M. Taylor Fravel
Chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông
Trì
hoãn là chiến lược mà Trung Quốc đã sử dụng đối với Biển Đông từ giữa
những năm 90 đến nay. Bài viết sẽ đi sâu phân tích vì sao Trung Quốc lại
sử dụng chiến lược này và một số kết quả mà Trung Quốc đạt được cũng
như tác động như thế nào đối với khu vực

Bài
viết phân tích cách ứng xử của Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông
thông qua lăng kính chiến lược của Trung Quốc quản lý các tuyên bố chủ
quyền. Từ giữa những năm 1990, Trung Quốc đã theo đuổi chính sách trì
hoãn giải pháp cho tranh chấp. Mục tiêu của chiến lược này là củng cố
các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc, đặc biệt là các tuyên bố về chủ
quyền các vùng biển hay quyền tài phán đối với các vùng nước này, và răn
đe các nước khác củng cố tuyên bố chủ quyền của họ mà gây tổn hại đến
lợi ích của Trung Quốc, bao gồm các dự án phát triển nguồn tài nguyên mà
Trung Quốc không được tham gia. Kể từ giữa những năm 2000, mức độ các
nỗ lực của Trung Quốc nhằm củng cố các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc
và răn đe các bên tuyên bố chủ quyền khác đã tăng lên thông qua các
biện pháp về ngoại giao, hành chính và quân sự. Mặc dù chiến lược của
Trung Quốc là tìm cách củng cố các tuyên bố chủ quyền của mình, nhưng
Trung Quốc cũng đe dọa các quốc gia yếu hơn trong tranh chấp và theo đó
Trung Quốc đang làm bất ổn định khu vực. Kết quả là, chiến lược trì hoãn
bao gồm các nỗ lực ngăn cản leo thang căng thẳng tuy nhiên trong khi đó
Trung Quốc vẫn tiếp tục tìm cách củng cố chủ quyền của mình.
Trong
những năm gần đây, không một tranh chấp vùng biển nào gây ra sự chú ý
nhiều hơn tranh chấp về đảo, đá ngầm và các vùng nước tại Biển Đông.
Tranh chấp bao gồm các tuyên bố chồng chéo của sáu chính phủ đối với chủ
quyền lãnh thổ và các quyền chủ quyền các vùng biển, bao gồm các tuyến
đường biển chính kết nối từ Đông Nam Á với Đông Bắc Á, bao gồm các khu
vực đánh bắt cá rộng lớn và có thể chứa đựng lượng dự trữ dầu và khí ga
lớn. Trong tranh chấp Biển Đông không một quốc gia nào gây ra sự chú ý
nhiều hơn nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) do tuyên bố chủ quyền
một vùng rộng lớn, trong quá khứ đã sử dụng vũ lực để đánh chiếm các đảo
và vùng nước và năng lực hải quân ngày càng mạnh lên.
Bài
viết này phân tích cách ứng xử của Trung Quốc trong tranh chấp tại Biển
Đông thông qua lăng kính chiến lược của Trung Quốc quản lý các tuyên bố
chủ quyền. Từ giữa những năm 1990, Trung Quốc đã theo đuổi chính sách
trì hoãn giải pháp cho tranh chấp. Mục tiêu của chiến lược này là củng
cố các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc, đặc biệt là các tuyên bố về
chủ quyền các vùng biển hay quyền tài phán đối với các vùng biển này, và
răn đe các nước khác củng cố tuyên bố chủ quyền của họ gây tổn hại đến
lợi ích của Trung Quốc, bao gồm các dự án phát triển nguồn tài nguyên mà
Trung Quốc không được tham gia. Kể từ giữa những năm 2000, mức độ các
nỗ lực của Trung Quốc nhằm củng cố các tuyên bố chủ quyền và răn đe các
nước khác đã tăng nhanh thông qua các biện pháp ngoại giao, hành chính
và quân sự. Mặc dù chiến lược của Trung Quốc là nhằm củng cố các tuyên
bố chủ quyền của mình nhưng Trung Quốc cũng tìm cách đe dọa các nước yếu
hơn trong tranh chấp và như vậy đã đang tạo ra sự bất ổn tại khu vực.
Đây à kết quả là chiến lược trì hoãn bao gồm các nỗ lực ngăn chặn leo
thang căng thẳng giữa các bên tuyên bố chủ quyền.
Bài
viết được trình bày như sau. Các tuyên bố chủ quyền và lợi ích của
Trung Quốc tại Biển Đông, mà xác định các mục tiêu và bối cảnh cho chiến
lược của Trung Quốc, được phân tích trong phần tiếp theo. Tiếp theo,
bài viết miêu tả việc sử dụng chiến lược trì hoãn từ những năm 1949 và
hai giai đoạn Trung Quốc sử dụng vũ lực là vào năm 1974 tại Nhóm đảo
Lưỡi liềm (Cresent Group) tại quần đảo Hoàng Sa và vào năm 1988 đối với
dải đá ngầm Johnson (Johnson Reef) tại quần đảo Trường Sa. Hai phần tiếp
theo này phân tích các hợp phần quân sự, hành chính và ngoại giao trong
chiến lược trì hoãn của Trung Quốc và các nỗ lực quản lý căng thẳng kể
từ mùa hè năm 2011. Cuối cùng, bài viết phân tích các tác động đối với
hợp tác và xung đột trong tranh chấp.
Các tuyên bố chủ quyền và Lợi ích tại Biển Đông của Trung Quốc
Đối
với Biển Đông, Trung Quốc tuyên bố chủ quyền lãnh thổ đối với hai nhóm
đảo và các quyền chủ quyền các vùng biển đối với các vùng nước liên
quan. Cơ sở hiện nay cho tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc là bài phát
biểu của Thủ tướng Chu Ân Lai vào tháng 8 năm 1951 trong các cuộc đàm
phán ký hòa ước của Đồng minh với Nhật Bản. Trong bài phát biểu này, Chu
Ân Lai đã tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa[1].
Tháng 9 năm 1958, Trung Quốc tái khẳng định tuyên bố chủ quyền đối với
các đảo này khi Trung Quốc khẳng định quyền chủ quyền đối với các vùng
nước trong thời gian khủng hoản Kim Môn. Tuyên bố năm 1958 đánh dấu lần
đầu tiên Trung Quốc gắn tuyên bố chủ quyền lãnh thổ với đòi hỏi quyền
chủ quyền các vùng biển, trong trường hợp này, quyền chủ quyền với các
vùng lãnh hải. Từ giữa những năm 1970 cho đến nay, các phát biểu chính
thức của chính phủ đã được sử dụng chủ yếu là cùng một ngôn ngữ để thể
hiện tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc. Tuyên bố thường được diễn đạt:
“Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Trường Sa
(hay là các đảo ở Biển Đông) và các vùng nước liền kề.”
Khi
thể chế luật pháp quốc tế về vùng biển đã phát triển, Trung Quốc bắt
đầu pháp điển hóa các tuyên bố chủ quyền của mình đối với các quyền chủ
quyền các vùng biển thông qua việc đưa ra nội luật của mình. Các luật
này hòa hợp hệ thống pháp luật của Trung Quốc với các yêu cầu của Công
ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS). Năm 1992, Quốc hội (NPC) thông
qua Luật về Lãnh Hải và Vùng Tiếp giáp của
nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trong đó tái khẳng định nội dung của
tuyên bố 1958 nhưng ngôn ngữ thì cụ thể hơn. Tiếp sau luật này, Trung
Quốc thông qua đường cơ sở cho các vùng nước của mình vào năm 1966. Năm
1998, Quốc hội Trung Quốc thông qua luật về Vùng Đặc quyền kinh tế và
Thềm lục địa của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trong đó Trung Quốc tuyên
bố thêm quyền các vùng biển nhiều hơn được ghi trong luật năm 1992.[2]
Luật vùng đặc quyền kinh tế không đề cập đến quần đảo Hoàng Sa hay
Trường Sa, nhưng khi kết hợp với luật lãnh hải năm 1992, nó cung cấp cơ
sở cho tuyên bố các quyền chủ quyền các vùng biển tại Biển Đông. Tháng 4
năm 2011, Trung Quốc xác nhận việc diễn dịch luật này trong công hàm
gửi đến Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Giới hạn thềm lục địa (CLCS) nói
rằng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa hoàn toàn “có quyền” tạo ra vùng
lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa[3].
Phạm
vi của các tuyên bố của Trung Quốc là các quyền chủ quyền chủ quyền các
vùng biển hay quyền tài phán, tuy nhiên, vẫn còn nhiều mập mờ. Trước
tiên, nhiều trong số các vùng đất Trung Quốc tuyên bố chủ quyền không
đáp ứng được yêu cầu là đảo theo như điều 121(3) của UNCLOS và theo đó
không thể tạo ra vùng đặc quyền kinh tế. Trung Quốc có lẽ có thể tuyên
bố phần lớn các đảo của Quần đảo Trường Sa cũng như là đảo Phú Lâm của
Hoàng Sa và đảo Ba Bình (hiện đang bị Đài Loan chiếm đóng)[4].
Các tuyên bố chủ quyền như vậy, tuy nhiên, chỉ cho thấy thái độ mở rộng
tối đa với lãnh thổ, trong khi UNCLOS yêu cầu các quốc gia giải quyết
tranh chấp khi các tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn.
Điều
mập mờ thứ hai liên quan đến câu hỏi chủ quyền lịch sử mà Trung Quốc có
thể tuyên bố tại Biển Đông. Điều 14 của luật vùng đặc quyền kinh tế năm
1998 của Trung Quốc quy định “luật biển sẽ không ảnh hưởng đến các
quyền lịch sử mà Cộng hòa Nhân đân Trung hoa có”. Mặc dù một số nhà
nghiên cứu chính sách đã gợi ý rằng Biển Đông là vùng nước lịch sử, luật
năm 1998 không xác định nội dung hay phạm vi của chủ quyền lịch sử này[5]. Hơn thế nữa, không có luật nào của Trung Quốc miêu tả những cái quyền này có thể bao gồm[6].
“Đường
chín đoạn” xuất hiện trên các bản đồ chính thức của Trung Quốc trong
khu vực tạo ra sự mơ hồ thứ ba. Đường chín đoạn này ban đầu được vẽ vào
những năm 1930, bắt đầu xuất hiện trên bản đồ chính thức của Cộng hòa
Trung Hoa (ROC) năm 1947 và đã xuất hiện trên các bản đồ của PRC kể từ
năm 1949. Cả ROC và PRC đều đã không từng định nghĩa dạng tuyên bố chủ
quyền nào đường chín đoạn này thể hiện. Đến ngày nay, đường chín đoạn
vẫn không được xác định. Ví dụ, mặc dù Trung Quốc đã bao gồm một bản đồ
đường chín đoạn trong công hàm gửi CLCS vào tháng 5 năm 2009, Trung Quốc
chưa bao giờ định nghĩa đường này hay tuyên bố các chủ quyền lịch sử mà
một số học giả đã thảo luận là đường chín đoạn ám chỉ[7].
Nếu
các tuyên bố chính thức và luật của Trung Quốc được xác định giá trị,
thì chỉ có một cách giải thích về đường này có thể được: đường miêu tả
tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc với các đảo và các vùng khác nằm trong
đường này, có thể kể tên như là quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường
Sa. Khi Trung Quốc công bố đường cơ sở vào nằm 1996, Trung Quốc vẽ đường
cơ sở xung quanh quần đảo Hoàng Sa nhưng không vẽ tại quần đảo Trường
Sa. Đạo luật này cho thấy Trung Quốc có ý định sẽ tiếp tục tuyên bố chủ
quyền của mình đối với các quyền các vùng biển (chứ không phải là chủ
quyền với các đảo) tại Biển Đông thông qua UNCLOS, theo như cam kết của
Qichen năm 1995[8].
Nếu như đường chín đoạn đại diện cho bất cứ điều gì khác với tuyên bố
chủ quyền cho các đảo kèm theo từ đó Trung Quốc tuyên bố các quyền vùng
biển, sau đó Trung Quốc sẽ không cần thiết phải tuyên bố các vùng lãnh
hải vào năm 1958 hay vẽ đường cơ sở xung quanh quần đảo Hoàng Sa đã nằm
trong đường chín đoạn. Như Daniel Dzurek đã quan sát, việc phân định
đường cơ sở xung quanh Hoàng Sa là “không nhất quán về mặt lô gic” với
tuyên bố chủ quyền các vùng nước hay các cách giải thích khác của đường
chín đoạn này[9].
Sự
không sẵn lòng hay không có khả năng của chính quyền Trung Quốc trong
việc định nghĩa đường chín đoạn, tuy nhiên, tạo ra khoảng trống cho
nhiều các diễn viên đề xuất các cách diễn dịch cạnh tranh khác nhau về
đường này[10].
Cục quản lý Đánh bắt cá Khu vực Biển Đông (SSRFAB), ví dụ, miêu tả các
hoạt động của mình là nhằm bảo vệ các ngư dân Trung Quốc khi họ hoạt
động trong “đường biên giới truyền thống”[11].
Báo chính thức của Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA), tờ Jiefangjun
Bao, đôi khi đề cập đến “đường biên giới lãnh hải truyền thống” tại Biển
Đông[12].
Từ những năm 1980, có nhiều các diễn viên liên quan đến vùng biển như
Hải quân Giải phóng Nhân dân (PLAN) và Lực lượng Hải giám thuộc Cơ quan
quản lý Biển, đều cử tầu đến bãi đá Johnson, một vùng đá chìm dưới nước
được cho như là vùng đầu phía Nam tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc tại
biển Đông. Trên thực tế, các quốc gia theo như UNLCOS không thể tuyên bố
chủ quyền đối với các vùng chìm dưới không gắn kết với đất liền. Tuy
nhiên, tính biểu tượng của hành động này là nhất quán với cách diễn dịch
rộng về “đường chín đoạn”.
Trung
Quốc theo đuổi nhiều lợi ích thông qua các tuyên bố đối với chủ quyền
lãnh thổ và quyền chủ quyền các vùng biển tại Biển Đông. Như chỉ huy
trưởng của PLAN Đô đốc Liu Huaqing (Lưu Hoa Thanh) đã nhận xét, “bất cứ
ai kiểm soát quần đảo Trường Sa sẽ thu được lợi ích to lớn về kinh tế và
quân sự”[13].
Về mặt kinh tế, tài phán đối với các vùng nước này sẽ cho phép Trung
Quốc quyền tiếp cận đối với các nguồn tài nguyên biển trên Biển Đông,
đặc biệt là nguồn khí hydrocarbons và cá. Các nguồn số liệu từ Trung
Quốc cho biết có khoảng 105 tỉ thùng dự trữ khí hydrocarbon quanh khu
vực quần đảo Trường Sa. Trong khi đó Biển Đông đóng góp một số lượng lớn
lượng cá đánh bắt hàng năm của Trung Quốc[14]. Phần lớn thương mại của Trung Quốc cũng được đưa qua vùng biển này, bao gồm 80% nhập khẩu dầu của Trung Quốc[15].
Về mặt quân sự, Biển Đông tạo nên vùng biển đệm cho các tỉnh phía Nam
Trung Quốc và sẽ là sân chơi quyết định cho các hoạt động trong một cuộc
xung đột về vấn đề Đài Loan với Mỹ. Bất cứ nỗ lực nào nhằm phong tỏa
Trung Quốc trong thời chiến cũng sẽ xảy ra tại các vùng nước này.
Liệu
cách Trung Quốc gọi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” có tương ứng với Tây
Tạng hay Đài Loan hay không đã thu hút nhiều sự chú ý vào năm 2010. Tờ
New York Times báo cáo vào tháng 4 năm 2010 rằng Trung Quốc đã miêu tả
Biển Đông như là “lợi ích cốt lõi”[16]
. Mặc dù vấn đề này đã được thảo luận nhiều trong các cuộc họp riêng
giữa các quan chức của Mỹ và Trung Quốc, không một nhà lãnh đạo cao cấp
nào của Trung Quốc đã từng công khai nói rằng Biển Đông là lợi ích cốt
lõi của Trung Quốc, không giống như Tây Tạng hay Đài Loan[17]. Ngoại lệ duy nhất dường như là xuất hiện một bài báo tiếng Anh đăng trên Hãng tin Tân hoa xã vào tháng 8 năm 2011[18].
Bài viết miêu tả chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo tại Biển Đông
và các vùng nước lãnh hải như là “một phần lợi ích cốt lõi của Trung
Quốc”, nhưng không phải là chỉ riêng bản thân Biển Đông.
Liệu
các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc có chỗ cho đàm phán? Theo quan
điểm của tác giả thì câu trả lời là có. Khi Trung Quốc công bố các đường
cơ sở vào năm 1996, Trung Quốc không vẽ đường cơ sở xung quanh bất cứ
đảo nào của quần đảo Trường Sa. Trung Quốc cũng không vẽ đường cơ sở
xung quanh các vùng tranh chấp, bao gồm Đảo Điếu Ngư và Đài Loan. Điều
này cho thấy sự công nhận tranh chấp và khả năng Trung Quốc có thể thỏa
hiệp trong một số bối cảnh trong tương lai. Trung Quốc, do đó, “không
trói tay” hay “đốt cầu” bằng cách công bố các đường cơ sở xung quanh các
vùng hay khu vực đàm phán có thể cần đàm phán. Nói chung, Trung Quốc
cũng đã thỏa hiệp trong các tranh chấp lãnh thổ khác và trong phân định
biên giới vùng biển với Việt Nam tại Vịnh Bắc Bộ.
Đọc toàn bộ bản dịch tại đây
M. Taylor Fravel
Thái Giang (dịch)
Quang Hưng (hiệu đính
Bản gốc tiếng Anh “China’s Strategy in the South China Sea” đăng trên Contemporary Southeast Asia, Vol. 33, No. 3 (2011).
[1] Zhou Enlai Waijiao Wenxuan (Zhou Enlai’s Selected Works on Diplomacy) (Beijing: Zhongyang wenxian chubanshe, 1990), p.40.
[2]
Bản sao của các tài liệu này, xem Guojia haiyangju zhengce fagui
bangongshi (State Oceanographic Adiministration Office ò Policy, Law,
and Regulation), ed., Zhonghua Renmin Gongheguo Haiyang Fagui Xuanbian
(Tuyển tập luật biển và các quy định của PRC) (Beijing: Haiyang
chubanshe, 2001), pp.1-14.
[3]
Công hàm của Trung Quốc gửi Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc, ngày 14/4/2011,
(http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submission_files/vnm37_09/chn_2001_re_phl_e.pdf)
[4] These are Taiping (Taiwan), Thitu (Philippines), West York (Philippines), Spratly (Vietnam) and Northeast Cay (Philippines).
[5] For an examination of these Chinese views, see Peter Dutton, “Through a Chinese Lens”, Proceedings 136, no. 4 (April 2010): 24–29.
[6] Based on a full-text search of <www.lawinfochina.com> database.
[7] Zou Keyuan, “The Sino-Vietnamese Agreement on Maritime Boundary Delimitation in the Gulf of Tonkin”, Ocean Development and International Law 36, no. 1 (2005): 74.
[8] “Qian Qichen explains China’s ‘clear-cut’ position on Spratlys issue,” Xinhua
News Agency, 1 August 1995.
[9] Daniel Dzurek, “The People’s Republic of China Straight Baseline Claims”, IBRU Boundary and Security Bulletin 4, no. 2 (Summer 1996): 85.
[10]
In a recent book, one prominent Chinese analyst describes
four different interpretations of the line, including maritime
sovereignty, historic waters, historic rights, and sovereignty over
land features. See Wu Shicun, Nansha Zhengduan de Qiyuan yu Fazhan [The Origins and Development of the Spratlys Dispute] (Beijing: Zhongguo jingji chubanshe, 2010), pp. 32–39.
[11]
“Malaixiya wuli zhuakou wo yi GangAo liudong yuchuan [Malaysia’s
unjustifiable seizure of a fishing boat from Hong Kong and
Macau]”, Nongyebu Nanhaiqu yuzhengju, 30 August 2006, <http://www.nhyzchina.gov.cn/Html/2006_08_30/2_1459_2006_08_30_1916.html>.
[12]
“Haijun diqipi huhang biandui jiaru zuguo chuantong haijiang
xian [The Navy’s Seventh Escort Task Force Enters the
Motherland’s Traditional Maritime Boundary]”, Jiefangjun Bao, 3 May 2011, p. 4
[13] Liu Huaqing, Liu Huaqing Huiyilu [Liu Huaqing’s Memoirs] (Beijing: Jiefangjun chubanshe, 2004), p. 538.
[14] Bernard D. Cole, The Great Wall At Sea: China’s Navy in the Twenty-First Century, 2nd ed. (Annapolis: Naval Institute Press, 2010), p. 49.
[15] Michael Lelyveld, “Mideast oil drives China disputes”, Radio Free Asia,18 July 2011.
[16] Edward Wong, “Chinese military seeks to extend its naval power”, New York
Times, 24 April 2010.
[17] Michael D. Swaine, “China’s Assertive Behavior—Part One: On ‘Core Interests’”,China Leadership Monitor, no. 34 (Winter 2011).
[18]
“China-Philippines cooperation depends on proper settlement of
maritime disputes”, Xinhua News Agency, 31 August 2011.
Tin cũ hơn:
- Trung Quốc có thực sự điều chỉnh chính sách ở Biển Đông?[17/04/2012 00:00]
- Will Rogers, Vai trò của tài nguyên thiên nhiên ở Biển Đông[13/04/2012 00:00]
- Peter A. Dutton, Những rạn nứt trong nền tàng toàn cầu: Luật pháp quốc tế và sự bất ổn tại Biển Đông[06/04/2012 00:00]
- Năng lực "Chống hải quân" gần bờ của Trung Quốc mới là thách thức đối với Mỹ và khu vực [20/03/2012 15:06]
- Ian Storey, Ngoại giao song phương và đa phương của Trung Quốc ở Biển Đông[14/03/2012 00:00]
- M. Taylor Fravel, An ninh ở Biển Đông và cuộc tranh giành các quyền trên biển[12/03/2012 00:00]
- Patrick M. Cronin và Robert D. Kaplan, Chiến lược của Mỹ đối với Biển Đông[09/03/2012 00:00]
- Mùa Đông của Biển Đông: Tình hình, cục diện và kế sách cho Trung Quốc[05/03/2012 10:50]
- Chính sách Biển Đông của Mỹ trong quan hệ với Trung Quốc[16/02/2012 00:00]
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét