31 tháng 10 2011

Toàn văn Tuyên bố chung Việt Nam và Nhật Bản

Toàn văn Tuyên bố chung

Việt Nam và Nhật Bản

Theo đặc phái viên TTXVN, trong chuyến thăm chính thức Nhật Bản, chiều 31/10, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Yoshihiko Noda đã ký Tuyên bố chung Việt Nam-Nhật Bản về Triển khai Hành động trong Khuôn khổ Đối tác Chiến lược vì Hòa bình và Phồn vinh ở châu Á giữa Việt Nam và Nhật Bản.
Vietnam+ trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung:

Nhận lời mời của Ngài Yoshihiko Noda, Thủ tướng Nhật Bản, Ngài Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thăm chính thức Nhật Bản từ ngày 30/10 đến ngày 2/11/2011. Đây là chuyến thăm Nhật Bản đầu tiên của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sau khi được bầu lại là Thủ tướng Việt Nam tại kỳ họp Quốc hội khóa XIII tháng 7/2011.


Trong chuyến thăm này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hội kiến Nhật hoàng và hội đàm cấp cao với Thủ tướng Yoshihiko Noda, gặp các lãnh đạo Quốc hội Nhật Bản. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đi thăm thành phố Sendai, và thành phố Natori, tỉnh Miyagi.


1. Về thể hiện tình đoàn kết sau thảm họa động đất tại Đông Bắc Nhật Bản


Thủ tướng Yoshihiko Noda bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với sự hỗ trợ mạnh mẽ và tình đoàn kết của Chính phủ và nhân dân Việt Nam sau trận động đất tại Đông Bắc Nhật Bản. Hai nhà lãnh đạo ghi nhận những việc làm thiện chí và tình cảm nồng ấm đó là minh chứng của quan hệ hữu nghị gắn bó đã được xây dựng qua nhiều năm giữa Chính phủ và nhân dân hai nước Việt Nam và Nhật Bản.


Thủ tướng Yoshihiko Noda nhấn mạnh trong thời kỳ khủng hoảng quốc gia chưa từng có này, Nhật Bản quyết tâm củng cố quan hệ với cộng đồng quốc tế và xây dựng lại đất nước một cách cởi mở với thế giới và định hình một đất nước năng động hơn, tranh thủ sự hỗ trợ và đoàn kết của thế giới dành cho Nhật Bản.


Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng một lần nữa khẳng định, là đối tác chiến lược của Nhật Bản, Việt Nam sẵn sàng làm hết khả năng của mình để hỗ trợ Nhật Bản trong quá trình phục hồi, tái thiết sau thiên tai. Đồng thời, Thủ tướng bày tỏ tin tưởng Chính phủ và nhân dân Nhật Bản sẽ sớm vượt qua những khó khăn hiện nay, đưa đất nước Nhật Bản phát triển phồn vinh hơn nữa.


2. Về những thành tựu sau Tuyên bố chung Việt Nam-Nhật Bản 2010 và định hướng phát triển


Trên cơ sở những phát triển to lớn trong quan hệ Việt Nam-Nhật Bản từ khi ký kết “Tuyên bố chung Việt Nam-Nhật Bản về phát triển toàn diện quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á” ngày 31/10/2010 (“Tuyên bố chung 2010”), hai bên hoan nghênh việc hai nước, vốn là những quốc gia chia sẻ lợi ích chiến lược, đã xây dựng được nền tảng nhằm phát triển hơn nữa quan hệ đối tác chiến lược một cách toàn diện.


Hai bên một lần nữa khẳng định sẽ củng cố và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác trên những lĩnh vực chính như sau:


(1) Về tăng cường trao đổi và đối thoại


Hai bên khẳng định lại tầm quan trọng của việc tăng cường trao đổi và đối thoại cấp cao giữa hai nước, nhất là duy trì các chuyến thăm cấp cao hàng năm. Hai bên khẳng định lại cam kết sẽ tăng cường hơn nữa quan hệ song phương ở tất cả các cấp và trên mọi lĩnh vực cũng như các kênh đối thoại hiện có.


Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cảm ơn sự đón tiếp nồng nhiệt của Chính phủ Nhật Bản. Hai bên bày tỏ mong muốn rằng lãnh đạo Nhật Bản sẽ sang thăm Việt Nam vào thời điểm phù hợp cho cả hai bên trong năm 2012.


Phía Việt Nam đã có lời mời Nhật hoàng, Hoàng hậu và các thành viên Hoàng gia Nhật Bản sang thăm Việt Nam, đặc biệt là vào năm 2013, nhân dịp kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Nhật Bản.


Hai bên đánh giá cao những kết quả của phiên Đối thoại Đối tác chiến lược Việt Nam-Nhật Bản lần thứ nhất được tổ chức vào tháng 12 năm 2010. Hai bên khẳng định lại rằng cơ chế đối thoại này giúp tăng cường và làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước và góp phần tích cực vào hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực. Hai bên quyết định tiến hành phiên Đối thoại Đối tác chiến lược lần thứ hai vào tháng 12 năm 2011 tại Tokyo.


Hai bên hoan nghênh việc ký kết “Bản Ghi nhớ giữa Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Quốc phòng Nhật Bản về việc Hợp tác và Trao đổi quốc phòng song phương” giữa hai Bộ trưởng Quốc phòng trong chuyến thăm Nhật Bản của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Phùng Quang Thanh vào tháng 10/2011.


Với việc hai nước đều có chính sách thúc đẩy hợp tác rộng rãi trong lĩnh vực an ninh và quốc phòng, hai bên chia sẻ quan điểm rằng, đồng thời với các cơ chế đối thoại cấp làm việc hiện có, cần tăng cường hơn nữa đối thoại chiến lược thông qua việc khởi động Đối thoại Chính sách quốc phòng cấp thứ trưởng. Hai bên nhất trí rằng việc giao lưu ở tất cả các cấp, bao gồm các chuyến thăm lẫn nhau của các đoàn cấp cao, cũng như các chuyến thăm cảng của tàu hải quân hai nước sẽ góp phần tăng cường sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, cũng như đóng góp vào hòa bình và ổn định tại khu vực.


Hai bên quyết định sớm tổ chức cuộc họp tiếp theo của Ủy ban Hợp tác Việt Nam-Nhật Bản vào thời điểm thuận lợi cho cả hai bên. Để tăng cường hợp tác công-tư tại cả hai nước, hai bên bày tỏ dự định tổ chức Đối thoại Công-Tư cấp bộ trưởng giữa Việt Nam và Nhật Bản trong khuôn khổ của Ủy ban.


Để kỷ niệm 40 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Nhật Bản (1973-2013), hai bên quyết định lấy năm 2013 làm “Năm Hữu nghị Việt Nam-Nhật Bản”, và sẽ thúc đẩy hợp tác tổ chức những hoạt động nhằm kỷ niệm Năm Hữu nghị.


(2) Về hợp tác kinh tế


Phía Việt Nam đánh giá cao sự hỗ trợ của Nhật Bản và những tiến triển trong việc triển khai các dự án đã được nêu trong Tuyên bố chung 2010. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá cao sự hỗ trợ liên tục của Nhật Bản dành cho các dự án cơ sở hạ tầng ưu tiên của Việt Nam, như Dự án đường cao tốc Bắc-Nam, Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, và các nghiên cứu khả thi hai đoạn đường của tuyến đường sắt cao tốc Hồ Chí Minh-Nha Trang và Hà Nội-Vinh.


Hai bên bày tỏ cam kết hợp tác thúc đẩy thực hiện những dự án cơ sở hạ tầng quan trọng tại Việt Nam, ví dụ như Dự án sân bay quốc tế Long Thành thông qua mô hình đối tác công tư (PPP), cho phép sự tham gia của một tổ hợp các công ty Việt Nam và Nhật Bản, và Chính phủ Việt Nam sẽ tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho các công ty Nhật Bản. Hai bên cũng nghiêm túc xem xét việc tiếp tục nghiên cứu Dự án xây dựng đường sắt đô thị Hà Nội (tuyến số 5) bởi một tổ hợp công ty Nhật Bản.


Chính phủ Nhật Bản cam kết tiếp tục xem xét hỗ trợ các dự án đường cao tốc đoạn Ninh Bình-Bãi Vọt, Nha Trang-Phan Thiết, và các dự án tuyến đường tàu điện ngầm mới của thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, cũng như cam kết của Nhật Bản hỗ trợ cho các lĩnh vực ưu tiên như xây dựng thể chế và năng lực, sử dụng chuyên môn và công nghệ tiên tiến của Nhật Bản.


Hai bên hoan nghênh việc ký kết các Công hàm Trao đổi cho Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng cảng Lạch Huyện giữa hai Chính phủ cũng như việc ký kết thỏa thuận liên doanh thành lập một tổ hợp các công ty Việt Nam và Nhật Bản. Hai bên bày tỏ ý định sẽ hỗ trợ đầy đủ để thực hiện thuận lợi Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng cảng Lạch Huyện.


Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá cao quyết định của Chính phủ Nhật Bản cung cấp khoản vay Viện trợ phát triển chính thức (ODA) với tổng trị giá 71,6 tỷ yen cho Việt Nam và hoan nghênh việc ký kết các Công hàm Trao đổi và Hiệp định vay cho bốn dự án gồm Dự án xây dựng đường cao tốc Bắc-Nam (đoạn Bến Lức-Long Thành), Dự án sử dụng vệ tinh quan sát trái đất để phòng chống thiên tai và biến đổi khí hậu, Dự án xây dựng Nhà máy nhiệt điện Nghi Sơn, Chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu. Hai bên nhấn mạnh Dự án sử dụng vệ tinh quan sát trái đất để phòng chống thiên tai và biến đổi khí hậu do Nhật Bản đề xuất nhân dịp Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN-Nhật Bản tháng 7/2011 cũng sẽ có ích trong Mạng lưới quản lý thiên tai tại khu vực ASEAN. Phía Nhật Bản bày tỏ ý định sẽ cung cấp một khoản vay ODA cho Dự án bệnh viện tỉnh và địa phương giai đoạn 2 nhằm nâng cao mức sống của nhân dân và góp phần vào việc duy trì sự phát triển bền vững của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.


(3) Về thương mại và đầu tư


Trước những thách thức hiện nay trong nền kinh tế thế giới, hai bên khẳng định lại tầm quan trọng của việc củng cố nền tảng kinh tế mỗi nước và hệ thống thương mại đa phương để đảm bảo sự tăng trưởng mạnh mẽ, bền vững và cân bằng. Phía Nhật Bản hoan nghênh những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam nhằm ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam. Hai bên khẳng định vai trò thiết yếu của Hiệp định Đối tác Kinh tế giữa nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Nhật Bản (VJEPA) và Hiệp định Tự do hóa, Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư giữa nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Nhật Bản nhằm củng cố quan hệ kinh tế giữa hai nước và nhận thấy tầm quan trọng của việc thực hiện hiệu quả các hiệp định này. Hai bên bày tỏ mong muốn tăng ít nhất gấp đôi kim ngạch thương mại giữa hai nước vào năm 2020.


Chính phủ Việt Nam hoan nghênh và đánh giá cao sự hợp tác của phía Nhật Bản nhằm phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam, cụ thể là hỗ trợ kỹ thuật và tài chính. Phía Việt Nam bày tỏ mong muốn phát triển hai khu công nghiệp chuyên sâu với sự hợp tác của phía Nhật Bản, một tại Hải Phòng và một tại Bà Rịa-Vũng Tàu nhằm thúc đẩy hơn nữa đầu tư của Nhật Bản và phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam.


Về vấn đề này, phía Việt Nam đánh giá cao sự hợp tác và hỗ trợ của Nhật Bản nhằm xây dựng và thực hiện chiến lược công nghiệp hóa và kế hoạch hành động đến năm 2020 của Việt Nam và khẳng định sẽ thành lập một Ủy ban cấp cao về lĩnh vực hợp tác này do một Phó Thủ tướng của Việt Nam chủ trì.


Hai bên hoan nghênh kết quả đàm phán của Tiểu ban về Di chuyển Thể nhân theo VJEPA và việc ký kết “Bản ghi nhớ về tiếp nhận những ứng viên điều dưỡng viên và hộ lý có bằng cấp từ Việt Nam sang Nhật Bản” nhằm tiếp nhận những ứng viên điều dưỡng viên, hộ lý có bằng cấp từ Việt Nam theo cơ chế sẽ được hai nước quyết định.


Nhằm tăng cường quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước và ghi nhận những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam để bảo đảm các biện pháp thương mại phù hợp với các thỏa thuận của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và Nghị định thư về việc gia nhập WTO của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Chính phủ Nhật Bản tuyên bố rằng Chính phủ Nhật Bản sẽ không áp dụng đoạn 255 của Báo cáo của Ban Công tác về việc gia nhập WTO của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, với sự hiểu biết rằng Chính phủ Việt Nam tiếp tục hoàn thiện kinh tế thị trường. Phía Việt Nam đánh giá cao quyết định này của Chính phủ Nhật Bản.


Hai bên khẳng định lại cam kết của mình triển khai gói dự án thiết lập hải quan điện tử và một cửa thông qua việc đưa Hệ thống thống nhất container và cảng tự động của Nhật Bản (NACCS) vào Việt Nam.


Hai bên đánh giá cao thành công của Sáng kiến chung Việt Nam-Nhật Bản nhằm cải thiện môi trường kinh doanh và hoan nghênh việc bắt đầu giai đoạn 4 của Sáng kiến chung từ tháng 7/2011, theo đó hai bên sẽ thảo luận các biện pháp tiếp theo cải thiện môi trường đầu tư đối với các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam.


(4) Về hợp tác năng lượng, tài nguyên thiên nhiên và biến đổi khí hậu


Hai bên hoan nghênh tiến triển đạt được trong hợp tác sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình. Phía Nhật Bản cam kết tăng cường an toàn hạt nhân thông qua việc chia sẻ kinh nghiệm và những bài học vừa qua liên quan tới sự cố hạt nhân tại Nhà máy điện hạt nhân Fukushima số 1 (Fukushima Daiichi) của Công ty điện lực Tokyo (TEPCO) với sự minh bạch cao nhất và giải trình kế hoạch từng bước để nâng cao an toàn hạt nhân. Phía Việt Nam đã hoan nghênh những nỗ lực của Nhật Bản, và giải thích rõ sự cần thiết của năng lượng hạt nhân nhằm đảm bảo việc cung cấp năng lượng ở Việt Nam và bày tỏ nguyện vọng mạnh mẽ đối với việc Nhật Bản cung cấp công nghệ hạt nhân. Phía Nhật Bản bày tỏ ý định cung cấp cho Việt Nam những công nghệ đảm bảo mức an toàn hạt nhân cao nhất trên thế giới.


Phía Nhật Bản đánh giá cao việc Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt Hiệp định Việt Nam-Nhật Bản về sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình. Phía Việt Nam bày tỏ hy vọng Hiệp định này sẽ sớm được phê chuẩn tại Nhật Bản sau khi hoàn tất những thủ tục nội bộ cần thiết.


Hai bên nhắc lại quyết định của Chính phủ Việt Nam trong việc chọn Nhật Bản là đối tác hợp tác để xây hai lò phản ứng hạt nhân tại Nhà máy điện hạt nhân số 2 ở tỉnh Ninh Thuận, Việt Nam. Hai bên hoan nghênh những tiến triển đạt được sau Hội đàm cấp cao tháng 10/2010 và văn bản khẳng định những tiến triển này liên quan đến dự án giữa hai Chính phủ.


Hai bên cũng hoan nghênh những tiến triển sau Hội đàm cấp cao tháng 10/2010 liên quan đến sự hợp tác trong phát triển công nghiệp đất hiếm tại Việt Nam và văn bản khẳng định những tiến triển này giữa hai Chính phủ, cho rằng việc này sẽ thúc đẩy hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực điều tra, thăm dò, khai thác và chế biến đất hiếm tại Việt Nam. Hai bên cũng hoan nghênh sự hợp tác trong dự án đầu tiên về đất hiếm sẽ bắt đầu tại Đông Pao, tỉnh Lai Châu, dự kiến được thực hiện ngay sau khi ký kết văn bản này.


Hai bên khẳng định lại tính cấp thiết của việc ứng phó vấn đề biến đổi khí hậu. Hai bên chia sẻ quan điểm rằng để bảo vệ lợi ích toàn cầu thích đáng thì mục đích cuối cùng là thiết lập một khuôn khổ quốc tế công bằng và hiệu quả với sự tham gia của tất cả các nền kinh tế lớn là rất quan trọng. Hai bên khẳng định lại tầm quan trọng của việc khẩn trương thực hiện các Thỏa thuận Cancun.


Hai bên khẳng định sẽ hợp tác mang tính xây dựng vì sự thành công của Hội nghị thượng đỉnh thế giới về biến đổi khí hậu lần thứ 17 (COP 17) sẽ được tổ chức tại Nam Phi vào cuối năm 2011. Ngoài các cuộc đàm phán tại Liên hợp quốc, hai bên cũng thừa nhận lợi ích của việc thúc đẩy hợp tác song phương, khu vực về tăng trưởng ít khí thải cácbon ở Đông Á, một trung tâm tăng trưởng của kinh tế toàn cầu nơi tập trung những nước có lượng phát thải lớn. Hai bên hoan nghênh và khẳng định tiếp tục đàm phán về Cơ chế Tín dụng bù trừ song phương giữa hai nước. Thủ tướng Yoshihiko Noda bày tỏ ý định thúc đẩy “Sáng kiến quan hệ đối tác tăng trưởng ít cácbon ở Đông Á” và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bày tỏ sự ủng hộ đối với sáng kiến này.


(5) Về hợp tác khoa học công nghệ và phát triển nguồn nhân lực


Hai bên hoan nghênh tiến triển đạt được trong cuộc họp lần thứ 3 của Ủy ban hỗn hợp Việt Nam-Nhật Bản về Khoa học và Công nghệ tổ chức tại Tokyo tháng 8 năm 2011. Phía Việt Nam bày tỏ mong muốn phía Nhật Bản tăng cường hỗ trợ nâng cao năng lực nghiên cứu cho các nhà khoa học Việt Nam thông qua các hoạt động nghiên cứu chung, nâng cao năng lực công nghệ cho các doanh nghiệp Việt Nam.


Phía Việt Nam nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đào tạo nguồn nhân lực trong kế hoạch công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam, bày tỏ mong muốn đẩy mạnh trao đổi và nghiên cứu khoa học giữa các trường đại học hai nước và đề nghị phía Nhật Bản tiếp tục hỗ trợ Việt Nam đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, bao gồm việc xem xét phát triển trường đại học chất lượng cao tại Cần Thơ, Việt Nam.


Hai bên khẳng định lại cam kết củng cố hợp tác quốc tế về Công nghệ thông tin và Truyền thông xanh (ICT) nhằm phòng chống thiên tai và bảo vệ môi trường bằng việc sử dụng ICT như Hệ thống từ và Công nghệ Đám mây.


(6) Về sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước


Hai bên khẳng định lại tầm quan trọng của tăng cường giao lưu nhân dân, đặc biệt trong giới trẻ, và chia sẻ sự tin tưởng rằng các hoạt động trao đổi văn hóa sẽ làm sâu sắc thêm sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hoan nghênh thiện ý của Thủ tướng Yoshihiko Noda tiếp tục nhiều chương trình trao đổi thanh niên, trong đó có chương trình Mạng lưới Trao đổi Sinh viên và Thanh niên Nhật Bản - Đông Á (JENESYS).


Hai bên đánh giá cao thành công của Lễ hội Việt Nam hàng năm tại Nhật Bản và Đại nhạc hội hữu nghị Việt Nam - Nhật Bản lần thứ 2 tại Hà Nội, ghi nhận đóng góp của các hoạt động này vào việc tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau và trao đổi văn hóa giữa hai nước.


(7) Về hợp tác khu vực và quốc tế


Hai bên khẳng định lại tầm quan trọng trong việc nỗ lực tăng cường kết nối ASEAN hướng tới thiết lập Cộng đồng ASEAN vào năm 2015. Ngoài ra, hai bên hoan nghênh những tiến triển trong hợp tác này kể từ Hội nghị Cấp cao Mekong - Nhật Bản lần hai vào năm 2010, và ghi nhận rằng tiến bộ trong việc thực hiện “Kế hoạch Hành động Mekong - Nhật Bản 63” đã góp phần tăng cường hơn nữa kết nối ASEAN.


Thủ tướng Yoshihiko Noda bày tỏ ý định của Chính phủ Nhật Bản tăng cường hơn nữa hợp tác cụ thể trong các lĩnh vực như hỗ trợ tăng cường liên kết ASEAN và quản lý thiên tai, chủ động hỗ trợ hội nhập ASEAN và xây dựng cộng đồng vào năm 2015. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá cao sự đóng góp này của Chính phủ Nhật Bản. Hai bên ghi nhận tầm quan trọng của việc tăng cường hợp tác trong các khuôn khổ khu vực như Mekong - Nhật Bản, ASEAN - Nhật Bản, ASEAN+3, EAS, ARF và APEC… để xây dựng một châu Á phồn vinh và ổn định. Hai bên khẳng định tầm quan trọng của việc tăng cường mạng lưới các khuôn khổ hợp tác khu vực mở và đa tầng, bổ sung và hỗ trợ cho vai trò động lực của ASEAN, góp phần tiếp tục thúc đẩy hòa bình, ổn định và thịnh vượng về kinh tế cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương.


Trong bối cảnh này, đặc biệt liên quan đến EAS, hai bên khẳng định sẽ hợp tác chặt chẽ để chuẩn bị cho Hội nghị thượng đỉnh Đông Á lần thứ 6 vào tháng 11 năm nay nhằm tiếp tục thúc đẩy tầm nhìn, nguyên tắc, mục tiêu và phương thức của EAS, củng cố các chuẩn mực toàn cầu và các giá trị được thế giới công nhận, thúc đẩy hơn nữa tiến bộ và hợp tác trong EAS trong thời gian tới nhằm đối phó với những thách thức mới trong lĩnh vực chính trị, an ninh và kinh tế.


Hai bên khẳng định hòa bình và ổn định ở Biển Đông là lợi ích chung của cộng đồng quốc tế. Hai bên hoan nghênh việc thông qua Quy tắc hướng dẫn thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC) và kêu gọi thực hiện đầy đủ DOC và sớm xây dựng một Bộ quy tắc về ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC), phù hợp với luật pháp quốc tế hiện hành. Hai bên khẳng định tự do hàng hải, giao thương không bị cản trở, và tuân thủ luật pháp quốc tế hiện hành bao gồm Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 và việc giải quyết tranh chấp một cách hòa bình là phù hợp với lợi ích của các nước trong toàn khu vực. Hai bên cùng thừa nhận rằng những lợi ích này cũng cần được thúc đẩy và bảo vệ tại Biển Đông.


Hai bên khẳng định lại sự ủng hộ quá trình phi hạt nhân hóa hoàn toàn và có thể kiểm chứng trên bán đảo Triều Tiên, kêu gọi thực hiện đầy đủ các Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc cũng như Tuyên bố chung Đàm phán 6 bên năm 2005. Trên tinh thần đó, hai bên khẳng định lại tầm quan trọng của những hành động cụ thể nhằm tạo môi trường thuận lợi để nối lại đàm phán 6 bên, đồng thời bày tỏ sự ủng hộ đối thoại liên Triều như một tiến trình bền vững. Hai bên cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giải quyết các quan ngại nhân đạo của cộng đồng quốc tế, ví dụ như vấn đề bắt cóc.


Hai bên khẳng định lại quyết tâm thúc đẩy hợp tác nhằm sớm cải tổ Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, trong đó bao gồm việc mở rộng thành viên thường trực và không thường trực. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định lại Việt Nam ủng hộ Nhật Bản trở thành thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Thủ tướng Yoshihiko Noda bày tỏ sự cảm ơn đối với sự ủng hộ của Việt Nam.


Hai bên bày tỏ hài lòng và đánh giá cao kết quả của chuyến thăm chính thức Nhật Bản của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng và cùng cam kết tiếp tục phát triển toàn diện quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước Việt Nam và Nhật Bản.


Tokyo, ngày 31 tháng 10 năm 2011./.

(TTXVN/Vietnam+)
http://www.vietnamplus.vn/Home/Gioi-thieu-toan-van-Tuyen-bo-chung-Viet-NamNhat-Ban/201110/111379.vnplus

Vấn đề biển Đông: Cần nỗ lực, thiện chí của các bên

Vấn đề biển Đông: 

Cần nỗ lực, thiện chí của các bên

Thứ Ba, 18/10/2011 23:14

Tranh chấp ở biển Đông cần phải được giải quyết một cách đa phương, trên tinh thần hợp tác và hiểu biết giữa các bên liên quan, tuân thủ luật pháp quốc tế


Ông Frank Wisner, cựu thứ trưởng Quốc phòng Mỹ về chính sách,
thúc giục việc xây dựng COC. Ảnh: www.acus.org
Hội thảo quốc tế về tranh chấp ở biển Đông với chủ đề “Con đường tiến tới hòa bình, ổn định và phát triển” đã diễn ra tại thủ đô Kuala Lumpur (Malaysia) hôm 17-10.
Hội thảo do Viện Nghiên cứu ASEAN và các vấn đề toàn cầu (INSPAG) của Malaysia và Trung tâm Nghiên cứu chiến lược châu Á (CASS) của Ấn Độ đồng tổ chức, thu hút sự tham gia của khoảng 130 học giả, chuyên gia nghiên cứu của Malaysia, Ấn Độ, Indonesia, Philippines, Việt Nam và nhiều nước khác.
Theo TTXVN, các đại biểu đã tập trung thảo luận các chủ đề như xúc tiến đề ra các đường lối chỉ đạo cho việc thực hiện Quy tắc hướng dẫn thực thi Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC), hướng tới xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở biển Đông (COC), tầm quan trọng chiến lược của các tuyến hàng hải ở biển Đông đối với thương mại châu Á, các hoạt động quân sự gần đây tại những khu vực tranh chấp ở biển Đông.
Trong tuyên bố chung sau khi kết thúc hội thảo, các đại biểu cho rằng giải quyết tranh chấp biển Đông là một quá trình khó khăn, phức tạp, lâu dài và liên quan tới nhiều bên. Vì vậy, tranh chấp ở biển Đông cần phải được giải quyết một cách đa phương với những nỗ lực và thiện chí của các bên tranh chấp cũng như của cộng đồng quốc tế.
Các đại biểu cũng nhất trí cho rằng cần giải quyết tranh chấp ở biển Đông trên tinh thần hợp tác và hiểu biết giữa các bên liên quan, tuân thủ luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau.
Cùng ngày, phát biểu tại một diễn đàn về biển Đông ở thành phố Mataki (Philippines), ông Frank Wisner, cựu thứ trưởng quốc phòng Mỹ về chính sách, nhận định rằng việc xây dựng được COC mang tính ràng buộc sẽ phục vụ lợi ích cho tất cả các bên đang có tuyên bố chủ quyền ở khu vực này.
Báo The Philippine Star dẫn lời ông Wisner cho biết việc thiếu COC đang là nguyên nhân chính gây ra những lo ngại rằng căng thẳng có thể leo thang trong khu vực. Ông Wisner nói thêm rằng Mỹ đang chú ý sát sao những diễn biến ở biển Đông vì nước này quan tâm đến quyền tự do đi lại trên biển.
Mỹ, Philippines tập trận
Khoảng 3.000 lính thủy đánh bộ của hai nước Mỹ và Philippines đang tham gia các cuộc tập trận thường niên kéo dài từ ngày 17 đến 28-10. Hãng tin AP dẫn lời trung úy Nick Eisenbeiser, đại diện lực lượng Mỹ, cho biết cuộc tập trận chung này tập trung tăng cường khả năng phối hợp giữa quân đội hai nước trong việc bảo đảm an ninh khu vực chứ không nhằm vào bất kỳ một quốc gia cụ thể nào. Trong khi đó, thiếu tướng Eugene Clemen, chỉ huy lực lượng 1.000 binh sĩ Philippines tham gia tập trận, khẳng định đợt tập trận chung lần này không liên quan gì đến vấn đề tranh chấp lãnh thổ ở biển Đông.
Hoàng Phương
 http://nld.com.vn/20111018111420833p0c1006/van-de-bien-dong-can-no-luc-thien-chi-cua-cac-ben.htm
 

Điểm tin tháng 10/2011 trên Blog Nguoilotgach

Trung Quốc diễu võ giương oai

Trung Quốc diễu võ giương oai

Xã luận trên tờ The Washington Times (26/10/2011)

Phạm Nguyên Trường dịch
Nước Mỹ đã phải trả giá cho việc để một kẻ lèo lá như H. Kissinger đi đêm với ngài Mao của nước Tàu từ năm 72 thế kỷ trước, những tưởng làm thế là lôi kéo đồng minh chống lại với Liên Xô, có ai ngờ anh khổng lồ chân đất sét Liên Xô không cần đến động thái đi đêm kia vẫn cứ sụp đổ đúng theo quy luật, trong khi đó hành động đi đêm của ông “Kis Già Giơ” ngỡ là đắc sách lại chính là tự mình chắp thêm vây cho con sói hung ác ở phương Đông để nó ngóc đầu dậy, có thời gian mài nanh dũa vuốt, và rút kinh nghiệm từ bài học Liên Xô để trở thành một đế chế bề ngoài vẫn khoác áo cộng sản mà bên trong thì mưu toan chống lại cả loài người.
Bây giờ đây các ngài chiến lược gia xứ cờ hoa mới mở mắt ra liệu có muộn hay không? Dẫu sao muộn còn hơn không, nếu bài trả lời phỏng vấn của bà Ngoại trưởng Hillary Clinton mà BVN đăng hôm qua vẫn còn chứa đựng những lời xã giao bay bướm thì bài xã luận này mới thực đi thẳng vào những mục tiêu cốt lõi trong cái gọi là “chiến lược trở lại Thái Bình Dương” của Hoa Kỳ.
Bauxite Việt Nam

Nếu sức mạnh là đồng tiền có giá nhất trong quan hệ quốc tế thì Trung Quốc đang tích cực lèn đầy két sắt của họ. Trong mấy năm gần đây, các lãnh tụ cộng sản Trung Quốc đã thực hiện được những thành tựu to lớn trong lĩnh vực quốc phòng, như được thể hiện trong sự gia tăng ngân sách hàng năm trong lĩnh vực này – từ năm 1997 đến năm 2003 ngân sách quốc phòng đã tăng lên hai lần.
So với năm 2010, ngân sách quốc phòng của nước này trong năm 2011 đã tăng thêm 13%. Điều này làm cho Trung Quốc là nước có ngân sách quốc phòng lớn thứ hai thế giới – chính thức đánh giá là khoảng 900 tỷ Mỹ kim. Nhưng các khoản chi không chính thức trong Bộ quốc phòng làm cho con số này gia tăng thêm khoảng 150 tỷ Mỹ kim nữa. Trung Quốc nhìn thấy những cơ hội tốt trong hệ thống quốc tế và cho rằng điều đó sẽ giúp họ theo đuổi sức mạnh, làm thiệt hại cho các nước lân bang. Sự kiện là cho đến nay Trung Quốc vẫn chưa giành được bá quyền trong khu vực cũng không cho phép chúng ta được lầm lẫn trong khi đánh giá ý định của họ.
Lịch sử dạy chúng ta rằng tham vọng của Trung Quốc cũng chẳng khác gì các dân tộc khác và rằng đất nước này sẽ tiếp tục chính sách hướng đến vị trí của một bá quyền khu vực. Xin lưu ý rằng lãnh tụ của nước Phổ là Otto von Bismarck bắt đầu chinh phục khu vực vào năm 1860 và nước Đức thống nhất xuất hiện, mạnh hơn nhiều lần nước Phổ lúc ban đầu.
Nhưng giành vị trí siêu cường thế giới là công việc không thể làm nhanh được. Hoa Kỳ đã và đang làm việc không mệt mỏi nhằm giữ và khuếch trương địa vị của mình trên thế giới kể từ năm 1898. Nếu Trung Quốc có ý định làm theo cách của Mỹ ở châu Á – thậm chí đi xa đến mức có hẳn học thuyết Monroe của mình – thì Hoa Kỳ buộc phải đối đầu, không có lựa chọn nào khác. Nếu thế kỷ XX có thể dạy cho ta bài học thì đấy là Hoa Kỳ không để cho các nước đang phát triển sắp xếp lại hệ thống quốc tế.

Có vẻ như Hoa Kỳ sẽ buộc Trung Quốc phải trả giá đắt cho ý định ngông cuồng này. Chiến tranh lạnh là cuộc chiến tiêu hao sinh lực và Hoa Kỳ đã đẩy Nga vào cảnh nợ nần chồng chất. Trung Quốc chỉ cần nhìn số phận của Đế chế Đức, nước Đức phát xít và Đế quốc Nhật để thấy hình ảnh trong tương lai của mình. Sự cân bằng quyền lực chính trị ở châu Á có ý nghĩa sống còn đối với an ninh của Hoa Kỳ và Hoa Kỳ sẽ khuyến khích sự cạnh tranh trong lĩnh vực an ninh giữa các lân bang của Trung Quốc. Hiệu ứng phụ khá tốn kém có thể sẽ là cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân ở sân sau của Trung Quốc. Những mối đe dọa về mặt quân sự của Nhật Bản, Nam Hàn, Ấn Độ và Nga, với sự trợ giúp của Hoa Kỳ cuối cùng sẽ là mối đe dọa cực kỳ nguy hiểm đối với Trung Quốc.

P.N.T.
Nguồn: Risky rumblings from China

http://www.boxitvn.net/bai/30395

Vậy ra“Chứng minh nhân dân” là cáo mượn oai hùm à?

Vậy ra“Chứng minh nhân dân” là cáo mượn oai hùm à?

Trình Phụng Nguyên

Đọc bài viết „Đừng nhầm lẫn từ “nhân dân” trong hiến pháp“ của ông Đại tá TS (Tiến sĩ ?) Nguyễn văn Quang có nhiều bác hoang mang. Có bác bảo ông dốt, có bác bảo ông dối trá, có bác bảo ông kích động một cách nguy hiểm, có bác thấy buồn cười và… mệt, có bác… á khẩu.
Riêng em thì tin là ông Đại tá TS (Tiến sĩ ?) rất mực thật lòng và ăn ngay nói thẳng trong bài viết của mình. Ông Quang với quân hàm Đại tá, tức là quan chức cao cấp của Nhà nước, bài của ông viết lại được đăng đàn trên QĐND, là tờ báo tuyên huấn nòng cốt của Đảng, nên em lại càng mãnh liệt tin tưởng rằng đây là tư tưởng giáo huấn của một tầng lớp từ trên, đã được thống nhất quán triệt từ Ban Tuyên giáo trung ương và cấp lãnh đạo Nhà nước.
Theo ý bài viết này – dù câu nọ chửi câu kia, dù múa bút tung hỏa mù ở một số đoạn – cuối cùng thì em cũng hiểu được điều ông Đại tá TS muốn nói “nhân dân” ở đây là ai, đồng thời cũng rút ra được một kết luận là… chẳng biết mình là loại gì ở cái xã hội Việt Nam đương đại này, và có lẽ đại đa số đồng bào em cũng thế, cũng đang ở cùng trong hoàn cảnh ngơ ngác, ngờ vực chính con người mình.
Ông Đại tá TS viết:
Nhân dân không chỉ được hiểu một cách phổ thông, đơn thuần là khối người đông đảo làm nền tảng cho một nước trong một thời gian lịch sử nhất định. Nhân dân còn với nghĩa là một tầng lớp, một giai cấp đại diện cho một quốc gia, dân tộc trong một Nhà nước nhất định.
“…nhân dân” là những người dân “đã giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân và lập ra nền dân chủ cộng hòa. Sau tám mươi năm tranh đấu, dân tộc Việt Nam đã thoát khỏi vòng áp bức của chính sách thực dân, đồng thời đã gạt bỏ chế độ vua quan”.
Như vậy cụm từ “nhân dân” không phổ thông như chúng ta hiểu là đông đảo người dân hiện đang cư trú từ khắp thành thị đến thôn quê, từ đồng bằng đến rừng rú, mà nó giới hạn ở một “tầng lớp”, một “giai cấp” được cho là “đại diện cho một quốc gia”, giai cấp này đã giành chủ quyền cho đất nước, nắm quyền lãnh đạo và chễm chệ cho đến hôm nay, sau tám mươi năm. Nói tóm lại – theo ý ông Đại tá TS  – “nhân dân” phải được hiểu là “tầng lớp” nắm quyền, đó chính là “giai cấp” Nhà nước, là hệ thống đảng từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, tức là toàn đảng ngày nay, và chỉ có những ai là đảng viên, nằm trong hệ thống đảng, phục tùng đảng, mới đích thực là “nhân dân”.
Phải thế chứ! Cứ rõ ràng ra như thế đi chứ! Nhưng sao các ngài không nói ra cái “nội hàm” của hai từ “nhân dân” này ngay từ khi mới cướp chính quyền, cách đây tám mươi năm về trước, để chúng em khỏi ngây ngô tưởng bở, khỏi xum xoe hít hà, từ bấy lâu nay đã nhận vơ mình là “nhân dân”, thuộc về “nhân dân”. Bây giờ thì mọi người mới ngã tứ chi ra rằng: “Ủy ban nhân dân” tức là “Ủy ban đảng”, “Hội đồng nhân dân” tức là “Hội đồng đảng”, “Chính quyền nhân dân” tức là “Chính quyền đảng”, “Quân đội nhân dân” tức là “Quân đội đảng”, “Công an nhân dân” tức là “Công an đảng”, “Tòa án nhân dân” tức là “Tòa án đảng”, “Nhà nuớc của nhân dân do nhân dân và vì nhân dân” tức là “Nhà nước của đảng do đảng và vì đảng”, và tất nhiên “còn đảng còn mình” tức là “còn nhân dân còn mình”, vân vân và vân vân… Hợp lý quá đi chứ, thế mà cứ ấp a ấp úng từ cả mấy thế hệ nay, để rồi người này người kia ý kiến ý cò, kiến nghị này nọ lung tung cả lên.
Nên – lẽ đương nhiên – rất dễ hiểu khi ông Đại tá TS viết tiếp (Ở phần trích này em xin được thay cụm từ “nhân dân Việt Nam” bằng từ “đảng” cho đơn giản và dễ hiểu!):
… . Vì lẽ đó, trong quan hệ quốc tế đảng cũng có quyền đòi hỏi không một nước nào, một thế lực nào, một cá nhân nào được can thiệp vào quyền tự quyết lập hiến của đảng; càng không được cả gan nhận mình là “đảng” để phá hoại công cuộc xây dựng, kiến thiết và bảo vệ Tổ quốc của đảng. Quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, mối quan hệ giữa các quyền đó, việc lập các tổ chức chính trị, xã hội, đảng đoàn ra sao là do đảng, Quốc hội Việt Nam (cũng là đảng) quyết định”.
Thế mà chẳng mấy ai chịu hiểu ra, lại còn “cả gan giả danh lợi dụng, mượn danh “nhân dân” để kích động chính nhân dân chống lại những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước…, kích động tư tưởng đa nguyên, tạo dựng ý thức chính trị xây dựng một bản Hiến pháp theo tinh thần đa nguyên –  cái mà nhân dân ta đã nhận thức rõ và không chấp nhận ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên.
Tới đây em cũng xin lạy các ngài, không còn thắc mắc gì nữa, chỉ một điều duy nhất còn lấn cấn là phải xử lý ra làm sao đây với cái giấy “Chứng minh nhân dân” (của mình)? Bởi nó là cái tờ giấy mượn danh, cái tờ tùy thân “cáo mượn oai hùm”, chứ em đâu có phải là “nhân dân” mà lại sở hữu loại giấy chứng minh này, để rồi oai thì có oai song khốn nỗi phải mang vạ vào thân trước các loại nghĩa vụ chất lên đầu mà chẳng có quyền hạn gì cả. Khẩu hiệu “Đóng thuế là nghĩa vụ của nhân dân” là của các ngài với nhau, tức là nghĩa vụ của đảng đoàn chứ sao lại quàng vào cổ chúng em?
Đề nghị “nhân dân” thay cho em cái giấy chứng minh này bằng một cái giấy có cái tên khác cho nó hợp lệ, có thể gọi là “Giấy căn cước” như thời “ngụy” cũ, vô thưởng vô phạt, chẳng vơ vào, cũng chẳng đụng chạm đến ai, hoặc thẳng thắn và huỵch toẹt hơn thì ghi là giấy “Chứng minh… sinh vật người” – Họ và tên: Trình Phụng Nguyên chẳng hạn – cho tiện việc sổ sách và để em còn liệu cơm mà gắp mắm. Em xin cúi đầu kính thưa “nhân dân”  và “ơn nhân dân ơn Nhà nước” ạ.
T.P.N.

http://www.boxitvn.net/bai/30398

Thay vì “lạm phát” Thứ trưởng như hiện nay, mỗi Bộ có thể chỉ có 6 Thứ trưởng.

Mỗi Bộ chỉ có 6 Thứ trưởng

30/10/2011 10:08:11
Thay vì “lạm phát” Thứ trưởng như hiện nay, mỗi Bộ có thể chỉ có 6 Thứ trưởng.

Bộ Nội vụ đã chuẩn bị Tờ trình Chính phủ về việc ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 178/2007/NĐ-CP.

Theo đó, sẽ bổ sung nguyên tắc quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực theo hướng Chính phủ giao một Bộ chủ trì, chịu trách nhiệm chính, các Bộ, ngành có liên quan có trách nhiệm phối hợp theo thẩm quyền.

Ông Vũ Huy Hoàng, Bộ trưởng Công Thương - có đến 8 Thứ trưởng.


Bổ sung quy định mở đối với bộ quản lý nhà nước nhiều ngành, lĩnh vực lớn được bổ sung thêm số lượng Thứ trưởng, nhưng tối đa không quá 6 người.

Việc xác định số lượng Thứ trưởng và tương đương không quá 6 người dựa trên số lượng các ngành, lĩnh vực lớn tại một số bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực hiện nay. Đó cũng là mục tiêu đối với các bộ hiện nay có số lượng thứ trưởng và tương đương lớn hơn 6 người.
Việc quy định mở như trên cũng tạo điều kiện cho các bộ thực hiện quy hoạch bổ nhiệm, bố trí Thứ trưởng phù hợp với yêu cầu trong từng giai đoạn cụ thể.

Bổ sung quy định về số lượng cấp phó của người đứng đầu các tổ chức thuộc bộ đối với các tổ chức đặc thù về quy mô tổ chức, phạm vi quản lý cả nước thì được tăng thêm, nhưng không quá 05 người.
(Theo VTC)

http://bee.net.vn/channel/1987/201110/Moi-Bo-chi-co-6-Thu-truong-1815607/

Cẩn Thận : tiền giả đang lưu hành ! Đổi ở tiệm vàng cũng giả...

 


Hôm thứ sáu vừa qua, tôi đem đến cửa hàng Vàng hiệu K.T q.10 TPHCM bán 300 USD lấy 6,415,000 đồng, yên chí đã đổi ở tiệm vàng thì đâu thể có tiền giả ? Vậy mà sáng chủ nhật đem trả tiền đổ xăng thì tá hỏa:"chú ơi đổi cho tờ khác, tờ nầy không xài, giả chú ạ". Em bán xăng không nhận, đành phải nợ, để lại mắt kiếng...chạy ù về nhà lấy 50,000 đ đem trả !

Tất cả có 4 tờ 200,000 đ giả...chụp lại 1 tờ cho bà con xem và rút kinh nghiệm:

1/tuyệt đối khg bán tiền cho tiệm vàng hay ngoài chợ trời(trừ là nơi thân quen từ trước)
2/khi đổi tiền nhớ đếm và xem kỹ: tờ giả cố tình (NHƯ ẢNH Ở TRÊN) làm nhàu nát chứng tỏ đã được sử dụng nhiều !
3/Chữ in không sắc sảo, hình ảnh hơi mờ, không hiện chữ số khi đưa vào đèn có ánh sáng tím

4/chất lượng giấy polymer không trơn bóng, sần sùi.

gặp trường hợp này đổi lại ngay đừng mang về nhà hôm sau đem ra là họ chối phăng và gây gỗ nữa đấy!


theo lời của giới đổi tiền nầy thì loại tiền mệnh giá 500,000 đ/ 200,000 đ/100,000 đ là nhiều nhất từ biên giới phía bắc tràn sang.