Xuân Tân Mão

Xuân Tân Mão
Đảng và Chính phủ luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng với tất cả hoạt động, việc làm của người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia (TTg NT Dũng).

22 tháng 1 2012

Tương Lai: MƯỜI BÀI BÁO ĐÓN TẾT NHÂM THÌN

   Mười bài báo đón tết Nhâm Thìn 2012  
Tương Lai


Chào tiễn biệt năm Mèo

Bài đăng trên số Tất Niên của các tạp chí “THẾ GIỚI MỚI”,báo ĐẠI ĐOÀN KẾT [với nội dung có những tứ khác và tên bài là TIỄN NĂM CŨ, ĐÓN NĂM MỚI” báo Lao Động[trích] Doanh Nhân Sài Gòn[cùng chủ đề song có những biến tấu] và VIETNAMNET số ra hôm nay :
      

Vietnamnet 22/01/2012
 

Tiễn đưa năm Mèo, đương nhiên phải nói chuyện Mèo, con vật hiền lành dễ thương thường được ấp ủ, vuốt ve, nhất là với các cháu bé và các thiếu nữ đa cảm [chứ không phải là các nữ quái tuổi học trò đấm nhau tàn nhẫn giữa phố dữ dằn chẳng kém gì các nam nhân]. Ấy thế mà lạ một điều, trong văn học dân gian và cả trong văn chương bác học, hình ảnh con mèo thường được gợi lên không mấy cảm tình. Đại loại như “con mèo mà trèo cây cau, hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà, chú chuột đi chợ đường xa, mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo”.
Chuột chửi mèo là điều dễ hiểu. Nhưng mà cạnh khóe đến thế, tai quái đến thế thì đau cho mèo quá lắm. Nhưng làm sao có thể khác được. Cứ xem lại bức tranh "Đám cưới chuột" thì sẽ vỡ ra rằng, chửi thế chứ ác khẩu hơn, độc địa hơn cũng chưa đủ. Trong bức "tranh Đông Hồ ... màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp" ấy miêu tả sinh động hình ảnh tưng bừng rộn rã của đám cưới chuột đang hoan hỉ bước đi theo nhịp kèn trống thì, ở phía trước, trên cao, lù lù một con mèo hung dữ đang nằm thu mình lại để chực vọt ra ăn sống nuốt tươi cô, dâu chú rể cùng với đám phù dâu, phù rể và những nghệ nhân tháp tùng. Khủng khiếp quá, vậy là "Đám  cưới chuột đang tưng bừng rộn  rã. Bây giờ tan tác về đâu? [ Hoàng cầm. "Bên kia sông Đuống]. Rõ ràng ở đây con mèo là hình ảnh của cái ác.
Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du thì con mèo lại xuất hiện với hình ảnh quá xấu : "Ra tuồng mèo mả gà đồng" để ám chỉ "Con này chẳng phải thiện nhân, Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng". "Gà đồng" thì không lấy gì làm xấu, nhưng "mèo mả" thì ghê quá. Nhưng đây là nhà thơ thiên tài đã đưa tục ngữ vào thơ nhuần nhuyễn đến độ không còn phân biệt được đâu là thơ của Nguyễn Du, đâu là tục ngữ. Mà đã là tục ngữ, thì cái lý được trải nghiệm và đúc kết thật khó mà bàn cãi.  Phải chăng có thể tìm thấy ở đây lý do chính để giải mã hình ảnh con mèo trong tâm thế của các tác giả văn học dân gian. Với những người hay lam, hay làm, đầu tắt mặt tối, suốt ngày bán mặt cho đất, bán lưng cho trời trong cuộc mưu sinh, thì sự lười biếng là điều phải quyết liệt lên án. Và thế là mèo, suốt ngày không nằm vùi sưởi ấm bên đống tro bếp thì cũng nằm phơi nắng trước hiên nhà là biểu tượng nổi bật của sự lười biếng đó. Bởi thế mới có hình ảnh về sự lười biếng ấy trong câu tục ngữ : "ăn như rồng cuốn, uống như rồng leo, làm như mèo mửa"!
Kể ra như vậy cũng không công bằng. Mèo ngủ ngày để bù lại đêm mắt mèo sáng quắc để rình bắt chuột, công việc ấy cũng đáng được ghi nhận lắm chứ! Nếu không, sao nhà nào cũng nuôi mèo? Cho dù vậy, hành tung của mèo trong đêm tối, "lao động sản xuất" của mèo với "năng suất cao" trong săn bắt chuột vào ban đêm lại ít đập vào mắt người bằng chuyện "ngủ ngày" của chú mèo đáng thương kia. Chẳng thế mà cụ Nguyễn Công Trứ đã tóm gọn thần thái và đặc trưng tính cách của mèo trong hình ảnh rất giàu tính triết lý : "Con mèo nằm bếp co ro . Ít ăn thì lại ít lo ít làm". Rồi đến trẻ nhỏ ở lớp mầm non cũng được các cô lấy hình ảnh mèo để dạy các cháu đừng làm điều xấu "Meo meo meo rửa mặt như mèo. Xấu, xầu, xấu chẳng được mẹ yêu"!

Có thể kể dài dài những nết xấu của mèo, nhưng ngẫm cho kỹ cũng tội nghiệp cho con vật hiền lành vốn là bạn của con người, quấn quýt với người, lại là một con vật có ích nên để bớt bất công khi tiếp tục chuyện mèo, xin kể một chuyện mang dáng dấp của tiếu lâm, chuyện luyện mèo của Trạng Quỳnh. Chuyện rằng nhà Chúa [đây là chúa Trịnh lộng hành thời Lê mạt, dân một cổ hai tròng] có một con mèo quý lắm, xích bằng xích vàng và cho ăn toàn cao lương mỹ vị. Quỳnh vào chầu, trông thấy, bắt về, cất xích vàng đi mà buộc xích sắt, nhốt một chỗ, đến bữa thì để hai bát cơm, một bát thịt cá, một bát rau nấu đầu tôm. Mèo ta quen ăn miếng ngon chạy đến bát cơm thịt cá chực ăn. Quỳnh cầm sẵn roi, hễ ăn thì đánh. Mèo đói quá, phải ăn bát rau nấu đầu tôm. Như thế, được hơn nửa tháng, dạy đã vào khuôn, mới thả ra.
Chúa mất mèo, tiếc quá, cho người đi tìm, thấy nhà Quỳnh có một con giống hệt, lệnh cho Quỳnh đem mèo vào chầu. Chúa hỏi: Sao nó giống mèo của ta thế? Hay khanh thấy mèo của ta đẹp bắt đem về, phải nói cho thật! Quỳnh đáp, nghi cho thần bắt trộm, thật là oan, xin chúa thượng đem ra thử thì biết. Thử là thử thế nào, nói ta nghe. Quỳnh đáp: chúa thượng phú quý thì mèo ăn thịt ăn cá, còn hạ thần nghèo túng thì mèo ăn cơm với đầu tôm, rau luộc. Bây giờ để hai bát cơm ấy, xem nó ăn bát nào thì biết ngay. Chúa sai đem ra thử. Con mèo chạy thẳng đến bát cơm rau, ăn sạch. Quỳnh nói: người ta phú quý thì ăn cao lương mỹ vị, bần tiện thì cơm hẩm rau dưa. Mèo cũng vậy, phải theo chủ. Rồi lạy tạ đem mèo về. Chúa bị lỡm mà không làm gì được!
Chuyện trộm mèo và luyện mèo ngẫm kỹ, hóa ra đâu chỉ nói chuyện mèo! Chuyện người đấy. Mượn chuyện mèo, Trạng Quỳnh lỡm chúa, tiếng cười dân gian bật ra sảng khoái. Nhưng sau tiếng cười là giọt nước mắt đắng cay cho thân phận con người. Thân phận con người ư? Gì mà "đao to búa lớn" làm vậy?
Xin thưa rằng : nếu J.J Rousseau, nhà tư tưởng của thế kỷ khai sáng chua chát thừa nhận : "Con người sinh ra đã là tự do, vậy mà ở khắp mọi nơi con người lại bị cùm kẹp" thì C.Mác, tác giả của Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, lại bay bổng trong khát vọng hướng tới một xã hội mà trong đó : "Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do do của tất cả mọi người". Nhưng Voltaire lại ngao ngán thổ lộ : "Tội ác có anh hùng của nó, sai lầm có tử sĩ của nó. Lòng nhiệt thành và vô vọng là những gì chúng ta có". Còn Hồ Chí Minh thì bằng trải nghiệm của lịch sử dân tộc và cuộc sống của chính mình đã cay đắng thốt lên : "Trên đời ngàn vạn điều cay đắng. Cay đắng chi bằng mất tự do".
Chỉ có điều, phải đau đớn mà nhận ra rằng, không phải ai cũng cảm nhận được sự cay đắng cao cả ấy. Miếng cơm manh áo hàng ngày trĩu nặng trên vai của đại đa số những người lầm than, khổ cực trong cuộc mưu sinh đã choán hết chỗ trong đầu óc họ. Thì chẳng thế sao, Khổng Tử, từng khẳng định sòng phẳng : "dân dĩ thực vi thiên", dân lấy ăn làm trời! Dân gian thì huỵch toẹt bỗ bã nói lên điều khẳng định đó của vị "Vạn thế sư biểu": "đói thì đầu gối phải bò"! Sang trọng ra thì diễn dịch mệnh đề "đầu gối phải bò" như kiểu Mạnh Tử : "có hằng sản mới hằng tâm" để rồi đưa đến một khuyến cáo thật bất ngờ : "không có hằng tâm thì phóng túng, gian dối, bậy bạ, chẳng cái gì là chẳng làm, đến khi phạm pháp thì người cầm quyền vin vào đó mà chém giết họ, như vậy không khác gì đặt lưới mà bẫy họ"[Mạnh Tử. Đằng Văn Công. Thượng].
Xem thế thì ra, cái "đầu gối phải bò" kia chính là nỗi đau của kiếp người.
Vì miếng cơm, manh áo, phải thường xuyên đối mặt với đói rét, cơ cực mà lắm khi con người phải "đi bằng đầu gối", phải chấp nhận "nghèo đi đôi với hèn". Nhưng xin đừng vội lên lớp cho họ khi mà cái quy luật nghiệt ngã của cuộc sống cơ hàn trực tiếp chi phối bản thân họ và vợ con họ. Khi cái đói, cái rét dày vò, khi ốm đau bệnh tật không có tiền chữa chạy, khi vào ngày năm cùng tháng tận trong nhà không còn hạt gạo, con người bị dồn đến chân tường và cái bản năng bật dậy, con người có thể tự đánh mất mình.
Trong những tình huống như vậy thì tự do, dân chủ là những món ăn xa xỉ, chưa hợp khẩu vị. Phải có tấm lòng bao dung cận nhân tình và cái nhìn nhân ái thì mới có thể thấy ra được cái tấm lưới của "người cầm quyền" giăng ra để "bẫy" họ như lời phê phán của vị Á Thánh của đạo Nho dẫn ra ở trên là sâu sắc biết bao về thân phận con người! Mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn, Các Mác đưa ra khẩu hiệu hành động : "nếu hoàn cảnh ảnh hưởng đến con người thì phải làm cho hoàn cảnh trở nên hoàn cảnh có tính người"!
Xét đến cùng, bao sông máu tuôn chảy, bao núi xương chồng chất cũng vì mục tiêu làm cho hoàn cảnh trở nên hoàn cảnh có tính người, khát vọng cao cả của cả loài người. Các thế hệ Việt Nam, người người lớp lớp ngã xuống cũng là vì lý tưởng vĩ đại đó. Trên con đường lý tưởng dài dằng dặc đó, mục tiêu độc lập đã thực hiện được cho dù vẫn còn phải thường trực cảnh giác như ông cha ta đã răn dạy. Và không chỉ răn dạy bằng những trang sử thấm đẫm máu, mồ hôi và nước mắt, mà cả bằng những lời răn tạc vào hình hài sông núi như cách các cụ ta giải thích về 99 ngọn đồi ở Phú Thọ cộng thêm ngọn thứ 100 bị cụt đầu, tượng trưng cho con voi phản bội, lìa đàn, quay về hướng bắc, bị chém chết!
Quyết liệt và hào hùng đến thế tưởng khó nói gì được thêm. Vả chăng, lòng yêu nước là điểm nhạy cảm bậc nhất trong tâm thế người Việt Nam, chạm đến tinh thần dân tộc là chạm đến chỗ sâu kín trầm tích lại trong đời sống tinh thần Việt Nam. Còn "tự do", và nhất là "dân chủ" thì dù sao vẫn là những phạm trù tương đối "mới" mà cái trật tự được áp đặt bao đời của "quân, thần, phụ, tử" đã phủ một lớp bụi quá dày trên đời sống xã hội, hằn sâu trong tập quán ứng xử của con người "thần dân" chưa vươn đến được con người "công dân" khiến cho việc tiếp nhận những phạm trù mới đó không dễ dàng. Phải đứng ở tầm cao của trí tuệ, thấu hiểu được những thành tựu của văn minh, thì mới chỉ ra được rằng nếu độc lập mà dân không được hưởng dân chủ, tự do và hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì ngay từ những ngày đất nước vừa giành được độc lập năm 1945 như Hồ Chí Minh đã khẳng định. Dặm đường "vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh" tự bấy đến nay trên hành trình của dân tộc ta đã nói lên điều đó!
Mà đâu chỉ có ở ta cái mô hình đã một thời áp đặt nay đang từng bước phá bỏ đã sản sinh ra những chuyện "luyện mèo" nói trên. Thì đây, xin nói có sách mách có chứng về chuyện "báo thật và báo giả", một chuyện thật như đùa ở nước láng giềng.
Duyên do là một ngày đẹp trời nọ, tổng biên tập một tờ báo kia được lệnh đưa tin thật, chỉ thay đổi "ngôi vị", từ trang nhất nay chuyển sang trang hai, còn tin vốn nằm tít tận trang tư, trang năm nay đưa lên trang nhất, đã khiến nhiều người dân cho là báo giả! Có chuyện đó là vì họ không sao tin nổi chuyển "thay bậc đổi ngôi" động trời ấy! Là thế này, cuối năm 2006, ông Uông Dương, Bí thư Thành ủy Trùng Khánh lúc ây [hiện nay là một gương mặt nổi lên trong sự lựa chọn nhân sự của Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ diễn ra năm 2012], ra thông báo: "Giới truyền thông phải dành trang đầu cho những tin liên quan đến cơ sở, phục vụ quần chúng".
Ngay lập tức, "Trùng Khánh Nhật báo" số đầu năm 1.1.2007 đã thay đổi bố cục trình bày. Ngay trang nhất, đăng chuyện về một ông xã trưởng họ Hồ, hằng ngày gánh nước cho những người già cả ốm yếu. Tin bí thư Tỉnh ủy Uông Dương thăm Cục Khí tượng Thủy văn thì đăng trang 2. Sự thay đổi đó đã khiến có người cầm tờ báo đọc nghi ngờ tờ "Trùng Khánh Nhật báo" ngày 1.1.2007 ấy là "báo giả", phải mang về nhà đối chiếu với các số báo trước xem có đúng là "Trùng Khánh Nhật báo" thật hay không! Thật mười mươi lại bị ngờ là giả. Cứ như một phiên bản của chuyện Trạng Quỳnh xứ ta ấy. Cả hai câu chưyện kể ra đều rất vắn, song ngẫm cho kỹ, quả thật "khóc hổ ngươi, cười ra nước mắt"!
Người không bị roi quất, nhưng, được ăn quen chỉ một món, thành ghiền. Cái đầu được luyện quen chỉ một cách nghĩ, thị hiếu được rèn theo chỉ một kiểu thưởng thức. Lâu dần, thị hiếu thì cùn mòn, cái đầu thì bé đi, mạch tư duy thì vón cục lại. Đau đớn hơn, không chỉ cái đầu của một người. Cả một nhóm người, một cộng đồng có khi cũng thế! Điều này đã được đại văn hào Lỗ Tấn "gào thét" lên dể đánh thức "quốc dân tính" của người Trung Hoa từ cách nay đã gần một thế kỷ. Vắn tắt như sau :
Kết thúc kiệt tác "A Q chính truyện", Lỗ Tấn nói tới "dư luận", tức là nói tới dân trí, nói tới một thói quen suy nghĩ của cả một cộng đồng : "Còn về dư luận làng Mùi đều nhất trí công nhận rằng : A Q không phải là người lương thiện, chứng cớ là y đã bị bắn, vì rằng : nếu là người lương thiện thì sao lại bị bắn kia chứ!". Nhưng rồi khủng khiếp hơn, đau đớn hơn nữa, khi Lỗ Tấn nói đến một "dư luận" rộng hơn, lớn hơn : "Trên huyện thì dư luận không lấy gì làm hay lắm. Phần nhiều họ không thỏa mãn. Họ bảo : bắn người trông không vui mắt bằng chém. Mà cái tên tử tù kia trông buồn cười thế nào ấy. Đã bị đưa đi bêu phố một hồi như vậy mà cũng không hát lên được một câu, thành ra đi theo nó bao nhiêu đường đất chỉ mất công toi". Tưởng như thấy được máu chảy ra đầu ngọn bút của con người muốn dùng văn chương để thức tỉnh, biến đổi tinh thần nhân dân.
Nếu sống lại, không hiểu Lỗ Tấn sẽ về cái tập tính, vốn để chỉ thói quen tự nhiên của loài vật, nhưng rồi con người cũng nhiễm phải do hệ lụy của cái khung tư duy quá chật chội, khiên cưỡng một chiều quá lâu, khi cái khung đó được nới rộng ra, khi lối mòn trong cảm nhận và thụ hưởng được xóa bỏ, thì đâm ra hoang mang. Chẳng thế mà  báo chí Trùng Khánh dạo ấy, để thực thi quyết định mang tính cách tân của Bí thư Thành ủy Trùng Khánh, người ta phải có hơn hai tháng tập huấn cho tất cả phóng viên, biên tập viên. Rồi, như lời của Bí thư Uông, cũng phải tập một thói quen mới cho người đọc đối với việc tìm thông tin về lãnh đạo ở trang hai. Đúng thôi. Phải tập để làm quen với cái mới. Nhưng là ai tập, tập cho ai? Cho nhà báo, cho bạn đọc.Thì đã đành. Nhưng chưa đủ. Phải tập cho chính những người vốn quen ngồi ở trang nhất như một thứ quyền uy mặc định, nay dịch chuyển sang trang hai. Điều này thật không dễ.
Vì thế mà từ chuyện "Mèo" phải nhảy sang chuyện "Người" để nói thêm về cái điều không dễ ấy. Khi mà cái đầu được luyện quen chỉ một cách nghĩ, một lối đi theo kiểu "đi rừng, người đi sau dẫm lên vết chân của người đi trước" thì rồi sẽ ra sao nhỉ? Mà trên con đường ấy lại lắm ngã ba, ngã tư, rồi ngã sáu, ngã bảy cơ chứ. Vậy là lại phải mượn lại cái vị đắng triết lý của Dương Chu thời Chiến quốc chép trong sách Liệt  Tử về những "ngã ba, ngã bảy" đó để bàn thêm về chuyện mèo chăng.
Chuyện rằng:" Người láng giềng nhà Dương Chu mất một con dê, đã sai hết cả người nhà đi tìm, lại sang nói Dương Chu mượn một người nhà cho đi tìm hộ. Dương Chu nói :" Ôi ! sao mất có một con dê mà cho những bao  nhiêu người đi tìm?" Người láng giềng đáp: "Vì đường có lắm ngã ba". Khi các người tìm dê đã về, Dương Chu hỏi :"Có tìm thấy dê không?" Người láng giềng nói "Không". "Sao lại không tìm thấy"?  "Tại  đường lắm ngã ba, theo các ngã ba đi một chốc lại có nhiều ngã ba khác. Thành thử không không biết đi vào đường nào để tìm thấy dê, phải chịu về không cả". Ấy đường cái, chỉ vì lắm ngã ba mà dê mất không tìm thấy. Người đi học cũng vậy, chỉ vì dễ mê muội mà mất cả lương tâm"!
Dê bị mất, có lạc chuồng thì cũng chỉ chạy nhởn nha trên một nẻo đường, ngưòi đi tìm chẳng khó khăn gì để tóm cổ dắt về. Khổ một nỗi, trên mặt đất vốn không có đường, người ta đi lâu thì thành đường thôi như văn hào Lỗ Tấn đã chỉ ra.
Mà đường thì cũng cơ man kiểu loại, với biết bao "ngã ba", "ngã bảy" có biết bao ngóc ngách, ngang dọc, ngược xuôi. Thì đấy, xin mượn thơ Hồ Xuân Hương để lại bàn rộng ra thêm về những ngã ba ngã bảy của con đường trong cuộc sống muôn màu lắm sắc này. Dưới ngọn bút của thiên tài kỳ nữ Hồ Xuân Hương có biết bao con đường.
Này nhé, có " đường đi thiên thẹo quán cheo leo", nhưng lại cũng có"ngõ ngay thăm thẳm đến nhà ông". Mà rồi cái ngõ "ngay thăm thẳm" này chắc không mù mịt, tối tăm như trong "con đường vô ngạn tối om om". Rồi chắc là con đường vô ngạn tối om om này sẽ không giống chút nào với con đường sông chạy xuyên hang núi có "con thuyền vô trạo cúi lom khom". Thế rồi sự cheo leo của những con đường cũng rất đa dạng và lắm vẻ, nhiều hình, nó thiên thẹo, nó gập ghềnh, nó vắng teo, nó lắt léo, nó nghiêng ngửa, nó vắt ve, nó nổi nênh, nó lênh đênh, nó bập bềnh , nó hỏm hòm hom... Có khi phải leo qua "một đèo một đèo lại một đèo" . Có khi chênh vênh ở "hai bên thì núi giữa thì sông" khiến cho "ở trong hang núi còn hơi hẹp, ra khỏi đầu non đã rộng thùng".
Những con đường uốn lượn trong cảnh sắc kỳ ảo " buổi sớm gió đưa, trưa nắng đứng, ban chiều mây họp tối trăng chơi ", hoặc cũng có khi "gió giật sườn non khua lắc cắc, sóng dồn mặt nước vỗ long bong". Nơi đây "chuông gầm sóng", nơi kia"cơn gió thốc", có chốn "nước biếc cảnh leo teo", lại miền "cây xanh hình uốn éo". Đúng là " thiên hình vạn trạng" thật. Dẫn ra làm sao đủ được vẻ kỳ ảo của những con đường mà "bà Chúa thơ Nôm" đã đi, đã đến, đã vẽ ra trong thơ. Vậy là hóa ra đâu phải chỉ là chuyện con đường với lắm "ngã ba" trong triết lý Dương Chu!
Thế là, từ chuyện mèo mà lạc bước vào chuyện những con đường mà nhà thơ độc nhất vô nhị trong thi ca Việt Nam miêu tả, không chỉ lắm ngã ba ngã bảy mà còn phiêu diêu, kỳ ảo để hiểu rằng, cách đây hơn hai trăm năm, một thiên tài, kỳ nữ đã không cam chịu với con đường đã có sẵn. Con người ấy "đã đến quá sớm trong một xã hội lẩm cẩm mà chưa chịu cho mình là già cỗi " để chống trả với sự áp đặt, bắt mọi ngưòi " sống là cứ nhắm mắt cắm đầu đi trên con đường ấy từ bừng sáng đến tối mịt cuộc đời, không được trông, không được nói cái gì ngoài những cái mà người đi trước đã trông thấy và đã nói; và do đó, cũng không cần phải cảm, phải nghĩ nữa. Và có khi nào người đi , sau những buổi đi mỏi mệt, khi đời đã ngả về chiều, ngồi xuống trông mây nghe gió và sờ đến lòng mình thì lòng đã héo khô bao giờ rồi...Giờ đây, trong cõi thơ của Hồ Xuân Hương ra, con người tự cảm thấy lớn hơn cái thân phận của mình, mạnh hơn cả số mệnh". [Nguyễn Đức Bính ."Người Cổ nguyệt, chuyện Xuân Hương".Tạp Chí Văn Nghệ. Tháng 10.1962].
Thì ra, sự bứt phá khỏi những giáo điều, những khuôn thức xơ cứng và héo mòn kìm hãm sức sống của con người, níu kéo sự phát triển, thời nào cũng có. Trường hợp thiên tài kỳ nữ Hồ Xuân Hương chính là một sự bứt phá quyết liệt. Cái khát vọng phá bỏ những gông xiềng tư tưởng để tìm ra cái mới ở đây mãnh liệt đến nhường nào. Chính từ cái khát vọng đó mà ngày nay chúng ta đồng cảm và trân trọng cái tài thơ độc nhất vô nhị ấy.
Thật ra thì trên hành trình của con người trong suốt chiều dài lịch sử, thời nào cũng có những bứt phá để đẩy lịch sử đi tới. Dương Chu, nhà tư tưởng Trung Hoa thời cổ đại dẫn ra ở trên là một ví dụ. Dấu ấn mà họ để lại chính là một cách nhìn mới giúp con người của thời đoạn lịch sử ấy mạnh dạn đi tới. Có thể dẫn ra đây luận điểm bất hủ của  Marcel Proust trong tác phẩm "Đi tìm thời gian đã mất" mà tạp chí "Time" bầu chọn là một trong tám cuốn sách vĩ đại nhất của mọi thời đại : "một cuộc thám hiểm thật sự không phải ở chỗ tìm kiếm những vùng đất mới, mà ở chỗ cần có đôi mắt mới". Phải có đôi mắt ấy mới nhìn ra được những "ngã ba, ngã bảy" của cuộc sống. Thì chẳng phải Phạm Văn Đồng trong bài báo cuối cùng của mình viết trên báo Nhân Dân ngày 15.5.1999 đã viết : "có thể nói chúng ta đang đứng ở ngã ba đường. Cần thấy hết tình hình, rút ra kết luận nghiêm khắc" đó sao?
Kết luận nghiêm khắc ấy chắc phải mỗi người có lương tri đang đối diện với thời cuộc phải tự rút ra cho mình.
Tiễn đưa năm Mèo, đương nhiên phải nói chuyện Mèo, con vật hiền lành dễ thương thường được ấp ủ, vuốt ve, nhất là với các cháu bé và các thiếu nữ đa cảm [chứ không phải là các nữ quái tuổi học trò đấm nhau tàn nhẫn giữa phố dữ dằn chẳng kém gì các nam nhân]. Ấy thế mà lạ một điều, trong văn học dân gian và cả trong văn chương bác học, hình ảnh con mèo thường được gợi lên không mấy cảm tình. Đại loại như “con mèo mà trèo cây cau, hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà, chú chuột đi chợ đường xa, mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo”.
Chuột chửi mèo là điều dễ hiểu. Nhưng mà cạnh khóe đến thế, tai quái đến thế thì đau cho mèo quá lắm. Nhưng làm sao có thể khác được. Cứ xem lại bức tranh “Đám cưới chuột” thì sẽ vỡ ra rằng, chửi thế chứ ác khẩu hơn, độc địa hơn cũng chưa đủ. Trong bức “tranh Đông Hồ … màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” ấy miêu tả sinh động hình ảnh tưng bừng rộn rã của đám cưới chuột đang hoan hỉ bước đi theo nhịp kèn trống thì, ở phía trước, trên cao, lù lù một con mèo hung dữ đang nằm thu mình lại để chực vọt ra ăn sống nuốt tươi cô, dâu chú rể cùng với đám phù dâu, phù rể và những nghệ nhân tháp tùng. Khủng khiếp quá, vậy là “Đám  cưới chuột đang tưng bừng rộn  rã. Bây giờ tan tác về đâu? [ Hoàng cầm. “Bên kia sông Đuống]. Rõ ràng ở đây con mèo là hình ảnh của cái ác.
Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du thì con mèo lại xuất hiện với hình ảnh quá xấu : “Ra tuồng mèo mả gà đồng” để ám chỉ “Con này chẳng phải thiện nhân, Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng”. “Gà đồng” thì không lấy gì làm xấu, nhưng “mèo mả” thì ghê quá. Nhưng đây là nhà thơ thiên tài đã đưa tục ngữ vào thơ nhuần nhuyễn đến độ không còn phân biệt được đâu là thơ của Nguyễn Du, đâu là tục ngữ. Mà đã là tục ngữ, thì cái lý được trải nghiệm và đúc kết thật khó mà bàn cãi.  Phải chăng có thể tìm thấy ở đây lý do chính để giải mã hình ảnh con mèo trong tâm thế của các tác giả văn học dân gian. Với những người hay lam, hay làm, đầu tắt mặt tối, suốt ngày bán mặt cho đất, bán lưng cho trời trong cuộc mưu sinh, thì sự lười biếng là điều phải quyết liệt lên án. Và thế là mèo, suốt ngày không nằm vùi sưởi ấm bên đống tro bếp thì cũng nằm phơi nắng trước hiên nhà là biểu tượng nổi bật của sự lười biếng đó. Bởi thế mới có hình ảnh về sự lười biếng ấy trong câu tục ngữ : “ăn như rồng cuốn, uống như rồng leo, làm như mèo mửa”!
Kể ra như vậy cũng không công bằng. Mèo ngủ ngày để bù lại đêm mắt mèo sáng quắc để rình bắt chuột, công việc ấy cũng đáng được ghi nhận lắm chứ! Nếu không, sao nhà nào cũng nuôi mèo? Cho dù vậy, hành tung của mèo trong đêm tối, “lao động sản xuất” của mèo với “năng suất cao” trong săn bắt chuột vào ban đêm lại ít đập vào mắt người bằng chuyện “ngủ ngày” của chú mèo đáng thương kia. Chẳng thế mà cụ Nguyễn Công Trứ đã tóm gọn thần thái và đặc trưng tính cách của mèo trong hình ảnh rất giàu tính triết lý : “Con mèo nằm bếp co ro . Ít ăn thì lại ít lo ít làm”. Rồi đến trẻ nhỏ ở lớp mầm non cũng được các cô lấy hình ảnh mèo để dạy các cháu đừng làm điều xấu “Meo meo meo rửa mặt như mèo. Xấu, xầu, xấu chẳng được mẹ yêu”!
Có thể kể dài dài những nết xấu của mèo, nhưng ngẫm cho kỹ cũng tội nghiệp cho con vật hiền lành vốn là bạn của con người, quấn quýt với người, lại là một con vật có ích nên để bớt bất công khi tiếp tục chuyện mèo, xin kể một chuyện mang dáng dấp của tiếu lâm, chuyện luyện mèo của Trạng Quỳnh. Chuyện rằng nhà Chúa [đây là chúa Trịnh lộng hành thời Lê mạt, dân một cổ hai tròng] có một con mèo quý lắm, xích bằng xích vàng và cho ăn toàn cao lương mỹ vị. Quỳnh vào chầu, trông thấy, bắt về, cất xích vàng đi mà buộc xích sắt, nhốt một chỗ, đến bữa thì để hai bát cơm, một bát thịt cá, một bát rau nấu đầu tôm. Mèo ta quen ăn miếng ngon chạy đến bát cơm thịt cá chực ăn. Quỳnh cầm sẵn roi, hễ ăn thì đánh. Mèo đói quá, phải ăn bát rau nấu đầu tôm. Như thế, được hơn nửa tháng, dạy đã vào khuôn, mới thả ra.
Chúa mất mèo, tiếc quá, cho người đi tìm, thấy nhà Quỳnh có một con giống hệt, lệnh cho Quỳnh đem mèo vào chầu. Chúa hỏi: Sao nó giống mèo của ta thế? Hay khanh thấy mèo của ta đẹp bắt đem về, phải nói cho thật! Quỳnh đáp, nghi cho thần bắt trộm, thật là oan, xin chúa thượng đem ra thử thì biết. Thử là thử thế nào, nói ta nghe. Quỳnh đáp: chúa thượng phú quý thì mèo ăn thịt ăn cá, còn hạ thần nghèo túng thì mèo ăn cơm với đầu tôm, rau luộc. Bây giờ để hai bát cơm ấy, xem nó ăn bát nào thì biết ngay. Chúa sai đem ra thử. Con mèo chạy thẳng đến bát cơm rau, ăn sạch. Quỳnh nói: người ta phú quý thì ăn cao lương mỹ vị, bần tiện thì cơm hẩm rau dưa. Mèo cũng vậy, phải theo chủ. Rồi lạy tạ đem mèo về. Chúa bị lỡm mà không làm gì được!
Chuyện trộm mèo và luyện mèo ngẫm kỹ, hóa ra đâu chỉ nói chuyện mèo! Chuyện người đấy. Mượn chuyện mèo, Trạng Quỳnh lỡm chúa, tiếng cười dân gian bật ra sảng khoái. Nhưng sau tiếng cười là giọt nước mắt đắng cay cho thân phận con người. Thân phận con người ư? Gì mà “đao to búa lớn” làm vậy?
Xin thưa rằng : nếu J.J Rousseau, nhà tư tưởng của thế kỷ khai sáng chua chát thừa nhận : “Con người sinh ra đã là tự do, vậy mà ở khắp mọi nơi con người lại bị cùm kẹp” thì C.Mác, tác giả của Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, lại bay bổng trong khát vọng hướng tới một xã hội mà trong đó : “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do do của tất cả mọi người”. Nhưng Voltaire lại ngao ngán thổ lộ : “Tội ác có anh hùng của nó, sai lầm có tử sĩ của nó. Lòng nhiệt thành và vô vọng là những gì chúng ta có”. Còn Hồ Chí Minh thì bằng trải nghiệm của lịch sử dân tộc và cuộc sống của chính mình đã cay đắng thốt lên : “Trên đời ngàn vạn điều cay đắng. Cay đắng chi bằng mất tự do”. 
Chỉ có điều, phải đau đớn mà nhận ra rằng, không phải ai cũng cảm nhận được sự cay đắng cao cả ấy. Miếng cơm manh áo hàng ngày trĩu nặng trên vai của đại đa số những người lầm than, khổ cực trong cuộc mưu sinh đã choán hết chỗ trong đầu óc họ. Thì chẳng thế sao, Khổng Tử, từng khẳng định sòng phẳng : “dân dĩ thực vi thiên”, dân lấy ăn làm trời! Dân gian thì huỵch toẹt bỗ bã nói lên điều khẳng định đó của vị “Vạn thế sư biểu”: “đói thì đầu gối phải bò”! Sang trọng ra thì diễn dịch mệnh đề “đầu gối phải bò” như kiểu Mạnh Tử : “có hằng sản mới hằng tâm” để rồi đưa đến một khuyến cáo thật bất ngờ : “không có hằng tâm thì phóng túng, gian dối, bậy bạ, chẳng cái gì là chẳng làm, đến khi phạm pháp thì người cầm quyền vin vào đó mà chém giết họ, như vậy không khác gì đặt lưới mà bẫy họ”[Mạnh Tử. Đằng Văn Công. Thượng].
Xem thế thì ra, cái “đầu gối phải bò” kia chính là nỗi đau của kiếp người.
Vì miếng cơm, manh áo, phải thường xuyên đối mặt với đói rét, cơ cực mà lắm khi con người phải “đi bằng đầu gối”, phải chấp nhận “nghèo đi đôi với hèn”. Nhưng xin đừng vội lên lớp cho họ khi mà cái quy luật nghiệt ngã của cuộc sống cơ hàn trực tiếp chi phối bản thân họ và vợ con họ. Khi cái đói, cái rét dày vò, khi ốm đau bệnh tật không có tiền chữa chạy, khi vào ngày năm cùng tháng tận trong nhà không còn hạt gạo, con người bị dồn đến chân tường và cái bản năng bật dậy, con người có thể tự đánh mất mình.
Trong những tình huống như vậy thì tự do, dân chủ là những món ăn xa xỉ, chưa hợp khẩu vị. Phải có tấm lòng bao dung cận nhân tình và cái nhìn nhân ái thì mới có thể thấy ra được cái tấm lưới của “người cầm quyền” giăng ra để “bẫy” họ như lời phê phán của vị Á Thánh của đạo Nho dẫn ra ở trên là sâu sắc biết bao về thân phận con người! Mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn, Các Mác đưa ra khẩu hiệu hành động : “nếu hoàn cảnh ảnh hưởng đến con người thì phải làm cho hoàn cảnh trở nên hoàn cảnh có tính người”!
Xét đến cùng, bao sông máu tuôn chảy, bao núi xương chồng chất cũng vì mục tiêu làm cho hoàn cảnh trở nên hoàn cảnh có tính người, khát vọng cao cả của cả loài người. Các thế hệ Việt Nam, người người lớp lớp ngã xuống cũng là vì lý tưởng vĩ đại đó. Trên con đường lý tưởng dài dằng dặc đó, mục tiêu độc lập đã thực hiện được cho dù vẫn còn phải thường trực cảnh giác như ông cha ta đã răn dạy. Và không chỉ răn dạy bằng những trang sử thấm đẫm máu, mồ hôi và nước mắt, mà cả bằng những lời răn tạc vào hình hài sông núi như cách các cụ ta giải thích về 99 ngọn đồi ở Phú Thọ cộng thêm ngọn thứ 100 bị cụt đầu, tượng trưng cho con voi phản bội, lìa đàn, quay về hướng bắc, bị chém chết!
Quyết liệt và hào hùng đến thế tưởng khó nói gì được thêm. Vả chăng, lòng yêu nước là điểm nhạy cảm bậc nhất trong tâm thế người Việt Nam, chạm đến tinh thần dân tộc là chạm đến chỗ sâu kín trầm tích lại trong đời sống tinh thần Việt Nam. Còn “tự do”, và nhất là “dân chủ” thì dù sao vẫn là những phạm trù tương đối “mới” mà cái trật tự được áp đặt bao đời của “quân, thần, phụ, tử” đã phủ một lớp bụi quá dày trên đời sống xã hội, hằn sâu trong tập quán ứng xử của con người “thần dân” chưa vươn đến được con người “công dân” khiến cho việc tiếp nhận những phạm trù mới đó không dễ dàng. Phải đứng ở tầm cao của trí tuệ, thấu hiểu được những thành tựu của văn minh, thì mới chỉ ra được rằng nếu độc lập mà dân không được hưởng dân chủ, tự do và hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì ngay từ những ngày đất nước vừa giành được độc lập năm 1945 như Hồ Chí Minh đã khẳng định. Dặm đường “vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh” tự bấy đến nay trên hành trình của dân tộc ta đã nói lên điều đó!
Mà đâu chỉ có ở ta cái mô hình đã một thời áp đặt nay đang từng bước phá bỏ đã sản sinh ra những chuyện “luyện mèo” nói trên. Thì đây, xin nói có sách mách có chứng về chuyện “báo thật và báo giả”, một chuyện thật như đùa ở nước láng giềng.
Duyên do là một ngày đẹp trời nọ, tổng biên tập một tờ báo kia được lệnh đưa tin thật, chỉ thay đổi “ngôi vị”, từ trang nhất nay chuyển sang trang hai, còn tin vốn nằm tít tận trang tư, trang năm nay đưa lên trang nhất, đã khiến nhiều người dân cho là báo giả! Có chuyện đó là vì họ không sao tin nổi chuyển “thay bậc đổi ngôi” động trời ấy! Là thế này, cuối năm 2006, ông Uông Dương, Bí thư Thành ủy Trùng Khánh lúc ây [hiện nay là một gương mặt nổi lên trong sự lựa chọn nhân sự của Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ diễn ra năm 2012], ra thông báo: “Giới truyền thông phải dành trang đầu cho những tin liên quan đến cơ sở, phục vụ quần chúng”.
Ngay lập tức, “Trùng Khánh Nhật báo” số đầu năm 1.1.2007 đã thay đổi bố cục trình bày. Ngay trang nhất, đăng chuyện về một ông xã trưởng họ Hồ, hằng ngày gánh nước cho những người già cả ốm yếu. Tin bí thư Tỉnh ủy Uông Dương thăm Cục Khí tượng Thủy văn thì đăng trang 2. Sự thay đổi đó đã khiến có người cầm tờ báo đọc nghi ngờ tờ “Trùng Khánh Nhật báo” ngày 1.1.2007 ấy là “báo giả”, phải mang về nhà đối chiếu với các số báo trước xem có đúng là “Trùng Khánh Nhật báo” thật hay không! Thật mười mươi lại bị ngờ là giả. Cứ như một phiên bản của chuyện Trạng Quỳnh xứ ta ấy. Cả hai câu chưyện kể ra đều rất vắn, song ngẫm cho kỹ, quả thật “khóc hổ ngươi, cười ra nước mắt”!
Người không bị roi quất, nhưng, được ăn quen chỉ một món, thành ghiền. Cái đầu được luyện quen chỉ một cách nghĩ, thị hiếu được rèn theo chỉ một kiểu thưởng thức. Lâu dần, thị hiếu thì cùn mòn, cái đầu thì bé đi, mạch tư duy thì vón cục lại. Đau đớn hơn, không chỉ cái đầu của một người. Cả một nhóm người, một cộng đồng có khi cũng thế! Điều này đã được đại văn hào Lỗ Tấn “gào thét” lên dể đánh thức “quốc dân tính” của người Trung Hoa từ cách nay đã gần một thế kỷ. Vắn tắt như sau :
 Kết thúc kiệt tác “A Q chính truyện”, Lỗ Tấn nói tới “dư luận”, tức là nói tới dân trí, nói tới một thói quen suy nghĩ của cả một cộng đống : “Còn về dư luận làng Mùi đều nhất trí công nhận rằng : A Q không phải là người lương thiện, chứng cớ là y đã bị bắn, vì rằng : nếu là người lương thiện thì sao lại bị bắn kia chứ!”. Nhưng rồi khủng khiếp hơn, đau đớn hơn nữa, khi Lỗ Tấn nói đến một “dư luận” rộng hơn, lớn hơn : “Trên huyện thì dư luận không lấy gì làm hay lắm. Phần nhiều họ không thỏa mãn. Họ bảo : bắn người trông không vui mắt bằng chém. Mà cái tên tử tù kia trông buồn cười thế nào ấy. Đã bị đưa đi bêu phố một hồi như vậy mà cũng không hát lên được một câu, thành ra đi theo nó bao nhiêu đường đất chỉ mất công toi”. Tưởng như thấy được máu chảy ra đầu ngọn bút của con người muốn dùng văn chương để thức tỉnh, biến đổi tinh thần nhân dân.
Nếu sống lại, không hiểu Lỗ Tấn sẽ về cái tập tính, vốn để chỉ thói quen tự nhiên của loài vật, nhưng rồi con người cũng nhiễm phải do hệ lụy của cái khung tư duy quá chật chội, khiên cưỡng một chiều quá lâu, khi cái khung đó được nới rộng ra, khi lối mòn trong cảm nhận và thụ hưởng được xóa bỏ, thì đâm ra hoang mang. Chẳng thế mà  báo chí Trùng Khánh dạo ấy, để thực thi quyết định mang tính cách tân của Bí thư Thành ủy Trùng Khánh, người ta phải có hơn hai tháng tập huấn cho tất cả phóng viên, biên tập viên. Rồi, như lời của Bí thư Uông, cũng phải tập một thói quen mới cho người đọc đối với việc tìm thông tin về lãnh đạo ở trang hai. Đúng thôi. Phải tập để làm quen với cái mới. Nhưng là ai tập, tập cho ai? Cho nhà báo, cho bạn đọc.Thì đã đành. Nhưng chưa đủ. Phải tập cho chính những người vốn quen ngồi ở trang nhất như một thứ quyền uy mặc định, nay dịch chuyển sang trang hai. Điều này thật không dễ.
Vì thế mà từ chuyện “Mèo” phải nhảy sang chuyện “Người” để nói thêm về cái điều không dễ ấy. Khi mà cái đầu được luyện quen chỉ một cách nghĩ, một lối đi theo kiểu “đi rừng, người đi sau dẫm lên vết chân của người đi trước” thì rồi sẽ ra sao nhỉ? Mà trên con đường ấy lại lắm ngã ba, ngã tư, rồi ngã sáu, ngã bảy cơ chứ. Vậy là lại phải mượn lại cái vị đắng triết lý của Dương Chu thời Chiến quốc chép trong sách Liệt  Tử về những “ngã ba, ngã bảy” đó để bàn thêm về chuyện mèo chăng.
Chuyện rằng:" Người láng giềng nhà Dương Chu mất một con dê, đã sai hết cả người nhà đi tìm, lại sang nói Dương Chu mượn một người nhà cho đi tìm hộ. Dương Chu nói :" Ôi ! sao mất có một con dê mà cho những bao  nhiêu người đi tìm?" Người láng giềng đáp: "Vì đường có lắm ngã ba". Khi các người tìm dê đã về, Dương Chu hỏi :"Có tìm thấy dê không?" Người láng giềng nói "Không". "Sao lại không tìm thấy”?  "Tại  đường lắm ngã ba, theo các ngã ba đi một chốc lại có nhiều ngã ba khác. Thành thử không không biết đi vào đường nào để tìm thấy dê, phải chịu về không cả". Ấy đường cái, chỉ vì lắm ngã ba mà dê mất không tìm thấy. Người đi học cũng vậy, chỉ vì dễ mê muội mà mất cả lương tâm”! 
Dê bị mất, có lạc chuồng thì cũng chỉ chạy nhởn nha trên một nẻo đường, ngưòi đi tìm chẳng khó khăn gì để tóm cổ dắt về. Khổ một nỗi, trên mặt đất vốn không có đường, người ta đi lâu thì thành đường thôi như văn hào Lỗ Tấn đã chỉ ra.
Mà đường thì cũng cơ man kiểu loại, với biết bao "ngã ba", "ngã bảy" có biết bao ngóc ngách, ngang dọc, ngược xuôi. Thì đấy, xin mượn thơ Hồ Xuân Hương để lại bàn rộng ra thêm về những ngã ba ngã bảy của con đường trong cuộc sống muôn màu lắm sắc này. Dưới ngọn bút của thiên tài kỳ nữ Hồ Xuân Hương có biết bao con đường.
Này nhé, có " đường đi thiên thẹo quán cheo leo", nhưng lại cũng có"ngõ ngay thăm thẳm đến nhà ông". Mà rồi cái ngõ "ngay thăm thẳm” này chắc không mù mịt, tối tăm như trong "con đường vô ngạn tối om om". Rồi chắc là con đường vô ngạn tối om om này sẽ không giống chút nào với con đường sông chạy xuyên hang núi có "con thuyền vô trạo cúi lom khom". Thế rồi sự cheo leo của những con đường cũng rất đa dạng và lắm vẻ, nhiều hình, nó thiên thẹo, nó gập ghềnh, nó vắng teo, nó lắt léo, nó nghiêng ngửa, nó vắt ve, nó nổi nênh,  nó lênh đênh, nó bập bềnh , nó hỏm hòm hom… Có khi phải leo qua "một đèo một đèo lại một đèo" . Có khi chênh vênh ở "hai bên thì núi giữa thì sông" khiến cho "ở trong hang núi còn hơi hẹp, ra khỏi đầu non đã rộng thùng".
Những con đường uốn lượn trong cảnh sắc kỳ ảo " buổi sớm gió đưa, trưa nắng đứng, ban chiều mây họp tối trăng chơi ”, hoặc cũng có khi "gió giật sườn non khua lắc cắc, sóng dồn mặt nước vỗ long bong". Nơi đây "chuông gầm sóng", nơi kia"cơn gió thốc", có chốn "nước biếc cảnh leo teo", lại miền "cây xanh hình uốn éo". Đúng là “ thiên hình vạn trạng” thật. Dẫn ra làm sao đủ được vẻ kỳ ảo của những con đường mà "bà Chúa thơ Nôm" đã đi, đã đến, đã vẽ ra trong thơ. Vậy là hóa ra đâu phải chỉ là chuyện con đường với lắm "ngã ba" trong triết lý Dương Chu!
Thế là, từ chuyện mèo mà lạc bước vào chuyện những con đường mà nhà thơ độc nhất vô nhị trong thi ca Việt Nam miêu tả, không chỉ lắm ngã ba ngã bảy mà còn phiêu diêu, kỳ ảo để hiểu rằng, cách đây hơn hai trăm năm, một thiên tài, kỳ nữ đã không cam chịu với con đường đã có sẵn. Con người ấy "đã đến quá sớm trong một xã hội lẩm cẩm mà chưa chịu cho mình là già cỗi ” để chống trả với sự áp đặt, bắt mọi ngưòi " sống là cứ nhắm mắt cắm đầu đi trên con đường ấy từ bừng sáng đến tối mịt cuộc đời, không được trông, không được nói cái gì ngoài những cái mà người đi trước đã trông thấy và đã nói; và do đó, cũng không cần phải cảm, phải nghĩ nữa. Và có khi nào người đi , sau những buổi đi mỏi mệt, khi đời đã ngả về chiều, ngồi xuống trông mây nghe gió và sờ đến lòng mình thì lòng đã héo khô bao giờ rồi…Giờ đây, trong cõi thơ của Hồ Xuân Hương ra, con người tự cảm thấy lớn hơn cái thân phận của mình, mạnh hơn cả số mệnh". [Nguyễn Đức Bính ."Người Cổ nguyệt, chuyện Xuân Hương".Tạp Chí Văn Nghệ. Tháng 10.1962].
Thì ra, sự bứt phá khỏi những giáo điều, những khuôn thức xơ cứng và héo mòn kìm hãm sức sống của con người, níu kéo sự phát triển, thời nào cũng có. Trường hợp thiên tài kỳ nữ Hồ Xuân Hương chính là một sự bứt phá quyết liệt. Cái khát vọng phá bỏ những gông xiềng tư tưởng để tìm ra cái mới ở đây mãnh liệt đến nhường nào. Chính từ cái khát vọng đó mà ngày nay chúng ta đồng cảm và trân trọng cái tài thơ độc nhất vô nhị ấy.
Thật ra thì trên hành trình của con người trong suốt chiều dài lịch sử, thời nào cũng có những bứt phá để đẩy lịch sử đi tới. Dương Chu, nhà tư tưởng Trung Hoa thời cổ đại dẫn ra ở trên là một ví dụ. Dấu ấn mà họ để lại chính là một cách nhìn mới giúp con người của thời đoạn lịch sử ấy mạnh dạn đi tới. Có thể dẫn ra đây luận điểm bất hủ của  Marcel Proust trong tác phẩm “Đi tìm thời gian đã mất” mà tạp chí “Time” bầu chọn là một trong tám cuốn sách vĩ đại nhất của mọi thời đại : “một cuộc thám hiểm thật sự không phải ở chỗ tìm kiếm những vùng đất mới, mà ở chỗ cần có đôi mắt mới”. Phải có đôi mắt ấy mới nhìn ra được những “ngã ba, ngã bảy” của cuộc sống. Thì chẳng phải Phạm Văn Đồng trong bài báo cuối cùng của mình viết trên báo Nhân Dân ngày 15.5.1999 đã viết : "có thể nói chúng ta đang đứng ở ngã ba đường. Cần thấy hết tình hình, rút ra kết luận nghiêm khắc” đó sao?
Kết luận nghiêm khắc ấy chắc phải mỗi người có lương tri đang đối diện với thời cuộc phải tự rút ra cho mình.


           NGHĨ VỀ BẢN LĨNH VIỆT NAM
                          
(Đăng trên số TẾT của Tạp chí “XƯA & NAY”) 



Nói về bản lĩnh, xin dẫn ra khuyến cáo của Kant, nhà triết học Đức vĩ đại đã có ảnh hưởng lớn đến tư duy của nhiều thế hệ : “Sapere aude! [Hãy dám có tư duy sáng suốt] Hãy dũng cảm sử dụng lý trí của chính mình” bởi vì  “khai sáng là sự vượt thoát của con người khỏi trạng thái vị thành niên tự kỷ” vốn “thiếu vắng sự quyết đoán và dũng khí để sử dụng lý trí mà không cần đến sự chỉ đạo”. [Will Durant. “The story of philosophy”]. Thực ra thì cách đây hơn tám trăm năm một nhà sư Việt Nam, Thiền sư Quảng Nghiêm đã đòi hỏi lớp trẻ  không dẫm lên lối mòn mà phải tìm cho mình một cách đi riêng :                   
                Nam nhi tự hữu xung thiên  chí                                  
                 Hưu hướng Như Lai hành xứ hành  
                 “Làm trai phải tự có chí xung trời thẳm
                 Đừng nhọc mình dẫm theo vết chân Như Lai”
 

Phải chăng đây chính là bản lĩnh Việt Nam?
Chẳng phải ngẫu nhiên mà câu nói của Trần Bình Trọng “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc” lại được ghi nhận như là một ứng xử tiêu biểu cho khí phách Việt Nam. Mà thật oái oăm, đây là thái độ người đang bị gươm thù kề cổ! Không là người chiến thắng, song tuyệt đối không là người chiến bại, ngược lại, với tư thế hiên ngang đối diện với kẻ thù, người ấy đang lấy cái chết làm một đòn tiến công.
Dân tộc này hiểu quá rõ sự thách đố nghiệt ngã trong cái thế “trứng chọi đá” của vị trí địa chiến lược của đất nước bên cạnh người láng giềng khổng lồ mà những thế lực cầm quyền hiếu chiến chưa bao giờ nguôi cuồng vọng “bình thiên hạ”! Các triều đại thống trị Trung Hoa từ Tần Hán cho đến Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh … chưa bao giờ từ bỏ mộng bành trướng về phía nam mà bản đảo hình chữ S này thì như một cục xương mắc giữa họng, không cho họ nuốt trôi Đông Nam Á! Xa xưa đã vậy và nay thì cũng đang như vậy.
Thì đây, tuy chẳng hay ho gì, song vẫn buộc phải đưa ra những điều mà báo chí Trung  Quốc vừa viết ra những lời “gan ruột” của họ:“Ông Đặng năm đó đã nói một câu: trẻ con không nghe lời phải đét đít. Sau đó 10 vạn đại quân điều tới biên cương. Còn bây giờ thì sao? Trẻ con không những không nghe lời mà còn hoàn toàn không thèm để mắt tới người lớn. Ngang nhiên nói, tiến hành bầu cử quốc dân trên các đảo bãi xâm chiếm phi pháp tại Biển Đông, còn gào thét đó là công việc nội bộ của quốc gia, nói là, phải dùng vũ lực bảo vệ chủ quyền thần thánh không thể xâm phạm của đất nước mình. Điều đó chẳng phải là chống lại trời thì là cái gì. Liệu không thể đét đít chăng? Không cho bài học, từ nay trở đi liệu có ổn không? Không đánh bây giờ thì đợi đến khi nào?” *
Mà từ xa xưa họ vẫn “đợi” đấy thôi!
Chính vì thế, từ bao đời, ông cha ta thường xuyên răn dạy tinh thần cảnh giác trong mọi ứng xử với “thiên triều”. Phải biết tiến, biết thoái, biết nhu, biết cương nhưng luôn giữ vững khí phách kiên cường, không bao giờ khuất phục. Điều răn ấy không chỉ là những câu ghi vào sử sách, mà còn được tạc vào hình hài núi sông bằng những truyền thuyết, những huyền thoại sống động. Chẳng hạn như 99 ngọn núi ở vùng trung du được giải thích là tượng trưng cho 99 con voi và một tượng trưng cho voi bị chém cụt đầu do quay về hướng bắc! Hoặc câu chuyện về câu đối “Đằng giang tự cổ huyết do hồng!” ( Sông Bạch Đằng từ xưa đỏ vì máu) của sứ thần Giang Văn Minh đáp lại thái độ ngạo mạn của Sùng Trinh, vua nhà Minh trong câu “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục!” ( Cột đồng xưa giờ đã rêu xanh ) luôn được truyền tụng!
Cọc gỗ Bạch Đằng vẫn mãi mãi trụ vững trong khí phách Việt Nam tự bao đời.
Nên nhớ rằng, với nhiều giải pháp và sách lược nhằm duy trì mối quan hệ với đế chế Trung Hoa qua các triều đại, kể cả cử người đóng vai thay thế chứ về nguyên tắc thì không một vị vua Việt Nam nào chịu sang triều phục các hoàng đế Trung Hoa cả. Thậm chí khi đã rời bỏ ngai vàng lên núi Yên Tử dựng chùa, nghiền ngẫm về đạo Phật, mở ra một trường phái Thiền Trúc Lâm, song Trần Nhân Tông vẫn khôn nguôi chuyện cảnh giác với kẻ thù.
Trong “Trúc lâm tông chỉ nguyên thanh”, Ngô Thời Nhiệm đã có lời bình thâm thúy về chuyện này như sau : “Người ta thấy Điều Ngự đệ nhất tổ đến ở chùa Hoa Yên thì bảo Ngài xuất gia,[nhưng] ta biết rằng Đức Ngài lúc bấy giờ biết xem thiên hạ là công trong mối vô sự; nhưng ở phía Bắc vẫn có nước láng giềng mạnh mẽ, chưa được an tâm. Cái ý ấy không tiện nói ra, sợ người dao động, cho nên nhắm được núi Yên Tử là núi cao nhất, phía Đông nhìn về Yên Quảng, phía bắc liếc sang hai tỉnh Lạng, dựng nên ngôi chùa, thời thường dạo chơi để xem động tĩnh, cốt để ngừa cái mối lo nước ngoài xâm phạm. Thật là một vị Vô Lượng Đại Thế Chí Bồ Tát...”.
Cũng có nhiều bàn thảo về điều này, như có ý kiến cho rằng đây không phải là lời Ngô Thời Nhiệm, song với trích dẫn này, điều cốt yếu là ở thông điệp của ông cha ta gửi cho hậu thế : ý thức thường trực cảnh giác, “ngừa cái mối lo nước ngoài xâm phạm”, là một đòi hỏi sống còn của dân tộc. Cách giải thích mà có người cho là có phần khiên cưỡng ấy thật ra là nhằm đề cao lòng yêu nước và tinh thần cảnh giác, đối lập với những kẻ ươn hèn hốt hoảng núp bóng ngoại bang như Trần Di Ái, Trần Ích Tắc, những kẻ đã bôi nhọ tinh thần Đông A, muôn đời bị nguyền rủa. Sử chép : “Ích Tắc đã từng gửi thư riêng cho khách buôn ở Vân Đồn xin quân Nguyên xuống nam. Đến nay, người Nguyên vào cướp, Ích tắc xin hàng chúng để mong được làm vua. Người Nguyên phong làm An Nam Quốc Vương. Sau khi quân Nguyên thất bại, Ích Tắc trong lòng hổ thẹn, chết ở đất Bắc!”**.
Có những kẻ “đi vào lịch sử” với những dòng nghiệt ngã như vậy, nhưng lịch sử cũng ghi lại chuyện một hiền thần không phải là quý tộc họ Trần từng khiến tướng giặc Ô Mã Nhi phải thốt lên : “người này …có thể nói là không nhục mệnh vua. Nước nó còn có người giỏi, chưa thể mưu tính được”.* Đó là chuyện Đỗ Khắc Chung tại trại giặc. Khi Ô Mã Nhi hỏi : “Quốc Vương ngươi vô lễ, sai người thích chữ Sát Thát, khinh nhờn thiên binh, lỗi ấy to lắm”. Khắc Chung dõng dạc đáp : “Vì lòng trung phẫn mà họ tự thích chữ thôi, Quốc vương tôi không biết việc đó. Tôi là cận thần, tại sao lại không có”. Nói rồi giơ cánh tay cho xem...[Ô Mã Nhi] sai người đuổi theo Khắc Chung nhưng không kịp”(Bản kỷ toàn thư. Quyển V. Kỷ nhà Trần).** Có thể gọi là thông minh khi tên tướng xâm lược hiểu ra được một chân lý : khi một nước “còn có người giỏi, [thì] chưa thể mưu tính được”. Và thật dễ hiểu, để “mưu tính” thì phải làm cho nước ấy hết người giỏi. Mà mua chuộc người giỏi không được thì phải tìm cách trừ khử, “sai người đuổi theo” chính là để thực hiện chuyện ấy đấy thôi, đó là thủ đoạn muôn đời, xưa nay vẫn thế!
Với đôi mắt điềm tĩnh và nghiêm cẩn, ông cha ta nhìn thấu gan ruột của kẻ thù để rồi răn dạy cháu con biết cách gìn giữ mỗi thước núi, tấc sông từng thấm đẫm máu xương của thế hệ Việt Nam này tiếp nối thế hệ Việt Nam khác. Lời răn dạy đó được ghi nhớ nằm lòng của mọi thế hệ Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử giữ vững tư thế “có cứng mới đứng được đầu gió”. Gió Biển Đông gầm gào những cơn sóng dữ đến từ Thái Bình Dương, thách thức sự cứng cỏi của dân tộc này trong quyết tâm tồn tại và phát triển. Rồi từng đợt, từng đợt gió Biển Đông lại dồn kết với gió mùa đông bắc đem cái lạnh buốt từ phương Bắc để nắn gân cốt và làm dày dạn thêm kinh nghiệm, làm giàu có thêm tri thức, đặng bồi đắp cho nền văn minh lúa nước miền nhiệt đới gió mùa này ngày mỗi trù phú thêm, dẻo dai thêm để sinh sôi, nảy nở không gì cản nổi!
Nếu “lịch sử một nền văn minh là sự tìm tòi trong những tọa độ cũ, những tọa độ mà ngày nay vẫn còn giá trị” [Fernand Braudel] những điều dẫn ra ở trên chính là cách tìm lại những giá trị từ “những tọa độ cũ” của những thông điệp đang hàm chứa nội dung thời sự nóng bỏng. Lịch sử là một nhân tố mà thiếu nó thì không một ý thức dân tộc nào có thể đứng vững được cả. Mà một khi ý thức dân tộc bị phôi pha, bị che lấp bởi nhiều lực hút khác thì đó là báo hiệu của sự suy tàn của một quốc gia. Những thông điệp kiểu như vậy, từ những tọa độ có sức âm vang lịch sử như thế, sẽ góp phần nung nấu, giục giã ý thức dân tộc, điểm nhạy cảm nhất trong tâm tư tình cảm người Việt Nam ta. Sẽ đánh mất một động lực cực lớn nếu không thấy hết nét đặc trưng làm nên điểm nhạy cảm độc đáo nhất trong tâm thức người Việt để biết cách nuôi dưỡng, khai thác, phát huy chứ không để cho mai một đi bởi một cách nhìn thiển cận.
Đừng quên rằng, lịch sử là một sự vận động trong thế tương quan giữa nhiều lực nhằm tìm ra một hợp lực, vạch ra con đường đi của nó. Ngày từ đầu, và cho đến bây giờ và mãi mãi, những hợp lực ấy vẫn do các cá nhân hiện thực tạo ra song vẫn không là phụ thuộc vào cá nhân họ. Phải chăng vì thế mà Hégel cho rằng động cơ của những nhân vật lịch sử, thật ra, không phải là những nguyên nhân cuối cùng của lịch sử. Cái hợp lực tạo ra sức mạnh của một dân tộc, viết nên những trang hào hùng của lịch sử dân tộc, chính là quần chúng nhân dân : những người theo mệnh lệnh của trái tim đã có mặt đúng lúc, đúng thời điểm cần có họ.
Vả chăng, tiến hóa là một quá trình liên tục làm tăng thêm độ phức tạp toàn thể của hệ thống, bằng việc làm nảy sinh thêm nhiều yếu tố mới, nhiều mối tương tác mới, tạo thêm nhiều khả năng xuất hiện những thuộc tính hợp trội mới. Các trật tự do hợp trội mà thành, các thuộc tính do hợp trội mà có là sản phẩm từ dưới lên, chứ không phải chỉ là do từ trên xuống. Vấn đề là làm sao để sức mạnh từ dưới lên ấy tạo áp lực mạnh mẽ thúc đẩy ý chí và quyết tâm của bộ phận lãnh đạo nhận ra và tìm cách phát huy sức mạnh hợp trội ấy. Biết cách làm bừng nở những nhân tố hợp thành sức mạnh hợp trội ấy thì một cục diện mới sẽ mở ra.
Lịch sử Việt Nam đã từng chứng minh điều đó. Cho nên, gợi lại lịch sử là để hiểu sâu hơn về những mệnh lệnh của trái tim yêu nước từng đẩy tới những hành động, những sự kiện mà nếu nhìn từ bên ngoài thì chỉ là những biểu hiện đơn lẻ, bình thường, rời rạc, nhưng từ những sự kiện lẻ tẻ, rời rạc mang tính tự phát ấy phải thấy cho ra sức mạnh tiềm ẩn không sao lường hết được của tinh thần yêu nước và khí phách Việt Nam. Biết khơi dậy, nuôi dưỡng và phát huy sức mạnh được khởi nguồn từ mệnh lệnh trái tim ấy chính là bản lĩnh của người lãnh đạo. Làm phôi pha, thất thoát sức mạnh đó là có tội với dân tộc, với lịch sử.
Mà lịch sử thì luôn nghiêm cẩn và sòng phẳng với tất cả các quốc gia, dân tộc chứ đâu chỉ riêng dân tộc Việt Nam ta! Khi buộc phải đưa lại trên trang viết những dòng láo xược từ những trang báo viết tiếng Hoa chính là nhằm không chỉ để người Việt Nam hiểu rõ mưu toan của thế lực hiếu chiến với cuồng vọng bành trướng, mà còn giúp những người Trung Quốc trung thực và lương thiện hiểu thêm về điều ấy. Trước hết là nói với những thanh niên sinh viên và trí thức Trung Quốc, tác giả của cuộc vận động Ngũ Tứ lịch sử, những người từng là nạn nhân của những “Đại nhảy vọt” và “Đại cách mạng vô sản” đã giết chết non nửa triệu người Trung Quốc!
Họ cũng không thể không biết sự thật khủng khiếp về những tội ác đã được gây nên trên đất nước họ do chính những ngòi bút trung thực viết nên. Xin chỉ trích ra đây vài mẩu tin trong cuốn sách “Mao Trạch Đông – Ngàn năm công tội” do đại tá Tân Tử Lăng, một nhà nghiên cứu và giảng dạy tại Học viện Quân sự cấp cao Trung Quốc [Thông Tấn Xã Việt Nam đã xuất bản] : Theo số liệu chính thức do Bộ Chính trị ĐCSTrung Quốc giải mật tháng 9-2005, sau 4 năm Mao phát động “cao trào xã hội chủ nghĩa ở nông thôn” có tới 37,55 triệu người chết đói. Rồi cuộc “Đại cách mạng văn hóa vô sản” kéo dài 10 năm đã lấy thêm sinh mạng của gần 20 triệu người Trung Quốc. Cũng theo tài liệu “giải mật” này, những năm ấy Tín Dương có hơn một triệu người chết đói. Trịnh Đại Quân, một cán bộ Ban Công tác nông thôn huyện Sùng Khánh kể rằng, một đội sản xuất có 82 hộ, chỉ trong một năm, từ tháng 12-1959 đến 11-1960 có 48 bé gái 7 tuổi trở xuống bị người lớn làm thịt, chiếm 90% số bé gái cùng độ tuổi. Trịnh Đại Quân kể : người ta phát hiện ra vụ ăn thịt trẻ em đầu tiên do toán điều tra nhìn thấy “một làn khói mỏng tỏa ra từ mái nhà bần nông Mạc Nhị Oa”. Họ bao vây, vu hồi, rồi đồng loạt nhảy vào: “Nhà Nhị Oa tám nhân khẩu, đã chết đói hai, nhưng chỉ còn lại năm. Bé gái Thụ Tài đang bị luộc trong nồi. Trong lúc tổ tuần tra tìm dây trói can phạm, Nhị Oa và mấy đứa con lao vào cướp thịt Thụ Tài nhai ngấu nghiến”. Nạn ăn thịt trẻ con sau đó còn lan ra: “Kẻ nhẫn tâm thì ăn thịt con ngay tại nhà mình. Kẻ mềm yếu hơn thì gạt nước mắt đổi con với hàng xóm…”
Chao ôi, chẳng phải chính Lỗ Tấn đã từng lên án cái thứ “văn hóa ăn thịt người” trong “Nhật ký người điên” với nhân vật Ngụy Liên Thù in trong tập “Gào thét” đó sao?  Mà chẳng phải chỉ Lỗ Tấn, mới đây, Christopher Goscha đã sưu tầm và dịch cho CWIHP một tài liệu được lưu giữ tại  Thư viện Quân đội Nhân dân ở Hà Nội nói về những ý kiến của Lê Duẩn liên quan đến thứ “văn hóa ăn thịt người” đó. Trong ảnh chụp những dòng ghi trong nhật ký của vị Tổng bí thư lúc ấy có dòng chữ viết tay : “Phải xây dựng hạnh phúc cho nhân dân. Muốn có hạnh phúc cho nhân dân phải giàu mạnh và hùng cường. Đó là vì vị trí lịch sử và địa dư của Việt Nam. Không thể khác được. Vì chúng ta ở bên cạnh một nước mà lịch sử của nước đó chưa ra khỏi cuộc sống người ăn thịt người”.

Ở sát cạnh một quốc gia khổng lồ, nhân dân Việt Nam bao đời luôn muốn sống hòa hiếu với nhân dân Trung Quốc anh em “núi liền núi, sông liền sông, chung một Biển Đông…” như lời một bài hát nọ từng nói lên nguyện vọng thiết tha ấy. Dân tộc ta muốn hòa hiếu, vì đó là nhu cầu để tồn tại và phát triển trong cái vị trí địa - chính trị đặc thù của bán đảo hình chữ S, nằm ở ngả ba, ngả tư của giao lộ quốc tế huyết mạch trên đường biển nối liến Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, cửa ngỏ tiến về Đông Nam Á.Tuy nhiên, kinh nghiệm lịch sử đã cho thấy, chỉ giữ được hòa hiếu khi chúng ta có đủ thực lực.
Không ai cho không chúng ta sự hòa hiếu. Xưa kia, khi Nguyễn Trãi vì muốn “sửa hòa hiếu cho hai nước, tắt muôn đời chiến tranh” đã phải “nghĩ kế lâu dài đất nước, tha kẻ hàng mười vạn sĩ binh” . Muốn và làm được như vậy vì thực lực của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nhà Minh thế kỷ XV lúc ấy “Gươm mài đá, đá núi cũng mòn; voi uống nước, nước sông phải cạn”, đã từng đánh cho quân Minh những trận kinh hồn tán đởm như“Trận Bồ Đằng sấm vang sét dậy, miền Trà Lân trúc phá tro bay” . Có vậy mới đến được “Hội thề Đông Quan”, mở lối về cho quân xâm lược : “Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền ra đến bề chưa thôi trống ngực, Vương Thông Mã Anh, phát cho nghìn cỗ ngựa, về đến Tàu còn đổ mồ hôi” [Cáo Bình Ngô] ** Từ bài học lịch sử, chúng ta hiểu sâu hơn về ngày hôm nay. Hòa hiếu và hội nhập để phát triển phải được xây đắp trên cái nền vững chắc của ý chí quật cường và sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc. Đó là điểm tựa “bất biến” để mà “ứng vạn biến”.
 Bài học về thế và lực, bài học của ý chí quật cường và bản lĩnh dám chủ động tiến công và biết cách giành thắng lợi chói ngời trong lịch sử truyền thống dân tộc cần phải được thường xuyên học lại, từ người lãnh đạo cho đến mỗi người Việt Nam hôm nay.
Chúng ta luôn muốn được là bạn của thế giới. Nhưng để thực hiện điều đó lại không tùy thuộc vào mong muốn và thiện chí của ta. Còn nhớ, trước ngày toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp một năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng tuyên bố Việt Nam muốn “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”, “thái độ nước Việt Nam đối với những nước Á châu  là một thái độ anh em, đối với ngũ cường là một thái độ bạn bè”. Nhưng rồi cái giá phải trả để được sống hòa hiếu, để được là bạn của mọi quốc gia trên thế giới là cuộc chiến đấu gian khổ và hy sinh của nhiều thế hệ Việt Nam suốt ba mươi năm. Bởi lẽ, “Chúng ta muốn hòa bình. Chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới… Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ ”.
 Có lẽ cũng phải nhắc lại đây vài sự kiện ngoại giao : trong thư gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh 20 năm sau ngày toàn quốc kháng chiến 19.12.1946, tức là 12 năm sau khi cuộc kháng chiến ấy giành thắng lợi, ông De Gaulle, Tổng thống Pháp, viết rằng “Giá như có một sự hiểu biết nhau tốt hơn giữa người Việt Nam và người Pháp ngay sau đại chiến thế giới thì đã có thể tránh được những sự biến tai ác đang giằng xé đất nước Ngài hôm nay ”. Đáng tiếc là lịch sử không có chuyện giá như. Có lẽ vì thế mà năm 1993 cũng một Tổng thống Pháp, ông F.Mitterand, đã đến tận Điện Biên Phủ để tận mằt chứng kiến và tuyên bố rằng “Cuộc chiến tranh đó [tức là cuộc chiến tranh Đông Dương 1945-1954 ] đối với tôi mãi mãi là một sai lầm”. Thế rồi vào đầu tháng 12 năm 2009 tại Hà Nội, cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton nhắc lại chuyện “Sáu mươi năm trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng thống Roosevelt đã muốn hai nước Việt-Mỹ thật sự là bạn. Quá trình này đã có những bước gập ghềnh.”. Và trước đó một người Mỹ khác, thiếu tá Archimede Patti, người có mặt tại Hà Nội để kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1990 đã cho biết rằng, khi chia tay với ông vào ngày 30. 9. 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu ông ta trở lại vì “bạn bao giờ cũng được hoan nghênh”.
Thế nhưng có “những bước gập ghềnh” đã khiến cả hai dân tộc phải trả giá đắt.  “Gập ghềnh” là vì cái gì? Vì cái logic nghiệt ngã trong quy luật muôn đời của kẻ mạnh muốn áp đặt ý chí của mình lên số phận của những dân tộc yếu thế hơn. Chính vì thế, cùng với lời tuyên bố đó, Hồ Chí Minh khẳng định : “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to thì tiếng mới lớn”. Vậy thì, thực lực phải được tạo ra bằng cách nào? Lịch sử của dân tộc với những bài học nghiệt ngã đã trả lời cho câu hỏi đó.
Câu trả lời nằm trong lời nói bất hủ của Trần Bình Trọng mở đầu cho bài viết này.
Nhưng, để là câu trả lời thì cần đặt câu ấy trong bối cảnh của thế nước lúc bấy giờ, trong tương quan lực lượng giữa ta và địch. Ở thế kỷ XIII khi mà đế quốc Nguyên-Mông từng làm mưa làm gió trên thế giới, vó ngựa ngoại xâm của chúng xéo nát nhiều vùng lãnh thổ từ Á sang Âu khiến không thể không có những dao động trong ý chí của nhà vua, người nắm quyền cao nhất. Vì thế, khí phách của Trần Bình Trọng là một chọn lựa, một sự thách đố và cũng là một tuyên ngôn của cả dân tộc mà muốn là “người đứng đầu trăm họ” thì phải vâng theo.
Không phải là ngẫu nhiên mà sử sách Việt Nam, cùng với câu nói bất hủ của Trần Bình Trọng, đã truyền tụng thái độ điềm tĩnh của Trần Thủ Độ : “đầu thần chưa rơi, xin bệ hạ đừng lo”, khí phách kiên cường và dứt khoát của Trần Hưng Đạo : “Bệ hạ muốn hàng xin hãy chém đầu tôi trước đã”! Và, chính vị tướng được nhân dân phong Thánh ấy, Đức Thánh Trần, khi quân Nguyên tràn sang lần thứ ba, đã bình thản tâu vua Trần Nhân Tông “Chuyến này dù quân Nguyên có sang đây, ta phá cũng dễ hơn phen trước, xin bệ hạ đừng lo”****, cũng là người từng nhắc nhở vua Trần Anh Tông : “lúc bình thì khoan sức cho dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là cái thuật giữ nước hay hơn cả”****. Khi biết xem “thế giặc nhàn” như lời bình của Trương Hàn Siêu trong “Bạch Đằng Giang phú”, Trần Hưng Đạo đã hội tụ được khí phách , bản lĩnh của cả dân tộc luôn hiểu rõ “lửa thử vàng, gian nan thử sức”!
Vững tin vào sức sống mãnh liệt của dân tộc, biết khởi động và phát huy lên đến đỉnh cao ý chí quật cường và tinh thần yêu nước trong mỗi một người Việt Nam sẽ tạo ra được thực lực để chiến thắng mọi kẻ thù như ông cha ta đã từng làm. Bản lĩnh Việt Nam được hun đúc và phát huy từ đó. Không được phép làm suy yếu bản lĩnh được tôi luyện, trui rèn bằng mồ hôi, nước mắt và máu của bao thế hệ Việt Nam trong sự nghiệp vẻ vang dựng nước và giữ nước.
Đó chính là “thượng sách giữ nước” như lời dạy của Đức Thánh Trần.


* Đây là lời trích trong bài “Liệu khi Trần Tổng Tham mưu trưởng trở về [tức là Trần Bỉnh Quốc vừa có chuyến công du đến Mỹ] có là lúc dạy cho An Nam bài học? [theo http://bbs.tiexue.net/bbs31-0-1.html ngày 22/5/2011
** Đại Việt Sử Ký Toàn thư. Tập II. NXBKHXH. Hà Nội 1988, , tr.81,tr. 55, tr.53, tr..54, tr. 28 (theo thứ tự trước sau của câu trích dẫn trong bài).
       *** Việt Nam Sử Lược Trần Trọng Kim. NXBTPHCM.2000, tập I, tr. 158, tr. 173.


Bài đăng số tết của “Hà Nội Ngàn Năm”, chuyên san của Báo Hà Nội Mới và Tạp chí THẾ GIỚI MOI


                      XEM RA CHỈ CẦN MỘT CHỮ



Lê Quý Đôn viết trong “lời nói cuối sách” của “Quần Thư Khảo Biện” : “Kinh Dịch nói:  “Biến động trong thiên hạ chính đáng chỉ có một [lý] thôi. Chí lý thay chữ “một”. Lấy chữ “một” ấy mà xuyên suốt mọi việc thì dù bốn bể chín châu cách trở, ngàn xưa trăm đời xa xôi, mọi trao qua đổi lại, mọi xem xét đánh giá vẫn đều rõ ràng như bày ra trước mắt, rành rọt như trỏ bàn tay vậy”* . Ở đây không dám luận bàn về Kinh Dịch.Dẫn ra câu trên là muốn mượn cách diễn đạt mang ý nghĩa phương pháp luận của nhà bác học thế kỷ 18 để làm nổi bật chữ “trí” mà nếu không có nó, hoặc không hiểu đúng tầm vóc và đặt đúng vị trí của nó thì “mọi trao qua đổi lại, mọi xem xét đánh giá” về sự hưng thịnh của đất nước đều không còn được mấy ý nghĩa, hoặc nói như Phạm Văn Đồng “còn gì là đáng giá”. Duyên do là khi nhắc lại lời Nguyễn Trãi khẳng định “nước ta là một nước văn hiến” nhà văn hóa ấy giải thích rằng “điều đó có nghĩa là trọng học vấn, trọng nhân tài, vì đó là những của quý không gì  thay thế được của một nước, một dân tộc. Có nó thì sẽ có tất cả, thiếu nó, thì cái còn lại còn gì là đáng giá”. Một lời giải thích mang tính cảnh báo với những ai đang gánh vác trọng trách lãnh đạo và quản lý guồng máy hoạt động của đất nước.
Thì chẳng thế sao, trước Lê Quý Đôn ba thế kỷ, trong văn bia tiến sĩ đầu tiên khoa Nhâm Tuất (1442) dựng tại “Văn Miếu” do Thân Nhân Trung biên soạn đã đưa ra một thông điệp có ý nghĩa xuyên thời gian : “...Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết...”. Thông điệp ấy được xem như một lời răn dạy nghiêm cẩn của ông cha ta trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước! Ấy thế mà “việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia” không phải ai cũng làm được hoặc chỉ nói chứ không làm, vì làm thì có khi lại động chạm đến cái ghế quyền lực vốn do “mã tầm mã, ngưu tầm ngưu” mà có được thường diễn ra ở đoạn cuối của một triều đại, những “Trần mạt”, “Lê mạt”, “Nguyễn mạt”…!
Hãy nhớ lại chuyện Lê Thái Tổ, sau mười năm nằm gai nếm mật để lấy lại giang sơn lên ngôi đại định, liền ban chiếu cầu hiền. Chiếu có đoạn : “Nay trẫm gánh vác trách nhiệm nặng nề, sớm khuya kính cẩn lo sợ, như đứng bờ vực thẳm, chỉ vì chưa tìm kiếm được người hiền tài giúp đỡ trị nước…Nhân tài ở đời cố nhiên là không ít, nên đường lối tìm người tài không chỉ có một phương. Nếu có ai ôm ấp tài lược kinh bang tế thế, nhưng phải chịu khuất ở hàng quan thấp, không có người tiến cử cho, cùng là những hào kiệt bị vùi dập ở bụi bờ, hay lẫn lộn trong quân ngũ, nếu không tự đề đạt thì trẫm làm sao biết được?...Khi chiếu này ban ra, các quan hãy đem hết lòng thành, lo việc tiến cử. Còn như kẻ hàn vi ở chốn hương thôn, cũng chớ cho thế là phải đem ngọc bán rao mà hổ thẹn, để trẫm phải thở than vì thiếu nhân tài”.  Phải tầm cỡ văn tài và đức độ của Nguyễn Trãi mới soạn nổi tờ chiếu đó. Dự phòng phải tránh chuyện “đem ngọc bán rao” là để chạm được đến chỗ sâu kín trong tâm lý tự trọng của “kẻ sĩ”, phải là sự uyên bác của nhà văn hóa lớn đi liền với sự trải nghiệm sâu sắc của nhà chính trị lớn. Có chuyện đó là vì, xưa nay kẻ sĩ có thực tài và biết tự trọng thường chọn cách ứng xử “dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng” (được dùng thì ra làm việc, không được dùng thì lui về) thể hiện một quan niệm sống, một thái độ sống.
Bởi lẽ, quyết định chuyện “xuất” và “xử” của “kẻ sĩ” gắn liền với thời cuộc. “Thiên hạ hữu đạo tắc hiện, thiên hạ vô đạo tắc ẩn”, có đạo thì ra, vô đạo thì ẩn. Vì rằng, “gặp lúc nước hữu đạo mà nghèo và hèn là đáng thẹn, gặp lúc nước vô đạo mà giàu sang là đáng thẹn”. Hữu đạo và vô đạo nói ở đây có nội hàm khá rộng. Song trực tiếp nhất và cập nhật trong bối cảnh hiện đại, chính là cái tâm của người lãnh đạo có thật lòng trọng dụng hiền tài, trọng dụng trí thức không. Vả chăng, “đường lối tìm người tài không chỉ có một phương”. Sức nam châm có lực hút hiền tài, trí thức là độ rộng mở của dân chủ trong việc tao ra môi trường để cho những tài năng thật sự có thể phát huy trong sự nghiệp phát triển đất nước. Để có được điều đó, điều kiện tiên quyết là cái tâm của người lãnh đạo và bản lĩnh của họ.
Chính vì vậy, ngay khi chính quyền cách mạng còn trong trứng nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thiết tha kêu gọi : “trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận”. Phải có cái tâm vì nước vì dân và cái tầm nhìn của người lãnh đạo biết rõ ngọn nguồn sức mạnh của mình được dồn góp và chưng cât từ trí tuệ và khát vọng của quần chúng nhân dân mới dám nhận lấy cái lỗi nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân. Gợi lại chuyện xưa cũng chỉ để nói một ý : hiểu cho được nội hàm của chữ “trí” trong mối tương tác “hưng” và “bất hưng” của đất nước quả thất không dễ. Đừng nghĩ là có ghế ngồi cao ngất ngưỡng, lắm tiền, nhiều súng, nắm trong tay quyền sinh, quyền sát là có thể nhữ gọi được chữ “trí”, đặt nó vào bàn nhậu đầy rượu ngoại giá cả chục nghìn đôla chai! Đơn giản chỉ là vì “trí thức là người nói sự thật, phê bình không nhân nhượng về những gì đang hiện hữu. Không nhân nhượng với nghĩa rằng họ không lùi bước trước kết luận của chính mình, hoặc trước xung đột với quyền lực, bất cứ quyền lực nào”, đấy là ý của Các Mác.
Để hiểu thêm ý của Các Mác, xin trích ra đây một đoạn văn của Nguyễn Tuân trong một bài bình luận văn chương : “Trong cái cười của Sêkhốp, thấy lẫn vào ít nhiều mặn chát của nước mắt, những giọt nước mắt của xấu hổ. Trong trang sổ tay tôi ở kia, có đoạn văn Karl Marx nói về liêm sỉ : “Và cái đó cũng là một sự phát hiện, mặc dầu nó có tính chất tiêu cực. Đó là chân lý nó truyền lệnh cho ta phải hiểu rõ về tình trạng bệnh hoạn của bộ máy nhà nước, và lấy sỉ nhục ra mà thoa lên mặt…Biết xấu hổ là một sự phẫn khích hướng vào nội tâm. Và nếu toàn thể quốc dân cùng thật sự biết xấu hổ, thì cả dân tộc sẽ trở thành sư tử…”. Người trí thức chính là chất men làm sống dậy sự xấu hổ ấy để khiến cho “cả dân tộc sẽ trở thành sư tử”.
Phải chăng vì thế mà  J.P Sartre, triết gia người Pháp thế kỷ XX cho rằng : “trí thức là người làm những việc chẳng ăn nhập gì đến họ, (s’occupe de ce qui ne le regarde pas). Kỹ sư thì không lo xây cầu, thầy thuốc thì không lo khám bệnh, kinh tế gia thì không lo cộng trừ nhân chia với cái thống kê. Tại sao họ lại xớ rớ vào những chuyện không liên quan gì đến họ vậy, tại vì họ cho đó chính là chuyện của họ. Chuyện không phải là của họ mà họ thấy là của họ. Cái thấy đó làm họ trở thành trí thức **. Ở đây, triết gia thế kỷ XX bắt gặp ý tưởng về “kẻ sĩ” trong triết lý của Nguyễn Công Trứ thế kỷ XIX “vũ trụ chi gian giai phận sự”, xem việc trong trời đất là phận sự của mình. Chính vì nhận thức ấy mà phần lớn người trí thức đích thực phải gánh chịu thân phận không mấy dễ chịu của người nói sự thật và phê bình không nhân nhượng!
Xem ra, chuyện này chẳng có gì khó hiểu! Xưa nay không thiếu những dẫn chứng tiêu biểu, cho dù thật nghiệt ngã : Nguyễn Trãi, bậc đại trí thức, từng ngậm ngùi đúc kết thân phận trí thức theo sự trải nghiệm của ông khi nhắc đến câu thơ của Tô Đông Pha : “Cổ kim thức tự đa ưu hoạn. Pha lão tằng vân ngã diệc vân”, người trí thức (người biết chữ) xưa nay vẫn nhiều hoạn nạn, ông già Tô Đông Pha đã nói vậy và ta cũng nghĩ vậy!
Nguyễn Công Trứ người đề xướng triết lý về kẻ sĩ nêu ở trên vốn là người “kinh luân khởi tâm thượng, binh giáp tàng hưng trung”, cách sắp xếp việc nước đã định sẵn trong lòng, đồ binh giáp để đánh giặc (tức là tri thức quân sự) đã định sẵn trong bụng, cũng là người đã năm lần bị cách chức, giáng chức, trong đó có lần bị án “trảm giam hậu”, có lần bị cách tuột làm lính trơn đày đi xa. Về hưu lúc bảy mươi tuổi với hai bàn tay trắng. Trước khi chết, cụ để lại di chúc từ chối mọi nghi lễ chính sách của triều đình, dặn chôn ngay tại huyệt đã đào sẵn dưới chõng tre, rồi trồng bên mộ một cây thông với lời bi phẫn : “Kiếp sau xin chớ làm người; Làm cây thông dứng giữa trời mà reo”.
Tuy nhiên, vang bóng một thời ấy chỉ là một hoài niệm có giá trị cảnh báo chứ không có ý nghĩa vẫy gọi. Đơn giản chỉ vì thời đại đã đổi thay. Nói giá trị cảnh báo, là cảnh báo cho một tầm nhìn hạn hẹp của những người nắm trong tay bộ máy quyền lực không biết tôn trọng trí thức, cũng là cảnh báo cho chính những người trí thức cần phải có bản lĩnh biết vượt lên mọi hoàn cảnh để đảm đương sứ mệnh cao quý của người trí thức chân chính.
Bởi thế mới có những dòng thơ cháy bỏng :
                           
                               Nếu tôi không cháy lên
                               Nếu anh không cháy lên
                               Thì làm sao
                               Bóng tối
                              Có thể trở thành
                              Ánh sáng? 

[thơ Nadim Hikmet. Cao Xuân Hạo dịch]

Bởi thế mới có đúc kết mang ý nghĩa của một tuyên ngôn trong xử thế : “Ai đánh thức không cho xã hội ngủ, người ấy là trí thức, bất kỳ họ là ai” **.

Để đánh thức xã hội, người trí thức khơi dậy sự phẫn nộ trong công chúng về những bất công, lột trần những che đây của thói cường quyền mà theo cách nói của Các Mác là vứt bỏ những bông hoa đang điểm trang cho những xiềng xích trói buộc cuộc sống của con người. Để làm việc đó, họ chỉ đòi một chữ : “dân chủ”. Vâng, chỉ một chữ đó thôi! Chữ đó có gốc từ cội nguồn Hy Lạp, kratia là quyền và demos là dân, “democratie” trong tiếng Pháp và “democracy” trong tiếng Anh đều có ý nghĩa là chế độ dân chủ. Gợi lại cái gốc Hy Lạp để hiểu rằng “ Các nhà sử học về cổ Hy Lạp nhấn mạnh chỉ một chữ nằm tận trong thâm sâu của tư  tưởng Hy Lạp, trong kịch, trong thực tiễn sống động của tổ chức dân chủ ở Athènes, trên chính nhan đề quyển sách của Platon, chữ đó là  dialogue, đối thoại.**
Chính một chữ “đối thoại” hiền hòa ấy lại rất gian truân trong việc thực hiện, mà cũng vì thế, nó triệt tiêu luôn chữ “trí”, kéo theo đó là băng hoại luôn chữ “hưng”, “phi trí bất hưng”! Vì sao? Vì khi đã nắm quyền lực trong tay thường nảy sinh ra một thói quen khó khắc phục là không muốn nghe những lời trái ý mình “trung ngôn nghịch nhĩ”, không muốn chia sẻ quyền lực cho ai ngoài mình và vây cánh của mình. Biểu hiện dễ thấy của thói quen đó là chỉ muốn độc thoại chứ không quen đối thoại. Thói quen đó tự cho mình đã biết tất cả, chân lý là đã có sẵn, chỉ cần rao giảng và áp đặt. Người ta gọi đấy là sự tha hoá của quyền lực.
Thói quen ấy đi ngược với tư duy hiện đại về quá trình tiến hoá. Tiến hoá không chỉ là một quá trình chắt lọc cái này và loại bỏ cái kia để vì thế mà làm nghèo đi sự phong phú, đa dạng của cái toàn thể, mà tiến hoá thực chất là đồng tiến hóa. Vì vậy, tư duy hiện đại đã vượt qua sự cố chấp của “nguyên lý loại trừ” mà bước vào “nguyên lý bổ sung”. Độc thoại gắn liền với nguyên lý “loại trừ”, ai không phải là ta, không theo ta, tức là chống lại ta!. Còn nguyên lý “bổ sung” thì khuyến khích thái độ lắng nghe để tiếp nhận thông tin, nhằm làm cho tri thức của mình luôn luôn mới, theo kịp được với nhịp phát triển liên tục của cuộc sống. Sự mở rộng của tri thức do được bổ sung liên tục, giúp hình thành và củng cố được ý thức và phong cách ứng xử khoan dung, cởi mở và sự hoà hợp, mong muốn làm bạn chứ không tự trở thành kẻ thù đối với người khác mình!
Để có điều đó, chỉ cần một chữ : dân chủ! Chỉ một, nhưng chữ ấy nặng tựa Thái Sơn!
__________________
*.   Lê Quý Đôn. “Quần Thư Khảo Biện” tr. 465, NXBKHXH.1995 .
**. Dẫn lại theo Cao Huy Thuần




                        PHIẾM ĐÀM VỀ CHỮ “ỔN”

(Bài đăng trên số Tết báo Nông thôn Ngày nay)



             Đó là chữ “ổn” trong mệnh đề “phi nông bất ổn”, một đúc kết kinh nghiệm ngàn đời không chỉ riêng của ông cha ta trong sự nghiệp dựng nước. Đúc kết mang tính quy luật của sự nghiệp dựng nước và phát triển đất nước.  “Nông” đứng hàng đầu chuỗi quan hệ “sĩ nông công thương” với mối tương tác biện chứng : “phi nông bất ổn, phi công bất phú, phi thương bất hoạt, phi trí bất hưng”. Với nền nông nghiệp lạc hậu kéo dài triền miên như nước ta thì sự khái quát nói trên càng có ý nghĩa lớn lao : vừa là đúc kết kinh nghiệm lịch sử vừa là định hướng cho những dặm đường phía trước của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chỉ cần coi nhẹ một trong bốn hoạt động nằm trong chuỗi quan hệ đó là cỗ xe của dân tộc sẽ rơi vào tình thế “vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh”[Truyện Kiều] trên con đường trải dài với bao “hình khe thế núi gần xa, dứt thôi lại nối thấp đà lại cao”[Chinh phụ ngâm], thậm chí có thể chập choạng “mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm” [Cung oán ngâm khúc], không tìm thấy lối ra.
             Thế nhưng hiểu chữ “ổn” thế nào cho thỏa đáng đây? Có sự ổn định trì trệ mà cũng có sự ổn định để phát triển. Khi mà con thuyền đất nước đã từ ao nhà ra biển lớn thì người ta ngày càng hiểu ra rằng sóng đại dương khác một trời một vực với thứ “sóng biếc theo làn hơi gợn tí” ru người trong “chiếc thuyền câu bé tẻo teo” đang ngủ quên trên ao làng của cụ Yên Đổ ở cuối thế kỷ XIX! Đã có lúc từ cái ao làng đó người đã ra đến sát mép Thái Bình Dương mênh mông sóng vỗ, nhưng hãi song nước lại quay về với niềm an ủi “Ta về ta tắm ao ta, Dù trong, dù đục ao nhà vẫn hơn”. Mà trong cái ao làng thì lấy đâu ra sóng. Loại “sóng biếc theo làn hơi gợn tí” chỉ đủ ru “giấc mộng tiểu nông”, dìm chết những khát vọng bay xa, vươn cao của con người, trói buộc tư duy trong sự ổn định trì trệ  ao tù, nước đọng của bảo thủ, lạc hậu.

              Cái kiểu tư duy “ta về ta tắm ao ta”, ngại mở cửa, ngại đổi mới đã làm chậm bước chủ động hội nhập để rồi phải trả giá. Dần dần, chúng ta hiểu ra rằng, cái mất oan uổng nhất là mất thời cơ lịch sử!  Nghiêm khắc nhìn lại những bước đường lịch sử, đã từng có những cái mất oan uổng đó mà e rằng chỉ riêng chặng đường lịch sử đương đại cũng đã có quá nhiều những điều “rằng hay cũng thật là hay, nghe ra ngậm đắng nuột cay thế nào” [Nguyễn Du]. Lối tư duy tiểu nông được biến thái và thăng hoa trong chủ nghĩa giáo điều, duy ý chí khước từ kinh tế thị trường đã làm chậm bước tiến của lịch sử khiến cho trong sự ổn định trì trệ kéo dài, cái cày chìa vôi từ đời Lý vẫn còn hiện diện cùng với máy cày, máy gặt đập trên cánh đồng Việt Nam thế kỷ XXI. Chẳng thế sao, xin hãy đọc bài “ca dao mới” vừa xuất hiện gần đây :
                     “Dưới đồng ông lão đi bừa,
                      Hệt như cụ cố ngày xưa đi cày
             Rõ ràng là, nếu duy trì một sự “ổn định” kiều này thì lịch sử bị kéo lùi hàng trăm năm. Đừng quên rằng, sự giằng co giữa “bảo thủ” và “đổi mới”, giữa “trạng thái cân bằng cũ” với “sự mất cân bằng tạm thời” luôn luôn diễn ra trong mỗi sự vật, mỗi con người cũng như mỗi xã hội để tự phát triển. Không có một con mắt biện chứng để nhìn sự vật, thì khó mà thấy đuợc sự mất cân bằng tạm thời nhằm phá vỡ sự ổn định trì trệ chính là nhân tố thúc đẩy phát triển. Vì vậy, phải đầu tư thích đáng cho nông thôn, nâng cao trình độ học vấn và tri thức sản xuất, kinh doanh cho thế hệ trẻ nông dân, chuyển dịch cơ cấu đầu tư để thay đổi được cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động để tạo nên một diện mạo nông thôn mới.
              Vì thế, chữ  “ổn” trong  “phi nông bất ổn” chỉ có ý nghĩa khi chữ “nông” được hiểu một cách đầy đủ trong chỉnh thể nông dân, nông thôn, nông nghiệp. Chỉ nói nông nghiệp mà không nói rõ chủ thể của cái nghiệp ấy là người nông dân, không nói đến địa bàn hoạt động của nó là nông thôn với cơ sở vật chất và diện mạo tinh thần của nó là chỉ nhìn thấy cái ngọn mà không tìm ra cái gốc. Quên “con người”, coi nhẹ nhân tố “con người”, quên chú ý đến nông thôn , “môi trường sống của con người đang làm nông nghiệp”, đây là “sự quên” chết người! Ấy vậy mà đã có lúc “quên” đấy thôi.
               Thì ngay trên diễn đàn Quốc hội vừa rồi, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam đã cảnh báo về chuyện “đầu tư cho nông thôn, nông nghiệp giảm đáng lo”! Cách đây mười năm, tỷ lệ đó chiếm khoảng 13,85% thì đến 2008 giảm xuống còn 6.45% và rồi năm ngoái và năm nay chỉ còn khoảng hơn 6%![ Báo Nông thôn Ngày nay, trang 3, ra ngày 28.10.2011] . Không kịp thời khắc phục sự lệch lạc này thì một sự thật đáng buồn mà người viết bài này đã đưa ra cách đây hơn mười năm : “nông thôn sẽ là nơi những ai có chút hoài bão sẽ rời xa, thanh niên nông dân ra tỉnh kiếm việc làm hoặc học hành có chút kiến thức sẽ nhất quyết không về lại nơi mình đã ra đi”.   
               Vì sao? Vì thừa lao động, thiếu việc làm vì thiếu đất, vì mất đất, vì năng suất thấp không đủ bù vào giá vật tư nguyên liệu cho sản xuất nông nghiệp tăng, phải bỏ làng ra phố làm thuê, đến các khu công nghiệp bán sức lao động rẻ mạt, tạo nên“ lợi thế giá nhân công rẻ”! Nông thôn cũng lại là nơi gánh chịu những hệ lụy mà công nghiệp hóa và đô thị hóa gây nên. Những rác rưởi của công nghiệp thải về nông thôn ngày càng nhiều. Những dòng sông “nước gương trong soi tóc những hàng tre” đang ngả sang màu đen sẫm và bốc mùi. Các làng nghề phát triển tự phát và thiếu sự quản lý chặt chẽ đã gây ô nhiễm môi trường nghiệm trọng khiến tuổi thọ của cư dân làng nghề giảm mười năm so với nơi khác. Xót xa hơn nữa khi thị trường nông thôn là nơi tiêu thụ những hàng “quá đát” mà đô thị thải về. Không phải bà con ta không thấy được điều tồi tệ đó nhưng vì quá nghèo nên đành “nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần đến đâu!”
               Liệu có thể tạo ra sự “ổn định” với việc cổ vũ cho thái độ cam chịu “một sự nhịn là chính sự lành”. Thái độ cam chịu đó có thể xuất phát từ một phẩm tính tốt đẹp của người nông dân là “sự tha thứ ”, cũng có thể là một dạng phái sinh của “sự thích nghi ”, vốn là một nhân tố tích cực trong phẩm tính nông dân! Tuy vậy, không thể không nói lên một sự thật nghiệt ngã : do sống quá lâu trong sự thiếu thốn nên chỉ cần một chút cải thiện được ban phát là phần lớn bà con nông dân ta đã thành thật tri ân. Phải nhìn cho ra đây là một di chứng của tập quán thần phục “thần dân ” kéo dài trong lịch sử mà không phải là tư thế công dân trong một thể chế dân chủ. Di chứng này đang biến thành liều thuốc an thần nhằm làm dịu đi những bức xúc, và cùng với nó, làm thui chột hoặc triệt tiêu khát vọng bứt phá nhằm thay đổi cuộc sống của mình.
Liệu có thể vô tư đánh đổi một nông thôn xanh tươi và hài hòa với thiên nhiên, nơi ấp ủ nền văn hóa truyền thống dân tộc, nơi nuôi dưỡng sự trong lành, ấm áp của tuổi thơ bao thế hệ Việt Nam, để đổi lấy những ngôi nhà bê tông vô hồn đang kệch cỡm mọc lên, đổi lấy một lối sống lai căng ngấu nghiến những cặn bã của văn minh đô thị chưa kịp tiêu hóa, đổi lấy những dòng sông đen đang cạn kiệt nguồn nước tưoi mát bao đời tắm tưới, thanh lọc tâm hồn Việt Nam bằng một chữ “ổn ” đươc hiểu một cách lệch lạc theo hướng “ổn định trì trệ”?
Ước gì cụ Lê Quý Đôn sống lại để nhờ cụ, với sự uyên bác tuyệt vời thêm vào chữ “ổn” một nội dung mới theo cách biến chữ “đại” thành chữ “thái”* trong truyền thuyết dân gian xưa thì hay biết mấy!
_____________
* Chữ Đại (大) hay chữ Thái (太)?
Tương truyền thuở nhỏ, một hôm cậu bé Lê Quý Đôn cởi truồng đi tắm với các bạn. Có một vị quan Thượng thư đồng liêu với cha (là Lê Trọng Thứ) tới thăm, hỏi đường đến nhà. Cậu liền đứng dạng chân và dang tay ra bảo quan Thượng:
Nếu ông biết được cháu đang ra dấu chữ gì, cháu sẽ chỉ nhà cho ông.
Quan Thượng cũng tha thứ cho sự nghịch ngợm của tuổi trẻ nên bỏ đi. Cậu cười ầm lên và bảo với các bạn:
Ông ấy làm quan to mà không biết chữ các bạn ơi!
Quan Thượng bực mình quay lại nói:
Trẻ con đừng hỗn láo. Mày mới học lỏm được chữ Đại (大) mà đã dám đi trêu chọc người rồi.
Cậu càng cười to hơn:
Thế thì ông không biết chữ thật! Có cái chấm ở dưới nữa thì là chữ Thái (太) chứ sao lại chữ Đại!



                       LUẬN VỀ CHỮ LIÊM

 
(Bài đăng trên HÀ NỘI NGÀY NAY, chuyên san của báo HÀ NỘI MỚI)

Đó là chữ “liêm” trong “cần kiệm liêm chính”, cũng là chữ “liêm” của người biết “liêm sỉ”. Biết, thường dễ hơn làm. Nhưng tệ hại hơn là người không cần biết đến nó. Nói theo cách diễn đạt dân dã là vì họ đã “đứt mất giây thần kinh xấu hổ”. Tuy vẫn nhớ được rằng, “trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”, nhưng họ vẫn dám ngồi xổm trên dư luận. Dám ngồi xổm như vậy là vì họ đã nghe quen luận điệu bỉ ổi, ngang ngược :  dân biết thì đã sao nào, có riêng gì một mình tớ. Thì đây kia, thử nêu lên xem, đố dám.
Chuyện “dân biết thì đã sao nào” là một bức xúc kéo dài, vì đây là một sự mất dân chủ, mất công bằng xã hội đập vào mắt dân hang ngày. Đại loại như chuyện “hoá giá”, chuyện “dĩ công vi tư” được thực hiện mà một đại biểu Quốc hội gọi là “siêu nhanh” cho thấy có cả một mạng lưới khép kín và tinh nhuệ của quy trình hoá giá “của chung ai khéo vẫy vùng làm riêng”. Mà những chuyện đó lại toàn là “hợp thức, hợp lý” cả mới là sự thách thức công luận. Và rối, chỉ trong phút chốc, những “công bộc của dân” sở hữu một gia tài trong mơ cũng khó chứ không chỉ trong cuộc đời thực.
Những căn nhà to đùng, ngạo nghễ nằm ở những vị trí mà “tấc đất” không chỉ là tấc “vàng” mà là cả “cây vàng”, treo tấm gương lừng lững về sự bất công xã hội đối nghịch với khẩu hiệu “dân giàu , nước mạnh xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” trước mắt bàn dân thiên hạ. Thực trạng tham nhũng dưới mọi hình thức, tinh vi hay trắng trợn, kín nhẹm hay lộ liễu, đang bôi nhọ những chữ dân chủ, công bằng, văn minh trong mục tiêu phấn đấu vì một xã hội tốt đẹp mà chúng ta đang hướng đến. Nó ngạo nghễ và ngang ngược thách thức với phương châm xử thế “tiên thiên ưu nhi ưu, hậu thiên hạ lạc nhi lạc” [lo trước thiên hạ, hưởng sau thiên hạ] mà “người công bộc của dân”phải theo. Có lẽ ở đây phải viện dẫn đến Các Mác để giải mã được sự thách thức đó khi ông chỉ ra rằng: “Nếu tiền là sợi dây ràng buộc tôi với đời sống con người, với xã hội, với giới tự nhiên và với con người thì tiền chẳng lẽ không phải sợi dây của mọi sợi dây sao? Nó chẳng lẽ không thắt nút và cởi nút mọi sợi dây hay sao”* .
Đồng tiền không có mùi, dù in bằng chất liệu cotton hay polymer khi nó nằm trong phong bì hay nằm trong két sắt đều rất an toàn. Nó chỉ “bốc mùi” lên khi nó bị cơ quan pháp luận sờ đến. Tuy nhiên, lại có loại thuốc “khử mùi” để rồi trong nhiều trường hợp nó trở lại được với sức mạnh vô biên của nó. Nó chỉ thật sự “bốc mùi” khi bị chính tòa án lương tâm kiểm chứng và phán xét. Thế nhưng, sức quyến rũ ghê gớm của đồng tiền đã trục xuất lương tâm ra khỏi đời sống tinh thần của không ít người đang sở hữu nó. Để rồi, chính nó đã và sẽ nhấn chìm bao sự nghiệp của những con người nắm tiền và nắm quyền. Vì, tiền mua được quyền, quyền lại đẻ ra tiền. Cái vòng oan nghiệt này như một thứ “ma đưa lối, quỹ dẫn đường” khiến cho không thiếu những người từng có uy tín, có cống hiến bị sa đoạ, rơi vào những nghịch lý không thoát ra được để thân bại danh liệt. Làm trầm trọng thêm chuyện đáng xấu hổ này khi mà mạng lưới pháp luật đang để cho “ruồi to chui lọt, ruồi con mắc bẫy”!
Chuyện này không mới, cũng chẳng lạ, cổ kim, đông tây đền có, vấn đề chỉ là mức độ trầm trọng và sự phổ biến của nó. Để khỏi dài dòng, xin trích ra đây đoạn văn M.Gorky nói về Tsêkhốp :
“Trước cái đám đông xám ngắt những kẻ bất túc, đã hiện ra một người…bằng giọng nói trung thực mà sang sảng, buồn buồn mà mỉm cười, với một nỗi sầu hoài tuyệt vọng trong tâm khảm và trên sắc mặt, giọng đầy quở trách dịu dàng mà thâm thúy, người ấy bảo cả bọn họ : Các vị sống bậy quá đi thôi ! ”. Xã hội ta quả thật đang quá cần đôi mắt và ngòi bút kiểu Tsêkhốp để mổ xẻ và đưa ra trước công luận chuyện “các vị sống bậy quá đi thôi” để gọi trở lại những lương tâm đã bị đánh mất, chữ liêm sỉ bị băng hoại và ngòi bút bị bẻ queo hoặc bị đánh tráo.
Đang quá cần những ngòi bút bản lĩnh và tinh nhuệ để gọi dậy sự liêm sỉ đang ngày càng phôi pha dần trong một xã hội trong “cơn sốt vỡ da” để tự cấu trúc lại cơ cấu kinh tế và đi theo nó là cơ cấu lại hệ thống giá trị đang bị đảo lộn khiến cho diện mạo văn hóa, văn hiến của xã hội đang chao đảo! Trong quá trình “cơ cấu lại” đó thì cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, cơ cấu ngành nghề đương nhiên là phải làm rất tập trung và có bài bản. Thế nhưng cần phải nói thêm rằng, chính chuyện cơ cấu lại hệ thống giá trị đang bị chao đảo sẽ khó hơn nhiều. Thì cứ nghĩ xem, luận điểm “văn hóa là nền tảng tinh thần của đời sống xã hội” được đưa ra đã lâu nhưng cái nền tảng tinh thần đó đang lung lay chưa có mấy cải thiện. Khỏi phải kể ra đây những thực trạng đau lòng về đạo lý xã hội mà hàng ngày mở trang báo ra là nhan nhãn.
Điều này có nguyên cớ sâu xa của nó. Hơn một lần, người viết bài này đã dẫn ra lời cảnh báo sáng suốt của M Gorki trong Những ý tưởng không hợp thời đăng trên nhật báo Novaja Žizn (Đời Mới) những năm 1917-1918, “Cách mạng đã đánh đổ nền quân chủ, điều đó đúng! Nhưng điều đó có lẽ cũng có nghĩa rằng cuộc cách mạng đã mang chứng bệnh ngoài da vào bên trong nội tạng.  Người ta không được phép tin rằng cách mạng đã chữa trị và làm phong phú cho nước Nga về mặt tinh thần. … Vì vậy mà : “Dân tộc này phải còn nỗ lực rất nhiều đế đạt đến ý thức về bản sắc và nhân phẩm của nó. Dân tộc này còn phải được trui rèn trong ngọn lửa cháy không bao giờ dứt của văn hóa, tinh thần nô lệ đã hằn sâu trong nó phải bị tẩy sạch đi ”. Cho nên, văn hào Xô Viết ấy đã quyết liệt mà rằng : “Đối với tôi, lời kêu gọi Tổ quốc lâm nguy cũng không đáng sợ hơn lời kêu gọi “Hỡi các công dân! Văn hóa bị lâm nguy!”. Lời cảnh báo này đâu chỉ dành riêng cho người Nga! Và có lẽ ý thức được điều này, văn hào Tsêkhốp đã từ bỏ chiếc ống nghe và ống kim tiêm của người thầy thuốc, để cầm lấy cây bút nhằm mổ xẻ đời sống tinh thần của xã hội đặng góp phần chữa trị nó.
Hiện tượng này được lặp lại với văn hào Lỗ Tấn của Trung Quốc. Ông đã dùng ngòi bút của mình mà “GÀO THÉT” lên để chữa trị cái “quốc dân tính” của người Trung Hoa, để lên án cái thứ văn hóa “ăn thịt người”. Phải chăng những con người vĩ đại đó đã thực hiện được cái sứ mệnh mà Các Mác từng đòi hỏi đối với người cầm bút : “Cần phải bắt những trật tự đã cứng đờ phải nhảy múa lên bằng cách hát cho chúng nghe những âm điệu của chính bản thân chúng! Cần phải bắt nhân dân khiếp sợ bản thân mình để tiêm dũng khí vào cho họ”.
Dũng khí ấy vẫn tiềm ẩn trong đời sống dân tộc. Chính sức vận động tự thân của cái dũng khí đang tiềm ẩn ấy sẽ tạo ra những đột phá, đưa đất nước đi tới nhằm thực hiện khát vọng độc lập, dân chủ, tự do để thực hiện bằng được công bằng xã hội, hòa mình vào quỹ đạo của nến văn minh thế giới. Đó là khát vọng cháy bỏng của mỗi con người Việt Nam hôm nay mà vì nó, nhiều thế hệ Việt Nam đã không tiếc xương máu hy sinh. Cái giá của sự hy sinh để có sự nghiệp hôm nay là không thể tính được. Lẽ nào có thể “hoá giá”, lẽ nào có thể “chuyển đổi mục đích sử dụng”, lẽ nào có thể “ký duyệt giá” vào những thời điểm nhạy cảm để thủ lợi từ sự  chênh lệch “siêu lợi nhuận”.  Bởi vậy mà trong bài báo tiễn đưa năm 2011, chào đón năm 2012 mới luận bàn về chữ “liêm”.
Chắc rằng, trong sâu thẳm của lương tri, không thiếu người muốn giữ gìn chữ “liêm” khi dấn than vào chính trường. Thế nhưng, ngày một ngày hai, sự tha hoá của quyền lực đã khiến cho chữ “liêm” ấy trở thành vật cản cho những thôi thúc của dục vọng. Cũng phải nói thêm rằng, những dục vọng đen tối mà thực hiện được còn do sự mù mờ của cơ chế và sự thiếu công khai minh bạch của một số giải pháp biến “quyền” trở thành “tiền” cho một số người có “đặc quyền, đặc lợi” . Ăn quen bén mùi, không ít những người đánh mất chữ “liêm” một cách dễ dàng.
 Có lẽ sớm nhận ra quy luật nghiệt ngã đó, Hồ Chí Minh đã từng răn đe : “Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. Vì vậy, Hồ Chí Minh đòi hỏi “dân phải biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hiện chữ Liêm. Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì” **.
Hy vọng rằng, trong việc học tập và làm theo tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh người ta sớm biến những lời trên thành hiện thực.
   ________
*     C. Mác & Ph. Angghen Toàn tập. Tập 42.NXBCTQG. Hà Nội 2000. tr.212
**   Hồ Chí Minh toàn tập. Tập 5. NXBCTQG.Hà Nội 1955, tr. 641.
                      LUẬN VỀ CHỮ KIỆM

(Bài đăng trên số Tết báo Nông nghiệp Việt Nam)
                                       
Nói đến Tết là người ta nói đến “ăn Tết”, “mặc Tết”, “tiêu Tết”, “chơi Tết”, liệu luận bàn về chữ “kiệm” trong dịp này có lạc điệu không nhỉ? Vì, đã là Tết thì từ chốn phồn hoa đô hội cho đến nơi thôn cùng xóm vắng đều muốn làm sống lại cái cảm thức truyền thống trong câu đối Tết viết trên giấy hồng điều :
                               Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ,
                                     Nêu cao, pháo nổ, bánh chưng xanh
để mà “ăn Tết”, “chơi Tết”, “ngắm Tết” và “vui Tết”, nhắc nhở chữ “kiệm” dễ làm cụt hứng nhiều người! Cho dù đã có không ít những gia đình loay hoay trong cảnh :
                                        Tết đến không tiền vui chi Tết
                                        Xuân về hết gạo đón chi Xuân
Thế nhưng vẫn không thể che dấu ước vọng nấp trong câu đối của Uy viễn tướng công Nguyễn Công Trứ :   

Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa.
               Sáng mồng một, rượu say tuý luý, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà

Ngẫm kỹ ra, ở đây, “thằng Bần” và “ông Phúc” cùng ngồi chung trên một tờ giấy hồng điều truyền thống để cho thấy rằng, cuộc sống đầy rẫy những nghịch lý, và hình như, vào dịp Tết thì nghịch lý ấy càng phơi bày rõ rệt hơn.
Thì chẳng thế sao, ở đâu đó người ta bỏ ra tiền tỷ để mua một cây cảnh nhằm tôn thêm vẻ giàu sang trong ngày Tết thì đây kia, những người lao động dè xẻn nâng lên đặt xuống mớ rau định mua cho bữa cơm nghèo trong thời buổi lạm phát cốt dành dụm ít tiền gửi về quê cho vợ con. Và rồi một tin trên báo về cơ quan nọ mở tiệc để đón huân chương đã chi mấy trăm triệu đồng, thì cạnh đó, anh chị em công nhân xếp hàng dài bên máy ATM để lĩnh đồng lương cuối năm với hy vọng thêm được vài trăm nghìn về quê ăn Tết. Điểm xuyết vào đấy là hai vị “công bộc của dân” ở Sóc Trăng chơi cờ tướng mỗi ván đặt tiền tỷ, từ 1 tỷ mà tăng dần lên 5!
Liệu những chuyện đó có gợi lên nghịch lý nói trên không? Nếu có, thì có nên quay trở lại cái giải pháp duy ý chí của một thời thực hiện chủ nghĩa bình quân để chỉ có thể chia đều sự nghèo khổ trong cơ chế quan liêu bao cấp chứ không thể tạo ra sự giàu có của dân để có sự cường thịnh của nước. Thế là ở đây, nhân danh chữ “kiệm” mà kêu gọi thắt lưng buộc bụng, “mỗi người làm việc bắng hai, để cho chủ nhiệm mua đài mua xe” đẩy tới sự ngưng trệ của sản xuất, đất nước đứng bên bờ vực thẳm của khủng hoảng kinh tế xã hội kéo dài!
Thế nhưng, cũng về chữ “kiệm” ấy, Bác Hồ lại chỉ rõ nội dung bằng viện dẫn lời của Mạnh Tử : “ Làm cho nhiều, tiêu thì ít, làm chóng tiêu chậm tức là đủ” để từ luận điểm đó mà đưa ra mục tiêu kinh tế cần phấn đấu ngay từ 1948, khi cuộc Kháng chiến mới khởi động được bốn tháng :“ Nghèo trở lên đủ, đủ trở lên giầu, giàu thì giàu hơn”. Vậy là chữ “kiệm” cũng có ba bảy đường diễn giải, cho nên bàn về chữ “kiệm” vào lúc này cũng có cái lý chi đây.
Nội hàm của chữ “kiệm” khá rộng, song dễ thể hiện nhất lại là chuyện cái hầu bao và cung cách sử dụng đồng tiền trong cái hầu bao đó. Cụ Nguyễn Công Trứ đã chua chát mà rằng: “Thế thái nhân tình gớm chết thay. Lạt nồng coi chiếc túi vơi đầy”.
Nưng xem ra, nếu chiếc túi ấy rủng rỉnh thì các đại gia mới mua cây cảnh bạc tỷ để làm sang, còn người lao động làm thuê sẽ không phải chịu cảnh tha hương trong ngày Tết vì không đủ tiền mua vé về quê. Cho nên, chuyện “thế thái nhân tình”, chuyện “lạt nồng” giữa người và người gắn với đồng tiền xem ra cũng có liên quan đến chữ “kiệm” nếu đặt chữ “kiệm” ấy trong mối quan hệ với  “cần”, “liêm” và “chính”.
“Kiệm” đi liền với “cần” thì khỏi phải bàn. Càng cần cù chịu khó kiếm đồng tiền trong cuộc mưu sinh thì nhất quyết phải dè sẻn trong chi tiêu để có lưng vốn dắt lưng mà kiếm sống. Do cần cù nhẫn nại trong sản xuất, kinh doanh, từ người làm chủ  đến người làm thuê mà từ  “nghèo trở lên đủ, đủ trở lên giầu, giàu thì giàu hơn”, đồng tiền của quá trình mồ hôi nước mắt cộng thêm sự tìm tòi sáng tạo ấy mà có thì không thể phung phí. Ở đây, “kiệm” là một nhu cầu mang tính tất yếu. Người ta chỉ không “kiệm” khi đồng tiến kiếm được là đồng tiền bất chính, đồng tiền đến từ sự bất liêm. Vậy là, nội dung của chữ “kiệm” đích thực đúng là anh em sinh đôi với chữ “cần”, được bảo hiểm bằng chữ “liêm” và được tôn vinh bằng chữ “chính”!
Việc gì phải “kiệm” khi mà đồng tiền được dâng hiến từ việc “hoá giá” mờ ám để “dĩ công vi tư” được thực hiện với tốc độ “siêu nhanh”, như phát biểu của một đại biểu nói trước diễn đàn Quốc hội vừa rồi, cho thấy có cả một mạng lưới khép kín và tinh nhuệ của quy trình hoá giá “của chung ai khéo vẫy vùng làm riêng” một cách “hợp thức, hợp lý”. Thế là, chỉ trong phút chốc, những “công bộc của dân” sở hữu một gia tài trong mơ cũng khó chứ không chỉ trong cuộc đời thực.  Và rồi, những căn nhà to đùng, ngạo nghễ nằm ở những vị trí mà “tấc đất” không chỉ là tấc “vàng” mà là cả “cây vàng”, treo tấm gương lừng lững về sự bất công xã hội đối nghịch với khẩu hiệu “dân giàu , nước mạnh xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” trước mắt bàn dân thiên hạ.
Có lẽ phải viện dẫn đến phân tích của Các Mác để giải mã thực trạng đáng xấu hổ đó: “Nếu tiền là sợi dây ràng buộc tôi với đời sống con người, với xã hội, với giới tự nhiên và với con người thì tiền chẳng lẽ không phải sợi dây của mọi sợi dây sao? Nó chẳng lẽ không thắt nút và cởi nút mọi sợi dây hay sao”* . Minh họa cho luận điểm ấy, xin dẫn ra câu thơ như được viết bằng nước mắt của lòng phẫn nộ cũng của Nguyễn Công Trứ :

                         Tiền tài hai chữ son khuyên ngược
                    Nhân nghĩa đôi đường nước chảy xuôi

Đồng tiền không có mùi, dù in bằng chất liệu cotton hay polymer khi nó nằm trong phong bì hay nằm trong két sắt đều rất an toàn. Nó chỉ “bốc mùi” lên khi nó bị cơ quan pháp luận sờ đến. Tuy nhiên, lại có loại thuốc “khử mùi” để rồi trong nhiều trường hợp nó trở lại được với sức mạnh vô biên của nó. Nó chỉ thật sự “bốc mùi” khi bị chính tòa án lương tâm kiểm chứng và phán xét. Thế nhưng, sức quyến rũ ghê gớm của đồng tiền đã trục xuất lương tâm ra khỏi đời sống tinh thần của không ít người đang sở hữu nó. Để rồi, chính nó đã và sẽ nhấn chìm bao sự nghiệp của những con người nắm tiền và nắm quyền. Vì, tiền mua được quyền, quyền lại đẻ ra tiền. Cái vòng oan nghiệt này như một thứ “ma đưa lối, quỹ dẫn đường” khiến cho không thiếu những người từng có uy tín, có cống hiến bị sa đoạ, rơi vào những nghịch lý không thoát ra được để thân bại danh liệt. Làm trầm trọng thêm chuyện đáng xấu hổ này khi mà mạng lưới pháp luật đang để cho “ruồi to chui lọt, ruồi con mắc bẫy”!
Khi một cơ chế nuôi dưỡng sự “bất liêm” thì cũng bao che cho sự “bất chính”.Thế mà nôi hàm của chữ “chính” rất rộng, lại phải “chính danh” mới “lập ngôn” được. Chẳng thế mà Khổng Tử đòi hỏi “Quân tử sỉ kỳ ngôn nhi quá kì hành” [người quân tử phải lấy làm thẹn vì nói nhiều nhưng làm ít”], cho nên,  “Cổ giả ngôn chi bất xuất, sỉ cung chi bất đãi dã” , tạm dịch là “Người xưa thận trọng lời nói, sợ sẽ xấu hổ nếu nói mà không làm được”. Cho nên, nói một đằng, làm một nẻo bị Khổng Tử phê rất nặng. “Nhân nhi vô tín, bất tri kì khả dã”, tạm dịch là “ngừơi không có chữ tín sao gọi là người được” . Vị “vạn thế sư biểu” ấy lên án thói “xảo ngôn, lệnh sắc, tiển hỉ nhân”, tạm dịch là “nói năng khéo léo, nét mặt vờ niềm nở, hạng người đó ít lòng nhân”. Nhưng có lẽ nội dung của chữ “chính” trước hết tập trung vào “chính trị” mà cốt lõi của nó là quan hệ giữa người cầm quyền và dân. Mạnh Tử nhắc đến câu nói vua Nghiêu : “Một người dân đói, hãy nói rằng ta làm cho người dân ấy đói, một người dân rét hãy nói rằng ta làm cho người dân ấy rét”.
 Và để đề phòng chuyện nếu “vua coi dân như cỏ rác” thì dân sẽ “coi vua như cừu thù” nên Mạnh Tử căn dặn vua rằng “được lòng dân là được mệnh trời”. Chẳng những thế, vị Á Thánh của đạo Nho còn dám lớn tiếng “mắng vua” :“Bếp vua có thịt béo, tàu vua có ngựa mập mà dân thì có sắc đói, đồng ruộng la liệt những người chết đói, như vậy khác nào nhà vua sai thú ăn thịt người”! Mà đâu chỉ có Mạnh Tử, Nguyễn Trãi, ngay giữa triều đình đã chỉ vào mặt bọn gian thần mà rằng : “Sở dĩ có tai nạn ấy chính là tự lũ các ông. Các ông chỉ là đồ thích sưu cao thuế nặng, vơ vét của dân cho nhiều”. Chính vì điều ấy mà rồi vị khai quốc công thần ấy bị tru di tam tộc !
Xem ra, hiện nay, tuy không còn khung hình phạt tru di trong bộ Luật hình sự nhưng hình như cái chuyện “mắng vua” hay mắng các vị tai to mặt lớn giữa “triều đình” hình như hơi bị hiếm! Phải chăng hiếm vì sợ? Vậy là chữ “chính” làm điểm tựa cho chữ “kiệm” gắn với chữ “cần” và chữ “liêm” nói ở trên lại thêm một chiều cạnh mới nữa. Chẳng nhẽ phải nhắc lại chuyện nhà triết học Diogenes thời Hy Lạp cổ đại bị xem là lập dị khi đốt đuốc giữa ban ngày, khi được hỏi, ông trả lời “để đi tìm người trung chính”.
Đúng là “người trung chính” khó tìm, nhưng có thể khó ở chốn triều đình chứ trong dân thì chắc không thiếu. Có phải vì thế mà Mạnh Tử dám nói “dân vi quý”, “quân vi khinh”? Chủ tịch Hồ Chí Minh thì nói dễ hiểu hơn nhiều : “dân phải biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hiện chữ Liêm. Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”!
Làm được như vậy thì “chữ kiệm” mới có ý nghĩa thiết thực. Nói một cách bỗ bã nhưng rất chi là thuyết phục liên quan tới việc tiễn năm Mèo để đón năm Rồng với câu tục ngữ “Ăn như Rồng cuốn, uống như Rồng leo” nhưng không trái với nội dung chữ “kiệm” nếu không “làm như Mèo mửa”!
Được như thế thì nên kết thúc bài báo Tết bàn về chữ “kiệm” bằng câu đối Tết của “thiên tài kỳ nữ” Hồ Xuân Hương cũng viết trên giầy hồng điều :

“Tối ba mươi khép cánh càn khôn, ních chặt lại kẻo Ma vương bồng Quỷ tới,
Sáng mồng một lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho Thiếu nữ bế Xuân vào”!

Chao ơi Ma vương và Thiếu nữ lại ngồi chung trên một tò giấy hồng điều ngày Tế, nhưng đây là biên chứng của cuộc đời mà ở đó, bốn chữ “cần, kiệm, liêm , chính” xem ra quá xa vời nhưng lại là khát vọng chính đáng của dân. Mà không có khát vọng thì làm sao sống giữa cuộc đời đấy nghịch lý?
 


TẢN MẠN VỀ CHỮ
“HOẠT” VÀ CHỮ “HƯNG”

(Bài đăng trên báo THƯƠNG GIA số Tết)


Đó là chữ “hoạt” và chữ “hưng” với mối quan hệ biện chứng trong sự đúc kết mang tính quy luật của cụ Lê Quý Đôn, nhà bác học thế kỷ XVIII, về sự phát triển của một quốc gia : “phi nông bất ổn, phi thương bất hoạt, phi công bất phú, phi trí bất hưng”. Vì là bài báo Tết cho tạp chí “Thương Gia”, xin chỉ bàn đôi điều về chữ hoạt và chữ hưng để nói về mối quan hệ giữa doanh nhân và trí thức.
Trong đời sống đất nước hôm nay, không chỉ trên thương trường, mà hình như cả trên chính trường, tiếng nói của doanh nhân đang có một trọng lựợng đáng kể. Trọng lượng đó sẽ được tăng lên nếu doanh nhân gắn liền với trí thức. Nói cách khác, làm sao để chữ trí gắn được với chữ thương, mà tuyệt nhất nếu được là “hai trong một” : nhà doanh nhân thời đại mới cũng là nhà trí thức với phẩm tính đích thực của nó, và rồi chính phẩm tính trí thức trong nhà doanh nghiệp sẽ làm cho diện mạo của doanh nhân được nâng lên tầm mức mới trong đời sống xã hội. Tuy chưa nhiều, nhưng đã có một số gương mặt như vậy, đặc biệt là trong giới trẻ.
Sự nghiệp phát triển của đất nước có khởi sắc được hay không tùy thuộc rất lớn vào tính năng động xã hội được đẩy tới thật mạnh mẽ, mà hoạt động của thương trường là một chỉ báo trung thực chứ không phải là những lời xưng tụng và rao giảng mùi mẫn thoát ly khỏi đời sống thực tế. Chữ “hoạt” trong “phi thương bất hoạt” cần phải diễn đạt trong nội dung của tính năng động xã hội được tạo ra bởi hoạt động của thị trường trong ý nghĩa toàn vẹn của nó. Chỉ cần nhớ lại thời kỳ “ngăn sông cấm chợ” của một thời kế hoạch hóa tập trung bao cấp khước từ kinh tế thị trường là đủ chứng minh cho điều đó.
Ấy thế mà nếu lùi sâu thêm một quãng, vào đầu thế kỷ XX, mặc dầu còn hết sức thô sơ, song  tư tưởng “phi thương bất hoạt” với việc sản xuất và kinh doanh theo cơ chế thị trường đã manh nha trong tư tưởng của lớp sĩ phu cấp tiến. Có chuyện đó vì họ đã cảm nhận được phần nào sự thay đổi của chặng đường từ trung cổ sang cận hiện đại, từ nên văn hóa có vùng gốc Hán đến truyền thống văn hóa Châu Âu, có nguồn gốc Hy lạp, với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản chiếm vị trí chi phối cả diện mạo văn hóa thế giới cận hiện đại. Đây là sự thay đổi rất sâu sắc, thay đổi của cách tư duy truyền thống “nông vi bản” từng in đậm trong nền văn hóa Việt Nam.
Nếu như trước đây, người cầm quyền lo cho dân chăm chỉ làm ăn để “trăm họ đủ thì ai để nhà vua không đủ” theo chỉ dạy của Khổng tử, thì đầu thế kỷ XX các nhà “duy tân” đã có một cái nhìn khác trước. Hai chữ “phú cường” được hiểu là dân có cuộc sống sung túc và nước đủ sức chen vai thích cánh với năm châu. Có nghĩa là “phú cường” cho cả xã hội trên nền tảng của sản xuất và kinh doanh phát triển. Vì thế, người ta kêu gọi “hợp đoàn doanh sinh”, kêu gọi mọi người góp vốn để có thể đầu tư kinh doanh nhằm cạnh tranh với các hãng buôn nước ngoài đang thao túng toàn bộ nền kinh tế.
Cụ Phan Chu Trinh xót xa nêu lên : “Nước ta không nghèo nhưng không có một đoàn thể nào đông quá ba người. Không có một cái lợi xã, lợi ích nào vốn hơn trăm bạc” [ Tựa Hợp đoàn doanh sinh huyết.] Cụ Nguyến Thượng Hiền đề nghị vận động cả nước mỗi người góp một hào cho công ty kinh doanh và vận động dùng hàng nội hóa hầu mong người sản xuất “đua tài làm cho tốt”, không được làm dối trá, người buôn bán không được trục lợi nâng giá để thiệt hại người mua khiến cho hành nội hóa không cạnh tranh được với hàng Tây, hàng Tầu. Các cụ kêu gọi  :
           Anh em một tụi cùng nhau,
 Thóc mình chớ để ném cho gà người. ” [ Phan Chu Trinh. Tựa Hợp đoàn doanh sinh huyết]
Để làm được việc đó thì phải mở mang đầu óc chứ không thể chỉ trói chặt mình trong những hủ tục.  Vậy là chữ “trí” đã được đặt lên bàn nghị sự của các cụ với một cách nhìn mới. Trí thức không thể chỉ biết thơ phú văn chương, thuôc làu kinh nghĩa, xa rời thực nghiệp :
Đem văn chương mà vênh váo với đời.
            Dăm ba câu bát cổ dông dài,
Trừ cử nghiệp, việc ngoài chi nỏ biết. [Bài hát khuyên hủ Nho]
Các cụ phê phán loại trí thức mà
             Đọc câu “lịch tượng thụ thời”, Hỏi giăng chẳng biết hỏi giời chẳng hay.
            Hỏi địa lí đêm ngày mờ mịt; Hỏi các nghề rối tịt trơ trơ.
            Nghĩa đen lấn cấn lơ mơ, Mắt nhìn thủng giấy, tay sơ đứt lề. [Cáo hủ lậu văn]
            Khí học làm sao? Hóa học làm sao? Cụ dẫn Dịch tượng,Thư trù chi cổ đế.
            Cơ khí là thế, điện khí là thế. Cụ rằng mộc ngưu, lưu mã chi Khổng Minh.  [Văn tế thầy đồ hủ]
Mạnh mẽ lên án những thói tật thủ cựu tự mãn, tự túc kiểu “ếch ngồi đáy giếng, coi trời bằng vung” của nhà Nho, các nhà canh tân phải “…đập mạnh thét dài, Cho người mê ngũ ai ai  tỉnh dần”. Cùng chuyện đó họ lên án thói phách lối hủ nho : “Khỏi làng mắt chửa thấy xa, Lại toan mai mỉa hai nhà Khang Lương. Ở nhà chân chửa ra đường, Lại toan ngang dọc bốn phương giang hồ”. Sự phẫn nộ ấy trong “Cáo hủ lậu văn” là nhằm xua đi thói thiển cận, trì trệ, bảo thủ để đòi phải mở cửa, canh tân : “Người sao trời rộng đất dài, Ta sao co quắp một nơi thế mà! Người sao nhẹ thẳng bay xa, Ta sao co kéo xó nhà với nhau ”. Sòng phẳng và quyết liệt hơn nữa, các nhà canh tân buổi ấy đòi hỏi  “Dây đàn cầm không hài hòa thì phải tháo ra mà sửa lại, nhà ở đã cũ hàng ngàn năm thì phải dỡ đi mà làm lại” [Văn minh tân học sách.] 
Đối chiếu với những trì trệ mà xã hội hiện đại đang gặp phải mới thấy ra được thái độ song phẳng và quyết liệt đó đáng trân trọng biết bao. Phải đặt thái độ đó trong bối cảnh bát nháo, nhiễu nhương của buổi Tây sang, ách thống trị của thực dân vừa áp đặt, khi mà “Á cũ qua rồi mới chửa Âu” như cụ Phan Bội Châu than thở  [Phan Bội Châu. Thư gửi Phan Chu Trinh.], thì mới đo được ý chí của những nhà “duy tân” buổi ấy trong chuyển đổi nhận thức để gắn việc “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” với việc kêu gọi làm cho đất nước “phú cường”.
Vậy là chữ “hoạt” của “phi thương bất hoạt” đã được khẳng định từ đầu thế kỷ trước! Thế mà dằng dai suốt gần hai trăm năm, chữ “hoạt” ấy bị chìm lấp đi, để rồi đến khi được phủi lớp bụi thời gian để khởi sắc trở lại thì thế giới đã bước vào thời đại kinh tế tri thức! Với chiếc màn hình của máy vi tính, thế giới trở thành “phẳng”. Chẳng phải đi đường vòng, mà là trực diện, ngay tức thì, trước màn hình của máy vi tính. Chiếc màn hình “phẳng” ấy đã kết nối những người ở khắp mọi nẻo đường của thế giới, tại những góc khuất nhất của trái đất, với người ngồi trong cabin máy bay đang bay ở độ cao mười nghìn mét, và xa hơn, trong khoang tàu vũ trụ. Trên lĩnh vực thương mại, chỉ một nút bấm trên máy vi tính là đồng vốn bạc tỷ có thể chu chuyển chỉ trong vài giây đồng hồ từ Á sang Âu, từ Bắc xuống Nam của “ngôi làng toàn cầu”! 
Sẽ hiểu hơn chuyện này nếu nhớ lại chuyện xưa, trên “con đường tơ lụa” vốn được coi là một hệ thống những con đường thương mại lớn nhất thế giới thời cổ đại, những "thương nhân lạc đà" đem tơ lụa từ Tràng An của Trung Hoa sang tận La Mã, Ai Cập theo bước chân chậm rãi của con vật có sức chịu đựng dẻo dai nhất trên sa mạc. Chuyện cổ kể lại rằng nữ hoàng Ai Cập Cleopatra lúc đó chỉ diện váy lụa Trung Hoa ! Và rồi những nhà quý tộc của La Mã thích lụa ấy đến mức họ cho cân lụa lên và đổi chỗ lụa đó bằng vàng ròng với cân nặng tương đương! Phải chăng điều đó đã thúc đẩy những thương nhân ròng rã bao tháng trời trên lưng lạc đà để vượt qua quãng đường dài mười mấy ngàn cây số! Và rồi, chính họ đã trở thành chiếc cầu nối của hai nền văn minh Đông và Tây!
Thực thi chữ “hoạt” buổi ấy mới vất vả làm sao nhưng cũng vĩ đại biết bao! Tuy nhiên, với thời đại chu chuyển vôn chỉ bằng một nút bấm, cái chữ “hoạt” này lại phải chịu đựng những thách đố mới không kém phần nghiệt ngã! Chẳng thế mà Rowan Gipson, đồng tác giả của cuốn sách nổi tiếng “Tư duy lại tương lai” đã cảnh báo : “Thế giới đã biến đổi quá nhiều đến mức những công thức để thành công trong ngày hôm nay hầu như chắc chắn sẽ là những công thức để thất bại trong ngày mai”! Điều này thì những “thương nhân lạc đà” xưa kia chưa gặp!
Cũng chính vì vậy, cái chữ “hoạt” trong “phi thương bất hoạt” phải gắn chặt làm một với chữ “hưng” trong “phi trí bất hưng”! Nếu cụ Lê Quý Đôn sống lại chắc cụ sẽ vuốt râu mà rằng “hậu sinh khả úy”, hãy trao cho chúng trách nhiệm tìm ra một đúc kết mới của cái thời đại mà “chuẩn mực chính là sự thay đổi” để chúng tìm cách đưa chữ “hưng” lồng vào trong chữ “hoạt”, để thấy rằng không có trí thì chẳng thế nào nền kinh tế thị trường đích thực có thể “hoạt” được!
E rằng phải có những “Văn minh tân học sách mới”, những “Cáo hủ lậu văn hiện đại” để tẩy uế, dọn sạch lớp “hủ nho hiện đại” chỉ biết ăn theo, nói leo, xài bằng cấp giả để kiếm chác một chiếc ghế để tận hưởng sự kinh doanh quyền lực, loại kinh doanh có lãi bậc nhất hiện nay! Chữ “hoạt” này thì thật đáng sợ, nó là thứ “giảo hoạt”, đối nghịch hẳn với nội dung vốn có, cũng không thể đội chung trời với chữ “hưng”, vì nếu  chữ “trí” mà kết hợp với chữ “giảo hoạt” này thì chắc chắn sẽ làm cho xã hội bất an, đất nước bất hưng!
Chuyện này thì cũng đã “xưa như quả đất”, cái sự “hoạt giảo” này khi hôn phối được với sự giảo hoạt của kẻ có tri thức sẽ tính đến cả chuyện buôn vua chứ không chỉ buôn đất, buôn rừng, buôn khoáng sản! Thì đó, Lã Bất Vi, người có con mắt tinh đời, vừa trông thấy Tử Sở đã nhìn ra “món hàng này lạ, có thể buôn được đây”. Và “món hàng lạ” này dưới bàn tay đưa đẩy của Bất Vi đã trở thành Trang Tương Vương của nước Tần, Lã Bất Vi làm thừa tướng, được tấn phong là Văn Tín Hầu, ăn thuế mười vạn hộ, rồi được tôn làm tướng quốc, gọi là trọng phụ! Đừng quên rằng Lã Bất Vi là người chủ xướng biên soạn bộ sách “Lã Thị Xuân Thu” với “ tám Lãm, sáu Luận, mười Kỷ gồm hơn hai mươi vạn chữ, cho là đủ hết những việc trời, đất, muôn vật, xưa nay”!  Xin nhớ, theo lời bình của Cao Dụ thời Đông Hán thì “sách này chủ trương lấy đạo đức làm mục tiêu, lấy vô vi làm cương kỷ, lấy trung nghĩa làm phẩm đức, lấy công bằng cởi mở làm chuẩn mực” cơ đấy! Quả thật “hoạt” và “hưng” cỡ ấy thì đúng là “danh bất hư truyền”. Chẳng thế mà đâu chỉ người thời Xuân Thu Chiến quốc bên Tàu noi theo! “Buôn vua” thời hiện đạt cũng giảo quyệt và “tinh nhuệ” không kém vì có công nghệ thông tin tiếp sức!
Xem ra, mối tương tác giữa chữ “hoạt” và chữ “hưng” sẽ tùy thuộc rất nhiều vào môi trường hoạt động của doanh nhân và trí thức và phẩm tính của cả người trí thức đích thực cũng như doanh nhân chân chính. Thời nào cũng vậy thôi, thì ngay như chuyện giá cả leo thang đang là nỗi bức xúc của tuyệt đại bộ phận dân cư, đặc biệt là của người lao động làm thuê, người làm công ăn lương, nhất là các cụ về hưu với đồng lương hưu còm cõi thì hai trăm năm trước, cụ Lê Quý Đôn đã từng bức xúc. Trong “Phủ biên tạp lục”cụ đã chép một bài thơ của bạn đưa tiễn mình trên đường vào Thuận Hóa, bài thơ của Lê Viết Trình, có hai câu nói lên bức xúc ấy :
                                    “Vật giá tự vô đằng dũng hoạn
                                    Sinh dân thứ lạc thái bình phong” 
Mong sao cho vật giá đừng tăng vọt lên nữa và nhân dân vui hưởng thái bình. Nỗi lo vật giá gia tăng s ảnh hưởng đến cuộc sống của dân đã từng là niềm ưu tư của những tấm lòng thật sự vì nước vì dân tự bao đời ! Cho nên, để có thể là “hai trong một” hai chữ hoạt và hưng mà chủ thể của chúng là doanh nhân và trí thức không là chuyện đơn giản. Vả chăng, Shakespeare, văn hào Anh, có nói rằng vết thương nào lành mà chẳng lành từng chút một. Trong chuyện này, không thể nóng vội được mà phải là chuyện lâu dài với những bước đi vững chắc.
Như đã nêu ở trên, giá mà cụ Lê Quý Đôn sống lại được thì phải cậy nhờ về chuyện đã nêu: tìm ra một chữ mà gói được sự “hai trong một” ấy như cách cụ chỉ thêm một cái chấm vào dưới rốn chữ “đại” để tượng hình chữ “thái” thì tuyệt. Nhưng lịch sử không có chuyện giá mà, hơn nữa câu chuyện hài hước rất hóm kia chỉ là một truyền thuyết nói về sự ươm mầm của một bản lĩnh mà thôi*! Bài báo Tết xin dừng ở đây.

*Xem chú thích ở bài “Phiếm đàm về chữ Ổn” ở trên



  
     “QUA ĐÌNH NGẢ NÓN TRÔNG ĐÌNH”

Bài đăng trên số Tết bào DOANH NHÂN SÀI GÒN CUỐI TUẦN“

Trong sâu thẳm tâm thức người Việt, hình ảnh mái đình cây đa luôn ở vào cung bậc nhạy cảm nhất và có sức gợi nhớ mãnh liệt. Bất cứ người Việt nào cũng có, và cần có, một vùng quê để thương để nhớ. Thật bất hạnh cho ai đó không có được một “vùng thương nhớ” ấy trong hoài niệm tuổi thơ. Đã là hoài niệm, thì cho dù nơi ấy có cơ cực tủi nhục đến đâu, có xơ xác lam lũ thế nào, có để lại những dấu ấn buồn đau đến mấy, thì vẫn có sức gọi dậy những vang bóng một thời đầy ắp những kỷ niệm mông lung, ấm áp. Về làng, ta về làng, hai tiếng ấy giục giã đến nao lòng những người vì cuộc mưu sinh, vì một sự nghiệp phải xa quê. “Ai về làng cũ hôm nay, Thư này đưa hộ cho thày mẹ tôi. Con đi mười mấy năm trời, Một thân bé bỏng, nửa đời gió sương…Con đi năm ấy tháng tư, Lúa chiêm xấp xỉ giỗ từ tháng ba. Con đi quạnh cửa quạnh nhà, Cha già đập lúa, mẹ già giũ rơm. Cha dậm gạo, mẹ vần cơm, Có con, con vắng, ai làm thay cho”(Nguyễn Bính).
Mà đã về làng thì làm sao có thể không nhớ, không thăm cái đình.
“Trúc xinh trúc mọc bên đình, em xinh …” đấy là cái hồn cốt của làng đã thăng hoa trong cảm thức thẩm mỹ dân tộc với những hình tượng độc đáo xao động lòng người chứ cái đình thường giữ một vị trí trang trọng trong ý thức dân làng. “Cái đình là trung tâm của làng. Làng nào cũng có đền thờ ông thần hoàng. Đình được cất cao ráo khang trang, thế tất theo phong thủy, nơi phong quang nhất làng”,  Tô Hoài luận về “cái đình làng” trong “Chuyện cũ Hà Nội” như vậy. Hãy nghe người kể chuyện cũ rất có duyên ấy nói về cái đình làng : “Ở đình…có ngai thờ ông thần hoàng thiêng liêng, uy nghi. Ông thần trông coi làng sáng soi trên đầu mọi người. Thần hoàng đã xuất hiện từ nghìn xưa, mọi triều đại thay đổi, nhưng vua đời nào cũng phong sắc cho thần hoàng làng. Các vị thượng đẳng phúc thần được tế lễ thờ phụng là nhân vật tiền sử như Thánh Gióng, có khi là những anh hùng có thật. Lý thường Kiệt, đức thánh Trần, Phạm Ngũ Lão, bà Ỷ Lan. Có khi là người vô danh chết vào giờ linh được hiển thánh…”.
Trong “Việt Nam văn hóa sử cương” xuất bản năm 1938, học giả Đào Duy Anh chỉ rõ : “Đối với dân làng, thần Thành hoàng là biểu hiện của lịch sử, phong tục, đạo đức, pháp lệ cùng hy vọng chung của cả làng, lại cũng là một thứ quyền uy siêu việt, một mối liên lạc vô hình, khiến cho hương thôn thành một đoàn thể có hệ thống và tổ chức chặt chịa”. Chỉ riêng tục “hèm” ở khá nhiều làng quê cũng cho thấy nét độc đáo của tín ngưỡng dân gian có một sức bền vững kỳ lạ, càng thần bí, kỳ quặc bao nhiêu càng bảo lưu được những nét dáng nguyên sơ trong việc thờ thành hoàng. Cụ Đào miêu tả hiện tượng ấy như sau : “Trong lễ vào đám hay vào hội của ít nhiều làng, có một nghi tiết đặc biệt gọi là hèm, người ta thường bày một trò để nhắc lại tình tình sự nghiệp hoặc sinh bình của vị thần làng thờ. Ví dụ khi vào đám lễ thần ăn trộm thì ban đêm con trai con gái trong làng đốt đuốc đi xung quanh đình giả tìm kẻ trộm, trong khi ấy người thủ từ lấy tượng thần đưa qua lỗ ngạch, có ông tiên chỉ đứng chực sẵn ở phía ngoài nắm lấy cổ tượng thần đấm ba đấm rồi bỏ lên kiệu rước lại vào đình”. “Hèm” nhằm trình diễn một biểu tượng đặc trưng về cuộc đời, một nét tính cách đặc biệt của vị thành hoàng làng, vị thần bảo trợ cho cộng đồng làng, khẳng định tính riêng biệt độc đáo của cộng đống ấy.
Ẩn chìm trong màn sương hư ảo của tín ngưỡng mang tính huyền bí là bóng dáng của sức cố kết cộng đồng trong tâm lý làng xã được thăng hoa, bụi thời gian dần dà phong kín cái cốt lõi hiện thực của cuộc sống làng quê. Trong dòng chảy thời gian ấy, với bao biến thiên của lịch sử và những đảo lộn xã hội, cái làng quê đã bị xáo động dữ dội, những lễ tục ấy rồi cũng đã nhạt nhòa, may lắm chỉ còn được gợi lại trong hồi ức của một lớp người nay đã ngày càng hiếm. Tuy nhiên, dù có chìm vào quên lãng, rồi đây lớp người “cổ lai hi” hôm nay đã không còn nữa, thì hồi ức ấy vẫn còn đọng lại trong nền văn hóa làng vốn là nguồn sinh khí nuôi dưỡng bản sắc văn hóa dân tộc.
“Cái đình làng”, dù có “trúc xinh mọc bên đình” hay không, thì “mỗi cái cây ở thôn xóm cũng như con người đều mang sự tích cuộc đời và cái hồn cốt của nó” (Tô Hoài) cho nên nói chuyện về cái đình, thật ra là để nói về chuyện nền “văn hóa làng” ấy.
 “Ngày qua ngày lại qua ngày. Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng. Bảo rằng cách trở đò giang. Không sang là chẳng đường sang đã đành. Nhưng đây cách một đầu đình. Có xa xôi mấy cho tình xa xôi”! Có người cho rằng, cái quy luật tất yếu và phũ phàng của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa “ngày qua ngày lại qua ngày” dường như đã vùi giập không thương tiếc nền văn hóa làng ấy. Cho dù có muốn cưỡng lại cũng chỉ là những khát khao vô vọng : “Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa, Như hôm em đi lễ chùa, Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh”. Giờ đây không chỉ là “Hôm qua em đi tỉnh về, Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” mà là văn minh đô thị, đúng hơn, những cặn bã của nền văn minh đó đang tràn về đầu độc các chàng trai cô gái làng cho dù họ biết “thày u mình với chúng mình chân quê”( Nguyễn Bính). Lối sống “chân quê” đó đã phần nào bớt đi sự tăm tối bùn lầy nước đọng với lũy tre làng khép kín bịt che tầm mắt, đã từng chặn hết lối ra với le lói cơ may tìm được lối thoát để mong tìm một sự thăng tiến xã hội. Không biết với việc Hà Nội mở rộng gấp nhiều lần, “ai khéo xoay ra phố nửa làng” (Tú Xương) thì người nông dân Thủ Đô với “hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” liệu có góp phần vào việc “nông thôn hóa đô thị” của một Hà Nội văn minh, hiện đại đến đâu và rồi có dị ứng lại với những cặn bã của văn minh đô thị?
 Chỉ biết rằng cái thứ cặn bã văn minh đô thị đang đầu độc làng quê ta theo một kiểu không kém phần thảm thương để đến nỗi một nhà thơ thảng thốt kêu lên : “những nền tảng của văn hoá truyền thống ở các làng quê đã biến dạng và bị phá vỡ. Cái quan hệ hàng xóm láng giềng có được trong truyền thống tốt đẹp lâu đời của văn hoá làng Việt Nam mỗi ngày một mất đi những vẻ đẹp và tính nhân văn của nó. Làng quê Việt Nam bây giờ “ông chẳng ra ông thằng chẳng ra thằng”. Phố cũng không phải phố mà làng cũng không phải là làng”(Nguyễn Quang Thiều). Rồi lại có tiếng gào thất thanh : “Làng tôi bây giờ ở đâu? Biết bao nhiêu người đã đứng lặng và cất lên câu hỏi đó. Làng ở đây chính là hồn vía, là văn hoá... Hồn vía của làng đang bỏ cái làng địa lý ra đi giống một linh hồn đã rời bỏ thể xác ... đây không phải là một dự báo mà là một hiện thực. Khi chúng ta đánh mất hồn vía của làng là chúng ta mất làng. Và nói rộng hơn là chúng ta đánh mất văn hoá. Khi văn hoá không còn thì chúng còn gì nữa đâu. Hỡi hồn vía làng quê ở đâu hãy về! (Vietnamnet 20.8.2008).
Một câu hỏi đặt ra : liệu có nhất thiết buộc phải đánh đổi một nông thôn xanh tươi và hài hòa với thiên nhiên, nơi ấp ủ nền văn hóa truyền thống dân tộc để đổi lấy một nông thôn tàn tạ, nham nhở, phố không ra phố, làng chẳng ra làng không? Câu hỏi đó như một điệp khúc buồn day dứt, cứ trở đi trở lại mãi khi bàn về vấn nạn nông thôn, đặc biệt khi nói về nền văn hóa làng.

 Những tổn thương nặng nề trong chiến tranh, nhất là những vết thương trong cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức ở Miền Bắc cuối những năm 50 thề kỷ XX chưa kịp kín miệng, lên da non, thì những sai lầm của chủ nghĩa giáo điều duy ý chí trong việc áp đặt mô hình kế hoạch hóa tập trung bao cấp, cùng với việc hối hả thúc đẩy quá trình tập thể hóa nông nghiệp với hợp tác xã bậc thấp rồi hợp tác xã bậc cao, tiếp tục làm cho nó lở loét thêm, thúc đẩy sự biến dạng và tàn tạ của nền văn hóa làng. Và rồi, với tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa chưa có một định hướng hợp lý đã đẩy nhanh thêm quá trình tan rã và biến dạng của nền văn hóa làng đó. Không khéo lần công phá dữ dội của làn sóng đô thị hóa và công nghệp hóa kỳ này, nếu không có một chuyển đổi về nhận thức và đường lối, sẽ là đòn trí mạng làm sụp đổ hẳn nền văn hóa làng. Mà cần nhớ rằng, làm sụp đổ nền văn hóa làng, tức là nhổ bật cái gốc của văn hóa Việt Nam với cấu trúc chặt chẽ của ba nhân tố : văn hóa nhà, văn hóa làng và văn hóa nước, cái làm nên bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam.

 Để cảm nhận được đầy đủ điều ấy, phải ngược dòng lịch sử mà hiểu ra rằng trong cái thế kẹt của vị thế địa chính trị “ trứng nằm dưới đá” Việt Nam muốn tồn tại và phát triển phải rèn cho mình bản lĩnh có cứng mới đứng được đầu gió, dám tự khẳng định mình, sớm rèn luyện bản lĩnh “dám là mình”. Không có phẩm chất đó thì dân tộc này đã không thể tồn tại chứ chưa nói đến phát triển. Biết bao lần kẻ thù đã muốn biến nước ta thành quận huyện của chúng, thậm chí chỉ là một xứ thuộc mẫu quốc ở tít tắp bên kia đại dương, xóa tên Việt Nam trên bản đồ thế giới. Để thực hiện mục tiêu đó, trước hết phải tiêu diệt ý chí đề kháng được hun đúc trong nền văn hóa vốn là nguồn sức mạnh bất tận của dân tộc Việt Nam. Kẻ thù không sao đồng hóa được dân tộc này vì chúng có thể chiếm giữ được nước (thủ đô, huyết mạch giao thông) song không sao chiếm được làng, không làm băng hoại được nền văn hóa làng. Còn làng thì còn nước, sự gắn kết làng-nước là sức sống bất tận của dân tộc ta. Cốt lõi của sức sống đó là gì, chất xi măng gắn kết mọi con người trong cộng đồng dân tộc này là gì, nếu không phải là văn hóa? Nói như Phạm Văn Đồng : “Văn hóa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử của dân tộc, nó làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao sóng gió và thác ghềnh tưởng chừng không thể vượt qua được để không ngừng phát triển và lớn mạnh”.
Ấy thế mà thật oái oăm, những cơn binh lửa tàn phá thành tựu của nền văn hóa dân tộc “…Lửa đốt sạch, than ôi vận nước, sách vở đi đời. Muốn tìm sự tích sau cơn khói lạnh tro tàn, thật rất khổ tâm về nỗi nét sai, chữ sót…”mà sử gia Ngô Sĩ Liên từng xót xa, nhưng nếu nghiêm khắc phân tích kỹ, chiến tranh chỉ có thể thiêu hủy những thành tựu văn hóa vật thể, khi cơn binh lửa qua đi vẫn có thể trùng tu, xây dựng lại, còn những hủy hoại đã diễn ra từ sau những năm 50 thế kỷ XX trở lại đây như đã trình bày, thì không chỉ những di sản văn hóa vật thể mà cùng với chúng, những di sản văn hóa phi vật thể, đời sống tâm linh, nơi sâu thẳm của tâm hồn con người, có ý nghĩa khơi động, dẫn dắt ý nghĩ và hành động hướng thiện của con người đã bị xúc phạm dữ dội.
Đình làng bị đập phá hoặc biến thành kho thóc hoặc thành trại chăn nuôi của hợp tác xã. Tại sao?  Do sự ấu trĩ và cực đoan, người ta chỉ thấy chốn đình trung là nơi các quan viên tụ họp chè chén, bàn “việc làng”, và ức hiếp dân lành mà quên mất rằng, đình làng còn là tụ điểm của văn hóa làng, nơi diễn ra “chèo sân đình”, một sinh hoạt văn hóa không chỉ dành riêng cho “giai cấp bóc lột”. Cho nên sân đình không chỉ là nơi máu chảy đau thương và căm uất : “Sân đình máu chảy, đường thôn lính đầy” , mà sân đình còn là nơi diễn chèo, cũng là nơi hò hẹn, nơi chờ đợi của lứa đôi, của khát vọng : “Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ. Mẹ bảo “Thôn Đoài hát tối nay”… “Em xin phép mẹ vội vàng đi, Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe”… “Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm, Em mải tìm anh chả thiết xem.”…. “ Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ, Để mẹ em rằng, hát tối nay?”
Người ta không thấy và không chịu thấy rằng, được đặt vào nơi phong quang nhất , trung tâm của làng, ngôi đình làng có ý nghĩa thiêng liêng trong đời sống làng quê. Cùng với ngôi đình làng, phải kể đến ngôi chùa làng. Chùa làng, đáp ứng một nhu cầu rất sâu đậm của đời sống thôn dã, là sự cân đối trở lại nét bất bình đẳng nặng nề trong sinh hoạt cộng đồng làng quê. Nếu ở đình làng, ngoài những ngày sóc vọng lễ tiết có “hội làng mở giữa mùa thu, Giời cao gió cả giăng như ban ngày” mà cả dân làng đều tụ hội thì thông thường, chốn đình trung chỉ dành cho các quan viên bàn “việc làng”, người phụ nữ không can dự thì ngôi chùa làng lại là nơi dành cho họ, các cụ các bà các cô thôn nữ, và đương nhiên trẻ em được dắt theo. “Trẻ vui nhà, già vui chùa”. Tuy đã là vang bóng của một thời nhưng lẽ nào con người hiện đại không còn có chút gì xúc động với nét văn hóa làng quê được thăng hoa trong thơ Nguyễn Bính : “ Trên đường cát mịn một đôi cô. Yếm đỏ khăn thâm trẩy hội chùa. Gậy trúc dắt bà già tóc bạc. Tay lần tràng hạt miệng nam mô ”?
Nhà văn Xuân Cang trong “Nụ hoa cau” xuất bản cách đây hơn mười năm có kể lại một chuyện cảm động về ngôi chùa làng ở Kẻ Sủi : một cô du kích gan dạ, từng gánh rơm để đốt nhà vãi của ngôi chùa ấy làm hiệu lệnh cho tiêu thổ kháng chiến, đã quyết không chịu biến chùa thành trại chăn nuôi HTX. Rồi cô “chết thảm thương lắm. Nó chất đầy hoa huệ, đóng kín cửa phòng lại. Người ta bảo nó tự tử vì tình...Ngồi trước nấm mồ chưa xanh cỏ, chị tôi nói : Cái người nằm dưới này ấy mà, không phải chết vì tình đâu. Mà vì người ta bảo cô lập một trại chăn nuôi ở ngay trong vườn chùa. Cô đã chối. Cô tâm sự với chị rằng chùa là nơi thiêng liêng, bát ngát hương hoa, nơi ấy lại có đền có giếng, ngày xưa sớm chiều có tiếng chuông ngân làm dịu lòng người. Ngày trước kháng chiến, đốt chùa làm hiệu lệnh, nó đi một nhẽ. Nay khác. Cô không nỡ biến chùa thành nơi ô uế. Cô sợ rằng làm thế làng ta sẽ không ngóc đầu lên được. Cô thà chết. Người ta đã kết cho cô đủ tội. Và cứ lập trại chăn nuôi. Khổ thế đấy em ạ. Chị đã ẵm cô ấy ra khỏi phòng, người cứ bợt bạt đi. Và đẫm một mùi hương huệ. ”(tr.22).
Ngẫm kỹ ra, mỗi thiết chế được nảy sinh đều đáp ứng một nhu cầu của đời sống, hoặc đời sống vật chất, hoặc đời sống tinh thần. Đình làng, chùa làng có một vị trí đặc biệt trong đời sống tinh thần của làng quê. Với sự nhạy cảm của một nhà thơ, cách đây khá lâu Nguyễn Duy đã từng xao xuyến nâng máy ảnh chụp ngôi đình nổi tiếng ở quê anh, đình làng Gia Miêu ở Tống Sơn, Thanh Hóa tiêu điều, tàn tạ. Vừa rồi, trên báo lại có đề cập đến chuyện ngôi đình này : “Vua Gia Long cho xây đình Gia Miêu thờ tiên hiền Nguyễn Công Duẩn - một bậc công thần của Lê Lợi thưở khởi nghĩa Lam Sơn, khởi đầu cho công tích họ Nguyễn từ mảnh làng Gia Miêu trở thành một vương triều lớn trong lịch sử Việt Nam”. Và rồi “đình Gia Miêu đẹp và thiêng liêng bậc nhất đất Tống sơn-Quý huyện, vậy mà chỉ mới năm 1997 đây thôi nhà thơ Nguyễn Duy về thấy một góc đình thiêng đã sụt, trên cột đình ai đó viết dòng chữ thu mua bèo và ốc để nuôi cá. Ông và nhà văn Nguyễn Khải thắp nhang mà chả biết cắm vào đâu, bèn sắp mấy viên ngói vỡ lên cao một tí làm bàn thiên cắm mấy nén nhang tưởng niệm. Năm 1999 đình Gia Miêu được trùng tu ”.*
Trùng tu, đúng, phải trùng tu ngôi đình. Nhưng trước hết có lẽ phải “trùng tu” cái đầu còn hời hợt trong suy nghĩ về di sản của ông cha để lại. Trên non sông gấm vóc này từng có bao nhiêu di sản như vậy bị tàn phá và nay vẫn đang còn bị tàn phá một cách tàn nhẫn và quyết liệt  do nhiều nguyên nhân. Lại xin dẫn tiếp bài báo trên với những dòng chữ quằn quại một nỗi đau : “Di sản biến mất. ...sững người trước tấm hình phóng lớn một khu lăng mộ thành quách đền đài dựng ngay trước mặt cánh đồng bạt ngàn lúa và mía. Tấm hình ấy được chụp từ máy bay nhìn xuống khu lăng miếu từ trên cao, lưu dấu vẻ hoành tráng và huy hoàng như những cụm thành quách lộng lẫy vàng son trong kinh thành Huế. Và trên mảnh đất bời bời lúa và mía này, xưa kia là khu lăng miếu Triệu Tường. Tấm hình chụp năm 1933, nhiều người nói phải hai mươi năm sau khi chụp, khu lăng miếu này mới bị hủy hoại và đến năm 1977 mới thành bình địa. Một di sản mang vác hồn thiêng cho tiên tổ một triều đại với quá nhiều biến động nay đã không còn dấu tích”.* May mà dấu tích này còn lưu lại nhờ tấm hình chụp năm 1933 khi đất nước còn dưới ách nô lệ thực dân!
 Xin được gợi lên đây một sự kiện do nhà thơ Nguyễn Duy kể lại. Nhân tham gia Hội thảo Khoa học về Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn tại Thanh Hóa, tác giả của bức ảnh chụp đình Gia Miêu tàn tạ, đổ nát năm 1997 đã đến thăm lại đình Gia Miêu vừa được trùng tu. Tại nơi phát tích của triều Nguyễn,“một triều đại đã để lại một di sản khổng lồ, vĩ đại mà không triều đại nào trong lịch sử có thể sánh được” như sự nhìn nhận của giáo sư Phan Huy Lê, chủ tịch Hội Khoa Học Lịch sử, Nguyễn Duy đã xúc động ghi nhận rằng : Theo ký ức của một số cụ già địa phương thì năm 1947, trên đường về thăm Thanh Hóa, Bác Hồ đã đến thắp hương ở đình Gia Miêu và Nguyên Miếu Triệu Tường trước khi đến nói chuyện với nhân dân và cán bộ tỉnh Thanh. Một sự kiện mà càng suy ngẫm càng thấm thía tầm cao tư duy của lãnh tụ, một cốt cách văn hóa vượt hẳn lên cái nhìn trực quan hạn hẹp để thấu vào cốt lõi của lý tưởng giải phóng dân tộc và mục tiêu cao cả của sự nghiệp cách mạng .
Không một tấm lòng Việt Nam yêu nước thương nòi nào không xúc động về hình ảnh Bác Hồ tại Đền Hùng năm 1954 với câu nói bất hủ : “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cố gắng giữ lấy nước”. Rồi vào thời điểm cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ ở Miền Bắc vừa bắt đầu Bác đã về thăm đền thờ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn ngày 15. 2.1965 . Hình ảnh từng có sức lay động mãnh liệt về sự gắn kết giữa truyền thống với hiện đại, về sự hiện diện của ông cha trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước hôm nay, đó là hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tấm bia “Côn Sơn Tư Phúc tự bi” vào dịp ấy. Có hiểu về điều này mới hiểu ý nghĩa sâu sắc của việc Bác Hồ ký sắc lệnh về bảo vệ di sản đúng hai tháng sau ngày Nam Bộ kháng chiến 23.9.1945. Sắc lệnh đó ghi rõ : “Cấm phá hủy những đình, chùa, đền, miếu hoặc những nơi thờ tự khác, cung điện, thành quách cùng lăng mộ chưa được bảo tồn. Cấm phá hủy những bi ký, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở có tính cách tôn giáo hay không, nhưng có ích cho lịch sử mà chưa được bảo tồn”. Và sẽ càng hiểu sâu đậm hơn khi đặt cạnh Sắc lệnh số 65 ngày 23.11.1945 nói trên cái “Sắc chỉ” của Minh Thành tổ gửi viên tướng viễn chinh Chu Năng cách đó 539 năm, ngày 21.8.1406 : “…Một khi binh lính vào nước Nam, trừ sách vở và bản in của Đạo Phật, đạo Lão thì không thiêu hủy, ngoài ra, hết thảy mọi sách vở văn tự, cho đến những loại ca lý dân gian hay sách dạy trẻ nhỏ, loại sách có có câu “thượng đại nhân, khưu ất kỷ ”…một mảnh, một chữ đều phải đốt hết. Khắp trong nước, phàm những bia do Trung Quốc dựng từ xưa đến nay thì đều gìn giữ cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá hủy tất cả, một chữ chớ để còn…”. Nghĩa là tiêu diệt nền văn hóa bản địa hiện hình trên những bia ký, sách vở vốn là di sản vô giá của một dân tộc, một quốc gia. Tiêu diệt cái đó cũng chính là hủy diệt đời sống tinh thần của một dân tộc, cái làm nên sức mạnh của dân tộc đó.
Chúng nó quyết “một chữ chớ để còn”, cho nên nhà sử học Ngô Sĩ Liên đau xót mà viết “…Lửa đốt sạch, than ôi vận nước, sách vở đi đời. Muốn tìm sự tích sau cơn khói lạnh tro tàn, thật rất khổ tâm về nỗi nét sai, chữ sót…”. Hoàng Đức Lương, văn thần triều Lê Thánh Tông, tác giả của “Trích Diễm Thi tập” ngậm ngùi mà rằng : “bôn ba sưu tập, hỏi han khắp nơi…những gì thu thập được cũng chỉ là một, hai trong trăm, ngàn phần…”. Thế đấy, chỉ còn được “một, hai trong trăm ngàn” những báu vật quốc gia, những di sản vật thể và phi vật thể ấy, vì thế mà phàm là người Việt Nam còn chút lương tri, lương năng thì phải cố công chăm chút bảo vệ. Phạm vào di sản quốc gia là phạm vào trọng tội, sẽ bị hậu thế chê cười, cháu con phê phán vì đã không biết trân trọng máu xương của bao thế hệ Việt Nam đổ ra để tạo dựng và gìn giữ. Về chuyện này, lịch sử rất sòng phẳng. Thế là từ chuyện cái đình làng, mái chùa làng mà bàn rộng ra những di sản, báu vật quốc gia.
 Mà báu vật quốc gia sát sườn với con người đang sống, đang thực hành công nghiệp hóa, đô thị hóa, hiện đại hóa là đình làng, là chùa làng, những biểu tượng văn hóa gần gũi, gắn bó với người nông dân, kể cả những người thành thị là gốc gác nông dân. Trong một bài viết cảm động, tác giả của “Về nguồn”, nhà sư Thích Chơn Thiện đăng trên “Văn hóa Phật giáo” số 71 đã khẩn khoản :“Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt” ; chùa làng vốn là căn bản của Phật giáo, với số nông dân chiếm khoảng 70% dân số cả nước, thế mà hình ảnh ngôi chùa làng, tiếng chuông thanh thản , đầm ấm...đang trở nên hiếm hoi ở nông thôn. Ước chi mỗi làng quê đều có đình, có chùa...Về làng cũng chính là về nguồn, về với tâm hồn dân tộc, với an bình, hạnh lạc. Mong thay !”. Mà thật ra, có người dân thành phố nào không có một gốc gác nông thôn?
Nói về cái “gốc gác” nông thôn ấy, người viết bài này đã có dịp gợi lên trong một bài viết đã đăng trên Hà Nội ngàn năm về nét dáng “làng” và nét dáng “phố” quyện vào nhau, trong “Phố Phái”, tên gọi quen thuộc một số sáng tác của danh họa Bùi Xuân Phái, báu vật của Thủ Đô. Những bức danh họa đã đánh thức những ý niệm sâu lắng về đất nước : nghèo, nhưng dám là mình, từ một nền văn minh lúa nước của miền nhiệt đới gió mùa mà chủ động và sáng tạo trong cách đi vào công nghiệp hóa , đô thị hóa, hiện đại hóa để từ đó mà không đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc**. Ấy thế mà, có người đã dõng dạc tuyên bố : “muốn hội nhập, phải thoát khỏi văn hóa làng xã”. Cho nên, nói về hiện tượng đáng buồn đã xảy ra trong sự kiện “lễ hội phố hoa Hà Nội chào mừng năm 2009 vừa rồi, người ta đã quy tất cả tội lỗi cho văn hóa làng! Rằng : “xét về mặt văn hóa, những hành động này phát xuất từ văn hóa nông thôn, văn hóa làng xã mà ra …lối sống của môi trường làng xã còn đậm chất ở nhiều người dân Hà Nội nên đã gây ra sự cố trong những lễ hội hoa vừa qua ”. Và rằng, “khi mở cửa, chất nông thôn đi vào đô thị nhiều hơn chất quốc tế…có khi chất quốc tế không bổ sung kịp, không nhiều bằng chất nông thôn”. Từ đó mà đưa ra kết luận rất lạ lùng : “Người ta bẻ hoa, giật hoa vì người ta coi đó là chuyện hồn nhiên. Họ không thấy xấu hổ, không biết mình thiếu văn hóa. Đó là bản chất của văn hóa làng xã.”

Sao lại có thể có thái độ khinh miệt với nông thôn và vô ơn làm vậy với người nông dân? Đành rằng trong “văn hóa làng” đã trầm tích những mặt tiêu cực của lối sống tiểu nông đang là vật cản cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa, kiểu tư duy manh mún, vụn vặt tự trói mình trong lũy tre làng “ta về ta tắm ao ta”, dìm chết những khát vọng đổi mới, duy trì dai dẳng một tập quán trì trệ, bảo thủ. Cũng trong bài viết vừa nhắc ở trên, người viết bài này đã nói nhiều về điều này, xin chi nhắc lại mỗi một khái quát về “mười cái nhất” của người nông dân :  Cống hiến nhiều nhất.  Hy sinh lớn nhất.  Hưởng thụ ít nhất.  Được giúp kém nhất. Bị đè nén thảm nhất.  Bị tước đoạt nặng nhất. Cam chịu lâu dài nhất.  Tha thứ cao cả nhất.  Thích nghi tài giỏi nhất. Năng động khôn ngoan nhất. **
Thay vì sự vô ơn với nông dân và thái độ miệt thị nông thôn, đổ lỗi cho “bản chất của văn hóa làng” đã gây nên những hiện tượng phản văn hóa, phải biết đau nỗi đau của con người ở chiều cạnh tập trung nhất của thuộc tính người : nỗi đau văn hóa. Hơn thế, phải nhận cho ra nỗi đau văn hóa cũng chính là nỗi đau xã hội ở dạng phức tạp nhất, vừa rất cụ thể, lại vừa rất khái quát. Mà đã là vết thương xã hội, vết thương văn hóa thì rất khó chữa, đúng hơn, phải chữa rất công phu. Phòng bệnh không tốt để xảy ra rồi thì phải chữa trị rất lâu dài.  Ngay khi vết thương đã lên da non thì vẫn dễ bị tái phát. Vì thế, cần phải có sự suy nghĩ nghiêm cẩn để phân tích một cách đầy đủ về hiện tượng đáng buồn nói trên ở chiều sâu của những ẩn ức dồn nén, rồi bộc phát ra trong hành vi. Cái đó, thuật ngữ chuyên môn xã hội học gọi là tâm trạng xã hội.  Cho nên, cùng với dồn lực tập trung tháo gỡ những khó khăn về kinh tế, phải đặc biệt coi trọng phân tích tâm trạng xã hội, có vậy mới đưa ra được những giải pháp đúng, trực tiếp, cụ thể, và cơ bản để giải quyết từ gốc chứ không chỉ cắt tỉa từ cái ngọn.***
Và vì văn hóa được hình thành theo quy luật thẩm thấu, nên cho dù trải qua những tàn phá thô bạo, những trấn áp nặng nề, trong sâu thẳm tâm linh của người nông dân, những nội dung văn hóa vô hình không dễ gì mất đi được. Chúng vẫn được ủ kín trong mỗi con người, nhất là các cụ già. Và đấy là lý do giải thích sự khởi sắc của một số lễ nghi, tập tục qua các hội làng, các sinh hoạt tín ngưỡng ở làng quê. Tuy không mất đi được, song sự tổn thương thì rất khó hàn gắn. Những tổn thương đó hiện đang được trị liệu, nhưng song hành với những trị liệu đó, “văn hóa làng” đang đứng trước một thách đố còn quyết liệt hơn nhiều của làn sóng công nghiệp hóa và đô thị hóa. Liệu có thể khoanh tay ngắm nhìn sự một đi không trở lại của những hình bóng quê hương, những ngôi đình, những ngôi chùa thân thiết sâu thẳm trong tâm thức người Việt chỉ còn là những “vang bóng một thời”? Không!
“Văn hóa làng” chính là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn Việt Nam, góp phần hun đúc nên bản sắc văn hóa dân tộc được vun đắp trong suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm, không có cái gốc đó, không thể có bề dày văn hóa hôm nay. Càng đi vào hiện đại, càng tiến sâu vào quá trình hội nhập quốc tế, càng phải biết gìn giữ, vun đắp cho cái gốc ấy. Đã mất gốc thì làm sao phát triển, và cho dù kinh tế có tăng trưởng bao nhiêu mà văn hóa lại lai căng, mất gốc thì sự tăng trưởng đó chẳng có được bao nhiêu ý nghĩa.
Đương nhiên giữ lấy cái gốc không phải như giữ một cổ vật đặt trong hòm kính của Viện bảo tàng. Để cho cái gốc ấy vững thì phải luôn được tưới tắm, vun xới, bổ sung để làm phong phú hơn sức sống của văn hóa Việt Nam. Đó là tính chất toàn dân tộc mới mẻ hơn, đa dạng hơn trong chất con người thời đại qua tiến trình giao thoa và hội nhập văn hóa với thế giới. Chất văn hóa toàn dân tộc và chất văn hóa con người toàn cầu đang nâng cao và làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc với sự hòa quyện, gắn bó giữa ba nhân tố : nhà, làng và nước. Văn hóa nhà (gia đình), văn hóa làng cũng vì thế có những nội dung mới, phong phú hơn, đa dạng hơn. Đấy cũng là quá trình hiện đại hóa truyền thống và truyền thống hóa hiện đại.
Đấy là chưa nói đến chuyện, vào những thập kỷ cuối thế kỷ XX bước sang thế kỷ XXI, thế giới ngày càng nhận thức rõ chính văn hóa mới là động lực và sức mạnh của phát triển. Trong quá trình toàn cầu hóa về kinh tế, mỗi quốc gia lại phải lo gìn giữ và phát triển bản sắc văn hóa của mình, đó chính là điểm tựa cho sự phát triển trong một thế giới đa cực và đa dạng.
Hãy nhìn vào ngôi đình làng, ngôi chùa làng, trừ một số ít được giữ gìn hoặc đang được trùng tu, còn lại thì đang tàn tạ, tiêu điều bằng nhận thức ấy mới thấy cần phải trả lại cho chúng cái chức năng văn hóa trong đời sống tinh thần của người Việt Nam. Liệu có thể đánh thức cảm quan thẩm mỹ “Qua đình ngả nón trông đình. Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu” và biết xao động với hình ảnh “Sư già quét lá sau chùa, Để thiêu xác lá trước giờ lên chuông ” .
Hoài cổ ư? Có thể. Nhưng đừng quên rằng, một trong 18 bộ phim hay nhất qua mọi thời đại của điện ảnh Châu Á do CNN bình chọn năm 2008 chính là phim “Bao giờ cho đến tháng mười” của đạo diễn Đặng Nhật Minh, bộ phim duy nhất của điện ảnh Việt Nam được đưa vào trong danh sách bình chọn đó. Chiều sâu thẳm của bộ phim đó đề cập đến một chủ đề hiện đại trên một cái nền của cảm quan thẩm mỹ dân tộc, ở đây có thể hiểu được một cách cụ thể và đầy thuyết phục thế nào là truyền thống hóa hiện đại và hiện đại hóa truyền thống. Và cũng chính ở đây ngôn ngữ điện ảnh đã làm sống lại cái hồn dân tộc trong vở chèo Trương Viên dưới mái đình làng và sự thăng hoa của cảm xúc thẩm mỹ trong màn sương hư ảo của miếu thờ thành hoàng , làm sống động nét tâm linh của nhân vật Duyên, một tính cách nhuần nhị và kiên cường của người phụ nữ làng quê, vượt qua những đau khổ của chiến tranh tưởng chừng không sao vượt nổi.
Cái làm cho bộ phim “Bao giờ cho đến tháng mười”, trở thành bộ phim hay nhất qua mọi thời đại của điện ảnh Châu Á phải chăng có sự góp sức đáng kể của sự thăng hoa ấy trong lý tưởng thẩm mỹ của nhà nghệ sĩ điện ảnh Đặng Nhật Minh ?
Quả thật “Trúc xinh trúc mọc đầu đình, Em xinh, em đứng một mình cũng xinh ”! Cái đình ấy chính là một biểu tượng của văn hóa làng, cội nguồn của văn hóa dân tộc! Vì thế, vấn đề không phải chỉ là cái đình, là đếm xem “đình bao nhiêu ngói”,  mà là “cần phải thăm dò cái gốc của nó, lại phải tưới tắm cho cái ngọn của nó, mở rộng cái nguồn của nó, lại phải buông lơi cái dòng của nó” của mạch sống dân tộc như đòi hỏi của Nguyễn Văn Siêu. Đúng, qua lời của “thần Siêu” trong cặp đôi “thần Siêu-thánh Quát”, danh sĩ Hà Nội thời nhà Nguyễn đầu thế kỷ XIX trong lời truyền tụng của dân gian, chúng ta hiểu ra rằng phải biết hiện đại hóa những tinh hoa của bản lĩnh văn hóa truyền thống, nâng chúng lên một tầm mới trong sự nghiệp phát triển và hội nhập của đất nước hôm nay.
Đúng là nói chuyện cái đình là để nói về văn hóa. Vâng, văn hóa.
Chúng ta đến với thế giới bằng gì nếu không là bằng bản lĩnh của văn hóa Việt Nam?
___________________
*     Báo Tuổi trẻ, ngày 22.10.2008
**   Xem Tương Lai. “Chuyện dài nông thôn đô thị”, Nguyệt san“Hà Nội ngàn năm” số tháng 7.2008
*** Xem Tương Lai. “Suy tư từ nỗi đau của hoa” Vietnamnet. 5.1.2009. Lưu trong mục Tuần Việt Nam, mục Tư liệu và suy ngẫm




                       

TẢN MẠN VỀ VĂN HÓA LÀNG
Bài đăng trên số Tết của”SỰ KIỆN VÀ NHÂN CHỨNG” chuyên san củabáo QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
                                                                                                                                  

Bất cứ người Việt nào cũng có, và cần có, một vùng quê để thương để nhớ. Thật bất hạnh cho ai đó không có được một “vùng thương nhớ” ấy trong hoài niệm tuổi thơ. Về làng, ta về làng, hai tiếng ấy giục giã đến nao lòng những người vì cuộc mưu sinh phải xa quê
“Ai về làng cũ hôm nay,
Thư này đưa hộ cho thày mẹ tôi.
Con đi mười mấy năm trời,
Một thân bé bỏng, nửa đời gió sương…
...Con đi năm ấy tháng tư,
Lúa chiêm xấp xỉ giỗ từ tháng ba.
Con đi quạnh cửa quạnh nhà,
Cha già đập lúa, mẹ già giũ rơm.
Cha dậm gạo, mẹ vần cơm.
Có con, con vắng, ai làm thay cho”(Nguyễn Bính).
   Còn với người cầm súng ra đi vì sứ mệnh cứu nước của những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp trong “Thăm Lúa” của Trần Hữu Thung thì lại có một âm hưởng khác :

Cam ba lần có trái
Bưởi ba lần ra hoa
Anh bước chân đi xa
Từ ngày đầu phòng ngự
Bước qua thời kỳ cầm cự
Anh có gửi lời về
Cầm thư anh mân mê…

Và rồi làng quê rộn ràng, náo nhiệt hẳn lên khi

Các anh về tưng bừng trước ngõ
Lớp lớp đàn em hớn hở chạy theo sau
Mẹ già bịn rịn áo nâu
Vui đàn con ở rừng sâu mới về.
Từ lưng đèo dốc đá mù che
Các anh về xôn xao làng tôi bé nhỏ
Nhà lá đơn sơ nhưng tấm lòng rộng mở
Nồi cơm nấu dở, bát nước chè xanh
Ngồi vui ta kể chuyện tâm tình bên nhau.
[“Bộ đội về làng” Thơ Hoàng Trung Thông, nhạc Lê Yên]

Những “chuyện tâm tình” ấy được gửi gấm vào giai điệu trầm lắng trong “Làng tôi” của Văn Cao, gọi dậy những hoài niệm thật da diết của “Làng tôi xanh bóng tre, từng tiếng chuông ban chiều, tiếng chuông nhà thờ rung…đồng quê yêu dấu bóng tre với con thuyền một dòng sông”.
“Tiếng chuông nhà thờ” ấy điểm xuyết vào âm hưởng sâu thẳm của tiếng chuông chùa vốn ngân vang tự bao đời trong cảnh sắc làng quê, nuôi dưỡng, thanh lọc tâm hồn người nông dânnói lên sự hòa hợp khoan dung trong đời sống tinh thần của làng quê ta, in đậm dấu ấn của truyền thông văn hóa  Việt Nam. Một nền văn hóa có sức dung hợp, tiếp nhận những tinh hoa văn hóa của thế giới để làm phong phú thêm đời sống tinh thần của mình. Tuy nhiên, nếu rạch ròi ra thì mãi đến thế kỷ 17 sang thế kỷ 18 thì ở một đôi nơi, làng quê mới có tiếng chuông nhà thờ, và tháp chuông nhà thờ tuy cố xây cao hơn mái chùa làng song không hề làm “thấp” đi ngôi chùa làng trong tâm thức người Việt !
“Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt ”. Chùa làng thường gắn với đình làng, một bộ sóng đôi trong tâm thức người Việt, thể hiện sinh động triết lý nhân sinh và tinh thần khoan dung hòa hợp trong đời sống tinh thần và tín ngưỡng dân gian. Chùa làng còn đáp ứng một nhu cầu sâu đậm của đời sống thôn dã, đó là sự cân đối trở lại nét bất bình đẳng trong sinh hoạt cộng đồng làng quê xưa. Nếu ở đình làng, ngoài những ngày sóc vọng lễ tiết có “hội làng mở giữa mùa thu, Giời cao gió cả giăng như ban ngày” mà cả dân làng đều tụ hội, thì thông thường, chốn đình trung chỉ dành cho các quan viên bàn “việc làng”, đàn bà con gái không được can dự. Để bù lại, có ngôi chùa làng dành cho họ, các cụ, các bà, các cô thôn nữ, và đương nhiên trẻ em được theo bà, theo mẹ, theo chị đến chùa. “Trẻ vui nhà, già vui chùa” nhưng trẻ cũng vui bám váy bà đến chùa để được ăn oản.
Vì vậy, nếu “Cái đình là trung tâm của làng. Làng nào cũng có đền thờ ông thần hoàng. Đình được cất cao ráo khang trang, thế tất theo phong thủy, nơi phong quang nhất làng” [Tô Hoài] thì chùa làng thường được cất nơi thanh vắng, tịch mịch, không câu nệ là ở góc làng, ở ven làng hay ở trung tâm. Dù tọa lạc ở vị trí nào thì ngôi chùa làng vẫn hiện diện vừa thân thiết gần gụi, vừa huyền ảo lay động cõi tâm linh. Một góc khuất trong đời sống tinh thần của người làng quê!
Nhớ lại vang bóng của một thời để làm sông lại một nét văn hóa làng quê trong thơ Nguyễn Bính, “ Trên đường cát mịn một đôi cô. Yếm đỏ khăn thâm trẩy hội chùa. Gậy trúc dắt bà già tóc bạc. Tay lần tràng hạt miệng nam mô ”. Chao ôi, một vùng thương nhớ, quyến rũ dường như đã một đi không trở lại với  tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa được đẩy tới.
E rằng ai đó đã nhầm với cái nhìn thiển cận ăn xổi ở thì, cứ ngỡ đưa chuyện thi “người mẫu” thi “hoa hậu” lượn lờ khoe các vòng eo là thay được cho “yếm đỏ khăn thâm trẩy hội chùa”để được là hiện đại và phát triển. Đúng là nhiều gia đình nông thôn đã sắm được chiếc tivi, nhà chưa sắm được thì đêm đêm có thể xem nhờ hàng xóm. Kinh tế có cải thiện, nhưng lối sống chưa mấy đổi thay, thị hiếu thẩm mỹ đi liền với phong tục tập quán của gần hai phần ba dân số sống ở nông thôn sẽ ngỡ ngàng như thế nào khi được thường xuyên “tiếp sóng” những lượn lờ vòng eo và áo tắm 3 mảnh rất chi là mùi mẩn ! Những cái đó sẽ “phát huy tác dụng” như thế nào thì báo chí đã phơi bày những hệ lụy.
Người ta quên mất rằng văn hóa không phải là mỳ ăn liền, văn hóa được hình thành theo quy luật thẩm thấu. Việc ăn tươi nuốt sống những sản phẩm văn hóa không tương thích với môi trường sống và phong tục tập quán chưa đổi thay sẽ gây độc hại nhiều hơn là thêm dưỡng chất. Bởi thế mới có tiếng kêu thảng thốt : “những nền tảng của văn hoá truyền thống ở các làng quê đã biến dạng và bị phá vỡ. Cái quan hệ hàng xóm láng giềng có được trong truyền thống tốt đẹp lâu đời của văn hoá làng Việt Nam mỗi ngày một mất đi những vẻ đẹp và tính nhân văn của nó. Làng quê Việt Nam bây giờ “ông chẳng ra ông thằng chẳng ra thằng. Phố cũng không phải phố mà làng cũng không phải là làng”.( Nguyễn Quang Thiều. Viẹtnamnet 20.8.2008)
Ngẫm nghĩ kỹ, nền văn hóa làng, có người gọi nôm na là cái hồn vía làng quê vốn được bảo tồn và nuôi dưỡng bằng xương máu của bao thế hệ. Người Việt hiểu rõ làng và nước gắn làm một, cho nên  làng còn thì nước còn. Nhiều lần ông cha ta dám bỏ ngỏ kinh đô Thăng Long : thế kỷ 13 chống đế quốc Nguyên Mông, thế kỷ 15 chống quân xâm lược nhà Minh, thế kỷ 18 chống quân xâm lược nhà Thanh, thế kỷ 20, Hà Nội bị thực dân Pháp quay trở lại chiếm đóng. Và rồi, quân dân đời Trần, đời Lê, đời Quang Trung và thời đại Hồ Chí Minh dựa vào làng để tích tụ sức người, sức của để chiếm lại thủ đô, lấy lại nước. Nổi rõ lên trong truyền thống kháng chiến chông ngoại xâm qua các thời đại, ngôi chùa làng , nơi  ấp ủ văn hóa truyền thống, cũng là nơi nuôi dưỡng chở che người yêu nước.
Thì chẳng thế sao? Ngay trong cái bảng lảng của một cảm thức mơ hồ về lòng yêu nước mà “Tự Lực Văn Đoàn” của một thời gợi nhớ, thì ngôi chùa trong “Tiêu Sơn tráng sĩ ”của Nhất Linh chẳng đã từng để lại trong ký ức của một lớp người những thoáng đăm chiêu về đất nước dưới ách nô lệ đó thôi!
Một bóng dáng khác, dữ dội hơn nhưng cũng đằm thắm, sâu nặng hơn về ngôi chùa làng, trong tác phẩm của Xuân Cang. Một cô du kích gan dạ ở “Kẻ Sủi”, từng gánh rơm đốt nhà vãi của ngôi chùa làng mình để làm hiệu lệnh cho tiêu thổ kháng chiến. Nhưng khi hòa bình được lập lại, làng của cô đi vào hợp tác, cô đã quyết không chịu biến ngôi chùa làng thành trại chăn nuôi. Không cưỡng lại được sức ép bạo tàn, cô lấy cái chết của mình để cảnh báo về sự hủy hoại văn hóa. Cô đã chất đầy hoa huệ trong phòng kín rồi đóng chặt cửa để chết trong hương huệ! Tác giả dẫn lời người chị : “Cô tâm sự với chị rằng chùa là nơi thiêng liêng, bát ngát hương hoa, nơi ấy lại có đền có giếng, ngày xưa sớm chiều có tiếng chuông ngân làm dịu lòng người. Ngày trước kháng chiến, đốt chùa làm hiệu lệnh, nó đi một nhẽ. Nay khác. Cô không nỡ biến chùa thành nơi ô uế. Cô sợ rằng làm thế làng ta sẽ không ngóc đầu lên được. Cô thà chết. Người ta đã kết cho cô đủ tội. Và cứ lập trại chăn nuôi. Khổ thế đấy em ạ. Chị đã ẵm cô ấy ra khỏi phòng, người cứ bợt bạt đi. Và đẫm một mùi hương huệ ”.(Nụ Hoa Cau. tr..22)
Liệu có thể khoanh tay ngắm nhìn sự một đi không trở lại của những hình bóng quê hương, những ngôi chùa làng, những ngôi đình làng thân thiết vốn sâu thẳm trong tâm thức người Việt nay chỉ còn là “vang bóng một thời”? 
Không! “Văn hóa làng” chính là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn Việt Nam, góp phần hun đúc nên bản sắc văn hóa dân tộc được vun đắp trong suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm, không có cái gốc đó, không thể có bề dày văn hóa hôm nay. Đương nhiên, cũng trong văn hóa làng đã trầm tích những nét tiêu cực của người nông dân, lối suy nghĩ vụn vặt, tản mạn tự trói mình trong lũy tre làng của lối sống tự cấp tự túc không sao chuyển nổi sang kinh tế hàng hóa để phát triển bứt lên. Cùng với những tiêu cực phải xóa bỏ, phải biết ra sức trân trọng gìn giữ và phát huy những cốt lõi tinh hoa của văn hóa làng, cái gốc của văn hóa dân tộc.
Càng đi vào hiện đại, càng tiến sâu vào quá trình hội nhập quốc tế, càng phải biết gìn giữ, vun đắp cho cái gốc ấy. Đã mất gốc thì làm sao phát triển, cho dù kinh tế có tăng trưởng bao nhiêu mà văn hóa lại lai căng, mất gốc thì sự tăng trưởng đó chẳng có được bao nhiêu ý nghĩa. Thử hỏi, chúng ta đến với thế giới bằng cái gì nếu không phải là bằng văn hóa?

    ƯƠM MẦM BẢN LĨNH CHO TUỔI THƠ



Trong cuộc sống bộn bề với bao nhiễu nhương phiền lụy, bao dồn nén bức xúc trong cuộc mưu sinh giữa cơn bão giá, bao day dứt đắn đo trong suy tư về những gập ghềnh sự nghiệp, những dằn vặt về ngòi bút… thì ánh mắt tuổi thơ  chính là nguồn sáng bất tận xua bớt đi những u ám muộn phiền, những bi lụy đa đoan. Vì ánh mắt tuổi thơ luôn luôn thật. Đôi lúc đứa trẻ có thể có lời nói dối, khi thì đượm vẻ hồn nhiên, cũng có khi vẩn đục vì sự tác động của môi trường bên ngoài, song đôi mắt trẻ thì không hề dối, không thể giả. Có hàng giả, ý tưởng giả, đạo đức giả, song không thể có ánh mắt tuổi thơ giả. Đó là ân huệ của tạo hóa dành cho trẻ con khi chúng thật sự là trẻ con. Chính vì thế mà học giả đáng kính, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện từng lưu ý chúng ta, “Có thể nói sau 5, 6 tuổi, tính tình con người ta đã hình thành rồi, giáo dục khó mà biến đổi” . Vì thế, ông khuyên :“Để cho trẻ sống hoàn toàn đầy đủ thời thơ ấu của nó, sau lớ lớn lên nó sẽ sống đời người lớn một cách hoàn toàn đầy đủ”.  Lời khuyên ấy có hai về, vế trước là tiền đề của vế sau. Sống hoàn toàn đầy đủ thời thơ ấu quả thật khó. Nhưng còn khó hơn là sống đời người lớn một cách hoàn toàn đầy đủ. Mà khó hơn, vì người lớni9 không còn là trẻ con nữa để được tận hưởng ân huệ của tạo hóa. Cho nên, để tận hưởng triệt để ân huệ của tạo hóa đã miễn nhiễm cho đôi mắt trẻ thơ không phải chịu những vẩn đục bụi bậm bẩn thỉu của môi trường ô nhiễm, thì phải cố gắng tối đa trong những điều kiện quá ngặt nghèo và bất cập, để sao cho tuổi thơ được sống thật với chính sức sống và khát vọng của chúng. Nhờ thế khi lớn lên, chúng có thể sống cuộc đời người lớn, cho dù chưa “hoàn toàn” cũng không đến nỗi giả trá. Ươm mầm cho bản lĩnh từ tuổi thơ để sao cho chúng “sẽ sống đời người lớn một cách hoàn toàn đầy đủ”  phải là trách nhiệm của cả xã hội chứ không chỉ riêng ngành giáo dục đang cần phải “sửa mình” thật sạch sẽ mới đảm đuong nổi!
Nhân ngày Tết, xin hãy chỉ nói lên hai ước nguyện về trẻ con sẽ trở thành người lớn như thế nào. Đành rằng, đã là ước nguyện, thì tránh sao khỏi những bóng dáng của ảo tưởng. Nhưng thà cứ đánh lên một que diêm lòe chút ánh sáng ảo tưởng, cũng đành với giọt ánh sáng lóe lên ấy sẽ rồi lịm tắt, vẫn còn hơn là chỉ cam chịu “thực tế, thực dụng” ngồi chờ. Que diêm ảo tưởng có sức nặng vạn lần thói cam chịu và đầu hàng, nguồn cơn của nô lệ và tủi nhục của một thời đến tên nước cũng không còn :
 Một là : uớc sao trẻ con của chúng ta, những trẻ con của một dân tộc kiên cường và bất khuất có mấy ngàn năm lịch sử trường tồn với cái đầu ngẩng cao ý chí độc lập và tự chủ, chúng sớm được rèn luyện bản lĩnh “ dám là mình”. Đó phải là phẩm chất số một của con người Việt Nam đang đưa đất nước mình hội nhập vào ngôi làng toàn cầu ngày càng gần gủi và nhỏ hẹp trong một thế kỷ XXI đầy những biến động không sao lường hết được. Không có phẩm chất đó không thể đến với thế giới, không thể chủ động hội nhập để phát triển. Vì hội nhập không phải chỉ để hội nhập, mà hội nhập để phát triển.
Đã dám là mình thì không khuất phục trước cường quyền và áp bức bất công như ông cha ta đã từng. Không có phẩm chất đó thì dân tộc ta đã không thể tồn tại chứ chưa nói đến phát triển. Biết bao lần kẻ thù đã muốn biến nước ta thành quận huyện của chúng, thậm chí muốn một xứ thuộc mẫu quốc ở tít tắp bên kia đại dương. Mà để được thế thì trước hết phải tiêu diệt ý chí đề kháng đã được hun đúc trong nền văn hóa vốn là nguồn sức mạnh bất tận của dân tộc ta. Tiêu diệt văn hóa để dân tộc ta không còn là mình, không có điều kiện để “dám là mình”, đó là âm mưu đồng hóa xuyên suốt lịch sử trên từng trang nhuốm màu binh lửa, ngoại xâm, đô hộ rồi thực dân thuộc địa. Đến một vị sư  mà khi nói về con đường tu luyện của người nguyện theo giáo lý của đức Phật tổ, mà vẫn không dấu được cái khí phách phải là minh, dám là mình đó : “Nam nhi tự hữu xung thiên chí. Hưu hướng Như Lai hành khứ hành”! Quả là chống nô lệ giáo điều đến tận cõi tâm linh! Làm trai phải có cái chí xông lên trời thẳm. Việc gì cứ phải nhọc lòng lẽo đẽo dẫm theo vết chân của đức Phật tổ Như Lai, thiền sư Quảng Nghiêm đời Trần thế kỳ XII đã dám viết như vậy. Ông cha ta đã mạnh mẽ biết bao khi rẻn cho mình bản lĩnh dám là mình.
 Ấy vậy mà xem ra đó cũng là phẩm chất của con người hiện đại. Chẳng thế mà người viết bài này đã hơn một lần đưa tin năm 2005 Tạp chí “Time” đã trao giải nhất cho cô bé Carolin Pan ở thành phố Quezon của Philippines, về câu hỏi  dành cho lứa tuôỉ 16-18 : “Ai là nhân vật quan trọng nhất thế kỷ 21” ? Cô bé 16 tuổi này đã trả lời :  “Tôi” ! Cô bé nói: “Tôi sẽ hét to điều này với tất cả thành phố nếu cần phải làm như vậy. Tôi cho rằng chính tôi, một học sinh trung học, là người quan trọng nhất thế kỷ.Tôi còn chưa ghi dấu ấn của mình vào lịch sử thế giới, và tôi không hề khao khát trở thành một Albert Einstein hoặc Bill Gates khác . Bởi vì tôi chỉ muốn là tôi....Chúng ta không biết cái gì hay hơn sao? Chúng ta không thể thử ghi dấu ấn bằng chính con người thực sự là của mình hay sao? ”.
Thế giới thống nhất trong tính đa dạng, mà trước hết là đa dạng văn hóa. Hai nền kinh tế và khoa học công nghệ có những bí mật tuyệt đối với nhau, nhưng rồi tàu vũ trụ của Nga và của Mỹ vẫn kết nối được với nhau trên không gian qua sự điều khiển của mặt đất. Mà kết nối được, vì tuy bí mật về công nghệ, nhất là công nghệ chế tác các thiết bị liên quan đến an ninh quốc phòng thì càng phải tuyệt đối, nhưng nguyên lý của các hoạt động công nghệ ấy thì chỉ là một. Và đấy là khoa học, là công nghệ. Trong văn hóa nghệ thuật thì không như thế. Không có một nền văn hóa này cao hơn một nền văn hóa khác. Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có quyển tự hào về nền văn hóa của mình, cái làm nên bản sắc riêng của mình. Càng hội nhập, càng phải tôn trọng bản sắc riêng của mỗi quốc gia, dân tộc. Chính vì thế, chúng ta phải đến với thế giới bằng chính bản sắc văn hóa của mình. Đánh mất bản sắc văn hóa đồng nghĩa với đánh mất mình. Mà nói đến văn hóa, chính là nói đến con người. Cho nên, để đến với thế giới, để hội nhập mà không tự đánh mất mình, phẩm chất cơ bản nhất của con người trong thời đại hiện nay là phải biết và dám tự khẳng định mình, phải dám là mình. Phải xót xa để nói lên rằng, hiện nay, phẩm chất này đang còn quá thiếu và quá yếu.
 Đấy là duyên do của ước vọng thứ nhất đối với trẻ em, khi chúng cần được sống hoàn toàn đầy đủ thời thơ ấu của chúng, chúng cần được tạo điều kiện, tạo môi trường, được dạy dỗ để hình thành nên tố chất biết tự khẳng định mình, dám là mình.
 Hai là : ước vọng tiếp theo với trẻ em của chúng ta được sống đầy đủ thời thơ ấu của chúng để rồi chúng trở thành người lớn : chúng  được chơi. Chơi là một nhu cầu của trẻ con, nhu cầu ấy cũng giống như không khí để thở vậy. Chơi và biết cách chơi, được tạo điều kiện để chơi một cách hồn nhiên, thoải mái và lành mạnh là một cách nuôi dưỡng tinh thần và thể chất của trẻ. Chính trong khi chơi, chúng đã học. Học cách sống, học cách ứng xử với ngoại cảnh, với môi trường, với bạn bè, với cộng đồng nhỏ bé của chúng. Cũng qua chuyện chơi, chúng sống một cách đầy đủ tuổi thơ ấu của chúng.
Hãy quan sát phần lớn các vườn trẻ, lớp mẫu giáo của chúng ta, từ thành thị đến nông thôn xem trẻ em của chúng ta đã được chơi như thế nào sẽ hiểu ra được rồi sau này chúng sẽ “sống đời người lớn một cách hoàn toàn đầy đủ (!)” như thế nào. Giờ đây cũng đã có nhiều “trường quốc tế” biết dạy cách chơi cho trẻ nhỏ. Nhưng thử hãy đếm xem có bao nhiêu con em chúng ta có điều kiện để được chơi như vậy? Trước cửa nhà tôi có ngôi trường “quốc tế” thật tuyệt vời. Cứ mỗi lần ra đứng ở ban công căn hộ của tôi nhìn xuống ngôi trường xinh xắn sang trọng đúng chuẩn “quốc tế” nhìn các cháu nhỏ đồng phục vào trường hay đang đá bóng trên sân cỏ được chăm sóc đúng bài bản phẳng lỳ một màu cỏ tươi bắt mắt mà lòng xao động xốn xang vừa thích thú vừa xót xa nghĩ đến không biết bao giờ trẻ con Việt Nam, những bé nghèo lam lũ đang phải chân đất đến trường để ngồi vào lớp học tuyền toàng, rách nát mà các thấy cô giáo đã cố đắp đổi bằng tre nứa thay gạch ngói vẫn không sao che chắn nổi gió lạnh cắt thịt da ở vùng rẻo cao mà một bài phóng sự của một nhà báo có lương tâm và đạo đức nghề nghiệp vừa đưa trên tivi!
Tuy nhiên, cũng đừng nghĩ rằng, phải ngôi trường hiện đại có máy điều hòa nhiệt độ và sân chơi với đủ các tiện nghi thì mới có thể tạo cho trẻ con của chúng ta được chơi, tất nhiên điều đó phải là một phấn đấu và một mơ ước]. Nếu vậy thì trò chơi của trẻ chăn trâu bẻ cờ lau làm hiệu thời Đinh Bộ Lĩnh của một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thế kỷ thứ X đã từng phát huy và tuyển chọn những tài năng nổi trội ghi vào sử sách không là trò chơi sao?
 Một bầu trời trong xanh với cánh diều trẻ chăn trâu bay lượn để nuôi dưỡng những ước mơ xanh của bao thế hệ Việt Nam chẳng lẽ không là một kỷ niệm sống động của bao tâm hồn tuổi thơ đó sao? Và rồi những con sông quê hương chưa bị bốc mùi hôi thối vì chất thải công nghiệp và chất thải đô thị tuôn thẳng vào đã biến thành màu nâu sâm hay mầu đen kịt, mà vẫn còn thơ mộng như thưở nao với “nước gương trong soi tóc những hàng tre, tâm hồn tôi là những buổi trưa hè, tỏa nắng xuống dòng sông lấp loáng, chẳng biết nước có giữ ngày giữ tháng , giữ bao nhiêu kỷ niệm giữa dòng trôi” chẳng nhẽ không từng nuôi dưỡng bao khát vọng tuổi thơ đó sao?
Trẻ em như búp trên cành, biết vui chơi biệt học hành là ngoan. Trong Thư gửi Hội nghị cán bộ phụ trách nhi đồng năm 1949, Bác Hồ căn dặn “ phải giữ toàn vẹn cái tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng (chớ nên làm cho chúng hóa ra những “người già sớm”. Nhiều thư các cháu gửi cho Bác Hồ, viết như người lớn viết; đó là một triệu chứng già sớm nên tránh). Trong lúc học, cũng cần cho chúng vui, trong lúc vui cũng làm cho chúng học. Ở trong nhà, ở trường học, ở xã hội, chúng đều vui, đều học” .
Mà nghĩ cho kỹ, thì ra cái chuyện chơi này cũng liên quan chặt với chuyện dám là mình nói trên của trẻ. Nếu từ thời thơ ấu, trẻ chỉ được rèn chuyện “gọi dạ, bảo vâng”, quen dạy cho động tác cúi đầu thưa gửi thì sẽ thành mẫu “người lớn” được cấp trên ưa thích, những mẫu người rất thích nghi với thói quen nịnh hót “dạ thưa anh”. La Rochefoucauld, nhà tiểu thuyết tâm lý người Pháp, từng viết rất thâm thúy : “Đôi lúc ta tưởng rằng mình ghét sự nịnh hót, nhưng thật ra, ta chỉ ghét cách nịnh hót mà thôi”! Tâm lý cố hữu rất dễ hiểu ấy cần phải được ngăn chặn từ thưở ấu thơ, trẻ phải dám là mình chứ không thể là cái bóng của người khác, cho dẫu đó là cha mẹ mình kính yêu. (Thì như Phật tổ Như Lai trong bài kệ đã dẫn nói trên chẳng đã gợi lên những điều cần gửi gấm đó sao?).
Ngăn chặn không phải là tập cho trẻ thói xấc xược vô lễ, mà là phải nhìn cho ra và triệt tận gốc thói nô lệ chỉ biết vâng dạ và khuất phục trước cường quyền, không dám đấu tranh cho lẽ phải, cho chân lý. Xem vậy mà triệt không phải dễ.
Năm con Mèo đi qua đã để lại những dư vị không mấy ngọt ngào cho dù các cháu nhỏ của chúng ta vẫn vô tư hồi hộp đón Tết, mong sao năm con Rồng tới sẽ làm cho sự vô tư hồn nhiên của trẻ nhỏ sẽ được bay cao trong một tư duy giáo dục biết hình thành cho các cháu nhỏ của ta  biết được cái lẽ của một tính cách “DÁM LÀ MÌNH”.

Tương Lai

(nhận ngày 29 tết Nhâm Thìn 2012)


   


   




   


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét