Xuân Tân Mão

Xuân Tân Mão
Đảng và Chính phủ luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng với tất cả hoạt động, việc làm của người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia (TTg NT Dũng).

31 tháng 5 2011

Putin nghi Strauss-Kahn bị mưu hại?

 31/05/2011


Thủ tướng Nga Vladimir Putin mới đây nói Dominique Strauss-Kahn có thể là nạn nhân của một âm mưu đen tối nhằm buộc ông này phải rời chức Tổng giám đốc Quỹ tiền tệ quốc tế.



Thủ tướng Putin là nhà lãnh đạo thế giới đầu tiên tỏ ý nghi ngờ về những cáo buộc tình dục chống ông Strauss-Kahn, 62 tuổi, người Pháp. Ông Putin nói, cáo buộc chống ứng viên Tổng thống Pháp tấn công tình dục và cố cưỡng hiếp cô hầu phòng 32 tuổi có thể là hành động nguỵ tạo của chính quyền Mỹ.
Nhận xét của nhà lãnh đạo Nga chắc chắn sẽ khiến cựu tổng giám đốc IMF bất ngờ vì trước đó, ông Strauss Kahn từng cho rằng chính Thủ tướng Nga đã rất tích cực trong mưu đồ lật đổ ông.
Thủ tướng Nga lên tiếng biện hộ cho ông Strauss-Kahn trên trang web chính thức của Kremlin. "Khó để đánh giá động cơ chính trị ẩn sau nhưng tôi không tin rằng mọi chuyện diễn ra như cách mà ban đầu nó được phơi bày".
Tuy nhiên, về phía người bị cáo buộc lại khác. Vài ngày trước khi bị bắt vì tội tấn công tình dục ở một khách sạn ở New York hôm 14/5, ông Strauss-Kahn nói với bạn bè rằng Thủ tướng Nga Putin đang tìm cách đánh bật ông khỏi IMF.
Nhà chính trị Pháp Claude Bartolone dẫn lời Strauss-Kahn nói, "người Nga, đặc biệt là Putin đã liên kết với Pháp để khiến ông phải rời khỏi IMF, ngăn không cho ông ra tranh cử Tổng thống".
Ông Strauss-Kahn đã được tại ngoại sau 6 ngày tạm giam, hiện đối mặt với cáo buộc hiếp dâm, lạm dụng tình dục. Cựu Tổng giám đốc IMF bị bắt sau khi cố bắt máy bay để quay về Paris chỉ vài giờ sau vụ tấn công tình dục.
Tuần trước, cựu Thủ tướng Anh Gordon Brown gọi vụ bê bối của ông Strauss-Kahn là "thảm kịch cá nhân" nhưng cho rằng không có gì đáng nghi về vụ bắt giữ.
  • Hoài Linh (Theo DailyMail)
http://vietnamnet.vn/vn/quoc-te/23452/putin-nghi-strauss-kahn-bi-muu-hai-.html

China’s Territorial Disputes in the South China Sea and East China Sea

By Shelly Zhao

May 31 – Territorial issues in the South China Sea (SCS) and East China Sea (ECS) have gained more attention recently, prompting questions about China’s intentions in the region. Why are these territorial disputes significant, and what are the prospects for future cooperation? Both the SCS and ECS are geopolitically significant and represent an intersection of history, sovereignty and territory, geostrategy, and energy security, impacting China’s relations with its neighbors. This article looks at three major territorial disputes in China’s surrounding waters and discusses the concerns for regional cooperation and stability.
Territorial and maritime sovereignty
Two main areas of dispute are important for distinction: territorial sovereignty and maritime sovereignty. Territorial sovereignty disputes concern claims of rightful ownership of the land itself and usually refers to historical presence in determining rightful control. Maritime boundary disputes relate to the territorial delimitations allowed by the 1982 United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS III).

UNCLOS specified a 12 nautical mile territorial sovereignty boundary from a nation’s coastline, as well as a 200 nautical mile creation of exclusive economic zones (EEZs), which includes the seabed resources within that sphere from the shoreline. This is significant because the country who has sovereignty over the islands would also own the natural resources in the surrounding area. The untapped oil and gas deposits surrounding the islands make them geopolitically significant.
South China Sea: Spratly Islands and Paracel Islands
Two major territorial disputes in the South China Sea are the Spratly Islands and the Paracel Islands. The remaining South China Sea disputes are the Macclesfield Bank (PRC, Taiwan, and Philippines), the Scarborough Shoal (PRC, Taiwan, and the Philippines), and Pratas Island (PRC and Taiwan). The table below gives an overview of the Spratly and Paracel territorial conflicts in brief:


Spratly Islands
Located south of China, southeast of Vietnam, west of the Philippines, and north of Malaysia, the Spratly Islands have been disputed among several countries since 1988. There have been a number of confrontations and China has clashed with both Vietnam and the Philippines over the region. A turning point occurred with the 1995 Mischief Reef incident where China’s PLA Navy built an installation on Mischief Reef, resulting in a confrontation between China and the Philippines. To China’s surprise, ASEAN gave a united condemnation of their actions. In the past decade, the Spratly Islands conflict has become more institutionalized into ASEAN.

Paracel Islands
Located east of Vietnam and south of China’s island province of Hainan, the Paracel Islands have seen less confrontation than the Spratly Islands, though Vietnam still contests China’s administration today. After the 1974 Battle of the Paracel Islands between naval forces of China and then-South Vietnam, which resulted in the death of 18, China defeated Vietnam and has controlled the islands to this day. In 2002, ASEAN countries put forth a Declaration of Conduct for both SCS disputes, putting forth a (non-binding) agreement to operate under ASEAN core principles.

East China Sea: Senkaku/Diaoyu Islands
The Senkaku/Diaoyu Islands dispute between China, Taiwan, and Japan has seen occasional flare-ups over the last few decades that have led to bilateral tensions. Located east of China, northeast of Taiwan, and southwest of Japan, the main conflicts that have occurred in the area have been between China and Japan over sovereignty as well as EEZ delimitation.


In the SCS, China has claimed a “U-shaped line” of demarcation for its EEZ and continental shelf for decades and, in 1992, China’s National People’s Congress passed the Law on the Territorial Sea and Contiguous Zone. This law specified that the SCS and ECS islands fell under China’s geographic scope as well as authorized the PLA to evict intruders, such other states’ naval vessels, from the territory. China has continued to reiterate its sovereignty claims to the SCS and ECS islands, stressing that they are “indisputable.”
Regional developments in 2010 and 2011
In spite of previous efforts to institutionalize the territorial disputes, the SCS and ECS have remained key waters for countries wishing to gain or preserve geopolitical influence in the region. In the past year, recent developments and some actions have led observers to question China’s role in the area and the likelihood of its peaceful rise, particularly as the reasoning and priorities can be opaque, leading to uncertainties about Chinese intentions.

Some of the more notable recent developments in 2010 and 2011 include:
  • March 26, 2010: North Korea reportedly sank the South Korean ship Cheonan in the Yellow Sea, and China questioned the findings of the independent investigation and did not condemn North Korea.
  • July 2010: Secretary of State Hillary Clinton said at the ASEAN Regional Forum that the U.S. supported multilateral resolution and “oppose[d] the use or threat of force by any claimant” in the South China Sea. Chinese Foreign Minister Yang Jiechi responded that China had “indisputable sovereignty” in the South China Sea. China reportedly said that it considered the SCS to be within its core interests, though whether or not this actually occurred has been debated – for example, Wang Jisi noted in 2011 that Chinese commentators’ references to the SCS as a core interest were “reckless statements, made with no official authorization.”
  • September 7, 2010: The Chinese fishing boat Minjinyu 5179 collided with two Japanese vessels near the Senkaku/Diaoyu Islands resulting in the detention of the fishing boat’s captain. Western media reported that China issued a ban on rare earth exports to Japan as a result, though China denied this.
  • September 11, 2010: Chinese vessels apprehended Vietnamese fishing vessels in waters near the Paracel Islands.
  • October 27, 2010: China launched new marine patrol vessels to patrol the SCS.
  • November 23, 2010: North Korean forces shelled Yeonpeong Island near a disputed border area with South Korea. China expressed concern but did not condemn North Korea.
  • December 17, 2010: Japan released its 10-year defense guidelines (White Paper) which listed North Korea, Russia, and China as regional concerns, suggesting a more security-oriented defense posture.
  • March 2, 2011: The Philippines protested against two Chinese patrol boats that confronted a Philippine vessel in Reed Bank near the Spratly Islands. The Philippines sent two aircraft and filed a protest with the United Nations in response.
  • March 3, 2011: Japan sent jets after seeing Chinese planes near the Senkaku/Diaoyu Islands.
  • May 29, 2011: Vietnam protested Chinese maritime vessels’ violation of sovereignty in its claimed EEZ.
Potential for cooperation in the SCS and ECS
How have observers reacted to China’s actions? Some feel its actions are harmful for regional stability and, in the long term, they put China’s “responsible power” image in question. China’s assertive attitude accompanied by its military modernization seems to have only confirmed fears of China’s destabilizing rise.

“Frankly, it’s not good news for the neighborhood and the question is whether the top [Chinese] leaders will take a look at the results they’re getting and say, on balance, we had better recalibrate,” Kenneth Lieberthal, director of the John L. Thornton China Center and senior fellow in Foreign Policy and Global Economy and Development at the Brookings Institution, told Bloomberg in September 2010.
A report in The Economist around the same time said that the Chinese leadership’s strong response in 2010 “has harmed China ultimately, undermining confidence in China as a responsible stakeholder in the region.”
International relations expert Joseph Nye also said in December last year that the region was “very much scared about China,” which in turn makes a continued U.S. presence more reassuring for neighboring countries.
The analyses above point to important security considerations about how a rising power will impact geopolitically-significant areas. In the SCS, the Spratly Islands appear to have more potential for conflict than the Paracel Islands, and in the ECS, the Senkaku/Diaoyu Islands incidents have been episodic, but potentially volatile over the decades. Yet more tempered and balanced rather than fear-driven perspectives, and focus on common and long-term interests rather than extracting short-term gains, may be more beneficial for moving ahead.
In the SCS and ECS territorial disputes, there have not been fundamental resolutions of territorial sovereignty nor maritime boundary delimitations acceptable to the parties involved. The competing sovereignty claims result from fundamentally differing perspectives on historical right to ownership, making convergence and reconciliation of the conflicting views tough to achieve.
Central to the territorial disputes are the potentially rich natural resources in the claimed EEZs, and in terms of maritime delimitation, scholars such as Mark J. Valencia and Unryu Suganuma have pointed out that joint resource development can help build cooperative frameworks between the claimants, potentially leading to a more institutionalized method of energy resource distribution for the long-term.
Moving forward with resource cooperation where China does not have administration of some disputed islands (in the Spratly Islands and Senkaku/Diaoyu Islands, for example) can also be a practical option of advancing the status quo without connoting the acceptance of the other party’s sovereignty claims. Deng Xiaoping saw the “shelving” (gezhi) policy of cooperation practical for mutual economic gains, while not at the expense of yielding claims to sovereignty, which China sees as indisputable. In the Senkaku/Diaoyu dispute, there have been some strides in bilateral resource development, examples including a fisheries agreement signed in 1997 and an agreement to develop the Shirakaba/Chunxiao oil field in 2008. Focusing energies on longer-term joint development initiatives will likely be most practical as well as beneficial for building trust and promoting positive-sum gains.
In the near future, countries in Southeast Asia are likely to favor regional engagement from powers such as the U.S. and Japan for security. For all claimants involved, rebuilding trust and giving reassurance in bilateral relationships, matched in words and in action, will be important in overcoming “suspicion begetting suspicion” and “fear begetting fear” cycles. Because of their geopolitical significance, moving toward formalizing joint development frameworks will be extremely important for the SCS and ECS islands, and a key determinant for prospects of cooperation.

http://www.china-briefing.com/news/2011/05/31/chinas-territorial-disputes-in-the-south-china-sea-and-east-china-sea.html
Related Reading
Russia’s Vladivostok to Boom as China Cuts Mineral Exports
China’s Tibet Price: the South China Sea

China steps up drilling, intimidation

Wednesday, June 1, 2011


SINGAPORE — China recently launched an oil and natural gas drilling platform that may be as significant as military modernization in buttressing Beijing's claims to control most of the islands, water and seabed in the maritime heart of Southeast Asia.
Designed to withstand typhoons, the giant rig was delivered to the state-owned China National Offshore Oil Corp. (CNOOC), the country's largest offshore energy producer. The company says it plans to use the platform to start drilling in the South China Sea in July.
It has not said where, but China's Global Times said that the deepwater rig, which is taken to its destination by powerful tugs, would "help China establish a more important presence in the largely untapped southern part of the South China Sea."
It is in this zone, which includes the widely-scattered Spratly Islands, that China's sweeping South China Sea claim overlaps with those of Taiwan and four Southeast Asian states — the Philippines, Vietnam, Malaysia and Brunei.
China's increasingly assertive policy in the South China Sea dispute was underscored last weekend when Beijing rebutted a protest that it had violated Vietnam's sovereignty. Hanoi said that three Chinese marine surveillance ships had damaged the cables of a seismic survey vessels operated by PetroVietnam, the state oil and gas firm, as it worked off the coast of central Vietnam.
According to Hanoi, the clash occurred just 215 km from Vietnam's shore, deep inside its Exclusive Economic Zone. China responded by saying that the measures taken by Chinese authorities are "normal marine law enforcement and surveillance activities undertaken in territorial waters under China's jurisdiction."
China claims control over approximately 80 percent of the South China Sea, as far south as waters off Indonesia's Natuna Island and the Malaysian state of Sarawak. But so far, China has limited its unilateral oil and gas search to the northern sector, which is contested only by Taiwan.
However, China's military power is growing and demand for energy to fuel its turbo-charged economy is increasing. As a result, China is becoming more assertive in protecting its island and maritime boundary claims, and the economic resources they contain.
The Global Times, which often voices nationalistic views, said that energy-thirsty countries around the South China Sea had been tapping Chinese petroleum resources for years. It quoted Song Enlai, chairman of CNOOC's board of supervisors, as saying that the losses in oil and gas for China were equivalent to 20 million metric tons of oil annually, about 40 percent of the country's total offshore production.
"The value of the South China Sea natural resources is immense," said Zhao Ying, a scholar with the Chinese Academy of Social Sciences. "Now that technologies are available for China to tap resources there, efforts to guard its operations and deter foreign illegal exploration become meaningful and necessary."
According to Chinese officials, 180 oil and gas fields and more than 200 prospective reservoirs had been found in the South China Sea by mid-2010, with most located in water depths at between 500 and 2,000 meters.
China's Xinhua news agency said that CNOOC plans to invest $31 billion to drill 800 deepwater wells to raise its output of oil and gas from deepwater zones to the equivalent of 500 million tons of oil by 2020. This investment is expected to be spread over prospective areas in the East China and Yellow seas, as well as the South China Sea.
The new Chinese rig, the first in a planned series, was launched May 23 in a blare of publicity in the official media. It will enable China to cease being totally reliant on foreign contractors for deep-sea drilling and allow it to explore in waters up to 3,000 meters deep, six times deeper than before.
Built over the last three years at a reported cost of $923 million dollars, the rig is as high as a 45-story building. It weighs 31,000 tons and is topped by a platform 114 meters long and 90 meters wide, about the size of a standard football field. It was made by China State Shipbuilding Corp. to drill 12,000 meters below the seabed.
Noting that countries like Vietnam and the Philippines cannot find and exploit oil and gas at such depths, Lin Boqiang, director of the Center for Energy Economics Research at Xiamen University, said it was "always a first-come, first-served game when vying for non-renewable resources in disputed sea areas, as the resources are not infinite."
China and the Philippines have also been in dispute recently over offshore energy rights in the South China Sea. Manila made an official protest to Beijing, claiming that on March 2 two Chinese patrol boats harassed a Philippine vessel surveying for oil and gas in the Reed Bank, about 250 km west of the Philippine island of Palawan.
On March 25, two days after the Philippines Department of Energy had announced that the seismic survey of Reed Bank was completed, the Chinese Foreign Ministry warned that "any activities by countries or companies to explore for oil or gas in the sea waters in China's jurisdiction without the permission of the Chinese government will constitute a violation of China's sovereignty and ... will be illegal and invalid."
Whether China will use its increasingly powerful navy to protect the new rig if it is sent to the southern sector of the South China Sea remains to be seen. But the jumbo rig alone would be a potent symbol of China's rising power and influence.
It is a marine version of a Battleship Galactica. Although unarmed, any attempt by Southeast Asian military forces to restrict the rig's movement in the South China Sea would risk retaliation from Beijing.
It could also cause a pollution disaster if the rig was drilling or producing petroleum at the time, with the intervening country likely to suffer the main damage because it was far closer to the spill than China.
Michael Richardson is a visiting senior research fellow at the Institute of Southeast Asian Studies in Singapore.
 
http://search.japantimes.co.jp/cgi-bin/eo20110601mr.html

Vụ tàu Bình Minh 02 - một vụ CGX trên Biển Đông?


Những diễn biến của vụ tàu Bình Minh 02 có thể làm người ta liên tưởng đến Vụ CGX năm 2000 tại Đại Tây Dương ngoài khơi Guyana và Suriname được đề cập dưới đây.
>> Vụ tàu Bình Minh 02 và phép thử của Bắc Kinh
Vụ tàu Bình Minh 02
Ngày 27/5 vừa qua, một loạt các phương tiện thông tin đại chúng của cả Việt Nam lẫn nước ngoài đã đưa tin về việc tàu hải giám của Trung Quốc cắt cáp thăm dò của tàu địa chấn Bình Minh 02 thuộc Tổng công ty Dầu khí Việt Nam (PVN) sáng sớm ngày 26 tháng 5 năm 2011 (sau đây gọi là Vụ tàu Bình Minh 02).[1] Những diễn biến chính của vụ việc này có thể tóm tắt như sau:
Tàu địa chấn Bình Minh 02 của Tổng công ty cổ phần Dịch vụ kỹ thuật dầu khí thuộc PVN đang tiến hành thăm dò địa chấn trên thềm lục địa của Việt Nam thì phát hiện có ba tàu hải giám của Trung Quốc di chuyển rất nhanh về phía khu vực khảo sát mà không có cảnh báo. Khi tàu Bình Minh 02 tạm dừng hoạt động thì tàu hải giám của Trung Quốc đã chủ động chạy qua khu vực thả dây cáp và cắt cáp thăm dò địa chấn của tàu Bình Minh 02. Ba tàu hải giám Trung Quốc sau đó tiếp tục cản trở, thậm chí còn uy hiếp tàu Bình Minh 02 và cho rằng tàu Bình Minh đã vi phạm chủ quyền của Trung Quốc. Dù tàu Bình Minh của PVN không chấp nhận luận điệu của tàu hải giám Trung Quốc và khẳng định rằng mình đang nằm trong vùng biển của Việt Nam nhưng cũng không thể hoạt động được cho đến khi ba tàu hải giám Trung Quốc rời khỏi khu vực khảo sát sau đó gần 4 tiếng.
Những diễn biến của Vụ tàu Bình Minh 02 nói trên có thể làm người ta liên tưởng đến Vụ CGX năm 2000 tại Đại Tây Dương ngoài khơi Guyana và Suriname được đề cập dưới đây.
Vụ CGX năm 2000[2]
Guyana và Suriname là hai quốc gia nhỏ bé Nam Mỹ[3] bên bờ Đại Tây Dương. Do là hai quốc gia liền kề nên vùng biển, kể cả thềm lục địa, mà Guyana và Suriname được hưởng theo quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (Công ước Luật biển) chồng lấn lên nhau và cần phải phân định. Trong khi giữa hai nước chưa có một đường ranh giới trên biển rõ ràng, vào những thập niên cuối của thế kỷ XX, cả Guyana và Suriname đều lần lượt cấp phép cho các công ty dầu khí nước ngoài tiến hành các hoạt động thăm dò tại vùng biển chồng lấn.
Trong số các nhà thầu của Guyana có Tập đoàn Tài nguyên CGX (CGX Resources Inc. - gọi tắt là CGX) của Canada từ năm 1999 bắt đầu tiến hành thăm dò địa chấn tại khu vực tranh chấp. Tháng 5 năm 2000, Suriname nhiều lần yêu cầu Guyana chấm dứt việc thăm dò tại khu vực chồng lấn. Đặc biệt, ngày 31/5/2000, Suriname yêu cầu riêng CGX chấm dứt toàn bộ hoạt động thăm dò địa chấn vượt quá một đường được gọi là đường 10o được Suriname sử dụng làm ranh giới cấp phép dầu khí của mình dù Guyana không công nhận đường này.[4]
Đỉnh điểm của tranh cãi giữa hai bên là sự việc diễn ra ngày 03/6/2000 khi hai tàu hải giám của lực lượng hải quân Suriname tiến đến gần tàu C.E. Thornton của CGX (vụ việc này sau thường được biết đến là "Vụ CGX"), yêu cầu tàu này không được thăm dò địa chấn và áp giải tàu này rời khỏi khu vực mà CGX đã được Guyana cấp phép.
Năm 2004, Guyana đơn phương việc dẫn cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc theo quy định của Công ước Luật Biển để phân định vùng biển chồng lấn với Suriname. Một Tòa trọng tài gồm năm luật gia quốc tế nổi tiếng được thành lập để giải quyết tranh chấp phân định biển theo đề nghị của Guyana do cả Guyana và Suriname đều đã là thành viên của Công ước Luật biển và không quốc gia nào có bảo lưu việc sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc này. Tòa trọng tài đã ra phán quyết của mình tại La Hay ngày 17/9/2007 (án lệ Guyana - Suriname).
Điểm đáng chú ý trong án lệ Guyana - Suriname là ngoài việc yêu cầu Tòa trọng tài tiến hành phân định biển, Guyana cũng cáo buộc Suriname trong Vụ CGX đã vi phạm một số nghĩa vụ quốc tế. Cụ thể đó là Suriname đã sử dụng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ của Guyana và chống lại công dân cùng các pháp nhân đang hoạt động trên vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Guyana. Theo Guyana, sự vi phạm này cũng dẫn đến việc Suriname vi phạm thêm các quy định của Công ước Luật Biển, Hiến chương Liên hợp quốc cũng như luật pháp quốc tế nói chung về việc giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình. Guyana cũng yêu cầu Tòa trọng tài ra phán quyết về trách nhiệm quốc gia, yêu cầu Suriname bồi thường thiệt hại nảy sinh sau Vụ CGX.
Tòa trọng tài bằng phán quyết ngày 17/9/2007 của mình cho rằng trong Vụ CGX, Suriname đã vi phạm nguyên tắc cấm đe dọa sử dụng vũ lực theo Công ước Luật biển, Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế nói chung. Hơn nữa, Tòa cũng  cho rằng việc vi phạm nguyên tắc cấm đe dọa sử dụng vũ lực cũng dẫn đến việc vi phạm nghĩa vụ không được cản trở việc tiến đến thỏa thuận phân định cuối cùng theo quy định Điều 74(3) và 83(3) của Công ước Luật biển - còn được gọi là nghĩa vụ "tự kiềm chế". Tòa trọng tài cho rằng nghĩa vụ "tự kiềm chế" là một phần trong nghĩa vụ lớn hơn của các quốc gia thành viên Công ước Luật Biển theo Điều 74(3) và 83(3) về việc đạt được các thỏa thuận tạm thời có tính thực tiễn liên quan đến vùng biển tranh chấp trong khi hai bên chưa phân định. Cần nói thêm rằng thỏa thuận tạm thời có tính thực tiễn phổ biến nhất chính là thỏa thuận "khai thác chung".
Tuy nhiên, riêng đối với yêu cầu của Guyana về tránh nhiệm quốc gia liên quan đến Vụ CGX thì Tòa cho rằng vùng biển xảy ra Vụ CGX đã được phân xử là thuộc về Guyana nên đã bảo đảm rằng Suriname sau này sẽ không có các vi phạm nghĩa vụ quốc tế tương tự như Vụ CGX. Tòa sau đó thấy rằng yêu cầu về thiệt hại của Guyana liên quan đến Vụ CGX không được thành lập nên từ chối không ra phán quyết về việc việc bồi thường. Hơn nữa Tòa trọng tài cũng cho rằng bản thân Guyana cũng vi phạm nghĩa vụ về việc đạt thỏa thuận tạm thời có tính chất thực tiễn đối với khu vực tranh chấp, góp phần dẫn đến Vụ CGX.
Một điểm đáng chú ý khác trong án lệ Guyana - Suriname đó là Tòa đưa ra phân tích về tác hại của hoạt động thăm dò địa chấn đối với môi trường đáy biển và hệ quả của việc này đối với nghĩa vụ "tự kiềm chế" hay nghĩa vụ về việc đạt thỏa thuận tạm thời có tính chất thực tiễn. Tòa trọng tài nhắc lại án lệ trước đây của Tòa án công lý quốc tế cho rằng hoạt động thăm dò địa chấn sử dụng âm thanh nên không có tác động "cơ học" đối với đáy biển và do vậy không làm ảnh hưởng hay thiệt hại đối với quốc gia tranh chấp khác nếu như vùng biển được thăm dò sau đó có được phân định là thuộc về quốc gia tranh chấp khác đó. Nói cụ thể hơn, Tòa cho rằng việc thăm dò địa chấn là được phép tiến hành trong vùng biển thực sự có tranh chấp.
Nhìn vẻ bên ngoài, những diễn biến của vụ CGX có nhiều điểm đồng với Vụ tàu Bình Minh 02 và như thế phán quyết của Tòa trọng tài trong Án lệ Guyana - Suriname có thể áp dụng trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Nhưng ...
mọi sự so sánh đều là khập khiễng
Trước hết để biết phán quyết của Tòa trọng tài trong Án lệ Guyana - Suriname có áp dụng được với Trung Quốc và Việt Nam không cần hiểu bối cảnh của Vụ CGX và Vụ Bình Minh 02. Như đã trình bày ở trên, Vụ CGX xảy ra tại vùng biển thực sự có tranh chấp giữa Guyana và Suriname do đặc thù địa lý của hai quốc gia này là hai quốc gia liền kề và do đó các vùng biển của họ theo Công ước Luật biển cũng liền kề và chồng lấn lên nhau. Điều này bắt nguồn từ nguyên tắc: "đất thống trị biển" - nguyên tắc cơ bản trong việc xác định vùng biển theo pháp luật quốc tế. Nội hàm của nguyên tắc này đó là quốc gia nào có bờ biển ở đâu thì sẽ có vùng biển ở đó. Có thể minh hoạ một cách sinh động nguyên tắc này bằng "hình" và "bóng": không có hình (bờ biển) thì làm sao có bóng (vùng biển)?
Chỉ khi đáp ứng được tiêu chí đầu tiêncơ bản nói trên, đó là có bờ biển, thì một quốc gia mới có thể nói đến chuyện có được các yêu sách vùng biển theo quy định của Công ước Luật biển - thông thường không quá 200 hải lý.[5] Với thực tế địa lý của mình (xem bản đồ bên dưới), Trung Quốc không thể có yêu sách về vùng biển theo quy định của Công ước Luật Biển tại khu vực xảy ra Vụ tàu Bình Minh 02, nơi cách đảo Hải Nam của Trung Quốc 340 hải lý.[6] Thậm chí nếu Trung Quốc có sáng kiến cho rằng vị trí hoạt động của tàu Bình Minh 02 sáng ngày 26/5/2011 nằm trên thềm lục địa kéo dài vượt ra ngoài 200 hải lý thì cũng không phù hợp nguyên tắc đó là yêu sách về thềm lục địa kéo dài ngoài 200 hải lý không được chồng lấn lên vùng biển nằm trong phạm vi 200 hải lý tính từ đường cơ sở của quốc gia khác. Nguyên tắc này là nguyên tắc tiến bộ của của luật biển quốc tế hiện đại hình thành sau khi thông qua Công ước Luật biển - Công ước mà Trung Quốc cũng là một thành viên. Tính bất hợp lý của một yêu sách về thềm lục địa kéo dài (trên  cơ sở đặc thù địa chất) để tạo tranh chấp tại một khu vực hoàn toàn nằm trong phạm vi 200 hải lý của quốc gia ven biển khác từ lâu đã được công nhận bởi Tòa án công lý quốc tế - cơ quan tư pháp uy tín nhất trên thế giới về pháp luật quốc tế. Cụ thể năm 1985, trong án lệ phân định thềm lục địa giữa Libya và Malta, Tòa đã bác bỏ lập luận của Libya cho rằng đường phân định cần tuân thủ tiêu chí về địa chất và cho rằng tiêu chí về khoảng cách, 200 hải lý, có giá trị cao hơn.[7]
Như vậy, điều quan trọng đó là cần xem xét thực sự vị trí hoạt động của tàu Bình Minh 02 khi bị cắt cáp sáng ngày 26/5/2011 là ở đâu? Theo các số liệu công bố trên phương tiện thông tin đại chúng thì nơi xảy ra Vụ tàu Bình Minh 02 nằm cách mũi Đại Lãnh không đến 120 hải lý.[8] Cần nhớ rằng mũi Đại Lãnh nằm trên bờ biển của Việt Nam và như vậy nếu có xác định các vùng biển của Việt Nam theo cách "khiêm tốn" đó là dùng đường cơ sở thông thường - tính theo ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển[9] - thì vị trí mà tàu Bình Minh bị cắt cáp vẫn hoàn toàn nằm trên thềm lục địa của Việt Nam theo giới hạn 200 hải lý - một thềm lục địa mà Việt Nam đương nhiên có mà không cần phải tuyên bố với bên ngoài theo quy định của Công ước Luật biển.[10]
Tuy nhiên, khác với vùng biển Đại Tây Dương ngoài khơi Guyana và Suriname, khu vực Biển Đông cũng có một đặc thù riêng và cần phải tính đến, đó là sự tồn tại của những nhóm đảo nhỏ giữa biển khơi, cụ thể là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Quần đảo Hoàng Sa đang là đối tượng tranh chấp giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc còn quần đảo Trường Sa thì là đối tượng tranh chấp của năm nước, gồm Bru-nây, Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin, Trung Quốc và Việt Nam. Tất nhiên, đối với Trung Quốc, họ sẽ nghĩ rằng họ có thể yêu sách các vùng biển tính từ các quần đảo này và thực tế họ cũng tuyên bố là các quần đảo này có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng.[11]

Tuy nhiên, dù sự sáng tạo tiếp theo này có đúng đi nữa - một điều thật khó xảy ra,[12] thì cần nhớ rằng một nguyên tắc trong phân định biển đó là một hòn đảo ngoài khơi không thể có nhiều vùng biển hơn bờ biển lục địa được như đã được thấy trong các án lệ và thực tiễn phân định biển, trong đó có cả thỏa thuận phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Trung Quốc và Việt Nam năm 2000. Vị trí xảy ra Vụ tàu Bình Minh 02 vẫn nằm hoàn toàn bên phần biển Việt Nam ngay cả khi Việt Nam "hào phóng" đồng ý chia đôi vùng biển nằm giữa bờ biển của mình và quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Việt Nam cũng yêu sách - một khả năng không thể xảy ra và chẳng thể hiện sự nghiêm túc xét từ góc độ khoa học pháp lý. [13]
Với những phân tích như trên, ngay cả những bộ óc giàu trí tưởng tượng nhất cũng khó có thể nghĩ ra được cơ sở nào trong pháp luật quốc tế hiện đại về biển mà dựa vào đó Trung Quốc có thể đưa ra một yêu sách đối với khu vực mà tàu Bình Minh 02 hoạt động sáng ngày 26/5/2011.
Về cái gọi là "yêu sách theo đường 9 đoạn"
Tháng 5 năm 2009, khi Malaixia và Việt Nam thực hiện nghĩa vụ quốc gia thành viên Công ước Luật biển về việc đệ trình báo cáo ranh giới ngoài thềm lục địa của mình ở Biển Đông lên Ủy ban Ranh giới ngoài Thềm lục địa, Trung Quốc đã ngay lập tức gửi hai công hàm để phản đối.[14] Trong hai công hàm này, Trung Quốc cho rằng mình có yêu sách về "chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở Biển Đông và vùng nước phụ cận" và về "các quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy biển ở đó". Trung Quốc cũng tuyên bố rằng yêu sách này của mình "được biết đến rộng rãi trong cộng đồng quốc tế". Đi kèm với mỗi công hàm phản đối của Trung Quốc là một tấm bản đồ trong đó lần đầu tiên Trung Quốc giới thiệu công khai với cộng đồng quốc tế một đường đứt nét gồm 9 đoạn (thường được gọi là "đường 9 đoạn" hay "đường lưỡi bò") chạy sát bờ biển một số quốc gia ven Biển Đông. Nhưng cả hai công hàm cũng không giải thích rõ ràng đường 9 đoạn của Trung Quốc có ý nghĩa cụ thể gì đối với các yêu sách về biển nói trên của Trung Quốc.
Trước đây, đường 9 đoạn từng được lưu truyền trong các bản đồ nội bộ của Trung Quốc nhưng chưa bao giờ Trung Quốc nói rõ ý nghĩa của đường này. Điều này làm cho ngay cả các học giả Trung Quốc cũng tranh cãi lẫn nhau về giá trị pháp lý cũng như ý nghĩa của đường 9 đoạn này.[15] Giới học giả bên ngoài Trung Quốc thì có quan điểm chung đó là đường 9 đoạn không thể thể hiện bất kỳ một yêu sách hợp pháp nào về vùng biển hay quyền lợi liên quan đến biển của Trung Quốc tại Biển Đông.[16]
Dù thế nào đi chăng nữa, một nguyên tắc cơ bản để giải quyết tranh chấp quốc tế như đã được khẳng định ở nhiều phán quyết khác nhau của tòa án quốc tế đó là khi một bên tranh chấp tuyên bố rằng tồn tại một thực tế nào đó thì họ cũng có nghĩa vụ chứng minh thực tế đó thực sự tồn tại.[17] Trung Quốc tuyên bố rằng yêu sách của mình "được biết đến rộng rãi trong cộng đồng quốc tế" thì cũng có nghĩa vụ phải chứng minh điều đó. Và có lẽ, điều đầu tiên Trung Quốc cần làm để chứng minh điều họ cho là "thực tế đó" là nói rõ cho cộng đồng quốc tế hiểu mình định yêu sách gì, nếu có, bằng đường 9 đoạn. Chừng nào cộng đồng quốc tế vẫn còn "mơ hồ" về việc Trung Quốc định yêu sách gì trong đường 9 đoạn thì làm sao có sự công nhận rộng rãi của cộng đồng quốc tế với yêu sách của Trung Quốc chứ đừng nói đến yêu sách đó có giá trị hay không.
Cuối cùng, nhìn vào lịch sử phát triển của luật biển có thể thấy, Công ước Luật biển - kết tinh của sự phát triển tiến bộ của luật pháp quốc tế trong lĩnh vực này - đã mở rộng đáng kể các vùng biển của quốc gia với hai khái niệm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa nhằm chấm dứt sự bất ổn định trong quan hệ quốc tế do những yêu sách đơn phương "quá đáng" của các quốc gia trước đây. Trung Quốc dường như cũng hiểu rõ điều này nên khi phê chuẩn Công ước Luật biển đã chỉ khẳng định họ được hưởng các quyền chủ quyền và quyền tài phán đối vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý và thềm lục địa mà không đề cập gì đến những quyền lợi về biển không phù hợp với các quy định của Công ước.[18]
Như vậy, nếu đường 9 đoạn trong tấm bản đồ đính kèm công hàm của Trung Quốc tháng 5/2009 nói trên định thể hiện một yêu sách về vùng biển hay quyền lợi biển nào của Trung Quốc ở Biển Đông trái những tiêu chuẩn của Công ước Luật biển thì đó sẽ là một bước thụt lùi lạc lõng trong nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế hướng tới việc xây dựng một trật tự pháp lý thống nhất về biển và đại dương. Tất nhiên, bước thụt lùi đó không có giá trị pháp lý vì nó đi ngược lại tinh thần và quy định của Công ước Luật biển. Và để tránh những hiểu lầm sau này, các nước, dù có hay không có tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông, đã bày tỏ quan điểm của mình đối với đường 9 đoạn của Trung Quốc.[19] Đáng chú ý là dù các quốc gia có cách hiểu khác nhau về đường 9 đoạn, họ đều tìm được những cơ sở pháp lý để bác bỏ nó. Điều này một mặt thể hiện sự "mơ hồ" và mặt khác cũng thể hiện sự không giải thích nổi theo các quy định của pháp luật quốc tế của đường 9 đoạn.
Thay lời kết - quay lại vụ CGX
Quay lại với vụ CGX, một điều có thể nhận rõ đó là bối cảnh pháp lý của vụ việc này khác biệt hoàn toàn với bối cảnh pháp lý của Vụ tàu Bình Minh 02. Nói cụ thể hơn, khu vực xảy ra Vụ tàu Bình Minh 02 nằm hoàn toàn trên thềm lục địa của Việt Nam; Trung Quốc không thể có các yêu sách với vùng biển này theo đúng các tiêu chuẩn của Công ước Luật biển. Từ trước cho đến nay, Trung Quốc cũng chưa chính thức nói đến và do đó có thể coi là không tồn tại một yêu sách về vùng biển hay quyền lợi biển ở Biển Đông khác với những tiêu chuẩn của Công ước Luật biển.
Mặt khác, ở góc độ quan hệ quốc tế và pháp luật quốc tế,[20] quan hệ giữa Suriname và Guyan là giống quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam. Điều này bắt nguồn từ nguyên tắc tối cao, có tác dụng bảo đảm sự ổn định của trật tự thế giới đó là nguyên tắc "bình đẳng". Nguyên tắc "bình đẳng và cùng có lợi" là nguyên tắc cuối cùng trong năm nguyên tắc về cùng tồn tại hòa bình mà Trung Quốc là một trong những quốc gia khởi xướng đầu tiên.[21] Trong quan hệ với Việt Nam, năm nguyên tắc về cùng tồn tại hòa bình từ lâu cũng đã được được khẳng định trong quan hệ hai nước.[22]
Từ cơ sở trên, cả bốn nước Guyana, Suriname, Trung Quốc và Việt Nam đều là thành viên của Công ước Luật biển và đều được hưởng những quyền lợi cũng như cần thực hiện các nghĩa vụ thành viên của mình như nhau. Tất nhiên, vì Trung Quốc không công nhận cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của Công ước Luật biển[23] nên sẽ không có việc Việt Nam đem Vụ tàu Bình Minh 02 ra trước một cơ quan tài phán quốc tế giống như Guyana đã làm với Suriname. Cơ chế giải quyết những tranh chấp liên quan đến biển của Việt Nam và Trung Quốc chủ yếu vẫn sẽ là đàm phán và có thể có sự hỗ trợ của ủy ban hòa giải theo quy định của Công ước Luật biển.[24] Tuy nhiên, việc thiếu một cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc không làm giảm giá trị của nghĩa vụ quốc tế của quốc gia khi mà nền tảng của luật pháp quốc tế là nguyên tắc thiện  chí.
Cuối cùng cũng cần nhớ rằng, nếu Trung Quốc cho rằng mình "có quyền" đối với vùng biển mà tàu Bình Minh 02 hoạt động thì Trung Quốc cũng cần tuân thủ các nghĩa vụ của mình theo luật pháp quốc tế, kể cả Công ước Luật biển và Hiến chương Liên hợp quốc. Chỉ khi đó nguyên tắc thiện chí mới có ý nghĩa và phát huy để góp phần duy trì bình ổn trong quan hệ quốc tế cũng như thúc đẩy sự hợp tác giữa các quốc gia. Ở góc độ này, phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế trong án lệ Guyana - Suriname sẽ là "chuẩn mực" để  Trung Quốc hành xử trong các vấn đề mà họ cho rằng đang có tranh chấp, kể cả nghĩa vụ giải quyết hòa bình tranh chấp quốc tế và không sử dụng vũ lực trên biển.[25] Đặc biệt, phán quyết đó nói rõ những gì mà quốc gia có thể làmkhông được làm để bảo đảm tuân thủ nghĩa vụ "tự kiềm chế" trong khi theo đuổi nghĩa vụ lớn hơn về việc đạt được thỏa thuận tạm thời có tính thực tiễn - nghĩa vụ mà Trung Quốc vẫn viện dẫn để thúc đẩy ý tưởng "gác tranh chấp, cùng khai thác" tại khu vực mà họ cho rằng có tranh chấp./.

* © Nguyễn Đăng Thắng, Nghiên cứu sinh luật tại Vương quốc Anh, Thành viên không thường trú, Trung tâm Nghiên tâm ngiên cứu Biển Đông, Học viện Ngoại giao Việt Nam. Tác giả xin cám ơn một số bạn bè và đồng nghiệp đã góp ý cho bản thảo ban đầu của bài viết. Bài viết này là bản chỉnh sửa và bổ sung từ của bài viết cùng tên đăng trên trang Nghiên cứu Biển Đông lúc 00:35 Chủ Nhật, 29 tháng 5 năm 2011. Tất cả các trang mạng trích dẫn trong bài đều hoạt động cho đến ngày 28 tháng 5 năm 2011.
[1] Xem "Tàu Trung Quốc cắt cáp thăm dò dầu khí của Việt Nam", trên báo điện tử Vietnamnet tại địa chỉ http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/22902/tau-trung-quoc-cat-cap-tham-do-dau-khi-cua-viet-nam.html; Duy Thanh,"Tàu Trung Quốc táo tợn xâm phạm lãnh hải Việt Nam" trên báo điện tử Tuổitrẻonline, tại địa chỉ http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/439975/Tau-Trung-Quoc-tao-ton-xam-pham-lanh-hai-Viet-Nam.html và Ben Bland & Kathrin Hille, "New clash in South China Sea", báo Financial Times ngày 27/5/2011,  tại địa chỉ http://www.ft.com/cms/s/0/4d3badc0-8867-11e0-a1c3-00144feabdc0.html#ixzz1Na716utU.
[2] Thông tin cơ bản của Vụ CGX được trích từ án lệ: Arbitral Tribunal Constituted Pursuant to Article 287, and in Accordance with Annex VII, of the United Nations Convention on the Law of the Sea in the Matter of an Arbitration Between Guyana and Suriname, toàn bộ văn bản có tại địa chỉ http://www.pca-cpa.org/upload/files/Guyana-Suriname%20Award.pdf .
[3] Guyana và Suriname lần lượt là hai quốc gia nhỏ thứ ba và nhỏ nhất ở Nam Mỹ.
[4] Guyana cho rằng đường ranh giới biển phải là đường trung tuyến từ bờ biển hai nước.
[5] Đây là giới hạn bên ngoài của vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa mà các quốc gia đươgn nhiên có theo quy định của Công ước Luật biển.
[6] Số liệu lấy từ bài báo trên trang Tuoitreonline, nêu tại chú thích 1 bên trên.
[7] Xem án lệ Continental Shelf (Libya v Malta), Judgement [1985] ICJ Reports 13, các đoạn 33-34.
[8] Duy Thanh, nêu tại chú thích 1, đưa con số chính xác là 116 hải lý.
[9] Công ước Luật biển, Điều 5. Cách tính "khiêm tốn" được đưa ra ở đây xét trên thực tế là đường cơ sở thẳng của Việt Nam bị một số nước chỉ trích là không đáp ứng của Công ước Luật biển dù rằng cũng có ý kiến đoạn đường cơ sở thằng liên quan đến Mũi Đại Lãnh là hoàn toàn chấp nhận được và phù hợp Công ước. So sánh JA Roach and RW Smith, 'Excessive Maritime Claims' [1994] International Law Studies Series 66 (Naval War College, Newport, Rhode Island), các trang 58-60, với Johan Henrik Nossum, "What Vietnam could gain from redrawing its baselines", IBRU Boundary and Security Bulletin, Winter 2001-2002, 97, trang 101.
[10] Công ước Luật biển, Điều 77.
[11] Luật về Vùng đặc quyền kinh tế và thềm lụa địa năm 1998 của Trung Quốc quy định các lãnh thổ của Trung Quốc có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lụa địa; lãnh thổ của Trung Quốc theo quy định Luật Lãnh hải và Vùng tiếp giáp năm 1992 thì bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang có tranh chấp. Như vậy, có thể suy ra rằng Trung Quốc cho rằng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lụa địa. Riêng đối với quần đảo Trường Sa, vấn đề này đã được khẳng định trong Công hàm gửi Tổng thư ký Liên hợp quốc ngày 14/4/2011. Xem Note Verbale No. CML/8/2011 của Phái đoàn Trung Quốc tại Liên hợp quốc, có tại địa chỉ: http://www.un.org/depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/chn_2011_re_phl_e.pdf .
[12] Ngoài việc liệu Trung Quốc có chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa hay Hoàng Sa hay không thì việc cho rằng những đảo nhỏ "li ti" tại quần đảo Trường Sa có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lụa địa riêng cũng bị chỉ trích. Chẳng hạn, In-đô-nê-xi-a khách quan phản đối việc các đảo Trường Sa đáp ứng tiêu chí của Công ước Luật Biển để có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lụa địa riêng. Xem Note Verbale No. 480/POL-703/VII/10 ngày 08/7/2010  của Phái đoàn In-đô-nê-xi-a tại Liên hợp quốc, http://www.un.org/depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/idn_2010re_mys_vnm_e.pdf . Để có đánh giá khách quan về cơ sở (yếu) của Trung Quốc trong yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa có thể xem Daniel J. Dzurek. "The Spratlys Island Dispute: Who's on first?" Maritime Briefings 2 (1996) 1; Mark J. Valencia, Jon M. Van Dyke, and Noel A. Ludwig, Sharing the resources of the South China Sea (The Hague: Martinus Nijhoff 1997), chương 3.
[13] Xem phân tích gần đây của Jon . Van Dyke, "Disputes Over Islands and Maritime Boundaries in East Asia" trong S.-Y. Hong & J. M. Van Dyke (eds.) Maritime Boundary Disputes, Settlement Processes, and the Law of the Sea (Leiden: Martinus Nijhoff Publishers 2009), 39-75, 73 và Clive Schofield & Ian Townsend-Gault, "Brokering Cooperation Amidst Competing Maritime Claims: Preventative Diplomacy in the Gulf of Thailand and South China Sea" in A. E. Chircop, T. L. McDorman & S. Rolston (eds.) The future of ocean regime-building: Essays in tribute to Douglas M Johnston (Leiden: Martinus Nijhoff Publishers 2009),, 659, 666.
[14] Công hàm số CML/17/2009 và Công hàm số CML/18/2009 của 07/5/2009 của Phái đoàn Trung Quốc tại Liên hợp quốc.
[15] Để biết quan điểm khác nhau của các học giả Trung Quốc, xem tóm tắt tại Zou Keyuan. "The Chinese Traditional Maritime Boundary Line in the South China Sea and Its Legal Consequences for the Resolution of the Dispute over the Spratly Islands" International Journal of Marine and Coastal Law 14 (1999) 27-55 và "Historic Rights in International Law and in China's Practice" Ocean Development & International law 32 (2001) 149-168. Đồng thời cũng xem, Li Jinming, and Li Dexia. "The Dotted Line on the Chinese Map of the South China Sea: A Note" Ocean Development & International law 34 (2003) 287-95. Đáng chú ý là học giả Zou Keyuan cũng tự mâu thuẫn chính mình, đưa ra hai quan điểm khác nhau về ý nghĩa của đường 9 đoạn trong hai bài báo vừa nêu.
[16] Về đường 9 đoạn, có thể xem các bài viết sau: Quốc pháp, 'Trước yêu sách 80% diện tích biển Đông của Trung Quốc: Không chấp nhận đường "lưỡi bò"', trên báo điện tử Tuổitrẻonline ngày 18/08/2009, tại http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/332309/Truoc-yeu-sach-80-dien-tich-bien-Dong-cua-Trung-Quoc--Khong-chap-nhan-duong-luoi-bo".html ; Nguyễn Hồng Thao, 'Yêu sách "Đường đứt khúc 9 đoạn"  của Trung Quốc dưới góc độ Luật pháp quốc tế', Nghiên cứu Quốc tế 71/4 (12/2009); Việt Long, "Lại bàn về đường lưỡi bò trong Biển Đông", trên báo điện tử Vietnamnet ngày 31/01/2011, tại http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/8127/lai-ban-ve-duong-luoi-bo-trong-bien-dong.html. Các học giả nước ngoài cũng cho rằng yêu sách hợp lý nhất từ đường 9 đoạn là yêu sách chủ quyền đối với các đảo trên Biển Đông. Chẳng hạn xem H. Djalal. "South China Sea Island Disputes" The Raffles Bulletin of Zoology Supplement 8 (2000) 9-21.
[17] Xem đoạn 45 trong án lệ Sovereignty Over Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks and South Ledge (Malaysia v. Singapore), Phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế ngày 23/5/2008, văn bản có tại http://www.icj-cij.org/docket/files/130/14492.pdf.
[18] Tuyên bố của Trung Quốc khi phê chuẩn Công ước Luật biển ngày 07/6/1996, trong Status of Multilateral Treaties Deposited with the Secretary-General, Chương XXI - Luật Biển, phần 'Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982', bản điện tử tại http://treaties.un.org/pages/ViewDetailsIII.aspx?&src=TREATY&mtdsg_no=XXI~6&chapter=21&Temp=mtdsg3&lang=en .
[19] Xem phản đối của Việt Nam, Inđônêxia và Philippine vào các năm 2009, 2010 và 2011 đối với hai Công hàm của Trung Quốc tháng 5 năm 2009, có trên trang mạng của Ủy ban Ranh giới ngoài thềm lục địa, phần đệ trình của Malaixia và Việt Nam, tại địa chỉ: http://www.un.org/depts/los/clcs_new/commission_submissions.htm .
[20] Tất nhiên, từ góc độ vật chất thì Guyana và Suriname khác Việt Nam và càng khác nhiều so với Trung Quốc. Theo thông tin trên CIA-World Factbook, diện tích và dân số (ước tính đến tháng 7/2011) của các nước lần lượt là: Guyana 214.969 sq km2 với 744,768 người; Suriname 163.820 km2 với 491,989 người; Trung Quốc 9.596.961 km2 với 1.336.718.015 người và Việt Nam 331.210 km2 với 90.549.390 người. Nguồn: https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/index.html
[21] Năm nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình được đưa ra đầu tiên giữa Trung Quốc và Ấn Độ năm 1954. Xem http://news.xinhuanet.com/english/2005-04/08/content_2803638.htm .
[22] "Tuyên bố chung của Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng và Thủ tướng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai, Hà Nội, ngày 14/05/1960", cũng được nhắc lại trong các tuyên bố sau này, như "Tuyên bố chung về hợp tác toàn diện trong thế kỷ mới giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Bắc Kinh, ngày 25/12/2000".
[23] Ngày 25/08/2006,  Trung Quốc viện dẫn Điều 298 của Công ước Luật biển ra tuyên bố không công nhận thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc của Công ước đối với một số vấn đề trong đó có vấn đề liên quan đến tranh chấp lãnh thổ. Văn bản Tuyên bố có tại, http://www.un.org/depts/los/convention_agreements/convention_declarations.htm#China%20after%20ratification .
[24] Công ước Luật biển, Điều 298(1).
[25] Việc Trung Quốc có bị coi là vi phạm nguyên tắc cấm đe doạ sử dụng vũ lực hay không trong Sự kiện Bình Minh 02 đòi hỏi phải có thêm các thông tin cụ thể.

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-05-30-vu-tau-binh-minh-02-mot-vu-cgx-tren-bien-dong-

Nghị sĩ Philippines: TQ chèn ép các nước Đông Nam Á



Tờ Philstar của Philippines mới đăng tải tuyên bố của thượng nghị sĩ Miriam Defensor-Santiago cho rằng, Trung Quốc luôn cố chèn ép Philippines và các nước khác ở khu vực Đông Nam Á nhằm kiểm soát tài nguyên dầu khí khổng lồ ở Biển Đông.
Thượng nghị sĩ Miriam Defensor-Santiago. Ảnh: ecowastecoalitio

Bà Santiago khuyến cáo, trong khi Philippines rõ ràng không đủ khả năng quốc phòng để chống lại một siêu cường như Trung Quốc, thì chính phủ nước này cần thận trọng và khôn ngoan hơn trong cách đối xử với nước láng giềng lớn. Cựu chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Philippines nhấn mạnh: “Trung Quốc thực sự sẽ cố gắng và chèn ép chúng ta cũng như những nước khác ở Đông Nam Á”.
Thậm chí, bà Santiago còn cảnh báo rằng, Philippines cuối cùng có thể trở thành một “quốc gia vệ tinh” của Trung Quốc. Tuy nhiên, trong vấn đề khai thác tài nguyên dầu khí ở Biển Đông, bà bày tỏ tin tưởng rằng, Mỹ cũng như các nước giàu ở Tây Âu sẽ không cho phép Trung Quốc giành lợi thế trong phát triển dầu và khí tự nhiên ở Biển Đông.
Họ sẽ không cho phép như vậy vì nó có thể dẫn tới mất cân bằng trong phân phối quyền lực trên thế giới một khi Trung Quốc có thể nắm giữ nguồn tài nguyên dầu khí tại Biển Đông”, bà Santiago nói.
Trước đó, ngày 24/5, tờ Philstar dẫn các tài liệu và hình ảnh của News5 cho biết, Trung Quốc đã xây dựng các đơn vị đồn trú và tiền đồn quân sự ở sáu bãi đá ngầm trong Nhóm đảo Kalayaan. Philippines đang tuyên bố chủ quyền với Nhóm đảo Kalayaan (một phần của quần đảo Trường Sa).
Theo báo này, ngoài các đơn vị đồn trú, Trung Quốc còn tích cực thúc đẩy những dự án hàng hải quy mô lớn nhằm củng cố tuyên bố chủ quyền của họ với Trường Sa. Đó là các dự án xây dựng cầu cảng, sân bay, hải đăng, đài quan sát hải dương và mạng lưới khí tượng học hàng hải.
Tại cuộc gặp với Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt (nhân chuyến thăm của ông Lương tới Philippines), Tổng thống Philippines Benigno Aquino III đã cảnh báo, những cáo buộc xâm nhập và đụng độ ở các hòn đảo tranh chấp tại khu vực Biển Đông có thể dẫn tới nguy cơ chạy đua vũ trang trong khu vực.
Ngày 24/5, ông Aquino đã tiếp xúc với báo chí sau cuộc gặp một ngày trước đó với ông Lương Quang Liệt. Ông cho hay: “Tôi nói, ‘nếu xảy ra những vụ việc thì liệu nó có thúc đẩy một cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực? Khi chạy đua vũ trang xảy ra, nguy cơ xung đột có gia tăng? Và ai là người hưởng lợi?Tôi nói với họ, ‘Hiện tại, chúng tôi có thể không có khả năng nhưng tình thế sẽ bắt buộc chúng tôi phải tăng cường các khả năng của mình”.
Ông Aquino đã nhắc lại quan điểm của Philippines rằng, các quốc gia nên tập trung vào sự thịnh vượng của khu vực để tháo gỡ căng thẳng do tuyên bố chủ quyền chồng lấn ở Biển Đông giữa Philippines, Trung Quốc và một số quốc gia Đông Nam Á khác.
  • Thái An (Theo  Philstar, Inquirer)

Yêu cầu TQ bồi thường thiệt hại vì cắt cáp dầu khí
Tàu Trung Quốc cắt cáp thăm dò dầu khí của Việt Nam
TQ chập chững tới cường quốc quân sự toàn cầu
Trung Quốc đề xuất 19 lô khai thác dầu ở Biển Đông
Trung Quốc định đưa giàn khoan 'khủng' ra Biển Đông
TQ chập chững tới cường quốc quân sự toàn cầu
Trung Quốc lại làm phức tạp tình hình Biển Đông
Lãnh đạo quân sự Trung Quốc muốn gì khi thăm Mỹ?
Khi ban nhạc quân đội Trung Quốc chơi trên đất Mỹ
Chiến lược an ninh mới của TQ: Quả quyết không đối đầu
Báo Philippines: TQ xây dựng nhiều tiền đồn ở Trường Sa
Vì sao TQ cho phép tàu sân bay Mỹ tới Hong Kong?


http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/23289/nghi-si-philippines--tq-chen-ep-cac-nuoc-dong-nam-a.html 

Con đường tơ lụa mới của Trung Quốc (phần 2)

Về mặt chiến lược, nhà nước mỏng manh của Iraq đại diện cho một "vết rạn" trong liên minh Trung - Nga đang nổi lên kéo dài từ Iran ở phía Đông tới Thổ Nhĩ Kỳ ở phía Tây.
Cùng lúc đó, Iraq nổi lên như một quân bài tự do giữa các lợi ích an ninh và chiến lược của Trung Quốc. Gần đây, Tổ chức Các nước xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) đã điều chỉnh ước tính trữ lượng dầu Iraq lên 143,1 tỉ thùng - tăng 25% so với các ước đoán trước đó và xếp trên Iran với 137 tỉ thùng. Trung Quốc đã tăng cường các danh mục đầu tư của họ ở Iraq và giờ đây là nhà đầu tư dầu khí hàng đầu của nước này.
Ví dụ vào tháng 11/2008, CNPC và Tổng Công ty Công nghiệp Bắc Trung Quốc đã thành lập một liên doanh và ký hợp đồng phát triển 20 năm với khu khai thác dầu al-Ahdab. Trong tháng 6/2009, CNPC và BP đã trúng thầu hợp động dịch vụ kỹ thuật cho khu khai thác Rumaila mệnh danh "siêu khủng" với trữ lượng đã xác định vào khoảng 17,7 tỉ thùng. Hai tháng sau đó, Sinopec đã mở rộng phạm vi hoạt động ở nước này bằng cách theo đuổi mua lại hãng dầu Addax của Thụy Điển hoạt động tại Iraq. Cuối năm 2009, CNPC thành lập một liên minh với hãng Total, Pháp và Petronas của Malaysia để phát triển mỏ dầu Halfaya. Và trong năm 2010, Tập đoàn Dầu khí Ngoài khơi quốc gia Trung Quốc đã hợp tác với Tập đoàn Dầu khí Thổ Nhĩ Kỳ trong hợp đồng 20 năm để phát triển mỏ dầu Maysan ở phía nam Iraq.
Iraq gần đây sản xuất khoảng 2,5 triệu thùng dầu/ngày (bpd), với mục tiêu đạt 4 triệu thùng vào năm 2015. Tuy nhiên, gần đây, Cơ quan Năng lượng Quốc tế thông báo, nhu cầu dầu mỏ của Trung Quốc sẽ tăng 11,3 triệu bpd vào năm 2015, điều đó có nghĩa là nước này sẽ vẫn phụ thuộc nhiều vào các nhà cung cấp chính hiện tại: Ảrập Xêút, Angola và Iran.
Hơn nữa, an ninh tiếp tục là vấn đề tại Iraq. Ví dụ, vào ngày 27/9/ 2010, Trung Quốc đã gặp phải vấn đề khi chính quyền địa phương vây ráp các cơ sở al-Ahdab của CNPC, yêu cầu xem hợp đồng của công ty với chính phủ Iraq và đưa ra cáo buộc quản lý yếu kém. Nói chung, người Trung Quốc không tương tác với cộng đồng hay tạo việc làm địa phương, thay vào đó họ nhập khẩu phần lớn công nhân dầu khí. Vụ việc này đã nhấn mạnh tầm quan trọng của sự gắn kết với cư dân địa phương và tiếp tục thách thức tính hợp pháp của Baghdad trong số các chính quyền tỉnh. Việc thiếu duy trì một đạo luật khai thác hydrocarbon ở tầm quốc gia là một vấn đề khác, nhiều công ty nước ngoài từ Trung Quốc và các nơi khác đã ký thỏa thuận với chính quyền khu vực người Kurd để phát triển những vùng giàu năng lượng ở phía bắc Iraq.
Ảnh: Reuters
Về mặt chiến lược, nhà nước mỏng manh của Iraq đại diện cho một "vết rạn" trong liên minh Trung - Nga đang nổi lên kéo dài từ Iran ở phía Đông tới Thổ Nhĩ Kỳ ở phía Tây. Qũy đạo ấy sẽ tiếp tục diễn ra trong quá trình tái thiết kể cả Trung - Nga hay liên minh Mỹ - phương Tây sẽ đóng vai trò chính trong cấu trúc an ninh khu vực.
Ảrập Xêút sẽ vẫn là nhà cung cấp năng lượng đáng tin cậy chính của Trung Quốc trong tương lai gần với sản lượng hiện tại vào khoảng 10,9 triệu bpd, hơn gấp đôi nước sản xuất lớn thứ hai trong OPEC (Iran, ở mức 4 triệu bpd). Cùng lúc đó, Trung Quốc cũng thực hiện đa dạng hóa các nhà cung cấp khác (Iraq, Iran, Angola, Trung Á) và tài nguyên (khí tự nhiên cùng với năng lượng mặt trời, phong điện, điện hạt nhân và thủy điện).
Biển Đen và Địa Trung Hải
Thổ Nhĩ Kỳ là một giao điểm quan trọng khác trong chiến lược Con đường Tơ lụa của Trung Quốc. Ngoài việc giáp cả Biển Đen và Địa Trung Hải, nước này còn là thành viên NATO, hưởng lợi một liên minh thuế quan với EU (và triển vọng cuối cùng sẽ gia nhập liên minh), được coi là hành lang vận chuyển năng lượng trong điểm cho 12 dự án đường ống dẫn đa quốc gia. 8 trong số này đang tồn tại: ống dẫn khí Blue Stream, ống dẫn dầu Baku-Tbilisi-Ceyhan (BTC), mạng lưới dẫn khí Nga - Thổ Nhĩ Kỳ (Turusgas), ống dẫn dầu Kirkuk-Iskenderun, hệ thống dẫn khí Baku-Tbilisi- Ezurum, dẫn khí Iran-Thổ Nhĩ Kỳ, hệ thống dẫn khí Ảrập và mạng lưới dẫn khí Thổ Nhĩ Kỳ - Hy Lạp - Italy.
Bốn dự án khác được đề xuất hoặc trong giai đoạn lên kế hoạch gồm: hệ thống dẫn khí Nabucco, dẫn khí xuyên Caspi, hệ thống dẫn dầu Samsun- Ceyhan và hệ thống dẫn khí Iraq - Thổ Nhĩ Kỳ. Vị trí địa chiến lược của Thổ Nhĩ Kỳ là rất lý tưởng cho những mạng lưới đường sắt kết nối châu Âu với Trung Đông và châu Á, nước này cũng đã có một thỏa thuận kết nối lưới đạn với Ai Cập, Iraq, Lebanon, Jordan, Libya và Syria. Theo nhà phân tích Selcuk Colakoglu thì, Bắc Kinh "muốn sử dụng Thổ Nhĩ Kỳ về mặt hậu cần để tiếp cận châu Âu và xây dựng Con đường Tơ lụa hiện đại".
Thực tế là, gần đây Trung Quốc đã nâng cấp quan hệ song phương của họ với Thổ Nhĩ Kỳ trở thành "hợp tác chiến lược" khi Thủ tướng Ôn Gia Bảo tới thăm Ankara vào tháng 10/ 2010. Chuyến công du của ông diễn ra tiếp theo một cuộc tập trận không quân chiến đấu chung mang tên Đại bàng Thổ Nhĩ Kỳ, do lực lượng không quân quân đội Trung Quốc (PLAAF) và không quân Thổ Nhĩ Kỳ thực hiện từ 20/9-4/10 cùng năm. Tập trận Đại bàng Thổ Nhĩ Kỳ theo truyền thống là cuộc diễn tập NATO giữa Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ và các thành viên NATO khác cũng như Israel. Tuy nhiên, Ankara dường như đã thay thế Israel bằng Trung Quốc. Trong chuyến công du của ông Ôn tới Ankara - chuyến thăm đầu tiên của một thủ tướng Trung Quốc trong tám năm qua - ông đã ký các thỏa thuận hợp tác chiến lược liên quan tới thương mại, xây dựng đường sắt, cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc, và trao đổi văn hóa. Những thỏa thuận này còn kêu goi hai bên thực hiện thương mại song phương trong đồng tiền riêng của mình, không bao gồm đồng đô la Mỹ.
Khi Washington và Israel ngày càng quan ngại về việc Bắc Kinh mở rộng quan hệ quân sự với Thổ Nhĩ Kỳ và Iran, thì các vấn đề an ninh đã được đặt ra liên quan tới việc những bí mật quân sự như công nghệ, hoạt động... từ Mỹ và NATO có khả năng bị tiết lộ với Trung Quốc. Hơn thế nữa, Ankara và Bắc Kinh đã bày tỏ sự quan tâm trong việc tổ chức các cuộc diễn tập chung trong tương lai. Theo một chuyên gia Thổ Nhĩ Kỳ, cuộc diễn tập không quân đề cập ở trên chỉ là sự "khởi đầu" và quân đội hai bên dường sẽ tiếp tục hoạt động hợp tác như vậy "bất cứ khi nào thích hợp". Tương tự như vậy, một nguồn tin Trung Quốc đã bày tỏ hy vọng rằng "Không quân Trung Quốc thường xuyên được đào tạo tại Thổ Nhĩ Kỳ và hai nước sẽ phát triển thành công trong nhiều lĩnh vực hợp tác khác".
Thực tế là, Bắc Kinh có ý muốn duy trì sự hiện diện quân sự ở sườn nam của NATO tại Thổ Nhĩ Kỳ. Họ cũng hy vọng xâm nhập thị trường quốc phòng nội địa của Thổ Nhĩ Kỳ. Hơn thế nữa, cả Ankara và Bắc Kinh đều quan tâm tới việc ổn định Afghanistan sau khi Mỹ và NATO rút quân. Điều này có thể giải thích vì sao các máy bay Su -27 của PLAAF trên đường tới Thổ Nhĩ Kỳ đã chọn địa điểm tiếp dầu tại căn cứ không quân Gayem al-Muhammad gần thị trấn Birjand, Iran - nơi đối diện với một căn cứ lớn của Mỹ ở thị trấn Heart, biên giới Afghanistan và Iran.
(Còn tiếp)
Nguyễn Huy (Theo thecuttingedgenews)

 http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-05-30-con-duong-to-lua-moi-cua-trung-quoc-phan-2-

TQ yêu cầu VN ngừng hoạt động ở Biển Đông

thứ ba, 31 tháng 5, 2011

Vị trí xảy ra sự kiện liên quan tàu Bình Minh 02
Lần thứ hai sau vụ tàu Bình Minh 02, Bắc Kinh lên tiếng đòi Việt Nam "chấm dứt các hoạt động tại khu vực còn tranh chấp tại Biển Đông".
Hôm 28/05, hai ngày sau khi Việt Nam cáo buộc tàu hải giám Trung Quốc gây hấn với tàu thăm dò Việt Nam, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã ra thông cáo nói đây là "hoạt động bình thường trong vùng biển chủ quyền" của nước này.
Mới nhất, tại cuộc họp báo hôm thứ Ba 31/05, người phát ngôn Khương Du nhắc lại lập trường của Trung Quốc.
Bà Khương nói với các nhà báo tại Bắc Kinh: "Tàu hải giám của Trung Quốc chỉ làm việc thực thi pháp luật trước sự hoạt động bất hợp pháp của tàu Việt Nam. Đây là hành động hoàn toàn chính đáng (của Trung Quốc)".
"Chúng tôi yêu cầu phía Việt Nam dừng ngay các hoạt động của họ và không gây thêm rắc rối."
Đây là lần thứ hai Trung Quốc phản hồi về cáo buộc của phía Việt Nam rằng hôm 26/05 ba tàu hải giám của Trung Quốc đã vi phạm lãnh hải của Việt Nam, uy hiếp và phá hoại thiết bị của tàu thăm dò địa chấn Việt Nam.
Hà Nội cũng đã hai lần lên tiếng về sự việc mà theo Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PetroVietnam) là xảy ra tại tọa độ 12O48’25’’ Bắc, 111O26’48’’ Đông, hoàn toàn trong vùng biển chủ quyền của Việt Nam.
Lần lên tiếng thứ hai của người phát ngôn Việt Nam trong cuộc họp báo bất thường vào Chủ nhật 29/05 được cho là cứng rắn một cách hiếm có.

Kêu gọi biểu tình

Tại đó, bà Nguyễn Phương Nga nói: “Việt Nam kiên quyết phản đối hành động của phía Trung Quốc phá hoại, cản trở các hoạt động thăm dò khảo sát bình thường của Việt nam trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, gây thiệt hại lớn cho tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam.”
“Việt Nam yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt ngay, không để tái diễn những hành động vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đồng thời bồi thường thiệt hại cho phía Việt Nam.”
Tàu hải giám của Trung Quốc chỉ làm việc thực thi pháp luật trước sự hoạt động bất hợp pháp của tàu Việt Nam. Đây là hành động hoàn toàn chính đáng của Trung Quốc.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Khương Du
Bà Nga còn nhấn mạnh: "Trung Quốc kêu gọi giải quyết các tranh chấp liên quan bằng biện pháp hòa bình, nhưng chính hành động của Trung Quốc đang làm phức tạp thêm tình hình ở Biển Đông.”
Báo Việt Nam có mặt tại cuộc họp cũng cho hay người phát ngôn Việt Nam nói " hải quân Việt Nam sẽ làm mọi việc cần thiết để bảo vệ vững chắc hòa bình, độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam".
Khu vực tàu Bình Minh 02 hoạt động từ 17/03 là ở các lô 125, 126, 148, 149 cũng trong thềm lục địa miền Trung của Việt Nam.
Đây là lần đầu tàu Trung Quốc vào sâu và có hành động mạnh bạo như vậy trong vùng biển Việt Nam tuyên bố chủ quyền.
Việc người phát ngôn hai bên trao qua đổi lại các thông cáo với lời lẽ ngày càng cứng rắn cho thấy sự việc vẫn còn diễn biến phức tạp ngay trước thềm một hội nghị cấp cao về an ninh khu vực sẽ tổ chức tại Singapore vào cuối tuần này.
Được biết Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt sẽ dẫn đầu đoàn đại biểu hùng hậu tham dự diễn đàn Đối thoại Shangri-La lần thứ 10 và có bài diễn văn quan trọng.
Việt Nam chưa xác nhận liệu Bộ trưởng Phùng Quang Thanh có tới tham dự hoạt động thường niên quy tụ nhiều bộ trưởng quốc phòng khu vực, kể cả Hoa Kỳ, hay không.
Trong khi đó, trên các diễn đàn mạng đang lưu truyền kêu gọi tuần hành ôn hòa tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh vào sáng ngày Chủ NHật 05/06 tới để "phản đối tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc và yêu cầu Trung Quốc chấm dứt gây hấn và vi phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam".
Chính quyền Hà Nội đã ngăn chặn một số cuộc biểu tình tương tự trong quá khứ.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/05/110531_china_second_response.shtml

Trung Quốc vu Việt Nam tạo sự cố ở Biển Đông


- Chiều 31/5, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Khương Du lại có những tuyên bố mới về vụ tàu hải giám TQ cắt cáp dầu khí tàu Bình Minh 02 của Việt Nam.

 

Từ 'bình thường' đến 'hợp lý'
Trong cuộc họp báo thường kỳ, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Khương Du cho rằng, Việt Nam cần tránh tạo “những sự cố mới” tại Biển Đông.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Khương Du: Hoạt động của tàu TQ với tàu Việt Nam là "hoàn toàn hợp lý". Ảnh: NHK
Động thái này diễn ra sau khi Việt Nam kiên quyết phản đối việc các tàu hải giám Trung Quốc đã vi phạm vùng biển thuộc quyền chủ quyền của Việt Nam, cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN).
Bộ Ngoại giao Trung Quốc vẫn tiếp tục bênh vực hành động của các tàu hải giám. Trong cuộc họp báo thường kỳ hôm nay được Reuters đưa tin, bà Khương Du một lần nữa khẳng định: "Các hoạt động thực thi mà các tàu hàng hải của Trung Quốc đã tiến hành đối với các hoạt động bất hợp pháp của tàu Việt Nam là hoàn toàn hợp lý”.
Thậm chí, người phát ngôn bộ Ngoại giao Trung Quốc còn tuyên bố: "Chúng tôi yêu cầu phía Việt Nam chấm dứt ngay các hoạt động xâm phạm chủ quyền của chúng tôi và tránh tạo ra những sự cố mới”.

“Đây hoàn toàn không phải khu vực tranh chấp, càng không thể nói là khu vực do Trung Quốc quản lý”
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga

Hôm 27/5, quan chức Bộ Ngoại giao Việt Nam xác nhận sáng 26/5, trong khi đang tiến hành khảo sát tại lô 148 trong phạm vi thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam, tàu Bình Minh 02 của PVN đã bị 3 tàu hải giám số 72, 17 và 84 của Trung Quốc cắt cáp thăm dò. Vị trí mà ba tàu hải giám Trung Quốc phá hoại thiết bị của tàu Bình Minh 02 của PVN, chỉ cách mũi Đại Lãnh (Phú Yên) khoảng 120 hải lý, nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam.
Phó Tổng giám đốc PVN Đỗ Văn Hậu cho biết: Ba tàu hải giám Trung Quốc đã làm ảnh hưởng, cản trở hoạt động bình thường của tàu địa chấn Bình Minh 02; sau đó tiếp tục uy hiếp tàu Bình Minh 02, thông báo là tàu Bình Minh đã vi phạm chủ quyền của Trung Quốc. Nhưng tàu Bình Minh của PVN cương quyết bác bỏ luận điệu của tàu hải giám Trung Quốc và khẳng định rằng tàu Bình Minh đang nằm trong vùng biển của Việt Nam. Tuy nhiên, việc tiếp tục công việc ngay lúc đó của tàu Bình Minh 02 vẫn bị ba tàu hải giám Trung Quốc cản trở cho tới 9h sáng 26/5 khi 3 tàu này rời khỏi khu vực khảo sát.
TQ đang cố tình làm dư luận hiểu nhầm
Tại cuộc họp báo chiều ngày 29/5, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga khẳng định: Việt Nam kiên quyết phản đối hành động của phía Trung Quốc phá hoại và cản trở hoạt động thăm dò khảo sát bình thường của Việt Nam trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của mình, gây thiệt hại lớn cho PetroVietnam.
"Hành động này của phía Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của mình, vi phạm Công ước của LHQ về Luật biển năm 1982 (UNCLOS), trái với tinh thần và lời văn của Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) mà ASEAN và Trung Quốc đã ký năm 2002, cũng như nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước", bà Nga nói.
Trước đó, trong một tuyên bố đăng tải trên trang web của bộ Ngoại giao Trung Quốc về vụ việc trên, bà Khương Du từng nói rằng: "Những gì mà các cơ quan liên quan của Trung Quốc đã làm là các hoạt động giám sát và thực thi luật pháp hoàn toàn bình thường ở khu vực biển thuộc thẩm quyền tài phán của Trung Quốc”.
Hãng Reuters trong những tin bài về vụ các tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp thăm dò địa chấn của tàu Bình Minh 02 đều nói rằng, vụ việc này xảy ra tại địa điểm cách bờ biển Trung Nam bộ của Việt Nam khoảng 120km và cách bờ biển đảo Hải Nam của Trung Quốc khoảng 600 km.
Theo người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga, “đây hoàn toàn không phải khu vực tranh chấp, càng không thể nói là khu vực do Trung Quốc quản lý”. Bà Nga nói tại buổi họp báo chiều chủ nhật 29/5: "Trung Quốc đang cố tình làm cho dư luận hiểu nhầm khu vực không có tranh chấp thành khu vực có tranh chấp".
Biển Đông được coi là nơi cung cấp lộ trình vận chuyển quan trọng cho thương mại hàng hải toàn cầu và với các nền kinh tế Đông Á vốn phụ thuộc vào nguồn năng lượng nhập khẩu từ Trung Đông. Đây còn là vùng đa dạng sinh học cực lớn, nguồn thủy sản dồi dào, và được tin là rất giàu tài nguyên dầu khí.
Thái An


http://www.vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/23528/trung-quoc-vu-viet-nam-tao-su-co-o-bien-dong.html

Mời bạn đọc thêm:


Cận cảnh tàu TQ ngang nhiên cắt cáp địa chấn của VN
Clip: Tàu Trung Quốc cắt cáp dầu khí Việt Nam
Cắt cáp dầu khí, TQ vi phạm nghiêm trọng Công ước Luật Biển
Yêu cầu TQ bồi thường thiệt hại vì cắt cáp dầu khí
Tàu Trung Quốc cắt cáp thăm dò dầu khí của Việt Nam
Vụ tàu Bình Minh 02 - một Vụ CGX trên Biển Đông?
Những phút căng thẳng trên tàu Bình Minh 02
Vụ tàu Bình Minh 02 và phép thử của Bắc Kinh
Hải giám Trung Quốc: Công cụ quấy nhiễu tàu nước ngoài?
Trung Quốc đề xuất 19 lô khai thác dầu ở Biển Đông
Trung Quốc định đưa giàn khoan 'khủng' ra Biển Đông
Indonesia, Trung Quốc dự kiến cùng tuần tra Biển Đông
Trung Quốc lại làm phức tạp tình hình Biển Đông