|
Ōe
Kenzaburo đến Việt Nam
So
với các nhà văn Nhật Bản khác như Kawabata Yasunari, Mishima Yukio,
thì
Ōe Kenzaburo, Giải thưởng Nobel văn học năm
1994, được giới thiệu và dịch thuật ở Việt Nam không nhiều lắm. Theo
ghi nhận của chúng tôi, tác phẩm của ông được dịch sang tiếng Việt
gồm có truyện vừa Nuôi thù (Diễm Châu dịch), tiểu thuyết
Một nỗi đau riêng (Lê Ký Thương dịch) và mấy truyện ngắn:
Cây mưa thông minh (Dương
Tường dịch), Quái vật trên không (Phan Thu Hiền dịch),
Những con cừu người và Người câm bất ngờ (Lê Ngọc Thảo
dịch)… Ngoài ra, còn có một số bài bình luận về tác phẩm
Ōe Kenzaburo của Nguyễn Nguyên, Ôn Thị Mỹ
Linh, Đào Thị Thu Hằng, Nguyễn Tuấn Khanh… Ghi nhận này có lẽ chưa
đầy đủ, nhưng dù sao so với sự nghiệp lớn lao của Ōe
Kenzaburo, việc giới thiệu này vẫn còn ít ỏi.
Tuy vậy,
Ōe Kenzaburo được biết đến ở Việt Nam khá
sớm, gần một phần tư thế kỷ trước khi ông nhận Giải thưởng Nobel.
Điều thú vị là cả hai tác phẩm Nuôi thù và Một nỗi đau
riêng được dịch bởi hai nhà thơ có cùng xu hướng nghệ thuật
khuynh tả và cùng được ấn hành ở thành phố phương Nam. Đặc biệt, cả
hai bản dịch tuy ra đời trong hai hoàn cảnh xã hội khác nhau, đều
cùng bị biên tập bỏ những chỗ “nhạy cảm” về tính dục.
1.
Năm
1970, tác phẩm Shiiku, Giải thưởng văn học mang tên Akutagawa
lần thứ 39 (1958), được nhà thơ Diễm Châu dịch và NXB Trình bầy ấn
hành ở Sài Gòn với nhan đề Nuôi thù. Trong “Ghi chú về tác
giả và tác phẩm” in ở cuối sách, dịch giả cho biết bản dịch này căn
cứ trên bản Anh văn The Catch của John Bester, công bố trên
hai tạp chí ở Nhật Bản và Hoa Kỳ. Diễm Châu cũng giải thích rõ là
trong tiếng Nhật Shiiku có nghĩa là nuôi (thú vật), dịch giả
chọn nhan đề Nuôi thù chỉ vì lý do âm điệu.
Tuy nhiên,
việc chọn nhan đề này không phải không có yếu tố hợp lý về mặt ý
nghĩa: tác phẩm đã khắc họa hình tượng kẻ thù qua số phận một viên
phi công Mỹ bị bắn rơi máy bay trên đất Nhật trong chiến tranh thế
giới lần thứ hai. Đó là câu chuyện về một ngôi làng Nhật Bản hẻo
lánh trên sườn đồi, nơi người ta phải nuôi giữ viên phi công da đen
ấy và đám trẻ con trong làng đã bày những trò chơi với tên tù binh
cho đến ngày hắn trở nên hung hãn vì chống lại quyết định giải đi
chỗ khác. Một đứa bé trong đám thiếu nhi đã có lòng thương xót, giúp
đỡ tên tù binh lại bị chính hắn bắt làm con tin và người cha đứa bé
buộc phải ra tay giết chết kẻ địch để cứu con mình. Nhìn cái chết
của tên giặc lái và ông Ký già tàn tật trong khi chính mình cũng bị
thương tích, đứa bé - nhân vật chính và cũng là người kể chuyện -
bỗng có ý nghĩ rằng từ nay nó đã đánh mất tuổi thơ.
Dịch giả đã
Việt hoá các tên riêng để gây cảm giác gần gũi với bạn đọc Việt Nam:
thắng Nhái, Sứt Môi, ông Ký… Nhưng điều chính yếu khiến tác phẩm
cộng hưởng với bạn đọc nước ta là không khí của truyện hô ứng với
hoàn cảnh chiến tranh lúc đó: những chuyến bay thả bom dữ dội, những
người lính Mỹ đen, Mỹ trắng dẫm gót giày trên các làng quê và nhất
là những đứa bé bơ vơ trong chiến tranh:
“Em tôi với tôi cũng như những hạt giống nhỏ bao chặt trong lớp vỏ
cứng và khoảng nhân dày, những hạt xanh bọc trong lớp màng quá mềm
mại và tươi non khiến chỉ phơi ra ánh sáng bên ngoài thôi cũng đủ
làm cho nó rung chuyển và tróc đi mất… Bên ngoài cái vỏ cứng, kế mặt
biển vươn dài như một sợi băng lấp lánh, nhỏ hẹp xa xa, chiến tranh
đương nôn mửa lớp khí tanh tưởi xuống thành phố. Cuộc chiến tranh
tiếp diễn quá lâu ấy ngày càng thêm rộng lớn và nặng nề như chuyện
hoang đường. Thế nhưng đối với chúng tôi, chiến tranh chỉ có nghĩa
là thiếu bóng những thanh niên trai tráng trong làng và thỉnh thoảng
lại một vài bức điện báo tin tử trận mà người đưa thư phân phát”
(1).
Trong bối
cảnh đó, sự xuất hiện của viên phi công da đen không chỉ đánh thức
cơn ngái ngủ của làng quê bị bỏ mặc trong lãng quên mà còn đánh thức
điều mà nhà văn Nguyễn Nguyên, với tư cách người đọc Nuôi thù,
nhìn thấy nơi một đứa bé con: phẩm cách Nhật Bản. Giới thiệu tác
phẩm này trên tạp chí Trình bầy, ông lưu ý đến Nhái - nhân
vật xưng tôi:
“Nhái đi lang thang,
đánh bạn với Sứt Môi nhưng không bao giờ đồng loã trong những trò
chơi, những nghịch ngợm của Sứt Môi. Nhái thản nhiên nhìn ngắm những
cái táo bạo, những cử chỉ sống sượng nhưng Nhái lại thường e thẹn
khi phản tỉnh, khi soi gương để tự thấy chân dung của mình.
Vậy nên có thể nói Nhái chính là sự thể hiện cái phẩm cách Nhật Bản,
cái phẩm cách tiềm tàng, ẩn chứa bộc lộ ngay ở một đứa trẻ, cái phẩm
cách không phải chỉ có ở những anh hùng, những vĩ nhân” (2).
Hình tượng
kẻ thù được Ōe Kenzaburo thể hiện dưới góc độ
nhân bản dễ tìm được sự đồng cảm nơi bạn đọc trí thức Việt Nam. Sứt
Môi và Nhái nhìn thấy bên trong viên tù binh da đen không chỉ là một
tên địch mà còn là một con người. Nguyễn Nguyên phân tích:
“Người
da đen đối với da vàng không phải là kẻ địch mà chỉ là một người như
người ta, hoàn toàn một người ta. Nhưng nó hết còn
được làm “người ta” khi nó bị đẩy vào đứng trên vị trí một kẻ địch.
Hết còn được làm người ta, nó không đóng vai một kẻ địch mơ
hồ trừu tượng, mà nó trở nên hoàn toàn một con thú. Nhưng không phải
chỉ có tên tù binh da đen trong thế tự vệ mới biến thành một con
thú, mà cha của Nhái, một người đàn ông giàu tình thương, một người
có độ lượng, trong cơn say máu cũng điên cuồng không khác gì một con
thú. Một con người không được làm người, một con người biến thành
một con thú, những đứa trẻ bị mất đi cái trong sáng hồn nhiên của
tuổi thơ, hết thẩy chỉ vì chiến tranh” (3).
Thật là dễ
hiểu cái cảm giác bàng hoàng và tuyệt vọng của Nhái lúc hay tin dân
làng phải giao nộp tên tù binh cho nhà chức trách, khi mà sau nhiều
lần phản ứng thăm dò và những
cuộc dạo chơi, nó và đám trẻ con trong làng đã cảm nhận được sự ràng
buộc chặt chẽ với viên phi công bằng một “thứ liên kết thật sâu xa,
thật mạnh mẽ gần như của “con người” với nhau” (4), đến mức nó nghĩ
rằng nếu viên phi công bị giao nộp, thì trong làng chẳng còn lại gì
hết “ngoài cái vẻ trống không của một mùa hè” (5). Chẳng bao lâu cái
cảm giác bàng hoàng và trống vắng đó bị thay thế bằng sự giận dữ đầy
thù nghịch cùng nỗi tủi nhục khi “con người” được cảm thông bằng
tình người đó trở thành kẻ phản bội. Ōe
Kenzaburo viết thay lời của Nhái:
“Chiến tranh, cũng như những trận lụt cuốn đi những đàn cừu và những
bãi cỏ non xén thấp ở những miền đất xa xăm, đáng lẽ chẳng bao giờ
được kéo tới làng chúng tôi mới phải. Thế mà nó đã tới, làm nát bấy
những ngón tay và bàn tay tôi, khiến cho cha tôi phải khoa cái rìu
lên, say trong máu của chiến tranh, và ở giữa tất cả những xô đẩy,
ào ạt đó tôi không làm sao thở được” (6).
Nuôi thù
được NXB Trình bầy ấn hành với giấy phép của Sở Phối hợp nghệ
thuật thuộc Bộ Thông tin Chính phủ Việt Nam Cộng hoà (Sài Gòn).
Trước đó, một kiệt tác của văn học Nhật Bản là Sembazuru
được nhà văn Trùng Dương dịch từ bản Anh văn Thousand Cranes
của Seidensticker với nhan đề Ngàn cánh hạc cũng do nhà xuất
bản này ấn hành năm 1969. Chính việc xuất bản Ngàn cánh hạc
đã cho nhóm chủ trương NXB Trình bầy một kinh nghiệm cay đắng: trong
khi hàng loạt tác phẩm viết và bàn về tính dục được cho phép xuất
bản công khai ở Sài Gòn, thì bản thảo Ngàn cánh hạc lại bị
cấm đoán một thời gian vì lý do “vi phạm thuần phong mỹ tục”.
Kinh nghiệm đó khiến dịch giả Diễm Châu và nhà xuất bản lần này thận
trọng “tự ý cắt bỏ” một vài chữ, thậm chí cả một câu, để làm vui
lòng Sở Phối hợp nghệ thuật, khiến họ không có lý do gì ngăn cản sự
xuất hiện của tác phẩm. Cụ thể, trong đoạn miêu tả Sứt Môi đùa
nghịch với mấy đứa con gái khi chúng tắm ngoài suối, những chữ “nhạy
cảm” bị thay bằng dấu ngoặc đơn và ba chấm: (…). Cách tự ý biên tập
này còn diễn ra sau đó, trong đoạn tác giả tả viên phi công, lúc này
đã trở nên thân thiện, được lũ trẻ kéo ra tắm sông và diễn những trò
chơi thô tục.
Nhưng những
chi tiết bị lược bỏ đó thật ra không làm ảnh hưởng đến chủ đề và
thông điệp nghệ thuật của tác phẩm. Trong những ngày tháng ngộp thở
nhất của chiến tranh, bản dịch Nuôi thù của Diễm Châu đã góp
phần đưa một tiếng nói nghệ thuật từ Nhật Bản về số phận và thái độ
của con người trong chiến tranh đến với bạn đọc Việt Nam. Kết cục
của cuộc chiến tranh giữa nước ta với quân Mỹ và cuộc chiến tranh
trên quê hương của Nhái trái ngược nhau: một nước chiến thắng sau
bao hy sinh mất mát; một nước thất bại và đầu hàng. Nhưng có một
điều gì tương ứng trong thái độ của bạn bè Nhái và những em bé Việt
Nam: trong khắc nghiệt của cuộc chiến tranh mà chúng không có quyền
chọn lựa, chúng là hiện thân của phẩm cách dân tộc và phẩm cách nhân
loại ngay khi đối mặt với kẻ thù.
2.
Ra mắt năm 1964 và được
Giải thưởng văn học Shinchosa, 32 năm sau, tiểu thuyết
Kojinteki na taiken được nhà thơ Lê Ký Thương dịch qua bản
Anh văn A Personal Matter của John Nathan và được xuất bản
với nhan đề Một nỗi đau riêng (NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh,
1997). Cũng như Diễm Châu, Lê Ký Thương là một nhà thơ khuynh
tả đã có tác phẩm công bố trước 1975.
Dựa trên một
trải nghiệm trong chính cuộc đời Ōe
Kenzaburo, Một nỗi đau riêng là câu chuyện về một người cha
chứng kiến sự ra đời của đứa con đầu lòng bị dị dạng vì bệnh thoát
vị não. Anh ta tìm cách trốn chạy trách nhiệm với sinh linh bé nhỏ
đó và có ý định bỏ mặc đứa bé cho Thần chết, miễn là không để tay
mình vướng vào tội ác, hầu thực hiện giấc mộng lãng du sang châu Phi
mà anh ôm ấp bấy lâu nay. Người bạn tình Himiko đã tiếp tay cho anh
thực hiện âm mưu tội ác đó. Toàn bộ cuốn tiểu thuyết là một cuộc đấu
tranh nội tâm đầy giằng xé giữa lương tâm, trách nhiệm của một người
cha với sự dửng dưng của một trái tim vô cảm.
So với
Nuôi thù thì việc miêu tả yếu tố tính dục trong Một nỗi đau
riêng “nghiêm trọng” hơn nhiều. Nhưng việc miêu tả này
chỉ tập trung từ đoạn cuối chương 6 đến hết chương 7. Khi Điểu
(Bâdo/ Bird), nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết, bước ra khỏi bệnh
viện, trong thời gian chờ đợi ở trạm xe buýt giữa cái nắng thiêu đốt
của mùa hè, bị dằn vặt bởi ý nghĩ phải lấy khoản tiền dành dụm bấy
lâu nay cho chuyến đi du lịch châu Phi để trả chi phí điều trị cho
con, anh ta đã thấy cái “mầm khát khao tính dục” nhú lên như một
cách phản ứng lại nỗi sợ hãi đang xâm chiếm lấy anh. Đó là “khúc dạo
đầu” chuẩn bị cho chương 7, chương “cao trào”, khi Điểu trở lại căn
nhà của cô bạn tình Himiko, và hai người đã quyến rũ nhau trong trò
cút bắt tính dục để làm sống lại cơn khát khao chưa được thoả mãn từ
thời sinh viên. Ōe Kenzaburo miêu tả thật dữ
dội cuộc quần thảo giữa hai người bạn cũ, mang dấu ấn xen kẽ vừa khổ
dâm, lại vừa bạo dâm:
“Điểu nhận ra anh đang nhìn Himiko như một chiến binh già đã được
tôi luyện trong những trận mạc của cuộc sống hàng ngày, nhiều kinh
nghiệm hơn chính bản thân anh. Nàng không chỉ là một chuyên gia tính
dục mà năng lực của nàng còn quá sức dồi dào ở nhiều khía cạnh khác
của cuộc sống trong thế giới thực tại này. Điểu nhận ra chính mình
chịu ảnh hưởng của Himiko: nhờ nàng mà anh đã vượt qua một trong
những nỗi sợ hãi của mình” (7).
Bản dịch
Một nỗi đau riêng lần đầu được gửi đến một nhà xuất bản và bị
từ chối. Nơi thứ hai mà dịch giả gõ cửa là NXB Văn nghệ TP Hồ Chí
Minh đã đồng ý cấp giấy phép với điều kiện phải cắt bỏ đoạn cuối
chương 6 và toàn bộ chương 7 nói trên vì nội dung tính dục. Do
chương 7 không xuất hiện trong văn bản tiếng Việt Một nỗi đau
riêng, chương 8 trong nguyên bản được đánh dấu bằng chương 7 và
cuốn sách kết thúc ở chương 12 thay vì 13. Như vậy là khác với
trường hợp Nuôi thù phải cắt bỏ những câu ngắn rải rác trong
bản dịch, Một nỗi đau riêng cắt gọn và tập trung khoảng 15
trang trong bản dịch tiếng Anh.
Quả thật,
nếu tách riêng chương 7 của Một nỗi đau riêng ra khỏi cấu
trúc tác phẩm, mặc dù dịch giả đã cố gắng “lựa lời mà dịch” những
chỗ nhạy cảm, người đọc Việt Nam vẫn có thể bị sốc với cách
miêu tả bạo liệt và trần trụi của tác giả. Nhưng nếu đọc nó trong
toàn bộ mạch văn của cuốn tiểu thuyết, có thể thấy rằng
Ōe Kenzaburo không miêu tả tính dục thuần tuý
vì tính dục.
Tác
giả đã miêu tả cơn khát tính dục của Điểu như đỉnh cao của cám dỗ
con người trốn chạy và phủi tay trước trách nhiệm, như một cách
“phơi bày hết ra ánh sáng nỗi sợ hãi đang chui vào người anh”. Ngay
trong và sau cơn mây mưa, Điểu vẫn không thôi bị ám ảnh và dằn vặt
bởi cảm giác tội lỗi:
“Giấc ngủ đối với Điểu là một ống khói tàu mà anh chui vào qua một
lối đi rộng và dễ dàng, nhưng phải thoát ra bằng ngõ hẹp. Trương
phồng như một khinh khí cầu, cơ thể anh chầm chậm trôi qua vùng
không gian lờ mờ vô tận. Anh bị trát đòi hầu tòa ở bên kia vùng
bóng tối, và anh đang suy nghĩ cách qua mặt quan tòa về trách nhiệm
của anh đối với cái chết của con trai mình (HNP nhấn mạnh). Cuối
cùng, anh biết mình không thể lừa bịp các quan tòa, nhưng cùng lúc
anh cảm thấy mình muốn chống án – những kẻ trong bệnh viện đã làm
như vậy! Không lẽ tôi không có cách nào thoát khỏi sự trừng phạt?
Nhưng sự đau khổ của anh lại càng ô nhục thêm khi anh tiếp tục trôi
nổi trong chiếc khinh khí cầu nhỏ bé của mình” (8).
Một nỗi đau
riêng của Ōe
Kenzaburo gợi nhớ đến Kẻ xa lạ của Albert Camus ở phương diện
tương giao con người. Meursault của Kẻ xa lạ vô cảm và dửng
dưng trước cái chết của mẹ, rồi giết người với cảm giác không gớm
tay. Meursault đã không cưỡng được áp lực tâm lý dưới cái nóng hừng
hực, rát bỏng của mùa hè thiêu đốt từ đất đá bốc lên, từ trời cao ập
xuống. Ngay sau đám tang của mẹ, anh hưởng lạc thú với người tình là
Marie và mặc dù A. Camus hầu như chỉ kể mà không tả những lần quan
hệ ấy, không thể nói là nhân vật - người kể chuyện muốn mình “đạo
đức” hơn dưới mắt kẻ khác. Khi nổ súng giết người, anh hiểu mình “đã
huỷ diệt sự bình yên của ngày, bầu không khí yên lặng phi thường của
một bãi biển, nơi mà tôi cảm thấy hạnh phúc” (9). Và anh buông xuôi
trước cái guồng máy pháp luật vô cảm với những chánh án, biện lý,
luật sư… đã vây kín không cho anh một lối thoát, khiến anh tự đóng
dấu mình là một “kẻ xa lạ” trong tương giao nhân loại.
Trái với
Meursault, Điểu của Một nỗi đau riêng là một lương tâm tự vấn
thường trực, luôn ở ranh giới giữa thiện và ác, và trong giờ phút
quyết định nhất của hiện sinh, đã kịp rút chân ra khỏi vũng lầy cám
dỗ của tội lỗi. Nếu anh tiếp tục thông đồng với cái hệ thống y tế vô
cảm, có thể anh không bị buộc phải đối mặt với một toà án cụ thể nào
như Meursault. Nhưng may mắn là phiên toà bên trong anh đã mở ra
cùng lúc với quá trình đi đến tội ác, qua những lời độc thoại nội
tâm. Điểu đã từng tự kết án mình, rồi cũng từng tự biện hộ để cuối
cùng có một phán quyết nhân bản nhất. Tưởng như anh đã cứu đứa bé,
nhưng chính là đứa bé đã cứu vớt anh khỏi thảm kịch hủy diệt khuôn
mặt người. Từ khuôn mặt với “những giọt
mồ hôi nhờn lấp lánh từ trán xuống mũi, đôi môi thì mấp máy theo hơi
thở bồn chồn, đôi mắt vẩn đục thì thất thần: đúng là khuôn mặt của
một kẻ đồi trụy” hiện lên trong chiếc gương soi hình bầu dục khiến
Điểu choáng váng, anh đã có thể tìm lại khuôn mặt mới của
mình qua đôi mắt của đứa con: “Cái gương trong đôi mắt của thằng bé
là tấm gương soi màu xám trong veo và sâu thẳm, phản chiếu một hình
ảnh, nhưng là một hình ảnh quá đẹp đến nổi Điểu không thể tin chắc
được đó lại là gương mặt mới của mình” (10). Con người ta đâu thể
nào chà đạp lên tất cả, dù chỉ là một con chim sẻ dưới mưa. Bằng
việc đánh thức cảm quan trách nhiệm nơi Điểu, Một nỗi đau riêng
đã thể hiện phương diện tích cực trong nhân sinh quan của chủ nghĩa
hiện sinh, đặc biệt là triết học hiện sinh của J.-P. Sartre mà
Ōe Kenzaburo tiếp nhận từ thời trẻ.
Có thể nói,
cũng như Nuôi thù, tiểu thuyết Một nỗi đau riêng
thấm đẫm tinh thần nhân bản. Cuốn trước là thái độ nhân bản trong
cuộc tranh đấu với kẻ thù trong một hoàn cảnh cực đoan và khốc liệt
của chiến tranh; còn cuốn sau là tinh thần nhân bản trong đấu tranh
với cái ác của chính bản thân mình trong đời sống thường nhật. Hai
tác phẩm đã chọn hai “điểm rơi” vào hai hoàn cảnh đặc thù ở Việt Nam
trong chiến tranh và sau khi hoà bình. Hai tác phẩm cùng thể hiện sứ
mệnh của một nhà tiểu thuyết là “phải chịu đựng tất thảy những lầm
lạc của Con Người”, như một câu thơ của Wystan Hugh Auden mà
Ōe Kenzaburo yêu thích.
3.
Trước Một nỗi đau riêng, việc xuất
bản dịch phẩm văn học ở Việt Nam đã có một vài sự kiện: Năm 1989,
Tạp chí Sông Hương thuộc Hội Văn học Nghệ thuật Bình Trị
Thiên, phối hợp với Báo Vũng Tàu - Côn Đảo ấn hành 10.000 bản
tiểu thuyết Tình yêu thời thổ tả (bản dịch của Nguyễn Trung
Đức) của G. G. Marquez, Giải thưởng Nobel văn học 1982. Cuốn sách đã
bị cấm phát hành, sau đó bị nghiền thành bột giấy, với lý do “có
những đoạn có nội dung kích dục không thích hợp với thuần phong mỹ
tục của Việt Nam”. Mặc dù tác giả là một người bạn lớn từng đến thăm
Việt Nam và đã có nhiều tác phẩm được xuất bản bằng tiếng Việt,
nhưng đến lượt tác phẩm này thì lại bị một bộ phận công chúng từ
chối không tiếp đón. Phải đợi đến năm 1995 Tình yêu thời thổ tả
mới được in lại nguyên vẹn. Cũng năm 1989, tiểu thuyết Chiếc chìa
khoá của Tanizaki Junichiro (bản dịch của Phạm Thị Hoài) do NXB
Phụ nữ ấn hành cũng gây ra những dư luận trái chiều về nội dung tính
dục của nó.
Tình
hình xuất bản một số tác phẩm của các nhà văn Nhật Bản như Tanizaki
Junichiro, Kawabata Yasunari, Ōe Kenzaburo… ở
Việt Nam gợi lên những suy nghĩ về sự tương đồng và dị biệt trong
thị hiếu và cảm thụ của độc giả Việt Nam và Nhật Bản, cũng như sự
chuyển biến của nó trong bối cảnh xã hội Đông Á hiện nay. Cùng chịu
ảnh hưởng của khu vực văn hoá chữ Hán, nhưng Việt Nam và Nhật Bản đã
đi vào thế giới hiện đại bằng những con đường khác nhau. Nhật Bản
bảo tồn truyền thống văn hoá của mình thật cẩn trọng, đồng thời với
sự cởi mở và phá chấp trong tiếp thu văn minh và nhân sinh quan
phương Tây. Điều đó tạo điều kiện cho sự tiếp nhận những tác phẩm
hội hoạ, văn học, điện ảnh… miêu tả sinh hoạt tính dục và nhục cảm
như một phương diện của đời sống thường nhật không có gì mâu thuẫn
gì với phẩm cách cao thượng của con người.
Trái
lại, ở Việt Nam, một đất nước mà ảnh hưởng sâu đậm của Nho giáo vẫn
còn tranh chấp với quan niệm và lối sống hiện đại thì tình hình lại
khác. Một mặt, Việt Nam vẫn mang gánh nặng của văn hoá cổ truyền và
sức ép của những tabou văn hoá vẫn tạo nên một hàng rào cấm
kỵ trong văn chương. Sự thật là lịch sử và đạo đức biện hộ cho những
cấm kỵ đó, khi mà một bộ phận công chúng trẻ đã tỏ ra không đủ bản
lĩnh để miễn nhiễm trước cám dỗ của sự tha hoá. Mặt khác, những định
kiến về “chủ nghĩa tự nhiên” như một “tà phái” từng áp đặt lên việc
đánh giá ngay những nhà văn hiện thực như Trọng Lang, Vũ Trọng
Phụng, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài… vẫn tiếp tục phát huy tác dụng và
cộng hưởng với quan niệm đồng nhất đối tượng miêu tả với thái độ
miêu tả, dẫn đến sự cảnh giác với những đề tài thường bị xem là “lai
căng”, có tính chất học đòi. Sự cảnh giác này không phải chỉ có ở
những độc giả có chức phận “coi sóc” nền văn học mà ngay cả ở những
nhà phê bình, những nhà giáo dục, những bậc phụ huynh luôn nghi ngờ
khả năng điều chỉnh của những thước đo về phẩm hạnh trong lòng độc
giả trẻ tuổi.
Việc chính quyền thực dân, dưới áp lực của dư luận, tịch thu và
tiêu huỷ
Truyện nàng Hà Hương (Hà Hương phong nguyệt) của Lê
Hoằng Mưu vào những năm 20 thế kỷ trước, việc gây khó khăn khi xuất
bản Ngàn cánh hạc của Kawabata Yasunari vào những năm 60,
việc tiêu huỷ Tình yêu thời thổ tả của G. Marquez vào những
năm 80, việc biên tập cắt bỏ nội dung Một nỗi đau riêng của
Oe Kenzaburo vào những năm 90 là những sự kiện được xâu chuỗi trong
non một thế kỷ. Những sự kiện đó diễn ra trong những bối cảnh xã hội
rất khác nhau, mà sự giải thích có lẽ phải căn cứ trên lý do văn hoá
hơn là lý do chính trị. Thậm chí, nếu có, lý do chính trị cũng phải
ẩn giấu sau lý do văn hoá, bởi đây là lý do dễ được đồng tình của dư
luận hơn cả. Nó có thể tìm sự biện minh trong sự va chạm và bất hoà
có thật giữa phong tục vốn quy định cách ứng xử của con người với
những sản phẩm tinh thần sản sinh trong một môi trường văn hoá khác
lạ.
Hơn 80 năm trước, để đáp lại lời kết án tiểu thuyết Hà Hương
phong nguyệt “làm cho bại hoại phong tục, suy đồi luân lý”, Lê
Hoằng Mưu đã viết: “Tôi thầm nghĩ nếu phong hoá vì tiểu thuyết tình
tự lả lơi mà ra thì phong hoá các nước suy đồi biết mấy” (11). Không
biết khi nói “các nước” ở đây, nhà văn này đã nghĩ đến nước Nhật Bản
“đồng văn” với Việt Nam hay chưa.
Thật là cảm
kích khi đọc những nhận xét mang tính tự phê phán dân tộc của
Ōe Kenzaburo trong Diễn từ nhận Giải thưởng
Nobel:
“Quá trình hiện đại hoá của Nhật Bản đã được xác định
theo chiều hướng học tập và bắt chước phương Tây. Tuy vậy, Nhật Bản
nằm trong châu Á và vẫn bền bỉ duy trì những truyền thống văn hoá
của mình. Định hướng nhập nhằng đó của Nhật Bản đưa đất nước này vào
vị thế một kẻ đi xâm lấn ở châu Á. Một đằng, nền văn hoá của Nhật
Bản hiện đại hoàn toàn mở ra phương Tây, một đằng thì ít nhất cũng
ngăn không cho người phương Tây hiểu nó. Và hơn nữa, Nhật Bản bị đẩy
vào thế cô lập với các quốc gia châu Á khác không chỉ về chính trị
mà còn cả về xã hội và văn hoá” (12).
Ngày hôm nay, gần hai thập niên sau khi Ōe
Kenzaburo nhận Giải thưởng Nobel, thiết nghĩ, từ “cô lập” đã không
còn thích hợp. Nhưng “khoảng cách” thì chắc chắn vẫn còn. Về mặt văn
hoá, khoảng cách đó không chỉ là do cách ứng xử và thích nghi với
văn minh phương Tây mà ngày nay không một nước châu Á nào không đối
mặt, mà còn do chính sức mạnh, quán tính và áp lực của nền văn hoá
bản địa và bản thân những mâu thuẫn bên trong từng nền văn hoá.
Sự va chạm
và bất hoà tiềm tàng từ trong quan hệ giữa văn học dân gian với văn
học quan phương, được gia tăng bởi những nhân tố nước ngoài trong
quá trình giao lưu và tiếp biến văn hoá, chắc chắn sẽ còn kéo dài.
Một hệ quả của tiến trình hiện đại hoá văn học là tình trạng biến
đổi của cấu trúc độc giả, bị chi phối bởi hệ quy chiếu gồm những
chuẩn mực được hình thành từ kinh nghiệm thưởng thức văn học đã tích
lũy. Khoảng cách và sự đứt quãng giữa chuẩn mực có sẵn với những
hiện tượng văn học “không được chờ đợi” có thể dẫn đến sự phản ứng
quyết liệt do những khác biệt, thậm chí xung đột không thể nào hoá
giải được. Vì vậy, không thể nhìn nhận và đánh giá một chiều đối với
tác động của hiện đại hoá và phương Tây hoá. Đã có những trả giá về
tinh thần, những tổn thương và cả những
bi kịch phải tìm cách cứu chữa để có sự nhượng bộ, chấp nhận
và dung hoà với cái khác và cái mới. Những hố sâu ngăn cách giữa các
thế hệ và các nền văn hoá phải mất nhiều thời gian mới được hàn gắn.
Nếu biết tác
phẩm của mình bị biên tập, cắt bỏ khi xuất bản ở Việt Nam, trong hai
hoàn cảnh xã hội và hai chế độ khác nhau, có lẽ
Ōe Kenzaburo không khỏi ngạc nhiên và phiền lòng. Nhưng nếu
ông biết rằng những chuẩn mực văn hoá cứng rắn vẫn còn chi phối chân
trời tiếp nhận văn học của công chúng Việt Nam, đã từng gây phiền
phức cho tác phẩm của những người cùng thời như Kawabata Yasunari,
G. Marquez… , hẳn ông sẽ thông cảm. Chắc còn lâu lắm bản dịch
Nuôi thù của Diễm Châu và bản dịch Một nỗi đau riêng của
Lê Ký Thương mới được tái bản với văn bản trọn vẹn như nguyên
tác.
HUỲNH NHƯ PHƯƠNG
(1)
Ōe
Kenzaburo: Nuôi
thù (Bản dịch của Diễm
Châu), NXB Trình bầy, Sài Gòn, 1970, tr. 13.
(2), (3) Nguyễn Nguyên: Nuôi thù,
Tạp chí Trình bầy, số 6, ngày 15-10-1970, tr. 73.
(4), (5), (6)
Ōe
Kenzaburo: Nuôi thù, Sđd, tr. 64, 80, 100.
(7), (8) Bản dịch của Lê Ký Thương.
(9) Albert Camus: Kẻ xa lạ
(Bản dịch của Lê Thanh Hoàng Dân), NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 2001,
tr. 79.
(10)
Ōe
Kenzaburo: Một nỗi đau riêng (Bản dịch của Lê Ký Thương), NXB
Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 1997, tr. 266.
(11) Xem Võ Văn Nhơn: Văn học quốc
ngữ trước 1945 ở TP Hồ Chí Minh, NXB Tổng hợp TP HCM – NXB Văn
hoá Sài Gòn, 2007, tr. 278, 279.
(12)
Ōe
Kenzaburo: Nhật Bản, sự nhập nhằng và bản thân tôi (Bản dịch
của Phùng Thanh Phương). Trong: Đoàn Tử Huyến (chủ biên): Các nhà
văn Giải Nobel, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2006, tr. 938.
|
28 tháng hai 2012
Ōe Kenzaburo đến Việt Nam
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét