn.

Sau đó dưới sự chủ trì của Đặng Dật Phàm, đã tăng cường công tác tư tưởng đối với các cố vấn, sinh hoạt đảng đều đặn, quản lý chặt chẽ cán bộ đi cùng, bảo đảm hoàn thành mọi nhiệm vụ.

Trên cơ sở chỉnh đốn tư tưởng, đã tiến hành điều chỉnh tổ chức tương đối lớn. Rút bỏ cố vấn đơn vị tiểu đoàn Quân đội nhân dân. Đầu năm 1952 điều một số cố vấn cấp đại đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn về nước và tinh giảm số lớn cán bộ đi cùng, làm cho bộ máy tổ chức của Đoàn cố vấn quân sự tương đối tinh gọn, từ lúc bắt đầu gần 300 người giảm xuống còn hơn 100 người. Sau đó Đoàn cố vấn quân sự đặt trọng điểm giúp quân đội và Bộ Tổng và mấy đại đoàn chủ lực, các đại đoàn 308, 312, 316 và đại đoàn công pháo 351, để nhóm cố vấn tinh gọn, đơn vị dưới trung đoàn nói chung không cử cố vấn nữa. Chẳng bao lâu, Nguyễn Chí Thanh thay mặt Trung ương Đảng Lao động Việt Nam nêu ra yêu cầu cử thêm cố vấn các ban chủ yếu của Bộ Tổng tham mưu và cố vấn chính trị của đại đoàn chủ lực. Tháng 5, 7 năm 1952, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc tiếp nhận yêu cầu của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, lại tiếp tục cử một đợt cố vấn quân sự, chính trị, hậu cần. Hạ tuần tháng 6, tại Bắc Kinh, Lưu Thiếu Kỳ tiếp một số cán bộ mới sắp cử sang công tác tại Việt Nam, một lần nữa ra chỉ thị quan trọng về ý nghĩa to lớn sang công tác tại Việt Nam và làm thế nào để làm tốt công tác cố vấn.

Đoàn trưởng Đoàn cố vấn quân sự Vi Quốc Thanh về nước nghỉ chữa bệnh sau khi kết thúc chiến dịch Ninh Bình tháng 6/1951, Quân uỷ Trung ương xét thấy tình hình sức khoẻ đồng chí tạm thời không thể trở lại Việt Nam công tác, nên ngày 29/5/1952, bổ nhiệm La Quý Ba kiêm làm Đoàn trưởng Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc, Mai Gia Sinh làm Phó đoàn trưởng thứ nhất, Đặng Dật Phàm làm Phó đoàn trưởng thứ hai. Ngày 15/6, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc phê chuẩn hợp nhất Đoàn cố vấn quân sự và Đoàn cố vấn chính trị. Đoàn cố vấn chính trị do La Quý Ba lãnh đạo thành lập 11/1950, Đoàn cố vấn quân sự, chính trị thông báo tình hình cho nhau, phối hợp chặt chẽ với nhau trên công tác. Sau khi La Quý Ba kiêm nhiệm Đoàn trưởng Đoàn cố vấn quân sự, hai đoàn cố vấn hợp lại, công tác càng thêm thuận tiện.

Ngày 29/9/1952, trước ngày Quốc khánh lần thứ ba nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc gửi thư thăm hỏi động viên La Quý Ba và toàn thể cố vấn cùng nhân viên công tác trong đoàn cố vấn. Trung ương ngỏ lời “ thăm hỏi động viên thắm thiết nỗi vất vả hai năm qua ”, nêu rõ công tác của đoàn cố vấn “ đạt thành tích nhất định ”, “ Điều đó không những có ý nghĩa đối với cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc mà còn có ý nghĩa đối với cuộc đấu tranh của phe dân chủ thế giới ”. Đồng thời chỉ rõ : “ Các đồng chí nhất thiết không được vì thế mà kiêu căng tự mãn ”, “ các đồng chí còn có khuyết điểm với mức độ khác nhau ” “ mong các đồng chí nhanh chóng sửa chữa ” “ để nâng cao công tác lên một bước ”, “ hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang mà Trung ương giao cho các đồng chí ”. Bức điện vừa động viên vừa phê bình vừa hy vọng đó đã khích lệ và giáo dục rất lớn đối với toàn thể đoàn viên đoàn cố vấn.

Tháng 5/1953, Đoàn cố vấn căn cứ vào kinh nghiệm thực tiễn hơn hai năm qua và nhu cầu triển khai công việc hơn nữa, đã xây dựng lại “quy tắc công tác Đoàn cố vấn”. “quy tắc” mới so với “quy tắc” cũ, nội dung đầy đủ hơn, quy định chi tiết hơn, yêu cầu chặt chẽ hơn. Sau khi báo cáo “quy tắc công tác Đoàn cố vấn” lên Trung ương, Mao Chủ tịch đích thân sửa chữa bổ sung. Ngày 29/5, Trung ương Đảng phên chuẩn công bố thi hành.

Ngày 23/9/1953, Trung ương Đảng ra “chỉ thị về công tác cố vấn” nêu rõ : Làm cố vấn ở nước anh em, dù đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc hay đối với đảng anh em đều là một trách nhiệm chính trị cực kỳ to lớn. Chúng ta phải toàn tâm toàn ý giúp đỡ đảng anh em, nhưng phải cố hết sức tránh giúp sai. Vì vậy, đoàn cố vấn phải xử lý đúng đắn quan hệ ba mặt : quan hệ cố vấn các cấp với Ban chỉ huy đoàn cố vấn và Ban chỉ huy đối với Trung ương ; quan hệ Trung ương đối với Ban chỉ huy đoàn cố vấn và Ban chỉ huy đối với các cố vấn; quan hệ Ban chỉ huy đoàn cố vấn đối với Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, các cố vấn đối với tổ chức các cấp Đảng Lao động Việt Nam ở đơn vị mình công tác. Xử lý quan hệ ba mặt này như thế nào cho tốt, “chỉ thị” nêu rõ ràng xác đáng : quan hệ của cố vấn đối với cố vấn cấp trên và ban chỉ huy đoàn cố vấn đối với Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc cần phải chặt chẽ hơn, báo cáo nhiều hơn, phản ánh tình hình nhiều hơn hiện nay. Chỉ thị của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và chỉ thị của Ban chỉ huy đoàn cố vấn đối với cố vấn cấp dưới đều không phải là chỉ thị đối với Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và tổ chức các cấp của họ. Sau khi cố vấn nhận được chỉ thị của cấp trên phải nghiên cứu những chỉ thị đó đã thoả đáng chưa, thời cơ đề xuất với đối phương đã chín muồi chưa, chứ không nên vừa nhận chỉ thị cấp trên là lập tức đề xuất kiến nghị đối phương mà chẳng suy nghĩ gì cả. Quan hệ giữa cố vấn và đảng Lao động Việt Nam là quan hệ với đồng chí đảng anh em. Cố vấn không được tự mình ra tay, cũng không được thủ trưởng phụ trách, càng không được tự mình xuất diện đấu tranh với tư tưởng sai lầm trong đảng Lao động Việt Nam.

Đề xuất kiến nghị cần thiết, chỉ nên gói gọn trong những vấn đề tương đối lớn. Không nên cưỡng ép đối phương chấp nhận, cũng không nên can thiệp vào nhân sự của đối phương. Cố vấn nên đứng sau màn, không nên ra sân khấu biểu diễn, càng không nên ra sân khấu đóng vai chính. “Chỉ thị” nghiêm túc phê bình cách làm sai lầm bao biện làm thay, khách lấn chủ nào đó trong công tác cố vấn.

Chỉ thị trên của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc là văn kiện quan trọng về chuẩn tắc quan hệ giữa đảng anh em, các nước anh em, là kim chỉ nam hành động của công tác cố vấn. Lãnh đạo đoàn cố vấn rất coi trọng, tổ chức cho toàn thể cố vấn nghiêm chỉnh học tập, liên hệ thực tế tự kiểm điểm kiên quyết quán triệt tinh thần chỉ thị của Trung ương và trong công tác thực tế, toàn tâm toàn ý, phục vụ sự nghiệp giải phóng của nhân dân Việt Nam có hiệu quả hơn. Sau khi Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc bổ nhiệm Vi Quốc Thanh làm Tổng cố vấn quân sự, La Quý Ba làm Tổng cố vấn chính trị, tháng 5/1954, chia tách bộ máy Đoàn cố vấn quân sự và Đoàn cố vấn chính trị. Ngày 22/5, Trung ương Đảng Cộng satn Trung Quốc ra “ chỉ thị Đoàn cố vấn cần học tập văn kiện hội nghị toàn thể Trung ương lần thứ tư tiến hành kiểm tra tư tưởng đối với Đoàn cố vấn quân sự, chính trị, yêu cầu Đoàn cố vấn kết hợp thực tế học tập nghị quyết của hội nghị toàn thể Trung ương lần thứ tư khoá 7, giải quyết những tư tưởng ảnh hưởng đến công tác, ảnh hướng đến đoàn kết tồn tại trong nội bộ, để tăng cường đoàn kết trong đảng và đoàn kết với đảng anh em ”. Từ ngày 21/6 đến 7/7, Đoàn cố vấn quân sự tập trung toàn thể cố vấn để truyền đạt, học tập văn kiện hội nghị toàn thể Trung ương lần thứ tư của đảng. Học tập lần này lấy nghị quyết hội nghị toàn thể Trung ương 4 dẫn đầu tiến hành kiểm điểm, triển khai phê bình và tự phê bình, rút bài học kinh nghiệm, đã thống nhất nhận thức, tăng cường đoàn kết.

III. Rút Đoàn cố vấn quân sự

Hạ tuần tháng 8 năm 1954, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định chính thức thành lập Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam. Ngày 1/9, Đại sứ đầu tiên La Quý Ba trình quốc thư lên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam chính thức thành lập.

Trung tuần tháng 9, La Quý Ba chuyển đề nghị của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc về việc rút dần Đoàn cố vấn quân sự, chính trị lên Trung ương Đảng Lao động Việt Nam trưng cầu ý kiến của phía Việt Nam. Sau khi Trung ương Đảng Lao động Việt Nam thảo luận, bày tỏ đồng ý rút bộ máy tổ chức và tên gọi Đoàn cố vấn, tán thành từ nay về sau công khai mời cố vấn nhưng cho rằng cố vấn hệ thống quân sự này không nên áp dụng biện pháp mời công khai, vẫn nên giúp đỡ công tác bằng phương thức bí mật.

Ngày 10/10/1954, Đoàn cố vấn quân sự theo Bộ tổng Quân đội nhân dân về Hà Nội. Lúc này đoàn cố vấn có tất cả 237 người, trong đó nhân viên công tác bảo đảm cung cấp, y tế, điện đài v.v... chiếm đa số. Theo chỉ thị của Trung ương Đảng rút dần Đoàn cố vấn quân sự, Phó tổng cố vấn Mai Gia Sinh và một số cố vấn đại đoàn, trung đoàn đang nghỉ ở trong nước không phải sang Việt Nam công tác nữa. Tháng 7, 8 năm 1955, trong thời gian Vi Quốc Thanh nghỉ ở Bắc Kinh, Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình đã có chỉ thị về rút cố vấn của Đoàn cố vấn quân sự. Lưu Thiếu Kỳ nêu rõ, căn cứ vào tình thế mới, Đoàn cố vấn quân sự phải chia đợt rút về. Đoàn cố vấn đã giúp Việt Nam xây dựng bộ đội, huấn luyện bộ đội, tổ chức tác chiến v.v... đều đạt được rất nhiều thành tích. Về mặt giúp tiếp quản thành phố cũng có thành tích. Trước khi rút phải giáo dục toàn thể nhân viên không được có bất cứ chểnh mảng nào, phải làm tốt công việc từ đầu đến cuối. Trong công tác nếu mắc khuyết điểm sai lầm thì nên nghiêm chỉnh tự phê bình cố gắng làm tốt công tác đoàn kết. Đồng chí Đặng Tiểu Bình cũng nhấn mạnh, các đồng chí chúng ta công tác ở Việt Nam phải tích cực làm những công việc phải làm, phải đứng trên lập trường của nhân dân Việt Nam để làm việc, phải đoàn kết và tôn trọng các đồng chí Việt Nam, không được tuỳ tiện nêu ý kiến, làm sai còn phải bị phê bình.

Hạ tuần tháng 8, Vi Quốc Thanh từ Bắc Kinh về Hà Nội, truyền đạt chỉ thị nói trên của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và lãnh đạo Trung ương cho Đoàn cố vấn quân sự. Lúc này Đoàn cố vấn quân sự còn có tổ cố vấn quân sự, chính trị, hậu cần, pháo binh, công binh, hàng không dân dụng v.v.. vài chục cố vấn và nhân viên kỹ thuật. Ngày 2/9, sau khi đảng uỷ Đoàn cố vấn quân sự thảo luận nghiên cứu, đã sắp xếp cụ thể để quán triệt chấp hành chỉ thị của Trung ương ; trong tháng 9, 10, cuối năm và mùa xuân năm sau, nhân viên đoàn cố vấn chia làm ba đợt rút về nước, những người được mời làm chuyên gia quân sự và nhân viên kỹ thuật giao cho Phòng Tuỳ viên quân sự Sứ quán lãnh đạo, và nêu ra yêu cầu cụ thể để bảo đảm làm tốt các công tác và làm tốt đoàn kết trong ngoài trước khi rút.

Theo sắp xếp trên đây, trung tuần tháng 9/1955, sau khi hoàn thành nhiệm vụ công tác ở Việt Nam, Phó tổng cố vấn Đặng Dật Phàm và một số cố vấn rời Hà Nội về nước. Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam Nguyễn Chí Thanh đã hai lần trò chuyện thân tình với Đặng Dật Phàm trước khi về nước, bày tỏ tấm lòng cảm kích chân thành và tình bạn chiến đấu quyến luyến, và đích thân tiễn đồng chí đến mục Nam Quan nay là Hữu Nghị quan.

Ngày 24/2/1955, Bộ Quốc phòng và Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa cùng ra “ quyết định về rút Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc tại Việt Nam và chuyển sang chuyên gia quân sự ”, đồng thời chỉ định Vương Nghiên Tuyền làm Tổ trưởng Tổ chuyên gia, Quốc Lâm Chi làm Bí thư đảng uỷ Tổ chuyên gia. Quyết định trên đây của Chính phủ Trung Quốc đưa ra trong tình hình phía Việt Nam nhiều lần yêu cầu Trung Quốc tiếp tục cử cố vấn quân sự. Võ Nguyên Giáp dẫn đầu đoàn đại biểu quân sự Việt Nam hai lần thăm Trung Quốc vào mùa hè và mùa đông năm 1955 đều nêu ra yêu cầu tiếp tục cử cố vấn giúp Quân đội nhân dân Việt Nam. Vì vậy, đồng thời với Chính phủ Trung Quốc đưa ra quyết định này Bành Đức Hoài viết thư cho Võ Nguyên Giáp trình bày cụ thể vấn đề rút Đoàn cố vấn quân sự. Trong thư nói : “ Hoà bình đã thực hiện ở Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam đã được tôi luyện qua tám năm kháng chiến, về các mặt tác chiến hay huấn luyện đều có tiến bộ rất lớn, và thu được kinh nghiệm tác chiến khá phong phú, đã đặt nền tảng tốt đẹp đi lên hiện đại hoá chính quy hoá. Để thích ứng với tình hình trên đây, chúng tôi cho rằng cần thay đổi phương pháp hiện nay do Trung Quốc cử cố vấn quân sự giúp Quân đội nhân dân Việt Nam công tác, cho nên quyết định rút bộ máy tổ chức của Đoàn cố vấn quân sự hiện có. Nếu Quân đội nhân dân còn có công việc nào đó cần Trung Quốc giúp mà chúng tôi có thể giúp được thì chuyển sang cử cán bộ có tính chất chuyên gia đi giúp ”.

Trong thư còn nói rõ : “ Theo đề nghị của đồng chí, đồng chí Vi Quốc Thanh sẽ đi Hà Nội một thời gian ngắn, hỗ trợ Tổng quân uỷ sắp xếp một số công việc cần thiết đã thảo luận ở Bắc Kinh, sau khi làm xong những việc đó, đề nghị để đồng chí đó trở về ngay Bắc Kinh ”.

Mang theo thư Bành Đức Hoài gửi Võ Nguyên Giáp, ngày 29/12/1955 Vi Quốc Thanh rời Bắc Kinh đi Hà Nội, tiếp tục giúp Quân đội nhân dân sắp xếp công việc mà ba bên Trung Quốc, Việt Nam, Liên Xô đã thảo luận ở Bắc Kinh. Ngày 13/1/1956 một đội nhân viên cố vấn quân sự nữa về nước. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ công tác, và tham gia hội nghị cán bộ cao cấp Quân đội nhân dân, nghe yêu cầu và ý kiến của phía Việt Nam đối với công tác về sau, theo chỉ thị của Quân uỷ Trung ương Trung Quốc, trung tuần tháng 3, Vi Quốc Thanh cùng với đoàn nhân viên cố vấn cuối cùng rời Hà Nội. Trước khi về, Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh v.v... mở tiệc chiêu đãi Vi Quốc Thanh. Trong bữa tiệc, Hồ Chí Minh phiên dịch, mọi người trò chuyện với Vi Quốc Thanh nhiệt tình chân thành, bày tỏ tình hữu nghị chiến đấu keo sơn.

Đến đây Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ lịch sử, mọi công việc kết thúc toàn bộ, cơ cấu tổ chức giải thể.

IV. Tình hữu nghị chiến đấu giữa nhân dân hai nước Trung – Việt trường tồn

Trong thời gian Đoàn cố vấn quân sự công tác tại Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ của nhân dân Việt Nam, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Tổng Quân uỷ quan tâm nhiệt tình, tín nhiệm và ủng hộ rất lớn. Hồ Chí Minh nhiều lần nói : “ Tôi tuyệt đối tín nhiệm ” cố vấn Trung Quốc, cổ vũ cố vấn tích cực nêu ra kiến nghị, làm tốt công tác. Người yêu cầu “ giữa cán bộ Trung Quốc và Việt Nam phải đoàn kết ”, yêu cầu “ cán bộ Việt Nam phải thực thà học tập cán bộ Trung Quốc ”. Các kiến nghị liên quan đến quyết sách lớn tác chiến và xây dựng quân đội của Đoàn cố vấn quân sự đối với Việt Nam đều do Hồ Chí Minh từ hội nghị Trung ương Đảng thảo luận quyết định, sau đó Tổng Quân uỷ và cơ quan Bộ Tổng tổ chức thực hiện. Tổng quân uỷ và các tổng cục Quân đội nhân dân Việt Nam cũng rất quan tâm, tôn trọng và ủng hộ đoàn cố vấn. Nhiều lần bày tỏ “ nhiệt liệt hoan nghênh ” sự giúp đỡ của đoàn cố vấn, “ gửi gắm rất nhiều hy vọng ”, “ tôn trọng chân thành ” và theo sự phát triển của thực tiễn “ càng tin vào tính đúng đắn của tư tưởng Mao Trạch Đông và kinh nghiệm của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc ”.

Sự tin cậy và ủng hộ của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Tổng Quân uỷ và đông đảo cán bộ chiến sĩ Quân đội nhân dân đối với đoàn cố vấn là điều kiện quan trọng để Đoàn cố vấn quân sự hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ giúp Việt Nam đấu tranh chống Pháp.

Hồ Chí Minh cũng thân thiết, tỉ mỉ quan tâm đến cuộc sống của đoàn cố vấn. Người nhiều lần tiếp kiến các cố vấn và đến thăm nơi ở của đoàn cố vấn, thăm dò ý kiến, ân cần hỏi han, thân thiết như người nhà. Hoặc mời đồng chí lãnh đạo đoàn cố vấn cùng ăn cơm, hỏi chuyện nhà, bàn chiến sự, rất thoải mái. Mỗi khi có một số nhân viên mới đến công tác, Hồ Chủ tịch, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp v.v... đều đến đoàn cố vấn chào mừng, làm cho các đồng chí mới đến được giáo dục và cổ vũ. Mùa xuân năm 1953, Hồ Chí Minh còn mời riêng các đồng chí nữ trong đoàn cố vấn đến chỗ ở của người dự tiệc trà, biểu diễn văn nghệ, cùng vui liên hoan. Người nhiều lần tham gia hoạt động chúc mừng, ngày lễ lớn của hai đảng hai nước do Đoàn cố vấn tổ chức. Mỗi khi kết thúc hoạt động Người đều hào hứng chỉ huy mọi người hát vang bài ca “ Đoàn kết là sức mạnh ”. Có lúc Người còn làm thơ để bày tỏ tình cảm sâu sắc quan tâm, tin cậy, hữu nghị đối với đoàn cố vấn. Khi kết thúc chiến dịch biên giới, Hồ Chí Minh cho người đem tặng Trần Canh, Vi Quốc Thanh mấy chai rượu sâm banh của Pháp thu được trên chiến trường và kèm theo bài thơ chữ Hán :

Hương tân mỹ tửu dạ quang bôi.
Dục ẩm tì bà mã thượng thôi
Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu
Địch binh hưu phóng nhất nhân hồi ”.

Tam dịch như sau :

“ Sâm banh một cốc rượu ngon
Vừa nâng bỗng một tiếng đờn cất lên
Uống say ở chốn sa trường
Mà quân địch vẫn không đường thoát thân ”

Dạt dào niềm vui, phấn khởi chiến thắng biên giới. Có một lần Hồ Chí Minh đến thăm nơi ở của đoàn cố vấn, gặp lúc Vi Quốc Thanh v.v... không có ở nhà. Hôm sau, Chủ tịch cho người đưa đến Vi Quốc Thanh một bài thơ :

“ Bách lý tầm quân vị ngộ quân
Mã đề đạp túy lĩnh đầu vân
Quy lai ngẫu quá sơn mai thụ
Mỗi đoá hoàng hoa nhất điểm xuân ”.

Tạm dịch là :

“ Trăm dặm tìm anh chẳng gặp anh,
Vó ngựa trèo lên đỉnh núi xanh.
Trở về bỗng thấy nhành mai núi.
Mỗi đoá hoa vàng, một điểm xuân ”.

Bày tỏ tình cảm nồng nàn của Người đối với Đoàn cố vấn quân sự - cũng là đối với nhân dân Trung Quốc.

Toàn thể đồng chí Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc với tinh thần quốc tế vô sản cao độ, cùng đông đảo chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam đồng cam cộng khổ, hoạn nạn có nhau, không sợ ngày hè nắng gắt, không sợ khó khăn và hy sinh, làm việc cần cù vì sự nghiệp giải phóng của nhân dân Việt Nam. Thậm chí có đồng chí hiến dâng tuổi trẻ của mình yên nghỉ lâu dài trên mảnh đất Việt Nam. Họ đã vun xới thêm tình hữu nghị giữa nhân dân và quân đội hai nước Trung – Việt bằng tư tưởng phẩm chất đạo đức cao cả và hành động thực tế gương mẫu, được phía Việt Nam ca ngợi, Đảng, Chính phủ và quân đội Việt Nam đánh giá rất cao và cổ vũ rất lớn công tác của Đoàn cố vấn quân sự.

Tháng 7/1952, trong thư góp ý kiến của Tổng Quân uỷ quân đội nhân dân Việt Nam gửi đoàn cố vấn có nói : “ Nhờ có tư tưởng quân sự đúng đắn của Mao Chủ tịch và sự giúp đỡ nhiệt tình của các đồng chí, không những Quân đội nhân dân Việt Nam có tiến bộ, mà mấy đồng chí Tổng Quân uỷ chúng tôi cũng học tập tư tưởng và tác phong của các đồng chí ”. Ngày 2/1/1954, trong thư của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam gửi Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nói : “ Trong hơn một năm qua chúng tôi rất có tiến bộ. Sở dĩ có những tiến bộ đó, là do sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, sự chiến đấu dũng cảm của nhân dân, công tác tích cực của cán bộ. Và quan trọng hơn là được sự chỉ dẫn quý báu của các đồng chí và sự giúp đỡ hết mình của các đồng chí cố vấn ”.

Ngày 28/10/1955, Võ Nguyên Giáp nói khi hội đàm với Bành Đức Hoài : “ Cố vấn Trung Quốc giúp đỡ chúng tôi rất lớn, tình đoàn kết giữa chúng ta cũng rất tốt. Cán bộ của quân đội Việt Nam không chỉ rất khâm phục, mà còn rất có cảm tình với đồng chí Vi Quốc Thanh ”. Để biểu dương công tác của đoàn cố vấn, sau chiến dịch biên giới năm 1950, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tặng “ kỷ niệm chương Hồ Chí Minh ” cho toàn thể các đồng chí Đoàn cố vấn quân sự. Nhân dịp quốc khánh Việt Nam 2/9/1953, lại tổ chức long trọng lễ trao huân chương ngay nơi ở Đoàn cố vấn tại Việt Bắc. Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp v.v.. đến dự. Hồ Chí Minh đích thân trao huân chương cho các đồng chí cố vấn. Trao huân chương Hồ Chí Minh hạng hai cho La Quý Ba, Vi Quốc Thanh, trao huân chương quân công hạng hai cho Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàm, trao huân chương quân công hạng ba cho Vương Nghiên Tuyền, Lý Văn Nhất, lần lượt trao huân chương anh hùng, chiến sĩ thi đua và huân chương kháng chiến cho hơn 30 cố vấn và nhân viên công tác khác. Đồng thời tặng kỷ niệm chương kháng chiến cho 397 nhân viên đoàn cố vấn.

Trước khi đoàn cố vấn rút về nước, lại lần lượt trao huân chương quân công và huân chương anh hùng chiến sĩ thi đua cho một số cố vấn và nhân viên công tác. Công tác của Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc tại Việt Nam và những đóng góp cho cuộc đấu tranh chống Pháp của Việt Nam là một trang sử vẻ vang của quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Thắng lợi của chiến tranh chống Pháp của Việt Nam, căn bản nhất là kết quả đổ máu hy sinh, anh dũng phấn đấu của nhân dân và quân đội nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đảng Lao động Việt Nam. Sự viện trợ quốc tế vô tư của Đảng, Chính phủ, nhân dân và quân đội Trung Quốc cũng là nhân tố không thể thiếu để nhân dân Việt Nam giành thắng lợi. Tình hữu nghị chiến đấu của nhân dân và quân đội hai nước Trung – Việt xây đắp nên tồn tại mãi mãi trong lịch sử hai nước Trung – Việt, nhân dân hai nước Trung – Việt mãi mãi không bao giờ quên.

         

         

ĐẠI SỰ KÝ
Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp


Năm 1950

Tháng 1-2

Hồ Chí Minh, Chủ tịch Đảng Cộng sản Đông Dương bí mật thăm Trung Quốc, Liên Xô, đề xuất yêu cầu viện trợ Việt Nam với Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định cử Đoàn cố vấn quân sự sang Việt Nam, đồng thời giúp đỡ vật chất giúp Việt Nam tiến hành chiến tranh chống Pháp. Trung tuần tháng giêng, La Quý Ba từ Bắc Kinh lên đường sang Việt Nam.
9/3

La Quý Ba đại diện liên lạc của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đến trụ sở Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ở Việt Bắc. Ngay hôm đó trao đổi với Hồ Chí Minh vấn đề tác chiến biên giới.
Tháng 3

Quân đội nhân dân Việt Nam thành lập đại đoàn 304. Trước đó, quân đội đã thành lập đại đoàn 308 và 312.
17/4

Quân uỷ Trung ương Trung Quốc thông tri cho Dã chiến quân số 2, 3, 4 Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc mời Dã chiến quân chọn điều động cố vấn các cấp của mỗi đại đoàn tổ chức thành Đoàn cố vấn quân sự sang Việt Nam.
27/6

Tại Di Niên đường Trung Nam Hải, Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức tiếp người phụ trách Đoàn cố vấn quân sự Vi Quốc Thanh, Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàm và một số cán bộ từ cấp trung đoàn trở lên và nhân viên công tác, cho chỉ thị quan trọng về ý nghĩa, nhiệm vụ và yêu cầu công tác tại Việt Nam.
Thượng tuần tháng 7

Trần Canh làm đại diện Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, dẫn đầu bộ phận cán bộ làm công tác cố vấn quân sự do Dã chiến quân số 2 điều động từ Vân Nam vào Việt Nam, hỗ trợ phía Việt Nam tổ chức chiến dịch biên giới và xử lý vấn đề liên quan đến viện trợ quân sự cho Việt Nam.
Hạ tuần tháng 7

Cán bộ và tuỳ tùng Đoàn cố vấn quân sự do Vi Quốc Thanh làm Đoàn trưởng, Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàm làm trợ thủ tất cả 250 người đến Nam Ninh, Quảng Tây tập huấn, truyền đạt, học tập chỉ thị quan trọng của các đồng chí lãnh đạo Trung ương và qua thảo luận nhiều lần vạch ra Qui tắc công tác của Đoàn cố vấn quân sự cần phải tuân theo.
25/7

Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương thảo luận vấn đề liên quan chiến dịch Biên Giới, quyết định cử Võ Nguyên Giáp làm Bí thư đảng uỷ mặt trận, Tổng chỉ huy kiêm chính uỷ Bộ chỉ huy chiến dịch.
8/8

Quân uỷ Trung ương Trung Quốc phê chuẩn 6 người Vi Quốc Thanh, Đặng Dật Phàm, Mã Tây Phu, Lý Văn Nhất, Đặng Thanh Hà tổ chức Đảng uỷ Đoàn cố vấn quân sự, Vi Quốc Thanh làm Bí thư, Đặng Dật Phàm làm Phó bí thư.
11/8

Đoàn cố vấn đi qua Tịnh Tây Quảng Tây vào biên giới Việt Nam, rạng sáng ngày hôm sau đến Bộ chỉ huy tiền phương Quân đội nhân dân Việt Nam ở huyện Quảng Uyên tỉnh Cao Bằng. Ngày 13, phía Việt Nam triệu tập cuộc họp chào mừng, Tổng tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam Võ Nguyên Giáp, Chủ nhiệm Tổng cục hậu cần Trần Đăng Ninh phát biểu ý kiến.
14/8

Trần Canh dẫn một số cán bộ đến Bộ chỉ huy tiền phương Quảng Uyên, gặp Đoàn cố vấn quân sự, thảo luận với phía Việt Nam vạch kế hoạch tác chiến chiến dịch biên giới.

Các tổ cố vấn Đoàn cố vấn quân sự lần lượt đến các đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam triển khai công tác.
16/8

Đảng uỷ mặt trận Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp thu kiến nghị của Trần Canh và Đoàn cố vấn quân sự thảo luận thông qua phương án tác chiến chiến dịch Biên Giới đánh Đông Khê trước, cuối cùng tấn công Cao Bằng. Phương án tác chiến này được Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương phê chuẩn. Ngày 22, Trần Canh báo cáo phương án này cho Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, ngày 24, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc điện trả lời đồng ý.
23-24 tháng 8

Đảng uỷ mặt trận Quân đội nhân dân Việt Nam triệu tập hội nghị cán bộ trung đoàn trở lên các bộ đội tham gia chiến đấu chiến dịch Biên Giới, Võ Nguyên Giáp tuyên bố kế hoạch tác chiến chiến dịch, Trần Canh được mời phát biểu ý kiến.
11/9

Hồ Chí Minh đi thị sát mặt trận, tiếp lãnh đạo và một số cố vấn Đoàn cố vấn quân sự, và có bài phát biểu quan trọng trước cán bộ Quân đội nhân dân và đoàn cố vấn.
16/9
1-3 tháng 10

Binh đoàn Lepage quân Pháp đóng ở Thất Khê đưa quân lên phía bắc, binh đoàn Charton quân Pháp ở Cao Bằng bỏ chạy về phía nam. Trần Canh và Đoàn cố vấn hỗ trợ Bộ chỉ huy tiền phương Quân đội nhân dân điều chỉnh bố trí, tiến hành công kích hai cánh quân địch.
7/10

Quân đội nhân dân Việt Nam tiêu diệt toàn bộ binh đoàn Lepage và binh đoàn Charton của Pháp.
10-23 tháng 10

Quân Pháp rút khỏi các thị xã, thị trấn Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn, Đình Lập, Yên Châu v.v.. chiến dịch Biên Giới kết thúc.
27-30 tháng 10

Quân đội nhân dân Việt Nam triệu tập hội nghị tổng kết chiến dịch Biên Giới ở Nam Sơn Việt Bắc, có cán bộ tiểu đoàn trở lên bộ đội tham gia chiến đấu tham gia, Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đến dự hội nghị và có bài phát biểu quan trọng. Trần Canh được mời dự và có bài phát biểu dài.
1/11

Trần Canh hoàn thành nhiệm vụ đã định, được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc phê chuẩn, lên đường về nước.
Thượng tuần tháng 12
6/12

Pháp rút chỉ huy xâm lược Việt Nam, cử De Lattre de Tassigny làm Cao uỷ Pháp kiêm Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương,  thay thế Pignon và Carpentier.
Từ 25/12 đến 25/1/1951

Hỗ trợ Quân đội nhân dân Việt Nam tổ chức chỉ huy chiến dịch trung du sông Hồng.
27/12

Quân đội nhân dân Việt Nam thành lập Sư 312
Tháng 12

Giúp Tổng cục hậu cần Quân đội nhân dân bắt đầu tiến hành công tác xây dựng cơ bản hậu cần, xây dựng và kiện toàn tổ chức hậu cần các cấp, xây dựng các chế độ điều lệ và tiêu chuẩn cung cấp v.v..

Năm 1951

Thượng tuần tháng 1

Giúp Quân đội nhân dân Việt Nam triệu tập hội nghị cán bộ công tác chính trị cấp trung đoàn trở lên của các bộ đội tham gia chiến đấu, tổng kết kinh nghiệm công tác chính trị chiến dịch biên giới.
Tháng 2

Giúp Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam tổ chức lớp huấn luyện luân lưu cán bộ đầu tiên. Sau đó liên tục tổ chức nhiều lớp huấn luyện luân lưu trọng điểm là bồi dưỡng cán bộ trung cao cấp, đào tạo rất nhiều cán bộ chính trị quân đội.
11-19 tháng 2

Đảng Cộng sản Đông Dương họp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 2 tại Tuyên Quang. Tuyên bố thành lập Đảng Lao động Việt Nam và vạch ra Cương lĩnh, Điều lệ mới của Đảng. Đại hội quyết định phải xây dựng một quân đội nhân dân thật sự lớn mạnh với ba đặc điểm, dân tộc, nhân dân và dân chủ.
Tháng 2

Giúp Quân đội nhân dân Việt Nam triệu tập anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quân lần thứ nhất.
Hạ tuần tháng 2

Đoàn cố vấn quân sự và phía Việt Nam thảo luận vạch kế hoạch tác chiến chiến dịch Đông bắc.
Hạ tuần tháng 3

Giúp quân đội nhân dân tổ chức chỉ huy chiến dịch Đông bắc. Chiến dịch bắt đầu từ đêm 23-3 đến đầu tháng 4 kết thúc.
Tháng 5

Giúp Tổng cục hậu cần Quân đội nhân dân tổ chức lớp huấn luyện cán bộ hậu cần và cán bộ quân y. Sau đó nhiều lần tổ chức lớp huấn luyện luân lưu đào tạo rất nhiều cán bộ hậu cần và y tế.
Tháng 5

Quân đội nhân dân Việt Nam thành lập đại đoàn 316, 351.
28/5 đến 20/6

Giúp Quân đội nhân dân Việt Nam tổ chức chỉ huy chiến dịch Ninh Bình.

Vi Quốc Thanh về nước chữa bệnh.

Giúp bộ đội chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam tiến hành chỉnh huấn quân sự với nội dung chính là chiến thuật vận động chiến và 5 kỹ thuật lớn, và tiến hành giáo dục tình hình “hai phe lớn” trọng điểm đối với cán bộ.
21-30 tháng 8

Giúp Quân đội nhân dân Việt Nam triệu tập hội nghị công tác tuyên truyền giáo dục toàn quân lần thứ nhất, vấn đề chính là tăng cường lãnh đạo tư tưởng và xác định rõ ràng tầm quan trọng của giáo dục chính trị, xác định phương châm giáo dục chính trị.
17/8 đến 4/9

Giúp Quân đội nhân dân Việt Nam triệu tập hội nghị công tác phòng bệnh bảo vệ sức khoẻ tập trung giải quyết vấn đề phương châm công tác quân y v.v..
Tháng 11 – tháng 12

Đoàn cố vấn quân sự tập trung toàn thể cán bộ tập huấn, tổng kết một năm rưỡi công tác, tiến hành chỉnh đốn tư tưởng và tổ chức.

Thượng tuần tháng 12 đến tháng 2 năm sau.

Quân đội nhân dân Việt Nam mở chiến dịch Hoà Bình.
6/12

Mao Trạch Đông phê duyệt đồng ý ý kiến của Nhiếp Vinh Trăn, Vương Gia Tường, Dương Thượng Côn v.v.. trao đổi nêu ra, gộp cán bộ của Vi Quốc Thanh, La Quý Ba phụ trách thành Tổng đoàn cố vấn La Quý Ba làm Tổng cố vấn, cử một Phó tổng cố vấn lãnh đạo công tác quân sự.

Năm 1952

Nước Pháp cử Salan thay De Lattre làm Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương, Letourneau làm Cao uỷ.
Tháng 1-2

Đoàn cố vấn quân sự tinh giản số người, một bộ phận cán bộ trung đoàn, đại đoàn và đại bộ phận cán bộ cấp tiểu đoàn lần lượt điều về nước.
16/2

La Quý Ba báo cáo với Quân uỷ Trung ương Trung Quốc ý kiến của đoàn cố vấn về kế hoạch tác chiến và chỉnh huấn năm 1952 của quân đội nhân dân, nêu ra trước mùa mưa tiếp tục triển khai chiến tranh du kích địch hậu là chính, đại bộ phận chủ lực tiến hành chỉnh huấn, chủ yếu là chỉnh huấn chính trị, sáu tháng cuối mở chiến dịch Tây Bắc, chuẩn bị năm tới tiến vào tác chiến ở Lào. Ngày 2-3, quân uỷ phê duyệt trả lời đồng ý.
Trung tuần tháng 3

Tổng Quân uỷ Quân đội nhân dân triệu tập hội nghị mở rộng, nghiên cứu nhiệm vụ của năm 1952 và vấn đề đấu tranh sau lưng địch, La Quý Ba, Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàm được mời dự và phát biểu, nêu lên kiến nghị cụ thể liên quan đến vấn đề đấu tranh sau lưng địch.
Đầu tháng 4 đến tháng 8

Giúp Quân đội nhân dân Việt Nam tiến hành chỉnh huấn chính trị. Đây là cuộc vận động cải tạo tư tưởng và giáo dục chính trị quy mô lớn đầu tiên của quân đội nhân dân.
10-30 tháng 4

Giúp Quân đội nhân dân Việt Nam triệu tập hội nghị quân y toàn quốc. Tổng kết công tác quân y năm 1951 và nghiên cứu của kế hoạch công tác quân y năm 1952.
20/5

Trung ương Đảng Lao động Việt Nam áp dụng kiến nghị của Đoàn cố vấn quân sự, ra “nghị quyết về chế độ đảng uỷ trong bộ đội chủ lực”.
29/5

Quân uỷ Trung ương Trung Quốc điện chỉ thị : Vi Quốc Thanh vì bị bệnh không thể trở sang Việt Nam công tác, La Quý Ba kiêm nhiệm Đoàn trưởng Đoàn cố vấn quân sự, Mai Gia Sinh làm Phó đoàn trưởng thứ nhất, Đặng Dật Phàm làm phó đoàn trưởng thứ hai.
15/6

Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc phê chuẩn bộ máy Đoàn cố vấn quân sự và Đoàn cố vấn chính trị hợp nhất.

Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc theo yêu cầu của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, quyết định điều động hơn 10 cán bộ cấp đại đoàn, trung đoàn sang Việt Nam tăng cường công tác cố vấn ở cơ quan các Tổng cục và đại đoàn quân đội nhân dân. Hạ tuần, Lưu Thiếu Kỳ tiếp 6 đồng chí mới điều động chuẩn bị sang Việt Nam tại Trung Nam Hải và cho chỉ thị quan trọng.
11/7

La Quý Ba, Mai Gia Sinh báo cáo Quân uỷ Trung ương Trung Quốc bố trí chiến dịch Tây Bắc chia hai đợt tác chiến. Ngày 22, Quân uỷ trở lời đồng ý về nguyên tắc.

Để tăng cường xây dựng Quân đội nhân dân, Đoàn cố vấn quân sự nêu ra với Tổng quân uỷ ý kiến về kế hoạch xây dựng công tác quân sự, chính trị, hậu cần.

Giúp Quân đội nhân dân Việt Nam triệu tập hội nghị công tác tổ chức toàn quân lần thứ nhất, xây dựng đề cương chủ yếu công tác chi bộ, ra nghị quyết tăng cường xây dựng công tác chi bộ.

Giúp Quân đội nhân dân Việt Nam triệu tập hội nghị công tác địch vận toàn quốc, tập trung thảo luận vấn đề công tác tranh thủ ngụy quân.

Quân đội nhân dân triệu tập hội nghị đảng uỷ trước chiến dịch Tây Bắc, thảo luận và thông qua phương án tác chiến Tây Bắc, lãnh đạo Đoàn cố vấn quân sự được mời dự hội nghị.
Tháng 8 đến tháng 9

Giúp Quân đội nhân dân Việt Nam chỉnh đốn biên chế trang bị và tiến hành chỉnh huấn quân sự.
4/9

Quân uỷ Trung ương, Ban liên lạc Trung ương Trung Quốc phê chuẩn Ban chấp hành đảng uỷ Đoàn cố vấn sau khi hợp nhất gồm có La Quý Ba, Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàm, Lý Văn Nhất, Mã Tây Phu, Kim Chiêu Điển, Trương Anh, Lý Hàm Trân, chỉ định La Quý Ba làm Bí thư.
Đầu tháng 9

Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, thảo luận và thông qua kế hoạch tác chiến Tây Bắc. La Quý Ba được mời dự hội nghị.
9/9

Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân triệu tập hội nghị cán bộ trung đoàn trở lên bộ đội tham gia chiến đấu truyền đạt thảo luận kế hoạch chiến dịch Tây Bắc. Hồ Chí Minh đích thân đến huấn thị Lãnh đạo đoàn cố vấn và một số cố vấn được mời tham dự.

Để bảo đảm quán triệt chấp hành chính sách dân tộc thiểu số và chính sách liên quan khác trong thời gian chiến dịch Tây Bắc, phía Việt Nam áp dụng kiến nghị của Đoàn cố vấn, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban bố “ tám điều mệnh lệnh của Chính phủ gửi bộ đội và nhân dân vùng mới giải phóng ”, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp ban bố cho toàn quân mười kỷ luật lớn và kỷ luật chiến trường.
29/9

Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc gửi điện hỏi thăm động viên cho La Quý Ba, và toàn thể cố vấn và nhân viên công tác đoàn cố vấn

Hồ Chí Minh bí mật đến Bắc Kinh, cùng lãnh đạo Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc bàn bạc trao đổi vấn đề tác chiến Tây Bắc và phương châm chiến lược từ nay về sau của Việt Nam v.v...
Tháng 10 đến tháng 12

Giúp Quân đội nhân dân Việt Nam tổ chức chỉ huy chiến dịch Tây Bắc.
Thượng tuần tháng 10

Mai Gia Sinh dẫn một bộ phận cố vấn theo Bộ chỉ huy tiền phương Quân đội nhân dân lên mặt trận Tây Bắc.
14-23 tháng 10

Tác chiến đợt 1 chiến dịch Tây Bắc, giải phóng Nghĩa Lộ.
16/10

Vi Quốc Thanh thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, sang Việt Nam giúp Quân đội nhân dân tổ chức chỉ huy chiến dịch Tây Bắc. Ngày 24, từ Ban chỉ huy Đoàn cố vấn lên đường đi đến Bộ chỉ huy tiền phương Quân đội nhân dân ở Nghĩa Lộ để giúp công tác.
15/11-10/12

Tác chiến đợt 2 chiến dịch Tây Bắc giải phóng Sơn La. Cuối tháng 11, quân Pháp xây dựng tập đoàn cứ điểm ở Nà Sản, Quân đội nhân dân công kích không hiệu quả, chủ động ngừng công kích, kết thúc chiến dịch Tây Bắc.
Tháng 12

Quân đội nhân dân Việt Nam thành lập Đại đoàn 325.

Năm 1953

Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, triệu tập hội nghị toàn thể lần thứ 4, thông qua “ phương án cương lĩnh về chính sách ruộng đất ”. Tháng 12, Hồ Chí Minh ban bố “ Pháp lệnh về chính sách ruộng đất ”.
Tháng 1

Vi Quốc Thanh về Bắc Kinh báo cáo tình hình và xin ý kiến công tác với Quân uỷ Trung ương.
3/2

Trung ương Đảng Lao động Việt Nam gửi điện cho Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc : thay đổi kế hoạch đánh Nà Sản trước mùa mưa, định tổ chức chiến dịch Thượng Lào trong tháng 4. Ngày 9, Trung ương Đảng Trung Quốc trả lời tán thành.
4/3

Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc điện chỉ thị : đồng ý ý kiến của Đoàn cố vấn quân sự dự định kiến nghị phía Việt Nam tiến hành chỉnh quân chính trị vào năm 1953, và cho chỉ thị quan trọng. Ngày 8-4 Đoàn cố vấn quân sự nêu ra kiến nghị về chỉnh quân chính trị với Tổng quân uỷ Quân đội nhân dân.
5/3

Vi Quốc Thanh từ Bắc Kinh lên đường sang Việt Nam, giúp Quân đội nhân dân tổ chức chiến dịch Thượng Lào.
8/4 đến 3/5

Giúp Quân đội nhân dân Việt Nam tổ chức chỉ huy chiến dịch Thượng Lào.

Pháp lại thay đổi chỉ huy xâm lược Việt Nam, Navarre thay Salan làm Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương. Kế hoạch quân sự Navarre ra lò.

Trung ương Đảng Lao động và Tổng quân uỷ Việt Nam chấp nhận kiến nghị của Đoàn cố vấn, lần lượt họp hội nghị thảo luận, ra quyết định triển khai chỉnh quân chính trị trong toàn quân.
29/5

Ban bố chấp hành 14 điều “Qui tắc công tác đoàn cố vấn” của Đoàn cố vấn soạn thảo được Mao Trạch Đông đích thân sửa chữa, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc phê chuẩn.
1/6

Tổng Quân uỷ Quân đội nhân dân triệu tập hội nghị cán bộ trung đoàn trở lên, Võ Nguyên Giáp truyền đạt quyết định chỉnh quân chính trị, lãnh đạo đoàn cố vấn được mời phát biểu ý kiến.

Giúp Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân biên soạn tài liệu chiến thuật công kiên và bồi dưỡng cán bộ theo tài liệu thống nhất, và tiến hành huấn luyện quân sự với bộ đội chủ lực.

Giúp Bộ Tổng Quân đội nhân dân tổ chức lớp tập huấn chỉnh quân chính trị cho cán bộ lãnh đạo tiểu đoàn trở lên, giúp trung đoàn 102, đại đoàn 308 tiến hành thí điểm chỉnh quân chính trị.
Tháng 7-8

Giúp Quân đội nhân dân tiến hành chỉnh quân chính trị.
29/8

Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc gửi điện cho La Quý Ba, đưa ra kế hoạch chiến lược đầu tiên tiêu diệt địch ở Lai Châu, giải phóng Bắc và Trung Lào, từng bước đẩy chiến trường xuống Nam Lào và Cao Miên uy hiếp Sài Gòn để tạo điều kiện, sau đó đánh lấy đồng bằng Bắc bộ Việt Nam.
2/9

Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tổ chức lễ trao huân chương tại nơi ở của Đoàn cố vấn, Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đến dự, trao huân chương và gắn kỷ niệm chương kháng chiến cho nhân viên đoàn cố vấn.

Giúp Quân đội nhân dân triệu tập hội nghị công tác hậu cần toàn quân, tổng kết kinh nghiệm công tác hậu cần toàn quân, quyết định phương châm công tác hậu cần từ nay về sau.
23/9

Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ra “chỉ thị đối với công tác đoàn cố vấn”. Đây là văn kiện có tính chất cương lĩnh chỉ đạo công tác cố vấn.
10/10

Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc điện Trung ương Đảng Lao động Việt Nam : quyết định Vi Quốc Thanh làm Tổng cố vấn quân sự, phụ trách công tác về mặt giúp tác chiến và xây dựng quân đội, La Quý Ba làm Tổng cố vấn chính trị, phụ trách công tác về mặt xây dựng công tác đảng địa phương và chính sách. Tháng 5 năm sau, tách bộ máy Đoàn cố vấn quân sự và đoàn cố vấn chính trị.
25/10

Vi Quốc Thanh đến Việt Nam, lập tức cùng với phía Việt Nam nghiên cứu vấn đề tác chiến mùa đông, giúp Quân đội nhân dân bố trí toàn diện tác chiến mùa đông, đánh lấy Lai Châu là chính, và tiến công Thượng Lào, Hạ Lào và khu vực bắc Tây Nguyên.
13/11

Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam thảo luận thông qua kế hoạch tác chiến mùa đông của Quân đội nhân dân.

Bộ Tổng Quân đội nhân dân triệu tập hội nghị cán bộ trung đoàn trở lên, truyền đạt kế hoạch tác chiến Tây Bắc lần thứ hai và tấn công mùa đông, Vi Quốc Thanh được mời phát biểu ý kiến tại hội nghị. Sau hội nghị Vi Quốc Thanh, Mai Gia Sinh dẫn một bộ phận cố vấn theo Bộ chỉ huy tiền phương quân đội lên mặt trận Tây Bắc.
Thượng tuần tháng 12

Căn cứ vào tình hình thay đổi quân Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, Vi Quốc Thanh, Mai Gia Sinh cùng phía Việt Nam nghiên cứu điều chỉnh bố trí tác chiến, phía Việt Nam quyết định tác chiến ở Tây Bắc, chia làm hai bước, đánh Lai Châu trước, đánh Điện Biên Phủ sau. Ngày 8-12, Vi Quốc Thanh báo cáo kế hoạch này với Quân uỷ Trung ương Trung Quốc. Ngày 10, Quân uỷ Trung ương điện trả lời đồng ý.
6/12

Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam thảo luận phê chuẩn kế hoạch điều chỉnh tác chiến Tây Bắc của Tổng quân uỷ đưa ra, quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, và thành lập Đảng uỷ và Bộ chỉ huy tiền phương do Võ Nguyên Giáp làm Bí thư và Tổng chỉ huy.
7/12

Quân Pháp đóng ở Lai Châu rút chạy về Điện Biên Phủ, Quân đội nhân dân lập tức giải phóng Lai Châu và truy kích địch, tiêu diệt một bộ phận.

Theo bố trí tác chiến mùa đông, Quân đội nhân dân tiến vào Trung Lào mở công kích vào quân địch, giải phóng phần lớn Trung Lào.

         

         

Năm 1954

14/1

Bộ chỉ huy tiền phương Quân đội nhân dân triệu tập hội nghị cán bộ, Võ Nguyên Giáp truyền đạt kế hoạch tác chiến chiến dịch Điện Biên Phủ, Vi Quốc Thanh được mời phát biểu.
20/1 đến Thượng tuần tháng 2

Theo bố trí tác chiến mùa đông, bộ đội liên khu 5 Quân đội nhân dân tiến quân lên Tây Nguyên, tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Bắc Tây Nguyên.
24/1

Do tình hình thay đổi Đoàn cố vấn và Bộ chỉ huy tiền phương bàn định, việc công kích Điện Biên Phủ trước định đánh nhanh thắng nhanh thay đổi lại thành đánh chắc thắng chắc, vững bước đẩy tới, từng bước tiêu diệt địch [Chú thích của Diễn Đàn : sự thực về quyết định quan trọng này, xem chú thích của chúng tôi ở các phần (3), (6) và (Cool]

Hạ tuần tháng 1 đến Trung tuần tháng 2.

Đại đoàn 308 Quân đội nhân dân tiến lên Thượng Lào, lấy lại toàn bộ vùng lưu vực sông Nậm Hu, cô lập thêm địch ở Điện Biên Phủ.

Theo bố trí tác chiến mùa đông, Quân đội nhân dân giải phóng toàn tỉnh Mường Xay và phần lớn tỉnh Saravan Hạ Lào.
18/2

Bộ chỉ huy tiền phương Quân đội nhân dân lại triệu tập hội nghị cán bộ về vấn đề tác chiến tấn công Điện Biên Phủ, Hoàng Văn Thái báo cáo, Mai Gia Sinh được mời phát biểu ý kiến.
20/2 đến 3/3

Giúp Quân đội nhân dân triệu tập hội nghị công tác bảo vệ toàn quân lần thứ nhất tổng kết công tác bảo vệ năm 1953, bố trí nhiệm vụ công tác bảo vệ năm 1954

Chu Ân Lai đề xuất để tranh thủ chủ động về ngoại giao, có thể tổ chức đánh vài trận thắng đẹp ở Việt Nam trước hội nghị Geneve hay không.
6-20 tháng 3

Giúp Quân đội nhân dân triệu tập hội nghị công tác tổ chức toàn quân lần thứ hai, tổng kết kinh nghiệm công tác chi bộ trong bộ đội và kinh nghiệm đề bạt cán bộ thu đông 1953.
13/3

Tác chiến đợt 1 chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu. Đến ngày 17/3, Quân đội nhân dân chiếm lĩnh ba cụm cứ điểm bình phong phía bắc Điện Biên Phủ.
21/3

Đoàn cố vấn quân sự đề xuất “mấy kiến nghị công tác nhằm giành toàn thắng chiến dịch Điện Biên Phủ” với Bộ chỉ huy tiền phương Quân đội nhân dân, đề xuất ý kiến cụ thể về các biện pháp cần áp dụng trong các mặt công tác quân sự, chính trị và hậu cần sau tác chiến đợt 1.
30/3

Tác chiến đợt 2 Điện Biên Phủ bắt đầu. Sau khi Quân đội nhân dân tấn công mấy cứ điểm của quân Pháp, quân Pháp phản kích hai bên triển khai cuộc chiến giành giật quyết liệt.
Hạ tuần tháng 3 đến thượng tuần tháng 4

Ngày 27/3 và 4/4 Navarre hai lần phát thanh yêu cầu phía Việt Nam ngừng pháo kích sân bay Điện Biên Phủ để máy bay Hồng thập tự Pháp chở thương binh. Vi Quốc Thanh kiến nghị phía Việt Nam mặc kệ yêu cầu của Navarre.
4/4

Quân uỷ Trung ương Trung Quốc điện cho Vi Quốc Thanh, đưa ra kế hoạch chính tranh thủ đầu tháng 5 kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ và chuẩn bị giải phóng vùng đồng bằng sông Hồng năm 1955, và cả kế hoạch xây dựng quân đội giúp Quân đội nhân dân tổ chức trang bị bộ đội pháo binh, công binh để hoàn thành nhiệm vụ tác chiến nói trên.
9/4

Quân uỷ Trung ương Trung Quốc hai lần điện cho Vi Quốc Thanh, ra chỉ thị cụ thể đối với vấn đề chiến thuật công kích Điện Biên Phủ.
26/4

Hội nghị Geneve thảo luận vấn đề Triều Tiên và vấn đề Đông Dương khai mạc.
28-30 tháng 4

Đảng uỷ mặt trận Quân đội nhân dân triệu tập hội nghị mở rộng, quán triệt tinh thần hội nghị Bộ chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, nhấn mạnh khắc phục tư tưởng hữu khuynh tiêu cực trong cán bộ, tăng cường kỷ luật tổ chức.
1/5

Tác chiến đợt 3 Điện Biên Phủ bắt đầu.
6-7 tháng 5

Quân đội nhân dân mở tổng công kích vào Điện Biên Phủ tiêu diệt toàn bộ quân địch đóng giữ. Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi.
8/5

Hội nghị Genève bắt đầu thảo luận vấn đề Đông Dương.
Thượng tuần tháng 6

Trung ương Đảng Lao động Việt Nam quyết định cử ba người, trong đó có Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Văn Tiến Dũng, đại biểu đàm phán đình chiến của hội nghị Genève tại Việt Nam [ họp tại Trung Giã] , và đề nghị Trung Quốc cử cố vấn đàm phán giúp công tác.
10/6

Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Tổng cục Chính trị quân uỷ phê chuẩn Vi Quốc Thanh, Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàm, Trương Anh, Vu Bộ Huyết, Đổng Nhân, Từ Thành Công, Thẩm Kiên Như, Hứa Pháp Thiện, Như Phu Nhất, Sử Nhất Lương là uỷ viên Đảng uỷ Đoàn cố vấn quân sự, Vi Quốc Thanh, Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàm là uỷ viên thường vụ. Vi Quốc Thanh là Bí thư, Đặng Dật Phàm là Phó bí thư.
Tháng 6 – tháng 7

Tuân theo chỉ thị của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, học tập văn kiện hội nghị toàn thể Trung ương lần thứ 4 khoá 7 của đảng tiến hành kiểm tra tư tưởng, tăng cường đoàn kết trong ngoài. Lãnh đạo đoàn cố vấn dẫn đầu kiểm điểm tư tưởng. Giúp Bộ tham mưu quân đội tiến hành tổng kết chiến dịch Điện Biên Phủ.

Quân uỷ Trung ương Trung Quốc cử nhóm cố vấn pháo binh, công binh, giúp Quân đội nhân dân trang bị huấn luyện bộ đội pháo binh, công binh.
3-5 tháng 7

Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh hội đàm tại Liễu Châu Quảng Tây, trao đổi vấn đề đường giới tuyến phân chia nam bắc đình chiến quân sự Việt Nam. Vi Quốc Thanh, La Quý Ba, Giả Phương v.v.. tham gia hội đàm.
10/7

Giả Phương làm cố vấn đàm phán đến Đoàn cố vấn quân sự, hỗ trợ Việt Nam tiến hành đàm phán đình chiến quân sự.
20/7

Ký “Hiệp định Genève”, kết thúc chiến tranh Đông Dương. Ngày hôm sau, hội nghị công bố “Tuyên ngôn chính trị” và “Hiệp định đình chiến Đông Dương”.
22/7

Bộ Tổng Tham mưu quân đội nhân ra lệnh ngừng bắn trên chiến trường Việt Nam. Chiến tranh chống Pháp của Việt Nam kết thúc thắng lợi.

Giúp Quân đội nhân dân bắt đầu tiến hành công tác chỉnh đốn biên chế toàn quân.

Giúp Quân đội nhân dân bắt đầu tiến hành giáo dục tình hình và nhiệm vụ mới, chính sách kỷ luật và Quân đội nhân dân mãi mãi là một đội quân chiến đấu.
25/8

Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc xác định thành lập Đại sứ quan tại Việt Nam và dự định rút Đoàn cố vấn quân sự và Đoàn cố vấn chính trị. Mai Gia Sinh và một bộ phận cố vấn cấp đại đoàn, trung đoàn đang nghỉ ở Bắc Kinh không trở lại Việt Nam công tác nữa.
10/10

Quân Pháp rút khỏi Hà Nội. Hạ tuần, Đoàn cố vấn quân sự theo Bộ Tổng Quân đội nhân dân về Hà Nội.
20/10 đến 8/11

Để làm tốt việc chuẩn bị huấn luyện quân đội có hệ thống cho bộ đội chủ lực, giúp Quân đội nhân dân tập huấn phương pháp giảng dạy cán bộ tiểu đoàn trở lên.
5-15 tháng 11

Giúp Quân đội nhân dân triệu tập hội nghị công tác truyên truyền giáo dục toàn quân lần thứ hai, tổng kết công tác hai năm qua, thảo luận đề cương huấn luyện, chính trị.
20/11

Giúp Quân đội nhân dân hoàn thành công tác chỉnh đốn biên chế của 6 đại đoàn chủ lực và 4 đại đoàn pháo binh.
21/11 đến 1/12

Tổng Quân uỷ Quân đội nhân dân triệu tập hội nghị cán bộ trung cao cấp, Võ Nguyên Giáp truyền đạt tinh thần hội nghị tháng 9 của Bộ chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, đọc báo cáo “nỗ lực từng bước xây dựng Quân đội nhân dân chính quy hoá, hiện đại hoá”. 22 cán bộ Đoàn cố vấn quân sự được mời tham gia.
19/12

Sau khi đi nghỉ ở Bắc Kinh, Vi Quốc Thanh trở lại Ban chỉ huy Đoàn cố vấn quân sự tại Hà Nội, giúp Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân nghiên cứu vấn đề xây dựng quân đội và phương án tác chiến tương lai v.v..

Nhân viên nhóm hàng không dân dụng Đoàn cố vấn quân sự lần lượt đến Hà Nội giúp phía Việt Nam tiếp thu sân bay Gia Lâm, xây dựng công tác hàng không dân dụng.

         

Năm 1955

Để từng bước thực hiện chính quy hoá hiện đại hoá, giúp bộ đội chủ lực Quân đội nhân dân bắt đầu tiến hành huấn luyện quân chính có hệ thống thời gian 6 tháng.

Giúp Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân bắt đầu tiến hành học tập lý luận cơ bản chủ nghĩa Mac – Lênin có hệ thống đối với cán bộ trung cao cấp.

Vi Quốc Thanh và một số cố vấn theo Võ Nguyên Giáp đi khảo sát địa hình vùng ven biển bắc vĩ tuyến 17, sau khi về cùng nghiên cứu vấn đề tác chiến tương lai.

Giúp Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân tiến hành tổng kết công tác chính trị toàn quân và soạn thảo điều lệ (dự thảo) công tác chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.
25/6 đến 15/7

Cùng lúc với Hồ Chí Minh dẫn đầu đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam thăm Trung Quốc, Võ Nguyên Giáp dẫn đầu đoàn đại biểu quân sự Việt Nam có Vi Quốc Thanh tháp tùng bí mật đến Bắc Kinh, cùng với Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và đại biểu phía Trung Quốc trao đổi vấn đề kế hoạch xây dựng quân đội Việt Nam, phương án tác chiến tương lai.

Giúp Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân vạch kế hoạch huấn luyện quân sự thời gian 6 tháng lần thứ 2 và một lần nữa tổ chức tập huấn phương pháp giảng dạy cho cán bộ tiểu đoàn trở lên.

Vi Quốc Thanh từ Bắc Kinh trở lại Hà Nội. Ngày 29, truyền đạt chỉ thị của Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình về rút dần công tác của đoàn cố vấn cho cán bộ đại đoàn trở lên trong Đoàn cố vấn quân sự.
Thượng tuần tháng 9

Đảng uỷ Đoàn cố vấn quân sự xác định, toàn bộ cố vấn chia làm ba đợt về nước, rút hết vào mùa xuân năm sau. Sau đó Đặng Dật Phàm và một bộ nhận nhân viên cố vấn về nước.

Trường pháo binh và trường công binh được đoàn cố vấn giúp Quân đội nhân dân thành lập kế tiếp khai giảng. Trung tuần tháng 10 đến thượng tuần tháng 12. Võ Nguyên Giáp dẫn đầu Đoàn đại biểu quân sự Việt Nam, có Vi Quốc Thanh bí mật đến Bắc Kinh lần thứ hai, cùng lãnh đạo quân uỷ Trung ương Trung Quốc Bành Đức Hoài và đại biểu phía Liên Xô trao đổi về kế hoạch xây dựng quân đội Việt Nam và phương án tác chiến tương lai.
24/12

Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra “quyết định về rút Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc tại Việt Nam và chuyển sang cử chuyên gia quân sự”. Đồng thời Bành Đức Hoài gửi thư báo cho Võ Nguyên Giáp về việc rút Đoàn cố vấn quân sự tại Việt Nam.

Vi Quốc Thanh mang thư của Bành Đức Hoài gửi Võ Nguyên Giáp đến Hà Nội, giúp Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân tiến hành một số công việc đã thảo luận ở Bắc Kinh.

Năm 1956

13/1

Lại một đợt nữa nhân viên đoàn cố vấn quân sự về nước.

Vi Quốc Thanh hoàn thành nhiệm vụ công tác tại Việt Nam cùng với nhân viên Đoàn cố vấn quân sự đợt cuối cùng về nước. Đoàn cố vấn quân sự hoàn thành nhiệm vụ lịch sử, bộ máy tổ chức giải thể.

LỜI CUỐI SÁCH

Đầu năm 1950, theo yêu cầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh để mở ra cục diện mới của cuộc đấu tranh chống Pháp của Việt Nam, giành thắng lợi trong chiến tranh chống Pháp, bất chấp hàng loạt khó khăn mà trong nước phải đối mặt, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã kiên quyết ra quyết sách to lớn viện trợ Việt Nam chống Pháp, cung cấp số lớn trang bị quân sự và vật tư quân sự cho Việt Nam, đồng thời cử Đoàn cố vấn quân sự giúp Việt Nam xây dựng quân đội và hỗ trợ chỉ huy tác chiến.

Quyết sách to lớn này của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và quyết sách to lớn khác đưa quân tình nguyện sang Triều Tiên, chống Mỹ viện Triều, giữ nhà giữ nước đưa ra sau đó, tuy có khác nhau về đối tượng tác chiến, phương thức viện trợ và quy mô viện trợ, nhưng đều là hành động chiến lược trọng đại nhằm chống đế quốc xâm lược, chi viện nước láng giềng hữu nghị, bảo vệ độc lập quốc gia, giành giải phóng dân tộc và phá vỡ vòng vây của chủ nghĩa đế quốc đối với Trung Quốc, đều là sự thống nhất giữa lập trường của chủ nghĩa quốc tế và lập trường của chủ nghĩa yêu nước, đều có ý nghĩa lịch sử to lớn.

Một số lão đồng chí đã từng công tác trong Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc tại Việt Nam đầu những năm 50 của thế kỷ 20, kết hợp từng trải của bản thân lúc bấy giờ viết nên những trang hồi ký này. Bây giờ chúng tôi biên tập bài viết của đồng chí La Quý Ba Mẫu mực sáng ngời của chủ nghĩa quốc tế vô sản – Nhớ Mao Trạch Đông với viện trợ Việt Nam chống Pháp nhân 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Mao Trạch Đông, cùng với những bài viết khác thành cuốn sách Ghi chép thực tiễn về Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp, từ một mặt khác tái hiện chân thực những chuyện đã qua ít người biết đến trong lịch sử vẻ vang của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.

Những bài viết tập hợp trong cuốn sách này đều là sự trải nghiệm và nhớ lại của bản thân các tác giả bất chấp tuổi cao sức yếu, khắc phục rất nhiều khó khăn để viết ra, có mấy bài tuy có chút chồng chéo về nội dung nào đó, nhưng tác giả thuật lại từ góc độ khác nhau, và không lộ rõ sự trung lặp, mấy bài mới đăng do đồng chí Trương Quảng Hoa hỗ trợ sửa chữa hiệu đính, Đại sự ký ở cuối sách cũng do đồng chí ấy sửa chữa hiệu đính. Sau khi đọc những bài này, có thể làm người ta hiểu toàn diện hơn những sự kiện trọng đại và tình hình chiến đấu chiến dịch và những nhân vật hữu quan đương thời, do đó nó có giá trị lịch sử nhất định.

Hơn 5 năm công tác của Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc tại Việt Nam được Đảng, Chính phủ Việt Nam, và Chủ tịch Hồ Chí Minh và chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam ca ngợi cao độ ; đồng thời cũng được Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Quân uỷ Trung ương, Chủ tịch Mao Trạch Đông và các đồng chí lãnh đạo khác của Trung ương khẳng định đầy đủ. Lịch sử nhân dân Trung Quốc viện trợ Việt Nam tiến hành cuộc đấu tranh chống Pháp và sau đó chống Mỹ sẽ mãi mãi khắc sâu trong lòng nhân dân Trung – Việt, bài ca quốc tế cao cả mà nó phổ nhạc nhất định sẽ âm vang dài lâu trong trái tim của nhân dân hai nước Trung – Việt

Nhóm biên tập sách, Tháng 12 năm 2001

=== HẾT ===

http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,6609.40.html

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét