30 tháng 4 2011

Chiến lược lớn của Trung Quốc

Foreign Policy
Daniel Blumenthal
 29-04-2010


Ông Robert Kaplan đã viết một bài xuất sắc, có ý khiêu khích đăng trên Foreign Affairs. Ông lập luận rằng nhu cầu không thể thỏa mãn của Trung Quốc về năng lượng và tài nguyên thiên nhiên đang tạo nên chính sách chiến lược của họ, như việc mở rộng sự tiếp cận quân sự và ảnh hưởng của Trung Quốc lên cả đất liền lẫn trên biển ở Châu Á. Không phải Trung Quốc có một kế hoạch tổng thể nhằm thống trị thế giới, thay vào đó, như tất cả các cường quốc đang lên, (gồm cả Mỹ hồi thế kỷ 19) logic của sự tăng trưởng đòi hỏi nước này đóng một vai trò quốc tế lớn hơn.
Ở phía Tây, Trung Quốc tăng cường kềm kẹp Tân Cương và Tây Tạng. Chẳng bao lâu nữa, họ sẽ hoàn thành hai đường ống dẫn dầu chính kéo dài từ Trung Á đến Tân Cương. Ở Tây Tạng họ đang xây dựng các đường giao thông và đường sắt để lấy tài nguyên, bình định đám dân cứng cổ, và giữ không rơi vào tay Ấn Độ.
Trung Quốc cũng đang hành quân về phía nam như, gia tăng sự kiểm soát Miến Điện, điều này có thể cung cấp cho Bắc Kinh một hải cảng và việc sử dụng hàng hải ở vịnh Bengal. Và họ đang cố gắng, như ông Kaplan nói, “chia để trị” các nước ASEAN khác, những nước hưởng ứng sự lơ là của Mỹ, đang bắt đầu họp lại thành nhóm đối lập với ảnh hưởng của Trung Quốc.
Theo ông Kaplan, mục đích chính của Bắc Kinh ở bán đảo Triều Tiên là giúp Bắc Hàn phát triển thành một nhà nước “độc tài hiện đại” hơn, để Bắc Hàn vẫn là đối thủ chống lại Nam Hàn – liên minh của Mỹ. Dù vậy, ông Kaplan viết, Trung Quốc không nhất thiết phản đối một Triều Tiên thống nhất, vì lý do kinh tế, sẽ là một phần của tầm ảnh hưởng của “Trung Quốc lớn mạnh”, và cuối cùng dẫn đến việc loại bỏ quân đội Mỹ ở Nam Hàn.
Theo ông Kaplan, khi Trung Quốc trông về vùng biển dọc bờ biển phía Đông, họ cảm thấy bị bao vây. Nam Hàn, Nhật Bản, Đài Loan, Philippines, Indonesia, và Úc là tất cả, ở các mức độ khác nhau, các đồng minh của Mỹ không chấp nhận sự đột phá của Trung Quốc vào Thái Bình Dương. Trung Quốc đang cố gắng để thoát ra ra khỏi cái hộp này bằng việc gia tăng hạm đội tàu ngầm và hành trình thường lệ với sức mạnh tên lửa đạn đạo. Cuối cùng, theo ông Kaplan, Đài Loan là chìa khóa để hải quân Trung Quốc vượt rào. Kiểm soát Đài Loan sẽ cho phép Trung Quốc phô trương sức mạnh vượt ra khỏi chuỗi “đảo đầu tiên” (1).
Ở phía nam, Trung Quốc cố gắng kiểm soát Biển Đông, với hai lý do, thứ nhất đó là cửa ngõ vào Ấn Độ Dương và thứ hai là đó là vùng biển này rất giàu tài nguyên thiên nhiên. Để đạt được mục đích đó, Trung Quốc đã xây một căn cứ hải quân ở đảo Hải Nam tại Biển Đông. Đảo Hải Nam có thể cho phép hải quân Trung Quốc không bị cản trở khi đi vào các vùng trở ngại chính trên biển.
Trong khi đánh giá của ông Kaplan về địa chiến lược của Trung Quốc nghe có lý đối với tôi, Trung Quốc cũng đã thực hiện công việc của mình với vài ý khiêu khích. Tôi sẽ cung cấp ba ý nghĩ:
Trước tiên, tôi không đồng ý rằng Trung Quốc có thể đạt được việc củng cố lục địa của họ qua nỗ lực dân số – dân số Tây Tạng, Tân Cương, người Nga ở Viễn Đông – hoặc chỉ riêng các mối quan hệ thương mại. Để làm được điều ông Kaplan đưa ra, rằng Bắc Kinh đang cố gắng – củng cố biên giới đất liền của họ, mở rộng việc vươn tới Trung Á, Miến Điện và Nam Hàn – Trung Quốc cũng cần phải phát triển lực lượng đất đai viễn chinh. Tại sao? Để đáp trả các cuộc tấn công khủng bố, để chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh biên giới có thể xảy ra với Ấn Độ, và để nâng các mục tiêu trên bán đảo Triều Tiên trong trường hợp sụp đổ và hỗn loạn [xảy ra]  ở miền Bắc.
Thứ hai, ông Kaplan dường như xác nhận “kế hoạch của Garret”, đó là tìm cách đi vòng quanh Lầu Năm Góc, một kế hoạch mà trong bối cảnh các mục tiêu chính trị khu vực của Mỹ có vẻ như ương ngạnh. Ý kiến cơ bản là “bỏ các căn cứ chủ chốt” ở Nhật Bản và Nam Hàn và thay vào đó, tăng cường sự hiện diện của Mỹ ở Châu Đại Dương (2) – đảo Guam và Caroline, Bắc Mariana, Solomon, và các đảo Marshal – trong khi cùng lúc mở rộng sự hiện diện bao la của hải quân Mỹ ở Ấn Độ Dương. Chiến lược này đòi hỏi Washington phải nâng cấp quan hệ quốc phòng với Ấn Độ – để sử dụng một số hòn đảo bên ngoài của họ, cũng như với Brunei, Malaysia, và Singapore. Hải quân Hoa Kỳ vẫn sẽ hợp tác với lực lượng tự vệ hàng hải Nhật Bản. Kế hoạch này, theo ông Kaplan, sẽ ít khiêu khích Trung Quốc trong khi cùng lúc vẫn cho phép Hoa Kỳ có cái gì đó để chơi, hơn là vai trò của một nước giữ cân bằng ngoài khơi.
Kế hoạch này gặp một số trở ngại. Không rõ liệu các nước mà chúng ta cần cho kế hoạch làm việc sẽ hợp tác [với chúng ta không], đặc biệt là sau khi chúng ta rút ra khỏi Nhật Bản và Nam Hàn. Việc rút khỏi các “căn cứ chính” được xem như là cam kết của Hoa Kỳ đã không còn đối với các đồng minh của mình. Và trong khi đúng là “chuỗi đảo thứ nhất” ngày càng ít phòng thủ hơn, không phải là quá muộn để thực hiện các bước cẩn trọng nhằm đảo ngược tình thế nguy hiểm này. Chúng ta vẫn chưa cứng rắn với các căn cứ không quân ở Nhật Bản, đẩy mạnh các nỗ lực phòng thủ tên lửa, hoặc tìm các lựa chọn tốt hơn trong việc chống lại lực lượng tên lửa của Trung Quốc (Việc triển khai tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo của Nhật dọc theo Ryukus (3) nhắm tới các giàn phóng của Trung Quốc thì sao?)
Thứ ba, ông Kaplan nhấn mạnh tầm quan trọng của Đài Loan về vị trí địa chiến lược, thay vì địa chính trị, là [điểm cần] tranh cãi. Đài Loan sẽ cung cấp cho Trung Quốc các cảng hiện đại và Trung Quốc có thể mở rộng khả năng giám sát hàng hải của mình. Nhưng trừ khi chúng ta phát triển hệ thống phòng thủ thích hợp, tên lửa của Trung Quốc sẽ làm cho hoạt động quân sự Hoa Kỳ quá tốn kém tại chuỗi đảo thứ nhất, cho dù Trung Quốc có sở hữu Đài Loan hay không.
Trong khi những người Mahanians (4) trong và ngoài Trung Quốc sẽ tranh luận rằng có được thêm lãnh thổ sẽ mở rộng tiếp cận hàng hải của Trung Quốc, các nhà phân tích tập trung vào sức mạnh tên lửa của Trung Quốc sẽ không đồng ý. Với khả năng hướng dẫn chính xác hơn và ở tầm xa hơn, sức mạnh tên lửa của Trung Quốc có thể, qua thời gian, sẽ cung cấp cho Quân đội Giải phóng Nhân dân (5) tính ưu việt của không lực trên chuỗi đảo thứ nhất, cũng như cho phép họ nhắm vào bất kỳ con tàu nào nổi trên mặt nước hướng về Trung Quốc từ phía Tây Thái Bình Dương.
Chúng ta vẫn có thể thực hiện các bước (các căn cứ khó bị tấn công, tìm kiếm các căn cứ mới, triển khai tên lửa phòng thủ tốt hơn, đầu tư nhiều hơn vào tàu ngầm và máy bay chiến đấu tàng hình tầm xa và máy bay ném bom) sẽ làm cho các hoạt động trong chuỗi đảo thứ nhất ít rủi ro hơn, nhưng nếu các khuynh hướng hiện tại vẫn tiếp tục, Trung Quốc sẽ không cần Đài Loan để phô trương sức mạnh ở Thái Bình Dương.
Từ quan điểm địa chiến lược, Đài Loan chỉ quan trọng nếu chúng ta quyết định sử dụng nước này để chặn và đánh trả tên lửa của Trung Quốc hoặc lực lượng tàu ngầm. Nhưng chúng ta không làm điều đó bây giờ không có nghĩa là chúng ta không có khả năng thực hiện trong tương lai. Vì chúng ta quyết định không sử dụng Đài Loan như “tàu sân bay nổi” của chúng ta, Trung Quốc không cần phải xem xét nó như một rào cản đối với kế hoạch quân sự hiện tại của họ. Vị trí địa lý quan trọng của Đài Loan đối với Trung Quốc có thể bị thổi phồng.
Điều đó đưa tôi trở lại mục tiêu rộng lớn của Hoa Kỳ. Tầm quan trọng của Đài Loan cũng giống như tầm quan trọng của các đồng minh của chúng ta: Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippine – quan trọng về địa chính trị hơn là địa chiến lược. Những nước này đã nhận hệ thống quốc tế mà Hoa Kỳ đã tạo ra và bảo vệ sau Đệ nhị Thế chiến. Đây là những nước dân chủ với nền kinh tế thị trường tự do mà tất cả [các nước này] muốn là một phần của những gì đã từng được gọi là “phương Tây”, câu lạc bộ hiện đại trên thế giới, nền dân chủ công nghiệp tiên tiến. Lợi ích của Washington được phục vụ tốt hơn khi nền dân chủ mạnh mẽ được tự do, không bị các cường quốc khác kiểm soát -  Điều này bảo đảm hệ thống quốc tế vẫn chào đón chúng ta.
Theo tôi, về lý do địa chính trị cũng như địa chiến lược, quân đội Hoa Kỳ nên duy trì sự hiện diện (phòng thủ hơn) ở lãnh thổ của nhiều đồng minh Hoa Kỳ ở châu Á mà Hoa Kỳ được chào đón, ít nhất là cho đến khi mọi thứ có thể bảo đảm rằng Trung Quốc sẽ là một cường quốc có trách nhiệm và dân chủ, không quan tâm đến việc tạo ra đặc quyền kinh tế riêng hoặc tạo ra phạm vi ảnh hưởng về kinh tế hay quân sự. Điều đó có nghĩa là chúng ta cần phải làm việc nhiều hơn để giúp các đồng minh của chúng ta xây dựng khả năng nhằm phản đối các kế hoạch quân sự của Trung Quốc hơn là siết lại và chủ yếu dựa vào các căn cứ nước ngoài.
Người dịch: Ngọc Thu

Ghi chú:
(1) First island chain: một dãy đảo trải dài từ Nhật Bản ở phía Bắc tới Đài Loan và Philippines ở phía Nam.
(2) Oceania: tức Châu Đại Dương là một khu vực địa lý, gồm các vùng đất chủ yếu là các hòn đảo nằm trong khu vực Thái Bình Dương và khu cận kề.
(3) Ryukus: tức Ryukyu Islands, là dãy đảo phía Nam Nhật Bản, phía Tây Thái Bình Dương.
(4) Mahanians: những người theo chủ thuyết của ông Alfred Thayer Mahan, ông là một nhà chiến lược, nhấn mạnh tầm quan trong về sức mạnh trên biển.
(5) PLA: Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, gồm có: PLA Ground Force (Lục quân?), PLA Navy (Hải quân) và PLA Air Force (Không quân).
http://shadow.foreignpolicy.com/posts/2010/04/29/china_s_grand_strategy

http://anhbasam.wordpress.com/2011/04/30/503-chi%e1%ba%bfn-l%c6%b0%e1%bb%a3c-l%e1%bb%9bn-c%e1%bb%a7a-trung-qu%e1%bb%91c/

CPP declares war against looming return of US military bases in PH

Manila : Philippines | Apr 29, 2011
Former United States President Bill Clinton is welcomed by Philippine President Benigno Aquino in Manila
Former United States President Bill Clinton is welcomed by Philippine President Benigno Aquino in Manila


MANILA, Philippines- The Communist Party of the Philippines (CPP) had practically declared war against the looming return of US military bases in the country when it asked the 99 million Filipinos to vigorously resist any plan of the US and Aquino governments to reestablish military presence in Subic Bay, whether in the form of a military base or related facilities for the US military.
Last Tuesday, US Senators Daniel Inouye and Thad Cochran met with Philippine President Benigno Aquino after visiting the Subic Bay Freeport to be briefed about the situation in the former US military base. The US military is reportedly searching for alternative places in the Asia-Pacific region to establish bases, in the face of growing opposition to their military bases in Okinawa, Japan where the US 7th Pacific Fleet is headquartered.
The Department of Foreign Affairs (DFA) in Manila said the return of US bases in the country was impossible although it said the regular visit of American troops under the Visiting Forces Agreement (VFA) is legal as provided for by the 1999 joint military agreement.
The issue also drew mixed reactions from various groups including the highly critical leftwing groups and business leaders, while on the other hand, the mayor of Olongapo City --Mayor James Gordon said the return of the US military installations in the Philippines will provide additional business opportunity for the Subic free port currently hosting foreign companies employing about 60,000 local workers.
But the CPP said the return of American bases in Manila was a historical reversal. "Thirty years after the landmark repeal by the Philippine Senate of the 1946 US-RP Military Bases Agreement (MBA), the US imperialists are again seeking to establish their military presence in Subic Bay. This will be a great historical reversal."

On September 16, 1991, the Philippine Senate voted to reject the proposed Treaty of Friendship, Cooperation and Security which would have effectively extended the 1946 US-RP Military Bases Agreement for another 10 years. For more than 50 years after granting "independence", the US imperialists retained control over close to 70,000 hectares covering the Subic Naval Base, Clark Air Base, and several other military bases across the Philippines.

The CPP stressed the US-RP MBA is one of several unequal agreements between the US and the Philippines which include the 1956 US-RP Military Defense Treaty which obliges the Philippine government to side with the US in conflicts it gets into.

In 1998, however, the US and Philippine governments signed the Visiting Forces Agreement (VFA) which allowed US military personnel to stay in the Philippines to be governed by a status of forces agreement (SOFA). These agreements have been taken advantage of by the US to maintain the 600-strong Joint Special Operations Task Force (JSOTF-Philippines) based within Camp General Navarro, headquarters of the Armed Forces of the Philippines (AFP) Western Mindanao Command in Zamboanga City.

"If the Aquino regime acquiesces to the US government's plan to reestablish its facilities in Subic, it would be committing a grave historic act of treachery against the Filipino people," said the CPP. "US military presence in the Philippines is a direct affront and insult to Philippine sovereignty."

"By maintaining its presence in the Philippines, the US military continues to use the Philippines as a jumping board and base for the forward deployment of their units in order to intervene militarily in the Asia-Pacific region. The US continues to use the Philippines as a foil against the economic and military expansionism of China which the US regards as one of the biggest threats to US imperialist ultra-national interests," pointed out the CPP.

"The US JSOTF-Philippines also engages in counterinsurgency operations, directly and through the AFP. They act in accordance with the US Counterinsurgency Guide and seek to put an end to the Filipino's resistance against US economic, political and military dominance in the Philippines."

"The Filipino people should oppose the collaboration of the US

government and Aquino regime to heighten US military presence in the

country," added the CPP. "We must rekindle the spirit of patriotism in

order to assert national sovereignty and confront the issue of US

military interventionism and economic and political dominance." (Gerry Albert Corpuz)


http://www.allvoices.com/contributed-news/8935058/content/66397238-former-united-states-president-bill-clinton-talks-with-philippine-president-benigno-aquino

Philippines and China: Close neighbors or distant relatives?

Links:
[1] http://www.rpdev.org

Chinese Buildup Upsets Strategic Balance

20/04/2011
By Michael Fabey
Washington

Defense analysts and U.S. Navy brass agree—China’s recent successes in developing an anti-ship ballistic missile and a more robust navy have made the powerhouse Asian nation a much greater military force to reckon with.
China’s muscle-flexing, they say, will most certainly upset the balance of power in the region and force the U.S. to rethink its long-term military and geopolitical strategies for Asia and the Pacific Rim.
Opinions diverge, though, over the real implications of China’s growing super-charged military might.
To be sure, the U.S. is unlikely to be so quick to send another aircraft carrier battle group to the Taiwan Strait as it did in 1996 when the USS Nimitz plowed into those waters.
But no one’s certain about China’s true capability—or will—to take out a U.S. carrier. There’s even less certainty about just what China plans to do with its pumped-up military forces. While some feel the Asian leader will expand its reach in a fashion similar to the old Soviet Bloc, others say China will use its growing force to secure the home front, shipping lanes and what it claims to be its national assets.
Certainly, China is determined to protect its homeland and avoid another political collision. The key to that was the development an anti-ship ballistic missile (ASBM)—the so-called carrier killer, the DF-21D.
Months ago, the missile achieved the equivalent of what for a U.S. weapon would be called initial operational capability (IOC). The Pentagon has played down that milestone a bit, pointing out that the missile is yet truly untested in any battle scenarios, real or simulated; and analysts wonder about the true capability or lethality of the DF-21D.
“Assessing this carrier-killer missile, as with the J-20 fighter, is impossible without knowing more about China’s true [intelligence, surveillance and reconnaissance] and network capabilities,” says Richard Aboulafia, analyst and vice president of the Teal Group consultancy. “A platform, or a weapon of any kind, is only as good as the targeting information it receives.”
Christian Le Miere, International Institute for Strategic Studies research fellow for naval forces and maritime security, says: “There are questions about its terminal guidance system. The mobility of the carriers is a problem, but you can fire toward a basket of coordinates and guide the terminal stage. This is why the accuracy of the guidance system is so crucial.”
The Pentagon recently noted in its annual report on China’s military: “The navy is improving its over-the-horizon targeting capability with Sky Wave and Surface Wave OTH radars. OTH radars could be used in conjunction with imagery satellites to assist in locating targets at great distances from [Chinese] shores to support long-range precision strikes, including by anti-ship ballistic missiles.”
With small numbers of carrier groups or ships and a comparable number of Chinese ASBMs to counter, U.S. forces should be fine, says defense analyst John Gresham, an author of several books on military tactics and equipment. But carriers and other ships face greater risks as the Chinese grow the inventory and improve their targeting capability.
The real question, though, is whether China would take a gamble and take out a carrier. As the Congressional Research Service (CRS) notes in a recent report, the Asian giant has developed too many entanglements—especially financial ties—with the U.S. to commit such an act of war.
“They’re more likely to use those missiles to threaten other ships, ones that are a threat to their shipping lanes” Gresham says. “They’d use a missile to make a point—to send a signal—to, say, a tanker fleet using a transit lane they claim as their own, or some ship that threatens one of their ships.”
The CRS reported: “Some observers say that China may be building, or may want to eventually build, a series of naval and other military bases in the Indian Ocean—a so-called string of pearls—so as to support Chinese naval operations along the sea line of communication linking China to Persian Gulf oil sources.”
And it’s this “string of pearls”—along with the Chinese homeland, Taiwan and rather large, claimed territorial waters—that China has built its navy and missile batteries to protect. The big concern on the minds of many, though, is whether the U.S. and its allies have to worry about China turning those defensive capabilities into an offensive expansion force the way the Soviet Union did during the Cold War.
China, La Miere says, does not have quite the ideological opposition to the U.S. as it did to the former Soviet Union. “So the relationship is very different; but in terms of being a potential strategic competitor to the U.S., then, yes, Washington may well consider China in the future as its greatest challenge since the Cold War.”
As the CRS reported, “Chinese maritime military forces could influence the political evolution of the Pacific, which in turn could affect the ability of the United States to pursue goals relating to various policy issues, both in the Pacific and elsewhere.”
Photo: Chinese Internet

http://www.aviationweek.com/aw/generic/story_channel.jsp?channel=defense&id=news/awst/2011/04/25/AW_04_25_2011_p64-308852.xml&headline=Chinese%20Buildup%20Upsets%20Strategic%20Balance

In growing Chinese dominance, a wake-up call for America


By Arvind Subramanian, 

Friday, April 29, 4:51 PM

The world’s two economic superpowers will meet soon for the third installment of their Strategic and Economic Dialogue. Beyond the specifics, the real issue for the United States and the world is China’s looming economic dominance. President Obama’s State of the Union address, after President Hu Jintao’s visit in January, showed the level of anxiety that policymakers feel about China as a potential rival and perhaps a threat, with growing economic, military and political power, including its bankrolling of American debt. But judging from the reaction to the president’s speech, that threat is not viewed as imminent. The same was said, some pointed out, of the rise of Russia and Japan, 40 and 20 years ago, respectively, and those threats turned out to be false alarms.
But what if the threat is actually greater than policymakers suppose?
According to the International Monetary Fund, for example, total U.S. gross domestic product in 2010 was $14.7 trillion, more than twice China’s $5.8 trillion, making the average American about 11 times more affluent than the average Chinese. Goldman Sachs does not forecast the Chinese economy overtaking that of the United States until 2025 at the earliest. Americans also draw satisfaction from their unmatched strengths of an open society, an entrepreneurial culture, and world-class universities and research institutions.
But these beliefs may be overly sanguine. The underlying numbers that contribute to them are a little misleading because they are based on converting the value of goods and services around the world into dollars at market exchange rates.
It has long been recognized that using the market exchange rate to value goods and services is misleading about the real costs of living in different countries. Several goods and services that are not traded across borders (medical care, retail services, construction, etc.) are cheaper in poorer countries because labor is abundant. Using the market exchange rate to compare living standards across countries understates the benefits that citizens in poor countries enjoy from having access to these goods and services. Estimates of purchasing power parity take account of these differing costs and are an alternative, and for some purposes a better, way of computing and comparing standards of living and economic output across countries.
My calculations (explained in greater detail on the Peterson Institute Web site) show that the Chinese economy in 2010, adjusted for purchasing power, was worth about $14.8 trillion, surpassing that of the United States. And, on this basis, the average American is “only” four times as wealthy as the average Chinese, not 11 times as rich, as the conventional numbers suggest.
The different approaches to valuing economic output and resources are not just of theoretical interest. They have real-world significance, especially in the balance of power and economic dominance. The conventional numbers would suggest that the United States has three times the capability of China to mobilize real military resources in the event of a conflict. The numbers based on purchasing-power parity suggest that conventional estimates considerably exaggerate U.S. capability. To the extent that the service of soldiers and other domestically produced goods and services constitute real military resources, the purchasing-power parity numbers must also be taken into account.
The economic advantage China is gaining will only widen in the future because China’s gross domestic product growth rate will be substantially and consistently greater than that of the United States for the near future. By 2030, I expect the Chinese economy to be twice as large as that of the United States (in purchasing-power parity dollars).
Moreover, China’s lead will not be confined to GDP. China is already the world’s largest exporter of goods. By 2030, China’s trade volume will be twice that of the United States. And, of course, China is also a net creditor to the United States.
The combination of economic size, trade and creditor status will confer on China a kind of economic dominance that the United States enjoyed for about five to six decades after World War II and that Britain enjoyed at the peak of empire in the late 19th century.
This will matter in two important ways. America’s ability to influence China will be seriously diminished, which is already evident in China’s unwillingness to change its exchange rate policy despite U.S. urging. And the open trading and financial system that the United States fashioned after World War II will be increasingly China’s to sustain or undermine.
The new numbers, the underlying realities they represent and the future they portend must serve as a wake-up call for America to get its fiscal house in order and quickly find new sources of economic dynamism if it is not to cede its preeminence to a rising, perhaps already risen, China.
Arvind Subramanian is a senior fellow at the Peterson Institute and the author of a forthcoming book on China’s economic dominance.

http://www.washingtonpost.com/opinions/in-growing-chinese-dominance-a-wake-up-call-for-america/2011/04/27/AF7i3zGF_print.html

Giấc mơ tàu sân bay của Trung Quốc.

 

Ngày 29 tháng 4 năm 2011






Website quốc phòng strategypage.com hôm thứ hai (18/4) cho biết tàu sân bay “Shi Lang” của Trung Quốc vừa được lắp đợt vũ khí đầu tiên gồm tên lửa chống tên lửa FL-3000N. Cùng lúc usnews.com loan tin tư lệnh quân lực Mỹ tại Thái Bình Dương Robert Willard, đã nhẹ nhàng nhận xét trước tiểu ban quân vụ Thượng viện Mỹ: “Hải quân Trung Quốc không tỏ ra hung hãn bằng năm ngoái tuy vẫn đeo bám tàu chúng ta như hình với bóng…”. Hiểu thế nào về sự xuất hiện của tàu sân bay “Shi Lang”trên Thái Bình Dương?
Việc hải quân Trung Quốc chọn việc lắp đặt hệ thống tên lửa FL-3000 để phô diễn “sức mạnh tác chiến tương lai” của tàu sân bay “Shi Lang” của mình không khó hiểu. Một tàu sân bay, trước khi có thể tung ra “quả đấm thép ” là các máy bay của mình “đánh đấm’ được ai, phải sống sót trước các cuộc đột kích của đối phương trước đã; và ở thời đại tên lửa này, muốn sống còn, phải trị được tên lửa. Trong cuộc chiến Falklands/Malvinas năm 1982 giữa Anh và Argentina, khu trục hạm “Sheffield” đã chìm sau khi trúng phải một tên lửa đối hạm Exocet của Argentina do Pháp sản xuất, bắn đi từ một chiến đấu cơ Etendard của không quân Argentina mua lại cũng của Pháp. 30 năm sau, khi chiếc “Shi Lang” sắp ra khơi, kỹ thuật tên lửa đối hạm đã tiến xa hơn quả Exocet nọ đến đâu!

Thế nhưng, stategypage. com lại không đánh giá cao tên lửa FL-3000 này của TQ, chê là không linh hoạt, chính xác và có tầm bắn không xa bằng tên lửa RAM của Mỹ. Nghĩa là chiếc “Shi Lang” có vẻ oai vệ đấy, song để sống còn, còn phải cố gắng nhiều, nhất là khi chiếc này cũng chỉ là một chiếc “Varyag” thời Liên Xô cũ, mới chỉ đóng xong cái xác, chưa lắp máy, hệ thống điện, điện tử gì cả, được Ukraine bán “sắt vụn’ cho một công ty khai là có trụ sở ở Ma cao tên Chong Lot năm 1992 với giá 20 triệu USD để cải tạo thành một sòng bạc nổi, và với cam kết là “không đưa vào sử dụng cho mục đích quân sự”. Sau khi Macao trở về với TQ, chiếc tàu sân bay “sắt vụn” cũng “sang tay” qua hải quân TQ, website chuyên theo dõi chiếc “Varyag” là varyagworld.com cho biết!


Từ 1999 đến nay, chiếc “Shi Lang” được cải tạo thành…tàu sân bay. Năm tới “Shi Lang” sẽ xuất hành với động cơ diesel “cổ điển” giữa thời đại hạt nhân mà chiếc tầu sân bay đầu tiên là chiếc “Enterprise” đã hạ thủy từ năm 1961, còn chiếc “Charles De Gaulle” của Pháp cũng đã hạ thủy cách đây 10 năm! Chiếc “Shi Lang” có “chạy hết tốc độ cũng chỉ “hít khói” tàu sân bay Mỹ (20 hải lý/giờ so với 30 hải lý), bất quá làm tàu huấn luyện là cùng . Thảo nào đô đốc Robert Willard chỉ huy bộ tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ gọi đây chỉ là một mối “đe dọa tượng trưng” !
GIẤC MƠ “BIỂN XANH”.

Thật ra Trung Quốc đâu phải là nước châu Á đầu tiên có tàu sân bay. Lác đác cũng đã có vài nước châu Á đang sử dụng tàu sân bay như Ấn Độ với chiếc “Viraat” từ năm 1987 (mua lại của Anh) hoặc đang tự đóng như chiếc ‘Vikrant”, sẽ đưa vào sử dụng năm tới cùng với chiếc “Vikramaditya” (mua lại của Ukraine), hay Thái Lan đang sử dụng chiếc “Chakri Naruebet” từ năm 1997 (mua lại của Tây Ban Nha) chuyên chở trực thăng và máy bay có cánh lên thẳng (VTOL). Cuộc chạy đua sắm tàu sân bay đã bắt đầu với việc Ấn Độ “tậu” tàu sân bay, khiến Thái Lan, vốn cùng ngó ra Ấn Độ Dương, cũng phải ráng đua theo. Thành ra, sự xuất hiện của chiếc “Shilang” năm tới cũng tạo ra một số “cảm nhận” khác nhau nơi các nước…


Thật ra, việc hải quân một nước vươn xa ra đại dương là môt tất yếu bắt buộc, nhất là khi đối diện với biển, chưa nói đến việc nước đó thiếu tài nguyên, phải thu gom nguyên, nhiên liệu từ xa về mà xài, hoặc có tham vọng bành trướng. Hải quân Mỹ giải thích lý do sử dụng tàu sân bay như sau: "Kinh tế và an ninh chúng ta tùy thuộc vào việc chúng ta bảo vệ các lợi ích của chúng ta ở hải ngoại cũng như hòa bình và ổn định trên thế giới. Cựu Bộ trưởng quốc phòng William Cohen thời Clinton đã từng nói: "Nếu không vươn ra xa được, sẽ ít có tiếng nói hơn, ít có ảnh hưởng hơn” . Đó là điều mà nước Nhật đã làm cách đây 81 năm khi đưa vào sử dụng chiếc tàu sân bay đầu tiên của cả thế giới, chứ không chỉ của Nhât, là chiếc “Hosho” (hạ thủy năm 1921), vào ngày 27/12/1922.

HẢI QUÂN NHẬT THẾ KỶ TRƯỚC.


Đóng tàu sân bay là một chuyện, sử dụng thành thạo như là một vũ khí chiến lược, tác chiến hữu hiệu trong đội hình một hải đội, và cất cánh bay đắnh trúng mục tiêu… lại là một chuyện khác. Người Nhật của những năm 1930 đã phát triển thật nhanh lực lượng tàu sân bay phục vụ chiến lược bành trướng của mình. Cuối tháng 1, đầu tháng 2/1932, cùng với việc thôn tính Mãn Châu, hải quân Nhật đưa hai chiếc tàu sân bay “Kaga” (có thể chở đến 80 máy bay) và “Hosho” (36 máy bay) đến tấn công Thượng Hải, bảo vệ 7.000 quân Nhật đang bị lộ quân 19 của Tưởng thống chế bao vây, trong khi chờ đợi lữ đoàn 24 và sư đoàn 9 bộ binh đến tiếp cứu vào giữa tháng 2 . Những chiếc máy bay Nhật cùng hai chiếc tàu sân bay “Kaga” và “Hosho” này sẽ hằn sâu vào trong “bộ nhớ phục thù” của người Trung Quốc.


Cứ thế, hải quân Nhật đã phát triển lực lượng tàu sân bay đến mức chín năm sau đã có thể vươn đến tận Hawai, đánh phủ đầu hải quân Mỹ ở Trân Châu Cảng. Vào ngày 7/12/1941 ấy, Nhật đã có đến sáu tàu sân bay hạng nặng cùng hàng chục tàu sân bay hạng nhẹ, thuộc các lớp Unryu, Taiyo, Shinano, Taiho, Hiyo, Shokaku, Soryu, Ryujo, Akagi và Kaga. Tạm lấy chiếc tàu sân bay đầu tiên, chiếc “Hosho”, tức còn chưa “hung thần”như các chiếc sau này, làm thí dụ: chiếc này chở theo 36 máy bay gồm 12 thám thính, 12 chiến đấu, 12 thả bom , đếm đầu máy bay còn nhiều hơn chiếc “Chakri Naruebet” hiện tại của hải quân hoàng gia Thái ! Trong suốt sáu tháng đầu tiên sau cuộc đột kích Trân Châu Cảng, tàu sân bay cùng hạm đội Nhật “ung dung” làm chủ Thái Bình Dương, thậm chí đến sát cảng Darwin của Úc.


HẢI CHIẾN TÀU SÂN BAY TRÊN THÁI BÌNH DƯƠNG.


Hôm 7/12/1941, tàu sân bay Nhât đã “làm mưa làm gió” tung máy bay ra đánh chìm gần hết hạm đội 7 của Mỹ ở Trân Châu Cảng. May mắn thay cho hải quân Mỹ là hôm đó, không một tàu sân bay nào của Mỹ neo ở Trân Châu cảng. Chiếc “Enterprise” hôm sau mới cặp bến, nên thoát nạn, để rồi trở thành cái sườn cho lực lượng tàu sân bay của Mỹ sẽ phục hận tàu sân bay Nhật chỉ năm tháng sau.

Bắt đầu là trận Biển San hô về phía đông Tân Guinea ngày 7-8/5/1942. Nhật lúc đó định chiếm cảng Moresby ở phía Nam Tân Guinea bằng hai hải đội trong đó có hai tàu sân bay hạng nặng Shokaku và Zuikaku cùng một tàu sân bay hạng nhẹ và nhiều tàu chiến khác. Hải quân Mỹ có hai tàu sân bay cùng khá nhiều máy bay từ đất liền cât cánh. Một tàu sân bay Mỹ chìm, chiếc kia hư hỏng nặng. Nhật chỉ mất một tàu sân bay hạng nhẹ, song cuộc đổ bộ chiếm cảng Moresby bất thành. Hai chiếc Shokaku và Zuikaku bị hư hỏng nặng đến nỗi phải vắng mặt ở trận Midway quyết định sau đó, bằng không cán cân lực lượng sẽ nghiêng hẳn về phía Nhật. Trận Midway bốn tuẩn sau đó, từ 4 đến 7/6/1942, Mỹ lừa đánh chìm được 4 tàu sân bay của Nhật khi các chiếc này đã gọi hết máy bay về, chỉ mất mỗi 1 chiếc “Yorktown”.

Sau trận Midway, lực lượng Nhật suy giảm sẽ không chịu nổi 4 trận đụng độ tàu sân bay khác, không còn làm chỗ dựa cho bộ binh Nhật phòng thủ nữa. Ngược lại, tàu sân bay Mỹ đóng vai trò làm bàn đạp cho thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ tái chiếm Thái Bình Dương. Chính vai trò này của tàu sân bay sẽ được các nhà binh pháp các nước ghi nhớ để biện luận cho mọi kế hoạch tàu sân bay hay ngược lại cảnh giác phòng ngừa hoặc khiếp vía không đánh đã buông súng.


TÀU SÂN BAY “SHI LANG”


80 năm sau ngày hai tàu sân bay “Kaga” và “Soho” của Nhật khơi khơi đánh phá Thượng Hải, nay mới đến lượt người Trung Quốc rờ vào chiếc tàu sân bay đầu tiên. Tàu sân bay không là một cái gì mới, song mỗi chiếc có những hoàn cảnh đặc thù của nó. Nội dung bất di, bất dịch của các cuốn phim võ thuật, hành động TQ, “ngộ sẽ báo thù”, sẽ có chỗ trong mối hận lòng Thượng Hải 80 năm trước bị bắn phá bởi tảu sân bay Nhật, tiếp theo mối hận thất thủ Bắc Kinh năm 1900 trước liên quân Âu-Mỹ sau vụ nổi loạn của giới võ lâm Trung Quốc (quyền phỉ) và hiêp ước Shimonoseki sau vụ bại trân năm 1895 buộc Trung Quốc phải nhượng các đảo Pescadorses, Đài Loan, cảng Arthur cho Nhật. Trăm năm sau, nay người TQ đã phục thù được trên mặt trận kinh tế - tài chính, thế còn trên các mặt trận khác?


Thêm vào đó là giấc mơ “đổi đời” lên hàng cường quốc quân sự, cộng với những nhu cầu duy trì sự phát triển kinh tế. Tất cả sẽ “đồng hành” với chiếc “Shi Lang”? Tên của tàu này rất ý nghĩa. Shi Lang là tên môt đô đốc Shi Lang đã có công thu hồi đảo Đài Loan vào Trung Quốc năm 1683.Tất nhiên, chiếc “Shi Lang’ mới chỉ là giấc mơ, phôi thai!

THIÊN TRIỀU
 
http://thientrieu2010.blogspot.com/2011/04/giac-mo-tau-san-bay-cua-trung-quoc.html

Ông Gaddafi tuyên bố sẵn sàng ra đi

Thứ Bảy, 30/04/2011

(NLĐO)- Sáng nay, 30-4, nhà lãnh đạo Libya Gaddafi đã gửi một thông điệp hòa bình tới NATO khi cho biết lực lượng của ông sẵn sàng ngừng bắn và đàm phán với điều kiện NATO chấm dứt các cuộc không kích.

Trong một bài phát biểu trực tiếp trên truyền hình Libya dài 80 phút sáng sớm 30-4, Gaddafi cho biết ông dự định sẽ từ bỏ quyền lực và rời khỏi đất nước để người Libya có thể tự giải quyết vấn đề của mình nếu NATO chấm dứt không kích.
 
Ông Gaddafi: Cánh cửa hòa bình sẽ được mở ra
 

"Libya đã sẵn sàng ngừng bắn. Tuy nhiên, việc ngừng bắn sẽ không thể thực hiện được từ một phía” - ông Gaddafi tuyên bố.

"Chúng tôi là những người đầu tiên lên tiếng chấp thuận ngừng bắn nhưng điều đó đã không ngăn được cuộc tấn công của NATO”, ông nói thêm.
Nhà lãnh đạo 41 năm của Libya còn nhấn mạnh: “Cánh cửa hòa bình sẽ được mở ra”.
 
Lực lượng trung thành với nhà lãnh đạo Gaddafi

Trước đó, Saif al-Islam, con trai của ông Gaddafi, tuyên bố Libya sẽ không bao giờ đầu hàng ngay cả khi các cuộc không kích của NATO có kéo dài tới 40 năm.
 
Phát biểu trên đài truyền hình quốc gia, ông Saif al-Islam nhấn mạnh: "Chiến dịch không kích của NATO dù kéo dài 40 ngày hay 40 năm, Libya cũng sẽ không đầu hàng".
 
Trong khi đó, cuộc xung đột tại Libya hôm qua đã vượt khỏi biên giới, khi lực lượng trung thành với nhà lãnh đạo Gaddafi đụng độ với các binh lính Tunisia. Vụ việc này đã gây ra phản ứng gay gắt từ phía chính quyền Tunisia.
 
Lực lượng trung thành với nhà lãnh đạo Gaddafi đã băng qua biên giới trong lúc truy đuổi các binh sĩ thuộc phe nổi dậy hòng chiếm lại trạm cửa khẩu biên giới trong vùng Wazin ở miền tây bị quân nổi dậy chiếm tuần qua.

Quân đội Tunisisa hôm nay đã tăng lực lượng gìn giữ hòa bình ở biên giới sát Libya sau cuộc giao tranh giữa quân đội 2 nước vào hôm qua.
 
Xe hơi bị cháy đen ở thành phố Misrata sau đợt không kích của NATO ngày 27-4 - Ảnh: Reuters

Hãng tin AP hôm 29-4 cho biết ít nhất 11 binh sĩ thuộc phe nổi dậy đã thiệt mạng và 2 người khác bị thương trong cuộc không kích mới nhất của NATO ở thành phố Misrata ngày 27-4. Thông tin này đã được chỉ huy quân nổi dậy Libya, Abdullah Mohammed, xác nhận. Tuy nhiên, người phát ngôn của NATO, ông Eric Povel, khẳng định chưa nhận được thông tin trên.
Thu Hằng (Theo Reuters)
 
 http://nld.com.vn/20110430104050756p0c1006/ong-gaddafi-tuyen-bo-san-sang-ra-di.htm

Dấu hỏi về tỷ giá và lạm phát

Phi Tuấn
Thứ Năm,  28/4/2011








Dấu hỏi về tỷ giá và lạm phát
Phi Tuấn

Lạm phát đang khiến cuộc sống người dân thêm khó khăn. Ảnh: LÊ TOÀN.











(TBKTSG) - Dù đánh giá tốt những nỗ lực về kiềm chế lạm phát và ổn định tỷ giá của Chính phủ trong thời gian qua, nhưng giới chuyên gia trong hội thảo “Chính sách tài khóa - tiền tệ và phát triển thị trường tài chính Việt Nam”, do trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TPHCM tổ chức, vẫn tỏ ý hoài nghi về hiệu quả dài hạn.
Tranh luận quanh cán cân thanh toán
Ông Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, dự báo cán cân thanh toán quốc tế năm 2011 của Việt Nam sẽ thặng dư khoảng 1 tỉ đô la Mỹ, mức thặng dư đầu tiên kể từ năm 2008. Con số của ông Nghĩa đưa ra, nếu so với 2,5 tỉ đô la Mỹ thặng dư theo ước tính của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), thì vẫn còn khá bi quan, nhưng lại rất lạc quan so với dự báo của chuyên gia kinh tế Phạm Đỗ Chí. Cũng tại hội thảo nói trên, ông Chí dự báo “cán cân thanh toán quốc tế năm nay sẽ tiếp tục âm 3 tỉ đô la”.
Mức thặng dư 1 tỉ đô la Mỹ được ông Nghĩa tính toán dựa trên những phân tích về các số liệu thật nhưng “chưa thể công bố”. Còn ông Chí nửa đùa nửa thật rằng mình “dò số trên mạng”, và tính toán rằng thâm hụt thương mại tiếp tục ở mức 12 tỉ đô la trong năm nay. Theo ông Chí, kiều hối có thể giảm xuống còn 5 tỉ đô la do lượng ngoại tệ vào sẽ ít hơn khi lãi suất đô la Mỹ giảm và chính sách thắt chặt tiền tệ của Chính phủ.
Ông Nghĩa không đồng ý với nhận định lượng kiều hối năm nay sẽ giảm. Theo ông, chính sách thắt chặt tiền tệ, việc giảm lãi suất đô la Mỹ, cùng với sự kiện lao động Việt Nam ở Lybia về nước, không làm cho thị trường kiều hối biến động nhiều. Trong số 8 tỉ đô la Mỹ kiều hối năm 2010, thì khoảng 4,3 tỉ là do người lao động xuất khẩu gửi về, và những cuộc xung đột ở Libya gần đây cũng chỉ làm cho con số này giảm xuống còn 4,1 tỉ đô la. Lượng “kiều hối” được gửi về theo dạng đầu cơ lãi suất, theo ông Nghĩa, cũng chỉ khoảng 1 tỉ đô la Mỹ, và con số đó có thể vẫn được giữ lại, vì dù lãi suất giảm, nhưng “vẫn hấp dẫn hơn các nước khác, và rất có thể người ta giữ lại để đầu tư vào các hạng mục khác”.
Điều ông Nghĩa lo ngại nhất là lực cản về khoản sai số và bỏ sót mà năm 2009 lên tới hơn 10 tỉ đô la, sang năm 2010 giảm còn hơn 4 tỉ đô la. Năm nay, nếu khoản mục này dự kiến chỉ khoảng 1 tỉ đô la, thì cán cân thanh toán sẽ thặng dư.
Đối với bộ ba bất khả thi, gồm cố định tỷ giá, tự do hóa tài khoản vốn và chính sách tiền tệ độc lập, Tiến sĩ Hoàng Công Gia Khánh, Đại học Kinh tế - Luật, đề nghị cần phải xem tỷ giá là mục tiêu thay vì là phương tiện của chính sách tiền tệ. Và như thế chính sách tiền tệ cần phải được chấp nhận ở mức “kém độc lập” để trung hòa với sự chu chuyển dòng vốn ngoại nhằm kiểm soát tốt lạm phát. Điều này trái với đề xuất của ông Chí, là “bỏ một giữ hai”, trong đó cái cần hy sinh là cố định tỷ giá.
Theo ông Nghĩa, tỷ giá trong năm nay “có thể biến động, nhưng không đáng kể”. Lý do ông đưa ra là dù lạm phát của Việt Nam cao hơn rất nhiều so với lạm phát của Mỹ, nhưng bù lại, tỷ giá hối đoái thực của đồng Việt Nam tăng giá so với đô la Mỹ khoảng 10% và đồng đô la Mỹ mất giá so với các đồng tiền khác cũng cỡ đó. Hơn nữa, nếu tính một rổ tiền tệ gồm 19 đồng tiền mà Việt Nam có quan hệ thương mại thì tỷ giá hối đoái thực của Việt Nam so với đồng đô la tăng không đáng kể.
Điều quan trọng nhất trong năm 2011, theo ông Nghĩa, là việc Chính phủ đã bắt đầu đưa ra những cơ chế để xây dựng thị trường hối đoái chính thức làm nền tảng để chấm dứt tình trạng các ngân hàng nhận tiền gửi và cho vay bằng ngoại tệ, thay vào đó là hoạt động mua và bán ngoại tệ, với một lộ trình từ nay cho đến năm 2013.
Băn khoăn về lạm phát
Theo các chuyên gia, nền kinh tế dường như đang ở trong một vòng xoáy: lạm phát - chống lạm phát - thắt chặt tiền tệ - nới lỏng tiền tệ - lạm phát rồi lại chống lạm phát. Các chuyên gia nhận định chính sách tài khóa chính là nguyên nhân của lạm phát, vì thế Chính phủ nên thay đổi chính sách tài khóa, cắt giảm đầu tư công. Con số 3.400 tỉ đồng cắt giảm chỉ chiếm 1% tổng đầu tư công là quá nhỏ. Còn ông Nghĩa cho rằng do đầu tư công là từ ngân sách trung ương rót xuống, vì thế, Chính phủ cần quyết tâm cắt giảm ngay từ khâu này, và buộc địa phương phải “xoay xở trong số vốn được cấp”, chứ không nên cử các đoàn công tác về địa phương vì “địa phương sẽ năn nỉ, khó cắt lắm”.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Cành, Đại học Kinh tế - Luật, tỏ ý hoài nghi về phương thức, danh mục cũng như cơ chế giám sát việc cắt giảm đầu tư công, vì bài học năm 2008 vẫn còn đó khi Chính phủ đưa ra chương trình cắt giảm nhưng kết toán ngân sách quốc hội thông qua vẫn bội chi. Theo bà Cành, căn bệnh kinh tế chỉ được điều trị bằng các liệu pháp kinh tế, còn biện pháp hành chính chỉ là liều thuốc bổ trợ, cắt cơn tạm thời mà thôi.
Ông Nghĩa cho rằng nguyên nhân lạm phát là do lỗi cơ cấu vì “phân bổ nguồn lực vào những khu vực không có hiệu quả”. “Nếu kéo lạm phát xuống chừng 5-7% thì vẫn chưa chạm tới cấu trúc và chỉ dùng chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa đơn giản thì không thể làm được. Nếu kéo xuống 2-3% một cách ổn định vững chắc thì chắc chắn là phải cải cách cơ cấu,” ông nói.
Ông Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, kỳ vọng vào một con số “đẹp” của lạm phát năm 2011 là 11%, nếu không thì sẽ 12-13% như các dự báo, trong khi mức tăng trưởng của cả năm xoay quanh con số từ 5-6,5%.

http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/sotay/52490/Dau-hoi-ve-ty-gia-va-lam-phat.html

Nhập siêu chưa giảm như mong muốn

 

Phạm Đăng Thịnh

(TBKTSG) - Theo Bộ Công Thương, xuất nhập khẩu hàng hóa tháng 4 và bốn tháng đầu năm 2011 tiếp tục xu hướng tăng trưởng nhanh. Mặc dù tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu cao hơn nhập khẩu, song mức nhập siêu hàng hóa bốn tháng vẫn còn cao, chưa giảm xuống mức kỳ vọng.
Cụ thể, tháng 4 xuất khẩu ước đạt 7,3 tỉ đô la Mỹ, góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu chung trong bốn tháng đầu năm 2011 lên hơn 26,9 tỉ đô la Mỹ, tăng 35,7% so với cùng kỳ năm 2010.
Trong đó, các mặt hàng nông sản đạt kim ngạch xuất khẩu khá ấn tượng, với mức tăng trên 50%. Riêng ba mặt hàng có tốc độ tăng ấn tượng, trên 110% so với cùng kỳ năm 2010, là cà phê, cao su và sắn. Ngoài ra, hạt tiêu cũng tăng tới 57% và rau quả tăng 44%...
Không hề thua kém về mức tăng trưởng xuất khẩu là các mặt hàng công nghiệp chế biến, tăng 31,9%, chủ yếu là hàng dệt may, chất dẻo nguyên liệu, sản phẩm chất dẻo, thép các loại, túi xách, va li, ô, dù...
Điểm đáng lưu ý là các mặt hàng nhiên liệu và khoáng sản. Dù mức tăng xuất khẩu không bằng hai nhóm trên, nhưng vẫn rất cao, tăng 30,8%, trong khi chủ trương hạn chế xuất khẩu nhóm hàng này đã được ban hành. Duy chỉ có than đá là mặt hàng giảm cả về lượng và giá trị, còn các mặt hàng khác vẫn tăng kim ngạch trên 40% so với cùng kỳ năm 2010.
Tính ra, khối lượng hàng hóa xuất khẩu bốn tháng đầu năm 2011 làm cho kim ngạch xuất khẩu chung tăng lên gần 19,3%, tương ứng tăng hơn 3,82 tỉ đô la Mỹ. Còn giá cả thị trường thế giới tăng cũng giúp kim ngạch chung tăng thêm 3,26 tỉ đô la Mỹ.
Dự báo trong hai tháng tới kim ngạch xuất khẩu vẫn tiếp tục tăng cao, bởi nhu cầu hàng hóa trên thị trường thế giới tiếp tục tăng lên và giá cả hàng hóa cũng chưa có dấu hiệu hạ nhiệt.Không tăng nhanh như xuất khẩu, nhưng nhập khẩu bốn tháng đầu năm vẫn đạt hơn 31,8 tỉ đô la Mỹ, tăng 29,1% so cùng kỳ năm 2010.
Quan trọng hơn, kim ngạch nhóm hàng hóa “cần hạn chế nhập khẩu” đã tăng chậm lại, chỉ 17,4%, trong khi các mặt hàng cần thiết phải nhập khẩu như xăng dầu, bông sợi... tăng 28,4%, còn hàng cần thiết phải kiểm soát nhập khẩu, là vàng nguyên liệu, bánh kẹo và sản phẩm từ ngũ cốc... lại tăng rất mạnh đến 44,3% so với cùng kỳ năm 2010.
Như vậy, tổng mức nhập siêu bốn tháng đầu năm 2011 sẽ lên đến 4,89 tỉ đô la Mỹ, tăng 1,8% so với cùng kỳ năm 2010 và bằng 18,2% kim ngạch xuất khẩu, cao hơn chỉ tiêu kế hoạch đề ra. 


  

http://www.thesaigontimes.vn/Home/kinhdoanh/xuatnhapkhau/52481/Nhap-sieu-chua-giam-nhu-mong-muon.html

Limits of Chinese power


Evelyn Goh (World View)

30 April 2011
That China is one of the most powerful states in the world is no longer a contested claim, but cataloguing China’s increasing material resources does not in itself demonstrate that China is powerful.
A more telling question is how effectively does China convert its growing resources into influence over other states’ strategic choices and the outcomes of events?
Southeast Asia presents an apparently “easy” case for investigating China’s rising power. Given the significant asymmetry of power, if China’s power has indeed grown, we would expect to see altered preferences and behavior of these weaker neighbours in response to coercion, persuasion or inducement from China. Results so far are mixed. While China has been able to harness much of the region’s economic energy in a favorable direction, it does get its way in territorial and resource conflicts.
China’s burgeoning economic rise has restructured economic networks in East Asia, fueling regional production for China as the final assembly and export point to the rest of the world. The Chinese government has also tried to consolidate its economic leadership position by driving broader economic regionalism.
In less-developed mainland Southeast Asia, China’s participation has made feasible region-wide economic development plans for the Greater Mekong Subregion initiative of the Asian Development Bank, drawing international investment for infrastructural projects. These connect the poorer states – Cambodia, Laos and Vietnam – to the markets of China and Thailand, while improving China’s access to raw material supplies and ports in the Indian Ocean and East China Sea. These schemes have also spurred Japanese and American interest and investment in Mekong regionalism. More prominently, China’s initiative for a free trade agreement with ASEAN overcame the nagging problem of galvanising an economic integration project. When it came into effect in 2010, the China-ASEAN Free Trade Agreement formed the world’s largest free trade area, comprising 1.9 billion consumers and US$4.3 trillion in trade.
Southeast Asian states were unable to achieve effective regional economic integration because of the Cold War and competitive economic profiles in low-cost manufacturing. China has lent weight and momentum to translating their shared developmental imperative into regional economic integration. It exercises power via a multiplier effect: The size of its manufacturing sector produces economies of scale, and its political clout lends significance, even legitimacy, to the enterprise.
While such a multiplier role is crucial to China’s political successes in Southeast Asia, it paradoxically does not provide the best evidence for China’s influence, because Beijing is mobilising pre-existing shared preferences and does not have to get others to do what they did not want to do.
In contrast, situations in which the pre-existing preferences of other states are unclear or undecided – such as the prominent debate in the 1990s about whether rising China was a threat – present opportunities for China to influence its neighbours by persuading them that its own narrative of the so-called peaceful rise is more accurate and certainly more profitable. Against the gathering discourse about a China threat, an official Chinese campaign took off from the mid-1990s to shape world perceptions of China instead as a benign, responsible great power.
This campaign involved an alternative narrative about China’s cooperative New Security Concept, and its “peaceful rise” or “peaceful development” as it strives for a “harmonious world.” The message was intended to reassure neighbours that China’s resurgence would not threaten their economic or security interests because of its peaceful intentions, limited national capabilities, mutually beneficial development trajectory and pluralist international mindset.
Rhetoric was accompanied by policy action. In Southeast Asia, China negotiated land, though not maritime, border disputes with Vietnam; fully participated in ASEAN institutions; and undertook highly publicised restraint and aid during the 1997 and 2009 financial crises. China’s persuasive power encompassed economic inducement.
Yet, there are limits to how much policymakers in Southeast Asian states have been reassured regarding the China threat. China’s power to persuade is rooted in its ability to sustain benign policy action. Apart from efforts to offset some of the adverse effects of Chinese economic competition, China’s neighbours are also watching its behaviour in more serious conflicts of interest.
The best way to gauge the conversion of power into influence is in cases where the powerful actor causes another actor to change policy on a significant issue on which they have clashed. In the case of China and Southeast Asia, such issues include policies on Taiwan, defence relations with the US and policies on territorial disputes. On these potential hard cases, it’s difficult to find significant changes in Southeast Asian states’ policies in response to Chinese actions to date.
China’s behaviour in disputes constitutes a critical test of its intentions, and its hard line backfired seriously in that it led to a closing of ranks across Southeast Asia, Japan and the US. Beijing’s actions lend weight to regional pessimists who are not persuaded of its peaceful rise, and sustained coercive action may prompt its neighbours towards the very containment policies that it wishes to avoid.
Having said this, it is worth noting that, so far, there are few good cases of China managing to make Southeast Asian states to do what they otherwise did not want to do. Alongside Beijing’s successful record of persuasion and inducement, it has shown caution in exerting pressure on its neighbours with the most challenging issues. The recent backlash in the South China Sea is likely to make Beijing more cautious. China’s still limited military capacity provides an important explanation, since, particularly in the maritime access and security arena, the presence of the United States still serves as a significant deterrent.
Dr. Evelyn Goh is reader in international relations and ESRC mid-career development fellow (2011-13) at Royal Holloway, University of London© 2011 Yale Center for the Study of Globalisation
http://www.khaleejtimes.com/displayarticle.asp?xfile=data/opinion/2011/April/opinion_April155.xml&section=opinion&col=

Ông Lê Đức Thúy ‘hạ cánh an toàn’

|

Lê Đức Thúy
Trang web Chính phủ, ngày hôm nay, 29/4/2011 cho biết, thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng vừa ký quyết định nghỉ hưu theo chế độ cho một số quan chức thuộc Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia và Ban chỉ đạo Trung ương về Phòng chống Tham nhũng. Trong danh sách đó, có ông Lê Đức Thúy. Quyết định này có hiệu lực từ 1/5/2011.
Ông Thúy sinh ngày 30/6/1948, như vậy, ông về hưu “theo chế độ” lúc chưa đầy 63 tuổi.
Ông Lê Đức Thúy từng giữ chức thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam từ năm 1999 tới 2007, sau đó ông giữ chức Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, đồng thời là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa khóa IX và X.
Gần đây, tên tuổi của ông liên tục được báo chí Úc và các trang web hải ngoại nhắc tới trong nghi án nhận hối lộ với số tiền ít nhất là 12 triệu Úc kim để in và đưa vào lưu thông loại tiền Polimer. Vẫn theo báo Úc, số tiền này, qua một công ty trung gian do Lương Ngọc Anh làm giám đốc, được  trả thẳng vào ngân hàng Thụy Sỹ và Bahamas.
Cũng theo tờ The Age, con trai ông Thúy, Lê Đức Minh đã được công ty in tiền Securency trả học phí cho những năm theo học tại một đại học ở Anh quốc.
Ngoài ra, mấy năm trước, ông Thúy cũng liên quan tới vụ định chiếm dụng một ngôi nhà 5 tầng ở số 6 Lý Thái Tổ, Hà Nội bằng cách mua hóa giá với số tiền hàng trăm lần thấp hơn giá trị thật của nó.
Vụ việc không chót lọt, ông Thúy làm đơn xin “tình nguyện trả lại nhà”.
Cũng cần nhắc lại rằng, hơn 3 năm trước đây, cũng chính thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định bổ nhiệm Lê Đức Thúy vào chức vụ Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia.
© Đàn Chim Việt

http://www.danchimviet.info/archives/33360

La Chine malade de ses scandales alimentaires

L'Expansion.com - publié le 28/04/2011

Du porc aux anabolisants, du riz au cadmium, et des raviolis aux pesticides... Le système de contrôle sanitaire chinois fait régulièrement la preuve de son inefficacité. En attestent les scandales alimentaires à répétition.

 


En septembre 2008, le lait de la marque Sanlu, est retiré de la vente.
REUTERS/Stringer
Les scandales alimentaires se sont multipliés en Chine, ces dernières semaines, faisant échos à l'affaire du lait à la mélamine trois ans plus tôt. Pourtant en 2009, la Chine s'est dotée d'une loi sur la sécurité alimentaire. Mais, selon le Wall Street Journal, elle ne définit "pas de normes, pas de budget, pas de procédure pour obtenir l'application des régulations, et pas de façon claire de résoudre les différends". La presse chinoise assure que les organes de contrôle ne disposent pas de moyens financiers suffisants, et qu'il sont mal coordonnés. En quelques dates, les principales affaires qui mettent en évidence la faillite de la sécurité alimentaire chinoise.
Avril 2011. Des petits pains à la teinture chimique
Près de 300 000 petits pains toxiques ont été écoulés dans les supermarchés à Shanghai. Cuits à la vapeur, ces petits pains appelés mantou, sont servis au petit déjeuner, et dans le nord de la Chine, ils peuvent remplacer le riz. En plus de toute une série de composants chimiques qui ne figuraient pas sur l'emballage, de la teinture jaune toxique a été introduite pour donner à la préparation la couleur du maïs. Du porc chargé de bactéries pour devenir fluorescent dans l'obscurité a aussi été débusqué, tout comme du soja aux nitrates cancérigènes.

Avril 2011. Du lait au nitrite
3 enfants sont morts et 36 autres sont tombés malades pour avoir consommé du lait frais empoisonné au nitrite, un engrais agricole. L'affaire fait d'abord penser à une contamination d'origine industrielle qui aurait, une fois encore, échappé aux autorités sanitaires. Mais l'enquête policière révèle que l'introduction de nitrite est le fait d'un acte criminel intentionnel. C'est par vengeance qu'un couple de fermiers a empoisonné la production laitière de son voisin.

Mars 2011. Du porc au clenbutérol
Près de 300 villageois de la province du Hunan sont tombés malades après avoir mangé du porc élevé au clenbutérol. Cet anabolisant, qui réduit la graisse au profit des muscles, a été retrouvé dans des produits d'une marque du premier producteur chinois. Des cas similaires, et d'ampleur comparable, s'étaient déjà produits à Shanghai en 2006, et dans la province du Guangdong en 2009.

Février 2011. Du riz au cadmium
La presse chinoise révèle que pas moins de 10% du riz produit en Chine contiendrait des doses de cadmium supérieures aux normes acceptables (0,2 mg par kg). Des chercheurs de l'université de Nankin pointent du doigt les régions de Guangdong, Jiangxi et Hunan qui, elles, seraient contaminées à 60%. Le cadmium est un métal lourd probablement isssu de la pollution industrielle des fleuves et cours d'eau.

La mélamine avait déjà frappé, en 2007, aux Etats-Unis et au Canada où plusieurs centaines d'animaux domestiques étaient morts après avoir mangé de la nourriture pour animaux en provenance de Chine.
Mars 2008. Du lait à la mélamine
De la mélamine retrouvée dans du lait maternisé entraîne la mort de 6 nourrissons en Chine et en contamine près de 300 000. Utilisée frauduleusement dans l'industrie alimenaire pour faire monter artificiellement le taux de protéine, la mélamine est un composant chimique toxique qui rentre dans la composition de plastiques et de fertilisants. Soupçonnée à partir du mois de mars, quelques mois avant les JO d'été de Pékin, la fraude, organisée à grande échelle, met en cause 22 sociétés laitières chinoises. Mais, pour éviter de ternir la réputation de la Chine au moment où Pékin s'apprête à recevoir toute la planète dans ses stades, le scandale n'est révélé que plusieurs mois plus tard. Au début de l'année suivante, la justice chinoise tente de tirer un trait sur cette affaire qui a gravement ébréché l'image des produits "Made in China" et révélé les lacunes de son système de contrôle sanitaire. Après une rapide enquête, la justice est rendue pour les 21 " boucs émissaires" selon les représentants des familles des victimes. 3 condamnations à mort, 3 peines de réclusion à vie, et des peines d'emprisonnement pour les autres prévenus. Preuve que la politique de contrôle sanitaire n'a pas été réformée, trois ans plus tard, la mélamine continue de séduire des industriels véreux, on en retrouve encore dans certains produits laitiers. Le quotidien Global Times nous apprend qu'à Chongqing, dans le sud-ouest de la Chine, 26 tonnes de lait en poudre contenant de la mélamine ont été détruites.

Février 2008. Des raviolis aux pesticides
Au Japon, des raviolis, appelés gyozas, importés de Chine empoisonnent 3 700 personnes et causent l'hospitalisation d'une dizaine de malades. Des traces de métamidophos sont retrouvées dans ces plats surgelés. C'est un pesticide utilisé en Chine en dépit d'une interdiction qui date de 2007. L'affaire s'envenime. L'enquête menée par des experts japonais tarde à déterminer l'origine de l'intoxication. Et sur le terrain des investigations, les relations sino-japonaises sont au plus mal. Les autorités japonaises auraient finalement les preuves d'une contamination sur le sol chinois, alors que Pékin est persuadé que les gyozas ont été victimes d'un sabotage sur le territoire japonais.

2007. Du dentifrice au diéthylène glycol
Utilisé dans les antigels, du diéthylène glycol est débusqué dans des dentifrices chinois vendus à travers le monde. Cette substance est mortelle lorsque des quantités 4 fois supérieures à celles d'un brossage normal sont ingérées. Des dizaines de personnes en seraient mortes en Amérique latine.

2006. Des poulets au colorant industriel
Du colorant rouge, le Sudan IV, est découvert dans des poulets d'élevage. Ajouté à la nourriture des volailles, ce produit cancérigène colore les oeufs d'une teinte plus rouge. La couleur, signe de surnutrition, permet de vendre les oeufs plus cher. 


http://lexpansion.lexpress.fr/economie/la-chine-malade-de-ses-scandales-alimentaires_254433.html

đọc thêm

Chine. Le pouvoir forcé de réagir aux scandales alimentaires


Le Télégramme - ‎28 avr. 2011‎

Après l'affaire du lait contaminé qui a coûté la vie à six bébés et rendu malades quelque 300.000 autres, les scandales alimentaires ressurgissent en Chine. Le week-end dernier, 286 villageois de la province du Hunan (sud) ont dû être soignés après ...


20minutes.fr - Journal de l'environnement (Abonnement) 18 autres articles