Khánh Linh (thực hiện)
28/02/2011
Vấn đề là nhiều khi vì lợi ích của chính nhà chùa nhà đền, hoặc vì sự "phân chia" lợi ích giữa nhà chùa, nhà đền với chính quyền địa phương, nên cả 2 đã không quyết liệt trong việc điều chỉnh, thậm chí còn muốn khai thác nhiều hơn- Nhà sử học Dương Trung Quốc.
Sao phải giảm bớt lễ hội?
- Trước sự nhộn nhạo của nhiều lễ hội những năm gần đây, nhiều ý kiến đề xuất nhà nước phải vào cuộc, phải giảm bớt số lượng lễ hội. Ông có nghĩ vậy không?
- Lễ hội là tập quán tốt đẹp của dân tộc. Chúng ta phải biết trân trọng. Bảo tồn được lê hội là đáng mừng, sao lại lên án chuyện có mấy ngàn lễ hội và tư duy theo kiểu phải giảm bớt số lượng lễ hội? Thế thì phải giữ bao nhiêu, giảm mấy trăm lễ hội là vừa?
Bạn cứ bảo lễ hội nhộn nhạo, nhưng thử xem lại có bao nhiêu lễ hội thật sự nhộn nhạo? Và bao nhiêu, trong những lễ hội nhộn nhạo đó là hội truyền thống? Hay quay đi quay lại chỉ có một vài lễ hội bị phê phán từ năm này sang năm khác mà chủ yếu là do công tác tổ chức và sự biến dạng do những tác động của xã hội.
Bản chất lễ hội truyền thống ở VN gắn với 2 yếu tố: Thứ nhất là làng xã, thứ 2 là tín ngưỡng. Phần lớn trong mấy nghìn lễ hội vốn là hội làng, dường như xưa kia cứ có làng là có hội, đó là dịp để người dân theo chu kỳ thời gian nghỉ dưỡng, thỏa mãn nhu cầu tinh thần, nhu cầu tín ngưỡng mà quanh năm vất vả lao động không được hưởng.
Khi cơ cấu làng xã bị biến đổi, bị phá vỡ, rồi đô thị hóa, thị trường hóa thì lễ hội buộc phải thay đổi. Vấn đề là ứng xử thế nào với sự thay đổi đó, chứ khó đòi hỏi nó phải giữ nguyên. Câu chuyện thành công của hội Gióng là vì ta biết cách ứng xử với nó, chứ không phải nó không thay đổi. Từ bài học thành công đó, cố gắng tìm ra nguyên nhân, mà nguyên nhân quan trọng nhất là lễ hội phải xuất phát từ nhu cầu của người dân, mà trước hết là người dân bản địa, chủ nhân của những lễ hội.
Nhà nước chỉ là người bảo trợ và tạo ra những điều kiện và môi trường văn hoá và an toàn trong đó có các hoạt động dịch vụ. Câu chuyện hội Gióng mới rồi mà trong nội dung lễ hội đề cập tới cả "thành tích sinh đẻ có kế hoạch của địa phương là "bóng dáng" sự can thiệp của Nhà nước làm sai lệch những giá trị của lễ hội dân gian.
Với người dân, hoạt động lễ hội gắn với 2 động lực, động lực tinh thần là nối tiếp được truyền thống của tổ tiên, tiền nhân. Ký ức về lễ hội từ khi mình là đứa trẻ được thúc đẩy họ phải tiếp tục giữ gìn cho con cháu. Giá trị tinh thần của lễ hội là gắn kết những người dân địa phương với nhau, gắn kết gia đình, gắn kết cộng đồng với quê hương... Giá trị tinh thần cũng chứa đựng cả những giá trị tâm linh của tín ngưỡng và tôn giáo. Bà con công giáo cũng có những lễ hội gắn với vùng miền của mình...
Nhưng ngoài lợi ích tinh thần thì người dân cũng cần cả lợi ích vật chất. Nhiều địa phương nhờ những hoạt động dịch vụ phục vụ lễ hội mà có đời sống tốt hơn. Nếu ý thức một cách cũng rất thực dụng, rằng lễ hội là cơ hội quảng bá hình ảnh của địa phương mình, quê hương mình, thì người ta phải ứng xử theo lối "tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại".
Đây chính là lĩnh vực mà chính quyền và các tổ chức đoàn thể đóng vai trò quan trọng. Với những lễ hội đang bị kêu ca, lợi ích vật chất đang lấn át, thì phải có sự điều tiết bằng luật pháp, bằng dư luận xã hội, và bằng tất cả yếu tố cộng đồng, kể cả sự gương mẫu của những người có trách nhiệm.
 |
Hội Gióng. Ảnh: PLVN |
Quan chức không thể thay thế thần thánh
- Sự làm gương? Vậy ông thấy việc quan chức, công chức đi lễ hội có làm gương được không?
- Quan chức, công chức có nhu cầu đi lễ hội và quyền được đi dự lễ hội, không nên phê phán chuyện đó. Họ đi lễ hội cũng là cơ hội để gần với dân, thoát ra khỏi hệ thống quan liêu do môi trường làm việc. Đó cũng là cơ hội tiếp cận với văn hóa dân gian, với thực tiễn đời sống, trực tiếp nhìn thấy những mặt tiêu cực của xã hội. Không nên quan niệm công chức không đi lễ hội mới là tiên tiến.
Nhưng tính gương mẫu khi đi lễ hội là cần nhất. Tất cả công chức, lãnh đạo gương mẫu thì sẽ tác động tích cực cho đời sống lễ hội. Các vị đi lễ cũng phải "nhập hội tuỳ tục" chứ không phải đóng vai bề trên xuống cho địa phương cung phụng.
- Ý ông là dù quan chức hay công chức thì cũng nên đi lễ hội như một... người dân?
- Đương nhiên rồi. Đạo lý ngày xưa khi một ông quan về làng cũng phải hạ mã (xuống ngựa - PV), phải thưa gửi bề trên theo thứ bậc của tập quán "trọng sỉ hơn trọng tước". Mỗi công chức, mỗi quan chức, mỗi lãnh đạo hành xử tốt trước mặt dân là lúc quảng bá tốt nhất thương hiệu của chế độ. Đương nhiên với những người có chức trách quản lý xã hội thì họ có mặt để thực thi trách nhiệm của mình.
Bản thân họ cũng phải hiểu biết, ý thức được ý nghĩa của lễ hội. Không thể để quan chức đóng triện, khai ấn. Đây không phải vấn đề của chức vụ, của danh dự. Lãnh đạo không thể đóng vai trò thay cho thần linh hay những tập quán dân gian được. Các quan chức nên nghe tư vấn của các nhà văn hóa để có cách ứng xử đúng thì sự có mặt của quan chức sẽ là đáng quý, là dịp để họ hiểu thực tế đời sống.
Tuy nhiên, cũng phải xác định, đã là lễ hội thì phải nô nức, phải có chút chen vai thích cánh, chứ đi lễ hội mà nghiêm trang như đi dự hội nghị, hay dự... đại hội Đảng thì người ta cũng chẳng thích.
 |
Nếu đền, chùa yêu cầu người dân chỉ bỏ tiền công đức vào 1 hòm, không rải tiền lẻ khắp nơi... thì người đi lễ cũng sẽ làm theo. Ảnh minh họa |
Nhà chùa cũng nên đóng vai trò định hướng
- Có một thực tế là sự nhộn nhạo, chen lấn xô đẩy ở lễ hội ngoài Bắc "tệ" hơn hẳn trong Nam? Vì sao vậy thưa ông?
- Cộng đồng của mình ngày xưa là cư dân làng xã, nên những cách hành xử kiểu chen vai thích cánh, chọc ghẹo... trong lễ hội là để phá bỏ trật tự hàng ngày. Hội đền, chợ tình và nhiều tập tục tôn vinh sự phồn thực, phá khuôn khổ của lễ giáo phong kiến là một phần tạo nên sự hấp dẫn của lễ hội xưa.
Giờ đây, từ làng xã ra đô thị, song hành với đô thị hóa nhưng con người không được "đô thị hóa" về mặt văn hóa, thiếu ý thức tôn trọng trật tự xã hội, ý thức tuân thủ luật pháp. Làng xã chi phối nhau về tập tục, còn đô thị tập trung người tứ chiếng nên phải có cam kết, quy ước, khế ước xã hội.
Trong Nam do hoàn cảnh lịch sử đã được trải qua giai đoạn dài của văn minh đô thị nên đến giờ vẫn giữ lại được ít nhiều.
Ký ức của tôi không giàu lắm, nhưng tôi nhớ Hà Nội dưới thời Pháp thuộc trật tự, nề nếp, là do văn minh đô thị của người Pháp, có sự áp đặt, nhưng người Hà Nội khi đó cảm thấy đó chính là văn hóa của mình. Còn sau giai đoạn đó thì văn minh đô thị chưa xây được bao nhiêu thì xu hướng nông thôn hoá ngày càng trầm trọng. Ta xây dựng nhiều đô thị nhưng nhân tố thúc đẩy văn hóa đô thị rất hạn chế. Cho đến bây giờ chưa có chính quyền đô thị, thì biết bao giờ xây dựng được văn hoá đô thị ...
- Trong sự "thái quá" của không khí lễ hội mấy năm nay, dư luận thường đổ lỗi cho ứng xử của người dân, và vai trò của Nhà nước. Theo ông, như thế đã đủ chưa?Các nhà chùa có nên đóng vai trò điều chỉnh, hướng dẫn người dân dự lễ như thế nào cho văn minh, văn hóa?
- Nguời dân và Nhà nước đúng là 2 nhân tố quan trọng nhưng tôi còn muốn nói đến nhân tố thường tạo ra những hoạt động tín ngưỡng, cái linh hồn của lễ hội, đó là vai trò của nhà chùa, nhà đền... rất quan trọng. Nếu những người trụ trì đền, chùa, miếu... thật sự muốn tạo không gian văn hoá cho lễ hội, thì họ hoàn toàn có thể điều chỉnh.
Vấn đề là nhiều khi vì lợi ích của chính nhà chùa, nhà đền, hoặc vì sự "phân chia" lợi ích giữa nhà chùa, nhà đền với chính quyền địa phương, nên cả 2 đã không quyết liệt trong việc điều chỉnh, thậm chí còn muốn khai thác nhiều hơn.
Chẳng hạn, rất nhiều đền chùa đã yêu cầu người dân chỉ được đốt 1 nén hương trong gian thờ chính, hoặc chỉ đốt hương ở ngoài sân, và người đi hành lễ rất vui vẻ tuân thủ. Nếu bây giờ đền, chùa cũng yêu cầu người dân chỉ bỏ tiền công đức vào 1 hòm, không rải tiền lẻ khắp các ban thờ, cả trên tượng, trên gốc cây... coi đó là đi ngược lại với tinh thần của tôn giáo, tín ngưỡng thì người đi lễ cũng sẽ làm theo thôi.
Thậm chí, nếu người trụ trì nhà chùa lên tiếng yêu cầu những người đi hành lễ không chen lấn, xô đẩy, để giữ không gian, tự nhiên người đi hành lễ cũng sẽ phải để ý hơn. Còn bây giờ thì thấy khắp nơi là "hòm công đức", không phải để cho dân tiện đóng góp mà lại dường như khích lệ, nhắc nhở người đi chùa đóng góp như một nghĩa vụ.
Đành rằng tập tính, thói quen của người dân, hay những điều chỉnh ở tầm vĩ mô của Nhà nước, nhưng quan trọng vẫn là nhà chùa và chính quyền địa phương. Bản thân người đi lễ hội, họ tiếp nhận được gì từ không gian lễ hội thì họ sẽ ứng xử trở lại theo cách đó.
http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-02-27-quan-chuc-khong-the-thay-than-linh-trong-le-hoi
Vì sao khách quốc tế ít đến lễ hội ?
(28/02/2011)
|
| Chùa Hương luôn là điểm thu hút du khách. Ảnh: Tạ Dũng |
VH- Lễ hội được nhìn nhận như một “bảo tàng sống” về đời sống cư dân văn hoá bản địa. Nhất là dịp xuân về, hàng nghìn lễ hội diễn ra trên cả nước được nhìn nhận như là cơ hội để hút khách. Tuy vậy, để thành một sản phẩm chuyên đề hút khách, đặc biệt là khách quốc tế, rất cần đầu tư và quảng bá, tổ chức chuyên nghiệp.
Chưa thu hút khách quốc tế
Bà Đặng Thị Thọ, Giám đốc Chi nhánh Công ty Du lịch Phượng Hoàng tại Hà Nội khẳng định: Đa phần khách quốc tế không mặn mà lắm với lễ hội. Lý do lễ hội ở Việt Nam quá đông người, nhất là hôm chính hội thường quá tải dẫn đến lộn xộn, giao thông ùn tắc, môi trường ô nhiễm... Thậm chí có khách quốc tế mê văn hóa Việt Nam đi lễ hội đền Hùng năm vừa rồi phàn nàn rằng dọc đường tràn ngập túi nilong, rác thải...
Đối với khách phương Tây, tổ chức tour tham gia lễ hội rất khó bởi chương trình tour thường lên lịch trước 6 tháng, lịch trình đi khoảng hơn 10 ngày, trong đó nếu đi riêng lễ hội sẽ mất hẳn 1 ngày. Trong khi cũng với thời gian đó đi tham quan các nơi khác, họ đi được nhiều điểm hơn. Bên cạnh đó, dịp đầu xuân này đi đến đâu cũng có lễ hội, trên hành trình đi nếu có gặp lễ hội, hướng dẫn viên (HDV) sẽ giới thiệu kết hợp cũng hiệu quả hơn.
Tâm lý khách nước ngoài khi đi du lịch thường tránh những nơi quá đông, không an toàn và muốn tìm hiểu, trò chuyện, giao lưu với người dân bản xứ. “Với cái nhìn của người làm du lịch, chúng tôi muốn đưa khách gần gũi hơn với người dân, cảm nhận được cuộc sống, nét văn hóa người dân địa phương thì hiệu quả hơn sẽ chính là du lịch cộng đồng.
Như khách muốn tìm hiểu bản sắc văn hóa, nghi lễ vùng đồng bằng sông Hồng, chúng tôi vẫn tổ chức tour đi Bắc Ninh với chùa Bút Tháp, đền Đô, nghe hát Quan họ... hay đi Hải Phòng để tìm hiểu về rối nước, rối cạn, nghe Ca trù. Đó mới là cái mà du khách nước ngoài cần”, bà Thọ nhấn mạnh, “Còn nếu du khách nào muốn đến lễ hội, chúng tôi vẫn tổ chức theo yêu cầu của khách nhưng cũng cảnh báo trước những tình huống thường xảy ra để khách lường trước”.
“Thực tế, khách quốc tế đi theo tour mua trước thường ít khi đi lễ hội bởi lễ hội thường cố định về thời gian. Khách quốc tế đến lễ hội thường là người am hiểu về văn hóa, có thời gian đi du lịch dài ngày”, ông Lại Văn Quân, Trưởng phòng Lữ hành (Công ty du lịch Mai Linh) nhận xét, “ngoài ra còn có khách Tây ba lô, nhưng họ rất thích các lễ hội của đồng bào dân tộc”.
Quy hoạch và đầu tư có trọng điểm
Trong những năm qua, việc khôi phục và tổ chức lễ hội truyền thống đã thu hút một lượng lớn khách du lịch nội địa và cũng đã góp phần nâng cấp hệ thống hạ tầng cơ sở địa phương, tăng thu nhập cho một bộ phận dân cư. Ngay từ khi bắt đầu thực hiện Chương trình Hành động quốc gia du lịch, từ năm 2000, để phát triển sản phẩm du lịch mới gắn với các lễ hội truyền thống, ngành Du lịch đã chọn 15 lễ hội tiêu biểu cho các vùng miền, các dân tộc, trong đó có lễ hội Xuống đồng (Lồng Tồng) của người Tày, lễ hội Katê của người Chăm, lễ hội Ooc Om bok của người Khmer... để đầu tư, chuẩn hóa thông tin, kịch bản với mục đích vừa tôn trọng tính truyền thống đặc sắc của lễ hội, vừa bảo đảm tính khoa học trong công tác tổ chức, đáp ứng yêu cầu của khách du lịch.
Tuy nhiên, theo bà Hoàng Thị Điệp, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, thời gian qua, việc khai thác các lễ hội văn hóa của các vùng dân tộc thiểu số để phát triển du lịch còn hạn chế do công tác quản lý, tổ chức các lễ hội còn bất cập. Một số lễ hội ngày càng bị mất đi giá trị nguyên gốc, bị sân khấu hóa, bổ sung, xen kẽ những yếu tố hiện đại, lai căng, không phù hợp gây phản cảm cho khách du lịch. Một số lễ hội mang tính chất tâm linh, thần bí, có sự tham gia quá ồn ào, ảnh hưởng đến không gian, tính chất lễ hội nên không nhận được sự hưởng ứng của cộng đồng dân cư địa phương. Thậm chí, có lễ hội được tổ chức tràn lan, bị thương mại hóa gây bức xúc trong dư luận.
Theo bà Điệp, để tổ chức lễ hội dân gian vừa giữ được bản sắc văn hóa dân tộc vừa phục vụ phát triển du lịch, cơ quan chức năng và chính quyền địa phương cần rà soát lại, sau đó, căn cứ vào quy mô, tính chất, thời gian, địa điểm và các điều kiện về cơ sở vật chất, lựa chọn 20 - 30 lễ hội để chuẩn hóa thông tin, kịch bản, đầu tư đưa vào khai thác phục vụ du lịch.
Đồng quan điểm này, ông Trương Minh Tiến, Phó giám đốc Sở VHTTDL Hà Nội cho biết, du lịch Hà Nội cũng chỉ chọn vài lễ hội điển hình rồi quy hoạch, có đầu tư trọng điểm để hình thành sản phẩm chuyên biệt đón khách. Riêng với Lễ hội Gióng, đây là 1 trong 3 di sản văn hóa được UNESCO công nhận trong năm 2010 sẽ là điểm nhấn để thu hút khách, ngành Du lịch Thủ đô sẽ có quy hoạch riêng trong chiến lược phát triển du lịch đến năm 2030 và sẽ sớm trình thành phố Hà Nội phê duyệt trong quý II.2011.
Xuân Cường
http://baovanhoa.vn/dulich/33647.vho
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Minh Thuyết nói về
"hối lộ thần thánh"
SGTT.VN - Nhận xét về tình trạng lễ hội bát nháo như hiện nay, phó chủ nhiệm uỷ ban Văn hóa - Giáo dục thanh thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, GS Nguyễn Minh Thuyết nói:
Mỗi ngày có trên 20 lễ hội
phó chủ nhiệm uỷ ban Văn hóa - Giáo dục thanh thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, GS Nguyễn Minh Thuyết. Ảnh: Ngọc Thắng |
Theo thống kê, cả nước ta hiện nay có khoảng 8.000 lễ hội mỗi năm. Như vậy, 365 ngày thì trung bình ngày nào cũng có trên… 20 lễ hội. Như thế là nhiều.
Tuy nhiên, cũng phải thấy những cái được gọi là lễ hội gồm nhiều loại hình, trong đó lễ hội dân gian chiếm nhiều nhất và chủ yếu do các làng xã tổ chức, tiếp đến là những ngày lễ, hội do Nhà nước tổ chức; các ngày lễ, hội quốc tế (như ngày 14.2, ngày 8.3, tới đây có thể là ngày của Mẹ, ngày của Cha…) và tiếp sau nữa là những liên hoan gắn với yêu cầu địa phương, ngành nghề (ví dụ liên hoan trái cây, cà phê…).
Có một số lễ hội khá đặc biệt, gắn với yêu cầu phát triển du lịch, phát triển kinh tế địa phương. Riêng về lễ hội dân gian, những lễ hội gắn với làng xã, trước đây từng có giai đoạn bị ngắt, đứt đoạn, nay nhiều nơi đã được khôi phục lại một cách không chính xác, dẫn đến đã có sự khác trước, thậm chí có nhiều biến dạng, méo mó, tốt hơn thì ít mà xấu đi thì nhiều. Đó là tình trạng "buôn thần bán thánh" ngay tại chốn đình chùa miếu mạo, là việc đặt quá nhiều hòm công đức; là những nghi lễ rước đón thần linh, múa hát… đang bị hành chính hóa một cách thái quá.
Một số nơi khôi phục lại những thủ tục không biết có từ bao giờ, nghiên cứu chưa kỹ. Một số lãnh đạo lại được mời tham gia rất nhiệt tình, thành ra đã bị lợi dụng hình ảnh của mình, đi tô vẽ cho những điều không chắc chắn đó. Điều này rất không ổn. Tôi cho rằng rất cần nghiên cứu lại. Ví như tục khai ấn ở Đền Trần nếu được làm thì phải theo trình tự, không cổ vũ mê tín, cũng không thành chuyện mua bán theo kiểu “tiền trao, cháo múc” như hiện nay…
Lên án những hành động kiểu "hối lộ thần thánh"
Chen lấn, xô đẩy nhau như thế này để xin lộc, cầu tài tại nơi tôn nghiêm thì không còn gì để nói. Ảnh: internet |
Tôi rất phản cảm với cái cách một số người có chức quyền vẫn làm ở một số đình chùa: thi nhau trồng cây, rồi treo biển ghi tên hoặc khắc đá ghi tên… Xưa Bác Hồ trồng cây con, rồi từ đó người dân trồng thành rừng. Giờ, họ đưa cổ thụ nơi khác về mà cũng gọi đó là trồng cây? Đó là chưa nói đến sự khiêm tốn của người treo biển ở nơi thờ cúng những bậc tiền bối
Việc mạnh ai nấy làm theo kiểu “ hối lộ thần thánh”, đạo đức xã hội bị xem nhẹ ở chốn linh thiêng cần phải bị lên án. Chốn tôn nghiêm không thể trở nên xô bồ, phàm tục hóa. Lẽ ra đến chùa là để lấy lại sự thanh thản trong tâm hồn thì người ta lại đến với lòng tham, trái với đạo lý nhà Phật.
Ai đầu têu những chuyện đó? Người bình thường đi chùa thường chỉ cầu mong cơm đủ ăn áo đủ mắc, con cái ngoan ngoãn khỏe mạnh, học hành đỗ đạt. Nhưng một số người đến chùa phải chưng lễ thật to, cầu thật nhiều lộc; tiền ủng hộ đồng bào lũ lụt thì ít mà chi cho cầu lộc cầu tài và cúng giải hạn, đốt vàng đốt hương tốn kém bao nhiêu cũng không tiếc. Đó chính là một bộ phận người có tiền, có chức quyền và có cơ hội có chức quyền thì mới vậy.
Giải pháp nào có thể xóa bỏ được những tệ nạn đó? Vẫn là tuyên truyền, giáo dục, thảo luận mà không thể ép buộc, cấm đoán vì việc tâm linh là tự nguyện. Nhưng cán bộ nhà nước phải làm gương. Đạo Phật phải đúng với giáo lý truyền thống, có những đóng góp tích cực vào đời sống tâm linh của người dân.
Trong khi chờ xã hội tự điều chỉnh, sàng lọc những điều hay dở, tích cực và tiêu cực, về phía Chính phủ, phải sớm ra tay, dẹp các hiện tượng mê tín dị đoan. Cán bộ nào mà hay cầu cúng, phải nhắc nhở, không để tiếp diễn. Xã hội cần có chuẩn mực. Đây chính là một “đại vấn đề”. Các nhà nghiên cứu và quản lý nên thấy được tầm quan trọng của hiện tượng trên, phải có những cuộc thảo luận từ đó đưa ra những quy định pháp lý. Nếu chưa có quy định trong luật, thì trước hết phải bắt đầu bằng những quy định…
Kim Hoa (ghi)
| "Gần đây, ban Bí thư có chỉ thị về việc tổ chức những ngày kỷ niệm trong nước trên tinh thần tiết kiệm, tránh cồng kềnh và lãng phí thời gian. Chỉ tổ chức những năm chẵn. Đây cũng là một hướng tốt đối với những lễ hội chính do Nhà nước tổ chức. Đối với các lễ hội dân gian, phải trao lại, trả lại việc tổ chức cho dân, như nhiều ý kiến đã đóng góp trước đây. Tiến tới xóa bỏ những hiện tượng thương mại hóa, mê tín dị đoan quá mức; mỗi chùa, đình chỉ nên có một hòm công đức là đủ, không nên nhét tiền vào tay Phật - như thế là nhố nhăng, coi thường thần thánh; không nên đua nhau đội lễ thật đầy, chen chúc thắp hương… trong khi kết cấu đền chùa miền Bắc thường thấp, nhỏ". (Đại biểu QH Nguyễn Minh Thuyết) |
http://sgtt.vn/Thoi-su/137934/Dai-bieu-Quoc-hoi-Nguyen-Minh-Thuyet-noi-ve-hoi-lo-than-thanh.html
Thứ Hai, 28/02/2011
(TT&VH Cuối tuần) - Phải nói thật là một đoạn clip năm phút thì chẳng thể nói được gì trong tuần qua. Một tuần đầy những sự điên đảo rồ dại khắp thế giới chứ chẳng riêng đâu.
Nhưng những chuyện nơi khác thì camera của ếch ngồi đáy giếng không dám động đến. Chuyện ở mình xem ra không ống kính nào tả xiết. Lăn xả vào giành giật chen lấn xô đẩy nhau ở cuộc khai ấn đền Trần là một. “Không tệ hơn năm ngoái…” là câu kết luận đầy giá trị của một quan chức trong giới hữu trách, nghe như một tiếng thở phào hơn lời chống chế, hóa ra sự việc lẽ ra có thể tệ hơn, tệ thế là may! Giành giật được coi như thành truyền thống! Cũng may đền Trần xây trên đất bằng chứ không phải cầu, nếu là cầu thì khó gì mà không xảy ra chuyện giẫm đạp đến chết như ở Campuchia... Ham hố những chức tước mới chỉ là bày đặt ấy khủng khiếp đến mức nào mà giành giật nhau đến thế? Camera nếu có thể hỏi được, nghe câu trả lời có khi ứa lệ…
Hàng ngàn người bao vây một trong các điểm bán ấn tại lễ khai ấn đền Trần (Nam Định) đêm 16-2 - Ảnh: Thuận Thắng |
Một cuộc giành ấn chưa đủ chứng minh sự ham hố. Lướt ống kính qua mấy tiệm vàng, điểm bán ngoại tệ tuần vừa rồi lại thấy bao nỗi kinh hãi nữa. Phải nói là giá vàng, giá ngoại tệ nhảy múa cuồng loạn theo người (nói thế đúng hơn là ngược lại) khi ở mấy nơi vừa kể ở trên, nhất là những nơi có thương hiệu, bảo vệ phải phát tích-kê và gọi tên qua loa cho đám khách hừng hực khí thế tranh giành. Và chắc chưa dừng lại đâu, giá điện sắp tăng, giá xăng kêu bù lỗ mãi thể nào rồi cũng tăng…, nghĩa là cuộc nhảy múa cuồng loạn sẽ diễn ra trên nhiều phương diện khác. Thực sự người ta cần nhiều đến thế không? Không ai trả lời được, những mâm đồ lễ chót vót vay trả gì đó ở đền Bà Chúa Kho tới đây năm nào cũng là ẩn số về lòng ham muốn. Người ta phải cần nhiều lắm vật chất và tiền bạc mới dâng lễ như vậy. Còn tấm lòng thành chẳng ai quan tâm lắm thì phải. Trong một tuần dày đặc vấn đề chức tước và tiền bạc, thì báo chí (chẳng biết sao cứ phải thế) cứ mỗi ngày vài ba vụ án, nào cụ 90 bị ba trẻ ranh hãm hiếp, nào vợ đốt chồng, chồng đốt vợ, nào nghi vấn bảo mẫu cho trẻ con uống thuốc ngủ. Thêm chuyện này nữa, Bộ Giáo dục & Đào tạo vừa ra văn bản đề nghị trường mầm non phải coi trọng nhân cách trẻ em. Nhưng vấn đề cần bàn cần bảo vệ hơn chính là nhân cách người lớn. Nhân cách người lớn để đi đâu mà suốt tuần toàn nghe chuyện rợn người, quá đỗi đau lòng như vậy?
Dừng lại ở hình ảnh vợ nhà báo ra tự thú, một chuyện không muốn mà không thể tránh trong tuần này, Camera mới thấy rằng tất cả những điên cuồng rồ dại vừa kể trên suy cho cùng chẳng thấm vào đâu, dù rất có thể có liên quan. Những đứa trẻ trong gia đình ấy sẽ ra sao khi những lời bàn ra tán vào trên báo tới đây đều đã và sẽ là những nhát dao khía vào tim chúng?
Biết là sẽ không khác được, báo chí sẽ viết rất nhiều, bởi câu “view” giờ đây cũng là sự rồ dại không cùng!
Camera
http://www.thethaovanhoa.vn/475N20110224171224178T0/nhung-ro-dai-khong-cung!.htm