Xuân Tân Mão

Xuân Tân Mão
Đảng và Chính phủ luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng với tất cả hoạt động, việc làm của người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia (TTg NT Dũng).

12 tháng 7 2012

Những bài báo mới nhất của Bùi văn Bồng (chọn lọc)

Bài mới cập nhật


Ông Dương Văn Cừ sợ gì trong Hiến pháp 1946?

Cần tôn trọng bạn đọc mạng

Phản pháo
Phát biểu chuẩn xác của TBT Nguyễn Phú Trọng

Mặt âm bản của nguyên tắc lãnh đạo trong điều lệ Đảng
Ông Tề Kiến Quốc chỉ dược cái nói đúng

Phải đề phòng 'qua cầu rút ván'
Độc lập phải đi liền với tự chủ

Tình "đồng chí" theo Lôi Phong (!?)
Đâu là sự thật?

VÒI BẠCH TUỘC” TRUNG QUỐC ĐANG CỐ VƯƠN DÀI(13/07/2012)
NỢ XẤU NGÂN HÀNG, CON SỐ NÀO CHÍNH XÁC NHẤT?(13/07/2012)


 1.ĐẤT ĐAI –  CÁI MẦM SINH RA BẤT ỔN

 2.Độc chiêu ngôn ngữ Hải Phòng

 3.Bộ máy biến lãnh đạo thành CÁI MÁY

 4.Mưu đồ bá vương ...

 5.Hành trình siêu lừa của "Bông hồng Vàng"

 6.Từ DOC đến COC - rồi còn phải gì nữa?

 7.CHIẾN LƯỢC "3 BƯỚC LẤN TỚI" CỦA TRUNG QUỐC

8.Lòng tham và sự đớn hèn

9.Phản pháo (!?)

10.Lý sự của quan quyền

11.SỰ KIỆN "9 LÔ MỎ DẦU" GỢI LẠI "VỤ TÀU MADDOX
"
                                  *****

Đất đai-cái mầm sinh ra bất ổn

ĐẤT ĐAI –  CÁI MẦM SINH RA BẤT ỔN
           
            Sau các cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, nước ta tự hào trên thế giới là một nước nhỏ, nghèo nàn, lạc hậu mà đã anh dũng trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm, giành độc lập dân tộc, giang sơn về một mối. Đất nước giành được độc lập, hòa bình, thống nhất. Nhưng, cuộc chiến giành dân, giành đất vừa nguội tiếng súng, cả nước bước sang giai đoạn phát triển kinh tế, đổi mới đất nước trong thời bình, thì nay có một cuộc “nội chiến” mới đang xảy ra. Tạm gọi đó là cuộc chiến đất đai.
* Người dân có đất bị đưa vào “tầm ngắm”
Cuộc chiến này lúc ngấm ngầm, lúc bột phát, khi nhập nhằng, lúc gay gắt. Và chắc đây là cuộc chiến kéo dài. Trời chỉ cho trái đất một diện tích như thế. Mỗi nước có diện tích hạn hẹp không được vượt qua biên giới, lãnh thổ. Trong lịch sử nhân loại, nước này muốn rộng hơn, phải dùng sức mạnh uy lực đi bao chiếm nước khác, một trong những nguyên nhân xảy ra các cuộc chiến tranh xâm lược. Người này muốn chiếm đất của người khác, mới sinh ra tranh giành, tranh chấp, cướp giật, tranh cãi, rồi tranh tụng trước những phiên tòa. Không riêng Việt Nam, hầu như trên thế giới từ xưa đến nay các cuộc “nội chiến đất” ở đâu cũng có.
          Ngày xưa, nước nông nghiệp như nước ta, giàu nhanh từ đất thì trở thành giai cấp địa chủ, phong kiến. Địa chủ, tức là chủ đất. Nếu theo cái tầm mức nhiều đất hơn khả năng và mức bình quân thông thường thì coi như chủ đất. hiện nay cũng thấy có nhiều chủ đất. Và như thế, tầng lớp địa chủ mới, địa chủ thời thượng, đã xuất hiện và định hình ngày càng có xu hướng đi dần vào vững chắc. Nhìn quanh, từ nông thôn đến thành thị, ta thấy nay có rất nhiều địa chủ. Mà quy luật là địa chủ thường đi liền với cường hào, ác bá.
          Người ta thường nói, tấc đất tấc vàng. Nay đất quý hơn vàng, giá trị hơn vàng. Vàng còn có khi đứng giá, hoặc xuống giá, nhưng đât đai chỉ có tăng giá, không hề xuống. Còn sự đứng giá của đất khi đất đai là hàng hóa đặc biệt, hàng hóa đẻ ra nhiều thứ hàng hóa khác, trong cơ chế thị trường, nếu có đứng giá chỉ là tạm thời. Những biến dạng địa hình, những thay đổi, chuyển hóa chủ đất, sở hữu đất đai đều xuất phát từ những ý định, mục đích, nhu cầu, quy mô và phương thức  sử dụng đất.
          Nhìn lại các nước tư bản lớn ở châu Âu, châu Mỹ và hầu như toàn cầu, cuộc chiến về đất ở mọi lúc mọi nơi chưa bao giờ ngừng nghỉ. Trong lịch sử loài người, cuộc chiến về đất đai đã xảy ra rõ nét và ngày càng gay gắt chủ yếu từ khi nền công nghiệp phát triển. Khi mở ra phát triền công nghiệp, từ lạc hậu vươn lên hiện đại, rồi hiện đại hóa, cuộc chiến đất đai đồng thời cũng phát sinh. Đó là xuất phát từ nhu cầu mở mang hạ tầng giao thông, khu công nghiệp, khu đô thị, cần phải có nhiều quỹ đất. Từ đó, các ông chủ nghĩ ra đủ cấch, kể cả không từ những thủ đoan, mánh lới và cả cướp giật để có đất.
Như nước Mỹ đi trước ta cả hơn thế ký, những năm cuối thế kỷ 19, đầu  thế kỷ 20, cuộc chiến đất đai đã xảy ra triền miên ở nước này. Ở Nga, Anh, Pháp và nhiều nước tư bản khác nay cũng đã hết thời kỳ rộ lên các cuộc chiến sôi động và phức tạp về dất đai. Những năm thập niên đầu của thế kỷ 20, nhu cầu mở mang đường sắt, đường bộ và các nhà máy ở Mỹ trở nên tăng vọt. các chủ tư bản đua nhau đi tìm những miếng “mồi đất” ngon. Vào thời kỳ đó, ở hầu khắp các bang của nước Mỹ đêu bung ra các chiến dịch chiếm dụng đất. Và do đó, nhiều ông chủ đất bỗng nhiên giàu sụ rất nhanh. Tư bản do gốc vốn từ đất  đai phát sinh ngày càng nhiều. Đọc lại lịch sử và các tác phẩm văn học, phim ảnh còn lưu truyền ta thấy rõ thêm những cuộc chiến đất đai đổ máu giữa nông dân với các chủ tư bản, giữa người đi khoanh đo, bao chiếm đất và người bị mất đât. Tất nhiên, trong cuộc giành giật, chiếm dụng đất đai, kẻ được dất thì thành tỉ phú, còn người mất đất rơi vào cảnh nghèo khó, khốn cùng, làm nô lệ.
* Lục đại của đất đai
Đi sau các nước tư bản hàng trăm năm, Việt Nam ta hiện nay đang gặp trong hoàn cảnh va vấp những kiểu, loại, cách thức chiếm dụng, giành giật, tranh chấp đất như trước đây từng xảy ra ở các nước tư bản phát triển, như nhiều nước trong chặng đầu lên công nghiệp hóa, kinh tế thị trường. Chính vì nguồn lợi nhuận lớn, thu nhanh và có giá trị lâu bền, kinh doanh địa ốc đã trở thành nghề nhàn hạ mà dễ vọt lên nhanh thành đại gia. Nhìn lại ở nước ta, từ trước năm 1990, đất đai chưa có mấy giá trị. Nhiều người có đất nhưng bán không ai mua. Có khi đất hoang hóa cho không ai lấy. Khi đó, việc mua bán đất đai, kinh doanh địa ốc chưa bung ra thành nghề hấp dẫn để hốt vàng. Từ năm năm 1990 đến khi công cuộc đổi mới thực sự chuyển minh, kinh tế thị trường với nhiều thành phần, kèm theo các nhu cầu phát triền công nghiệp, đô thị, nhà cửa, lại có đầu tư nước ngoài rót vốn vào, đất đai bắt đầu được lên vị trí trở thành hàng hóa đặc biệt. Và theo đó, những cơn sốt đất liên tục tăng vọt. Đất đai đã sinh ra lòng ham muốn kèm theo biết bao tính toán với mục đích lợi nhuận của con người ở mọi tầng lớp xã hội.
Kinh doanh địa ốc sinh ra hàng loạt các thủ đoạn, mánh lới chiếm dụng đất. Nhiều “cò đất” hóa thành “cáo đất”. Nhiều cán bộ lãnh đạo trở thành ông chủ đất giàu sang ngoạn mục mà không dại gì lại ra mặt, xưng danh. Luật đất đai bị lợi dụng vào mục đích chiếm đoạt, làm giàu bất chính. Nhưng cái nguy là từ những thủ đoạn, mánh lới tìm chỗ hở để lách luật, nay việc lợi dụng và mệnh danh quyền quản lý, quyền sở hữu, quyền sử dụng đất đai đã sinh ra nhiều biểu hiện bẻ cong luật pháp, chọc thủng hàng rào luật pháp, thậm chi bất cần luật pháp, sẵn sàng ra tay làm theo luật rừng.
Đồng hành phát triển kinh tế-xã hội theo hướng công nghiệp hóa là nhu cầu ngày càng cao về quỹ đất. Không nắm quy luật đó sẽ sinh ra chủ quan, bị động, buông lỏng quản lý Nhà nước về quỹ đất công, về thực hiện nhà nước pháp quyền trong lĩnh vực đất đai. Đất đai cũng là một trong những nguyên  nhân sinh ra nợ công, mà nợ công càng lớn thì con cháu đời sau phải chịu hệ lụy nặng gánh. Đường hướng đất đai trên bàn cờ đô-mi-nô trở nên một thứ quy luật tung hoành bất tuân pháp luật. Tham đất rồi, lại tham nữa, sinh ra đại tham. Do cái gốc là lòng tham mà rất dễ sinh ra đại ác. Nhiều khi do dám đại ác mới thành đại gia, đại ca. Đại gia móc nối đại ca hình thành nhóm lợi ích chiếm dụng đất.
Khi những cán bộ lớn chức, to quyền có sự móc nối, ăn chia lợi nhuận với đại gia thì họ bỗng nhiên tự biến mình làm “đại ca đỏ”. Có lắm tiền thì thành đại ngôn, mồm miệng át cả pháp luật, kèm theo lợi dụng chức vụ, quyền hạn mà ức hiếp dân, vi phạm dân chủ, vi phạm nhân quyền. đè bẹp công lý. Đó là cái bàn cờ đô-mi-nô của đất đai, gọi là “lục đại” cuả đất (đại tham, đại ác, đại lợi, đại gia, đại ca, đại ngôn). Cả 6 cái “đại” đó là một trong những nguyên nhân sinh ra những vụ khiếu kiện, đấu tranh từ đất dấy lên. Rồi cũng do đất đai mà vấn đề xã hội xuất hiện những bất ổn do hậu họa của việc mua bán, sang nhượng, chuyển quyền sử dụng, xảy ra các vụ tranh giành, tranh chấp, có cả những vụ cướp đoạt trắng trợn. Bất công xảy ra, làm mất lòng dân phần lớn do việc thực thi pháp luật không nghiêm minh, giải quyết thiếu công bằng. Có những kẻ chiếm dụng đất sai luật, lợi mình hại người,  nhưng lại được chính quyền, bộ máy công quyền từ thanh tra đến công an, viện kiểm sát, tòa án bao che, dung túng với nhiều thủ đoạn, dạng thức rất phức tạp, xử oan, xử ép người có quyền lợi hợp pháp về đất đai. Nhiều “cò đất, cáo đất” chỉ lòng vòng xách văn bản hợp đồng, cả những “dự án ma”, đi xin chữ ký mà chẳng mấy chốc trở thành đại gia.
* Bất công và phân hóa giàu-nghèo
Do những biến ảo, biến dạng vô đạo, bất nhân, trái luật như trên mà tham nhũng tràn lan phần nhiều cũng từ nguyên do của nguồn lợi đất đai và dự án. Lắm tiền nhiều của do việc chiếm đất  thì mới nảy sinh ra sự gia tăng các hiện tượng tiêu cực, hối lộ, nhận hội lộ, rồi mua bán chức quyền, ăn chơi xa xỉ, mất hết bản chất cách mạng của người cộng sản chân chính. Đã có không ít cán bộ, đảng viên có chức trọng quyền cao, có quyền phê duyệt, hoặc chỉ đạo giải quyết đất đai, “chữ ký vàng” đã nhanh chóng quên phắt những huấn thị về chính trị, tư tưởng, những lời dạy về đạo đức, lối sống. Cho dù bản thân họ vốn có gốc từ giai cấp vô sản đi làm cách mạng, nay nhờ chức quyền và giỏi mánh lới, cô stình làm ngơ luật pháp, nhảy vào bàn cơ đô-mi-nô đất đai, bỗng nhiên bản chất vô sản chỉ còn cái vỏ, thành một thứ địa chủ thời thượng, thành “tư sản đỏ”.
Suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, nhân cách từ đó mà ra. Trong khi đó, nhiều hộ nông dân đang sở hữu hàng trăm công đất từ đời cha ông để lại, đất đai của mồ hôi, nước mắt và cả máu xương, nhưng do đất đai bị khoanh vùng nằn trong quy  hoạch, dự án, nay bỗng chốc rơi vào cảnh trắng tay, bị bần cùng hóa, không còn cục đất chọi chim, phải đi ở trọ, làm thuê, làm mướn để kiếm sống. Nhiều vụ chính quyền và “đường dây hành chính Nhà nước” móc nối “ăn chia”, vây cánh với đại gia (nhà đầu tư, nhà thầu) thu hồi đất của dân nhưng bồi hoàn giá quá rẻ mạt, chỉ bằng 3 -7% giá trị đất so với thực giá ở thị trường. Khi đã không thể “mềm nắn rắn buông’ và đủ cách vẫn không ép được người dân giao đất. chủ dự án đã mượn tay chính quyền, “một thứ dịch vụ công quyền”. "Dịch vụ" này khi khoản tiền cống nạpcàng cao thì biện pháp càng mạnh, nhiều khi chính quyền lôi cả thanh tra, công an, viện kiểm sát, tòa án vào cuộc, sinh ra nhiều  biện pháp cưỡng chế hành chính, có khi cưỡng chế thô bạo, bỏ qua cả pháp luật và nhân luân. Thu hồi mà như tịch thu, như cướp đoạt, đẩy người dân vào cảnh bần cùng. Tình trạng phân hóa giàu-nghèo trong xã hội ngày càng có những biểu hiện rõ nét. Một làn sóng nông dân không còn đất canh tác phải dồn ra đô thị tìm kiếm việc làm. Từ hơn 20 năm qua, từ lúc đất đai lên ngôi, hàng nghìn vụ dân đi thưa kiện ròng rã, đủ mọi cấp, mọi tầng nấc, tốn công tốn của, nhưng rồi tiền mất tật mang, công lý vẫn chịu thua công quyền, trắng tay vẫn hoàn tay trắng. Đất đai đã sinh ra biết bao hệ lụy chính trị-xã hội.

Những mâu thuẫn phát sinh từ nguyên nhân đòi quyền lợi đất đai, các vụ tranh chấp không được giải quyết căn bản và thiếu kịp thời mới có những biểu hiện lúc thì ngấm ngầm, khi bùng phát gay gắt, nhưng hầu như mọi phương cách giải quyết vẫn chỉ là tạm thời và nhiều khi còn tỏ ra bất lực, cả việc nỗ lực thực thi theo pháp luật mà cũng đành phải bó tay bởi sự chi phối của nhóm lợi ích và đồng tiền. Luật đất đai cho dù đã được ra đời, nhưng chưa thực sự phù hợp với tốc lực phát triển nhanh của thị trường.
* Nhu cầu sửa Hiến pháp và Luật đât đai
Đã đến lúc đất đai đặt ra vấn đè cấp bách và phải kiên quyết sửa lại Hiến pháp cũng như Luật đất đai một cách cơ bản, chuẩn mực, co sgia strị lâu dài. Trong cuộc họp giải quyết hậu quả vụ rối loạn do tranh chấp, chiếm đoạt đất đai ở Tiên Lãng (Hải Phòng), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói: “Những năm qua, chính sách pháp luật về đất đai có rất nhiều thay đổi. Từ năm 1987 đến nay, Luật Đất đai đã được ban hành mới 3 lần (1987, 1993, 2003) và sửa đổi 2 lần (1998, 2001). Hàng trăm văn bản dưới luật cũng được ban hành, sửa đổi nhưng vẫn còn không ít vấn đề chưa đủ rõ, thậm chí trùng chéo, mâu thuẫn. Trình độ, năng lực cán bộ quản lý đất đai, nhất là ở cơ sở còn nhiều hạn chế trong khi đất đai đang biến động rất nhanh, văn bản pháp luật về đất đai lại rất nhiều và phức tạp, nên công tác quản lý đất đai trong cả nước còn nhiều bất cập. Nhiều vấn đề phát sinh trong quản lý và sử dụng đất đai chưa được điều chỉnh và xử lý kịp thời; khiếu kiện về đất đai chiếm trên 70% tổng số vụ khiếu kiện và có nhiều vụ việc kéo dài”.
Trong thực trạng hiện nay, có thể khẳng định rằng vấn đề đất đai đang trở thành mầm mống sinh ra những bất công lớn và cũng dẫn tới mất ổn định xã hội. Tình trạng này đang thực sự đẩy tới những tình huống báo động. Từ trong quan điểm, nhận thức, đặt ra nhu cầu cấp bách là phải dám mạnh dạn nhận diện cho rõ và kịp thời có những biện pháp thích hợp nhất để hệ thống từ Hiến pháp đến Luật đất đai cùng các văn bản dưới luatạ không cần dài, không cần nhiều mà phải dễ hiểu, dễ áp dụng, có hiệu lực thực thi ca, thực sự bảo đảm dân chủ, công bằng.

Những mặt tồn tại có người gọi là “lỗi hệ thống” này sinh ra do lý luận chưa theo sát thực tiễn, tư duy và phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành chưa theo kịp tốc lực phát triển của cơ chế thị trường, vốn đã bị buông lỏng, rệu rã từ vài thập niên qua. Cho nên, xác định chủ trương, biện pháp cần phải rất sự kiên quyết, mạnh bạo để giải quyết kịp thời, có hiệu quả thì mới tạo được cái đà mới, sức mạnh mới để thoát ra khỏi nguy cơ cái mầm đại loạn do nguyên nhân từ đất đai  đã nảy sinh và có nhiều biểu hiện đang lớn dần gây ra sức ì quá lớn kéo lùi tốc độ phát triển xã hội theo sự nghiệp  đổi mới của toàn Đảng, toàn dân ta. Theo ông Lê Huy Ngọ, nguyên Bộ trưởng Bộ NN&PTNT: “Phải vận dụng những quy luật kinh tế về đất đai. Đất đai là hàng hoá đặc biệt, nhưng dù đặc biệt thì đặc tính thứ nhất vẫn là hàng hoá nên phải vận dụng quy luật về hàng hoá, quy luật thị trường để phù hợp cơ chế thị trường…giá đất nông nghiệp phải được vận dụng theo cơ chế thị trường, nếu không, việc áp đặt một giá do chúng ta nghĩ ra sẽ bị lợi dụng, khi bị lợi dụng thì không thể sử dụng có hiệu quả.. Kinh nghiệm cho thấy tập trung đất đai vào sở hữu toàn dân mà quản lý như vừa qua thì cả hai phương diện hiệu quả sử dụng đất và hiệu quả quản lý bị hạn chế. Nhiều khiếu kiện đất đai thời gian qua cũng có nguyên do từ đây…”.
Sửa lại từ Hiến pháp đến Luật đất đai và các văn bản thực hiện luật, thực sự thể hiện tư thế của nhà nước pháp quyền, siết chặt kỷ cương sao cho phù hợp với chế độ chính trị-xã hội lúc này là vấn đề cấp bách. Quản lý quỹ đất thế nào, những tranh giành, tranh chấp đât xảy ra mức độ đến đâu, phức tạp nhiều hay ít, và qua đó thực hiện công bằng xã hội như thế nào, tất cả đều tùy thuộc những nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị. Phát huy vai trò và quyền lực quản lý, điều hành, giải quyết  các tranh giành, tranh chấp về đất đai như thế nào phải đi từ cái gốc sâu xa nhất là đạo đức xã hội, từ quan điềm, nhận thức, trình độ, khả năng thực tài và tổng lực sức mạnh của thể chế, chính trị-xã hội, của pháp luật, của cơ chế, chính sách và những biện pháp thích hợp nhất dựa trên cơ sở đường lối đúng đắn gắn chặt với nền tảng dân chủ sâu rộng và bền vững. (BVB)

http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://buivanbong.blogspot.com/2012/02/at-ai-nhung-he-luy-ct-xh.html

  

Thứ sáu, ngày 24 tháng hai năm 2012

                 Độc chiêu ngôn ngữ Hải Phòng


ĐỘC CHIÊU NGÔN NGỮ HẢI PHÒNG
* Bùi Văn Bồng

Có lần, tôi hỏi nhà thơ Hải Như, rằng những gì gợi ra cảm xúc để ông viết bài thơ “Thành phố hoa phượng đỏ”? Ông nói, khi đó đang chiến tranh, bỗng nhiên tôi thấy màu hoa phượng đỏ rực cả khoảng trời, màu cờ, màu đỏ chiến công, hoa phượng xen với màu băng, cờ, khẩu hiệu rực rỡ tiễn chân thanh niên lên đường “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Cái màu hoa phượng thắm cứ bừng lên như hào khí chiến thắng của thành phố cảng. Và tôi đã viết bài thơ này, sau đó nhạc sĩ Lương Vĩnh phổ nhạc. “Những cái tên nghe chẳng thơ đâu / Nhưng với ta vô cùng oanh liệt / Ôi, thân thiết tự hào quê hương!... Hải Phòng đó, hiên ngang chỉ biết ngẩng đầu”…
Lâu nay, tôi vẫn thích nghe bài hát ấy, lời hay, nhiều ý nghĩa, nét nhạc trữ tình, đằm thắm, lại rất hào hùng. Nhưng, từ trước tết Nhâm Thìn, khi báo chí nêu gay gắt và miêu tả đầy nỗi oan khốc, mất trị an về cái vụ cưỡng chế thu hồi đất ở Tiên Lãng, sao bỗng dưng những lời ca hay, những âm điệu trữ tình của bài hát truyền thống ấy cứ lặn đi đâu mất. Nhất là khi đã gây ra vụ việc tày đình, kinh thiên động địa như vậy, mà các quan chức Hải Phòng cứ nghênh ngang lờ tịt đi, lo ăn tết, chúc tụng nhau một cách rất vô tư, làm cho thiên hạ phát nóng ruột, tôi lại có sự liên tưởng đến cái gọi là “khí phách” hiên ngang ấy. Cụ Tú Xương có sống lại cũng buộc phải đọc lên: “Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàu / Trăm, nghìn, vạn mớ để vào đâu?”.
Lại nói đến câu hát mà ngẫm thấy đúng quá: “Hải Phòng đó, hiên ngang chỉ biết ngửng đầu”. Họ ngang nhiên đến mức chỉ biết ngẩng cao đầu, mặt vênh như bánh đa nướng, thách thức với pháp luật, với cả dư luận, tỏ ra bất chấp. Thậm chí khi Thủ tướng đã chỉ rõ hàng loạt cái sai cần phải khắc phục và phải nhanh chóng làm rõ, nhưng ông Bí thư Thành ủy lại nói trong cuộc găp mặt “Diên Hồng” với các vị bô lão: “Báo chí sai, ông Vươn sai, …”
Một địa phương giàu truyền thống cách mạng, nhưng nay lãnh đạo mà như thế làm sao mà gọi là An Lão? Có tội mà không chịu cúi đầu nhận tội, cứ nghênh cái mặt lên, thì đúng là trong tâm trạng, hoàn cảnh nào cũng “chỉ biết ngửng đầu”. Mà làm con người lúc nào đầu cũng ngẩng vểnh lên là biểu hiện của thứ bệnh thường thấy là “hội chứng đao (down)”, cứ ngơ ngơ, nghênh nghênh, thiên hạ nói gì cũng mặc kệ, không thể bình thường hoặc cúi xuống được, kể cả khi mắc sai lầm khuyết điểm lớn, bị thiên hạ chửi cho rát mặt, vẫn hiên ngang, không cần cúi đầu.
Mới đó, trong dân gian có người đã xin lỗi nhà thơ Hải Như và nhạc sĩ Lương Vĩnh, nhại lời bài hát: “Những cái tên nghe chẳng thơ đâu / Nhưng với dân vô cùng oan nghiệt”…Rồi từ tên bài hát, lời trong câu hát, suy nghĩ loanh quanh thế nào lại bắt gặp những cái tên người ở Hải Phòng. Chỉ riêng trong vụ Tiên Lãng, về mặt nghĩa của danh từ riêng (với tên người), đã gợi ra hai luồng (dòng) ý nghĩa. Hai luồng ý nghĩa đó là: Hầu hết, tên gọi các vị quan từ xã lên huyện mà báo chí nêu nhiều, chức danh chủ chốt, đều bị nghịch nghĩa. Do đạo đức, lối sống, tác phong và cả phát ngôn của họ đã sinh ra những cái tên nghịch nghĩa, bị ngược phẩm cách. Mà đã nghịch nghĩa thì sinh ra nghịch nhĩ thiên hạ. Luồng ý nghĩa thứ hai: Những người dân lao động chân chất, thật thà, cha mẹ đặt tên sao thì cứ nguyên nghĩa như vậy, cái tên như áp số phận cho cuộc đời.

Cứ thử “giám sát” từ dưới lên trên, “rà soát” từ xã lên huyện, rồi đến thành phố, thấy đa số họ đều mang cái tên nghịch nghĩa, ngược phẩm cách. Ông Lê Thanh Liêm, Chủ tịch UBND xã Vinh Quang, từ nhiều năm nay cứ nhăm nhe giành giật khu đầm của ông Vươn, mong ông anh trên huyện lợi dụng chức vụ, quyền hạn giúp để tìm cách sớm thu hồi đất, giao cho UBND xã, thế nên tên là Thanh Liêm mà lại rất tham lam.
Ông Hoan, Bí thư Đảng ủy xã Vinh Quang, bị kỷ luật cảnh cáo, do ông buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng ở địa phương. Hoan mà chẳng vui vẻ gì, rất buồn.
Ông Lê Văn Hiền, Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng, vì nóng vội lấy đất giao cho em ruột là Thanh Liêm quản lý, ý định cho đối tác khác thuê, nên sinh ra ác. Riêng cặp đôi anh em ruột họ Lê làm đến chức danh là “người đứng đầu chính quyền” ở huyện và xã đã mang tội bất hiếu. Ông bố đặt tên là Hiền, nhưng lại ác; là Liêm, nhưng lại tham. Thật đúng như thi sĩ Tú Xương đã nhận diện từ mấy đời trước: “Nhà kia hỗn phép con khinh bố”. Ông Nghĩa, Bí thư huyện ủy Tiên Lãng, dính vào vụ này cũng là việc làm phi nghĩa. Nghĩa bị phi nghĩa.
Thử “rà lại tên” các ông lãnh đạo thành phố Hải Phòng đã xuất hiện trên công luận từ khi xảy ra vụ Tiên Lãng. Ai cũng biết, thành phố Hải Phòng có hai ông (hai đời) Bí thư Thành ủy tên là Thành. Nhưng kiểm chứng, đánh giá, thấy ông Đoàn Duy Thành (làm các chức danh ở UBND và Thành ủy Hải Phòng từ 1979-1985) đã để lại nhiều công tích, làm nhiều việc có lợi cho “quốc kế dân sinh” trên thành phố Hoa phượng đỏ, nên được thiên hạ bình xét là ông Đại Thành. Ngược lại, từ vụ đất đai Đồ Sơn, Cát Bà đến vụ Tiên Lãng, ông Nguyễn Văn Thành, đương kim Bí thư thành phố hiện nay lại bị dân chúng xúm nhau gọi là ông Bất Thành. Trong vụ Tiên Lãng này, ông Nguyễn Văn Thành cũng bộc lộ để thiên hạ thấy rõ hơn là “mục đích bất thành, âm mưu bại lộ”.
Kế đến, ông Điền, Chủ tịch UBND thành phố, mà lo chuyện điền thổ không xong, dẫn tới các quyết định thu hồi đất bị sai pháp luật, cưỡng chế thu hồi đất cũng phạm luật rất nặng và mất dân chủ trầm trọng.
Ông Đỗ Trung Thoại, Phó Chủ tịch UBND thành phố, “Thoại” là nói, “Trung” là phải thực, phải “trung quân ái quốc”, nhưng khi phát biểu với báo chí thì ông Trung Thoại lại thiếu trung thực, phát ngôn theo lối “bừa phứa cầu cảng”, bị dư luận lên án.
Lại nữa, ông Đại tá Đỗ Hữu Ca, Giám đốc công an thành phố, tên là Ca, chữ C và A thường được viết tắt của “công an”, nhưng lại làm mất uy tín ngành công an, làm sai cả 6 điều Bác Hồ dạy công an. Còn nữa, ông bày ra cái lối tung tin đánh lạc hướng, coi vụ cưỡng chế thu hồi đất của ông Vươn là “cuộc diễn tập”. Cho nên, tên ông là “Ca” mà diễn trò quá dở.
Nay, đương kim Phó chủ tịch UBND thành phố có ông Đan Đức Hiệp, người được phân công thay ông Thoại làm tổ trưởng giải quyết hậu họa vụ Tiên Lãng. Nhưng trong vụ này, ai cũng thấy từ dưới lên trên đã cùng một giuộc, vào hùa với nhau, cùng “đoàn kết” cãi quanh, chống chế, thì ông Hiệp dù có muốn “làm tốt phận sự” cũng khó mà hiệp sức, hiệp lực, hiệp đồng mà cữu vãn được tình hình bi bét, bi đát này.
Trong vụ Tiên Lãng còn thấy xuất hiện thêm ba cái tên liên quan nữa, là ba ông: Tài-Đoàn-Kết. Ba ông này được ông Thanh Liêm bày trò thuê xe ủi phá nhà ông Vươn, nhà ông Quý. Nhưng họ cũng đâu có dễ mà “Đoàn Kết” với chính quyền, họ không bao che, không chối tội, mà họ đã mạnh dạn khai ra, tố cáo những người đã mướn họ làm việc phi pháp…
Lại nói đến những danh từ riêng trong những tên người là những nông dân như gia đình họ Đoàn ở Cống Rộc. Cũng là sự ngẫu nhiên, họ là nông dân, người lao động, mộc mạc, tên cha mẹ đặt sao thì khiêm tốn giữ đúng như vậy, trọn nghĩa, không hề bị nghịch nghĩa, không bị ngược phẩm cách. Như ông Vươn, là điển hình của người cựu chiến binh, của nông dân nhà nòi, luôn luôn phải có nghị lực để vươn lên. Ông Quý, cùng mấy anh em nỗ lực làm ăn, muốn nhanh chóng thoát nghèo, nuôi hy vọng vươn lên phú quý. Sau gần 20 năm bỏ công sức, vay vốn khai hoang lấn biển, mở mang đầm nuôi thủy sản, thế là rất quý, vốn bất động sản đã tạo dựng được, nay cũng thành của quý. Vì là của quý mới bị người ta rình ngó nghĩ kế thu hồi để chụp giật. Còn em ông Quý là ông Vệ, có tài sản thì phải lo bảo vệ, bị ức hiếp, bị phá nhà, cướp đất thì phải lo tự vệ. Đến như hai bà con dâu nhà họ Đoàn, tên Hiền và tên Thương. Họ cũng rất hiền thục và đáng thương. Nhất là cảnh bà Thương giữa ngày Tết phải cùng mấy đứa con chui lủi trong căn lều trên đống xà bần hoang tàn đổ nát thị đúng là thảm cảnh thật đáng thương.
Nghĩ đến tên người ở Hải Phòng, tạm nhận diện như sau: Làm dân còn giữ được nguyên vẹn ý nghĩa của tên gọi; nhưng nếu làm quan như mấy ông dình vụ Tiên Lãng thì dễ bị nghịch nghĩa. Tôi lại cứ nghĩ đến những địa danh nơi đây mà thấy lạ: Sông thì có sông Cấm, sông Lấp; cầu thì bị Rào, mà có cầu Đất nữa. Sông bị Lấp, rồi bị Cẩm, nước chảy về đâu? Cầu bị Rào, ai mà đi được? Bãi tắm biển thì lại mang tên núi (Đồ Sơn), thế mới ngược đời. Thực tình, nếu như Hải Phòng không xảy ra vụ rùm beng Tiên Lãng thì cũng chưa ai để ý nhiều đến hiện tượng độc chiêu ngôn ngữ ở xứ này. Điều tất nhiên là mỗi người đều có một vùng quê, cuộc đời gắn bó biết bao kỷ niệm với dòng sông quê hương: “Sinh ra ở đâu mà ai cũng anh hùng ? / Tất cả trả lời sinh bên một dòng sông / …Quê hương Việt Nam mườn mượt những cánh đồng / Mỗi con người gắn bó một dòng sông…” (Bế Kiến Quốc). Nhưng vì thế nên ai cũng cần phải biết sống thê nào để phát huy truyền thống tốt đẹp của quê hương mình, đem lại niềm tự hào cho quê hương mình. Còn như các vị “tham quan lại nhũng” gây nhiều chuyện trái đạo lý nhân tâm, làm rối xã hội, gây sự kiện thành dư luận xấu cho xã hội, thì tự nhiên họ đã làm cho thiên hạ có những bình phẩm đa chiều về quê hương mình. Thế là cũng có tội với quê hương, dòng tộc. Như thế là họ đã tự mình đánh mất những truyền thống tốt đẹp của quê hương, gây phản cảm cho thiên hạ. Ai gây ra chuyện gì để người ta đàm tiếu ảnh hưởng đến niềm tự hào quê hương thì người đó đều mang trọng tội với quê hương. Có lẽ cũng từ những suy tư ấy, Tiến sĩ Tô Văn Trường, nhà khoa học trị thủy (nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam) đã phải bật ra những câu thơ:
Sông mà bị Cấm chảy về đâu
Rào lại, sao ai dám qua cầu
Lắm chuyện tùm lum sao An Lão
TiênLãng nhách khối tình sầu.
Giờ đây, nghĩ về tên đất, tên sông, địa danh ở Hải Phong, thấy nó cứ lộn tùng phèo, đang cái này bỗng nhảy sang cái khác, không thể thứ tự sự việc, thời gian, hầu như trong sự việc này ai cũng cứ sợ nói ra bị loạn ngôn. Bỗng nhớ, Tiên Lãng ngày xưa còn có các tên gọi là Bình Hà, Tân Minh, Tiên Minh. Những cái tên này thì lại giàu chất thơ: Bình Hà, là trị thủy, làm chủ được sông nước; Tân Minh, vùng ánh sáng mới; Tiên Minh, cũng hay, là ánh sáng soi đường, đi đầu. Người ta nói vì đây là vùng đất hình thành nên do các công trình khai hoang, lấn biển từ lâu đời mà nên. Nhưng có lẽ do lấn biển là việc cơ khổ, gian nan, cho nên sang đời nhà Nguyễn mới đặt tên là Tiên Lãng, theo nghĩa Hán Nôm của Tiên Lãng là đầu sóng, nơi đầu sóng ngọn gió. Mà cũng đúng vậy, nay là Tiên Lãng đang là nơi đầu sóng ngọn gió của vụ cố ý làm trái của lãnh đạo Hải Phòng, nơi đầu sóng ngọn gió thực thi chủ trương chỉnh đốn Đảng, cả một dây từ Đảng đến chính quyền, từ xã, huyện, lên thành phố. Cả nước cũng đang rất quan tâm đến cái nơi “đầu sóng” ấy. Như trên đã nêu, phải nhắc lại địa danh huyện An Lão. Nghe phát biểu rất bừa phứa của ông Bí thư Nguyễn Văn Thành hôm 17-2 mới rồi, làm sao mà An Lão, các vị lão làng ở Hải Phòng, sao mà yên lòng được? Buộc họ phải nhảy dựng lên cùng ký tên vào kiến nghị cách chức Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Thành.
Nói về sự độc chiêu, về nét đặc trưng ngôn ngữ ở Hải Phòng, cũng cần đề cập đến địa danh sông Lấp. Tôi nhớ bài thơ “sông Lấp” của cụ Tú Xương:
Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai

Vẳng nghe tiếng ếch bên tai

Giật mình lại tưởng tiếng ai gọi đò.
Nhờ có những người nông dân, như mấy anh em họ Đoàn, dám lấp sông, lấn biển mới có làng quê trù phú, phố phường đông đức như hôm nay: “Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai”. Bài thơ của cụ Tú hay là thế, ý nghĩa nhân văn, nhân bản sâu xa. Nhìn cảnh nay, nhớ sông xưa, con sông có tên rất thơ mộng: sông Vị Hoàng. Con sông bị lấp, mang tên sông Lấp mà nay chẳng còn sông. Tên gọi xưa là sông Vị Hoàng có nghĩa là nơi vua từng ở, có thể là nơi vua đến, hoặc đi vi hành đến vùng đất này, neo thuyền trên sông chăng? Nhưng khi quan lại ở địa phương nhũng nhiễu, sợ vua đến thì lộ tẩy hết mọi việc mờ ám, cho nên lấp sông đi, khỏi cần Vị Hoàng, quan sở tại như muốn toàn quyền cứ việc tung hoành ngang dọc, muốn làm trời làm đất gì cũng được. Oan cho dòng sông thơ mộng bị lấp đi. Thảo nào, cụ thi sĩ họ Trần (Tế Xương) tiếc cho con sông đã bị lấp cho mất tăm mất dạng. Ông đã làm bài thơ sông Vị Hoàng:
Có đất nào như đất ấy không ? Phố phường tiếp giáp với bờ sông. Nhà kia lỗi phép con khinh bố, Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng.
Keo cú người đâu như cứt sắt Tham lam chuyện thở những hơi đồng. Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh Có đất nào như đất ấy không ?
Con sông ấy bây giờ đã bị người ta lấp đi, nơi cao thì dân làm nhà ở, nơi thấp thì đã nên đồng nên bãi trồng ngô trồng khoai. Nhưng, vào thời buổi và thời điểm này, đọc bài thơ “sông Lấp” của cụ Tú, tôi lại mạo muội xin vong hồn linh thiêng của cụ thứ lỗi, nhại thơ cụ cho nó có chất thời sự chính trị-xã hội từ hậu họa vụ Tiên Lãng - Cống Rộc. Ví dụ như:
Sông kia ai đã lấp rồi
Lại thêm khu đất bãi bồi Vinh Quang
Nghe rền những tiếng kêu oan
Giật mình lại tưởng có quan huyện về.
Không hiểu có cái duyên nợ gì, mà riêng sông Lấp, cụ Tú đã có hai bài thơ. Ngày xưa, làng quê yên tĩnh là thế. Đêm, ngồi bên đồng vắng, chỉ vang lên tiếng ếch kêu mà cụ Tú bỗng “giật mình lại tưởng tiếng ai gọi đò”. Tôi không hình dung ra lúc đó cụ Tú sao lại dễ giật mình như thế. Có thể là sự diễn tả, tu từ đúng với tâm trạng lúc đó của thi sĩ. Sông mà bị lấp, thật là tiếc. Đâu rồi cảnh hữu tình “dòng chảy êm đềm qua lau lách”? Cụ đang ngồi tưởng tượng dòng sông năm xưa, rồi bến sông vào khuya nghe nhịp mái chèo, tự nhiên nghe tiếng ếch kêu. Thế nên, cụ Tú giật mình là có lý. Còn bây giờ, xảy ra vụ cưỡng chế thu hồi đất phát kinh thiên động địa, dân chúng sinh ra tâm lý giật mình khi thấy quan huyện về. Dân Cống Rộc còn nói: “Ông Hiền mà đâu có hiền, ác phát sợ. Sau này, nếu như trẻ con khóc, cứ dọa là im đi, nín ngay, không nín, tao gọi ông Hiền!”.
Tiếng ếch vẳng kêu trong đêm ở nơi đồng bãi ngô khoai heo hút, gợi nhớ tiếng gọi đò da diết thu nào. Những âm thanh cuộc sống thanh bình và rất tự nhiên nơi đây như thể đang sống lại cả một chiều sâu lịch sử với biết bao biến cố thăng trầm. Trải bao biến đổi thời cuộc, thiên nhiên, thời gian, và cả con người đã góp phần làm đổi thay cảnh vật, cải tạo địa hình, đổi thay cả không gian văn hoá hữu hình và phi vật thể, như một hiện hữu của hạnh phúc mà không sao níu giữ được. Như đầm nuôi trồng thủy sản của họ Đoàn ở Cống Rộc, mới ngày nào cá tôm cũng sướng, nhảy tung tăng. Con thuyền nhỏ lướt sóng êm đềm của người nông dân cần cù, kiên nhẫn, gắn bó với đất đai, đầm nước. Bây giờ, đến chú ếch cũng sợ, im re. Đầm bị cướp hết tôm cá, trở lại cảnh hoang hóa năm nào. Thật là cám cảnh. Đúng là ông Vươn đang rơi vào cảnh huống đau lòng: “Mồ hôi mà đổ xuống đầm / Chưa thu hồi vốn, giam cầm oan khiên”. Chính điều ấy đã tạo nên niềm tiếc nuối khôn nguôi của bao người tâm huyết, bao người cả nghĩ như cụ Tú của chúng ta năm xưa đã từng cảm nhận. Dẫu đẹp như Tiên cũng bị rơi vào hoàn cảnh bị Lãng nhách khối tình sầu thương. Một thời, thành phố Hoa Phượng Đỏ, nay còn đâu?. (BVB)


     http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://buivanbong.blogspot.com/2012/02/oc-chieu-ngon-ngu-hai-phong.html   

Thứ bảy, ngày 14 tháng tư năm 2012

  Bộ máy biến lãnh đạo thành CÁI MÁY



Tôi có người bạn quen nguyên là cán bộ cấp vụ trưởng ở một cơ quan Trung ương. Ngày xưa, bố ông ta cũng nguyên là vụ trưởng. Và nay đến con ông ta làm công tác nghiên cứu tổng hợp tại một cơ quan văn phòng bộ, nghe ông khoe rằng : “Cháu cũng đã được đưa vào nguồn vụ trưởng”. Tôi nói vui: “Thế là nhà ông tam đại vụ trưởng đồng đường rồi”. Ông ta cười hấc hấc.
Đã từ lâu, trong cơ chế của ta, từ Đảng đến chính quyền rồi các bộ, ngành, cơ quan từ cấp huyện, tỉnh, thành phố lên đến Trung ương đã hình thành bộ máy văn phòng, cơ quan nghiên cứu, tổng hợp, cơ quan, phòng, ban chuyên trách rất đầy đủ, hầu như không thiếu một góc nào. Vì muốn phình to cơ quan, tăng sự bề thế, lại có chỗ để đưa con em, người nhà, mối thân quen vào biên chế, người ta đề xuất đủ mọi lý do cần thiết thêm phòng này, ban nọ, bộ phận kia… Cứ theo bài ấy, nhiều năm, nhiều cơ quan, nhiều ngành chỉ có tăng biên chế, ít khi và khó mà giảm được. Từ đó, sinh ra mộ bộ máy cồng kềnh, số lượng vào biên chế nhà nước trong mảng hành chính sự vụ này ngày càng đông. Mà đó lại là những nơi được coi là “ngon ăn, béo bở”, là nơi gửi gắm con, cháu, họ hàng thân quen của các quan chức. Con cái dân thường dễ gì chen vào được? Quỹ lương dành cho “khối” này rất lớn, tăng chi tiêu công, ăn lạm, sém lẹm không ít vào ngân khố quốc gia. Mà bộ máy này lại thường sinh ra cồng kềnh, chồng chéo công việc, có khi “dẫm chân lên nhau”, hiệu quả thấp. Có những văn phòng bố trí đến 3 công vụ. Phải phân ra, người này quét nhà, người kia pha trà, người khác chỉ việc ngồi đọc báo, xem ti vi hoặc mở mạng chơi game, thường trực “cơ động”, chỉ khi cán bộ, lãnh đạo cần uống cà phê thì chạy ra phố mua, thế coi như cũng xong việc cả buổi. Thực ra, hô hào tinh giản biên chế từ lâu rồi, nhưng biên chế hành chính bao cấp ngày càng nhiều. Có ông than phiền:
- Tinh giản ư? Tinh gián ai? Cũng biết là chúng nó không được việc mấy, nhưng “trên” bắt phải nhét vào rồi, bắt phải kiếm việc, tìm chỗ, nói là cho nó có nơi làm, rồi cho nó cái chức danh, có đồng lương để sống, lại được
ở Hà Nội. “Công thức 18 Đ” đặt ra những yêu cầu dù không muốn cũng phải lo cho chúng nó là: “Đều đã được đỡ đầu, đi đứng được đầy đủ, đừng để đói, đếch đuổi đi đâu được”.


Cái chuyện cồng kềnh biên chế, dựa hơi nhà nước, có khi học hành, bằng cấp cũng chưa đâu vào đâu, làm việc “ba chớp ba nháp” vẫn lên lương lên chức đàng hoàng, về hưu lại đủ chế độ giữa thành thị, âu cũng chẳng phải lỗi của ai, mà là lỗi của cơ chế. Đã nói đễn cơ chế thì dù có bị phạm pháp, sai lầm gì chăng nữa thì cũng không ai lôi được bị can “cơ chế” ra tòa. Cơ chế do con người đẻ ra, nhưng nó không phải là con người cụ thể.
Điều đáng nói nhất là bộ máy quan liêu đã sinh ra những cán bộ quan liêu. “Trả lương rồi, giao việc thì phải làm, ăn cơm chúa múa tối ngày, chẳng lẽ đến tay tao!”- cái lý sự từ trong nếp quen tư duy như thế nhiều lắm.
Có những cán bộ đã lên bậc chuyên viên. Công việc chủ yếu là “chắp bút” cho lãnh đạo. Từ báo cáo, phát biểu cho đến thư trả lời, trao đổi chỗ này chỗ kia đều do chuyên viên, trợ lý làm hết. Ông chuyên viên nọ gắn cả đời từ khi lính lác đến cấp chuyên viên chỉ như vậy thôi, được cấp nhà gần cơ quan, ngay giữa trung tâm thành phố, từ nhà đến cơ quan gần có thể đi bộ được. Ông ta lại thiếu thực tế, chẳng hề biết địa phương, cơ sở là gì, chỉ loanh quanh hàng ngày với việc bàn giấy, sớm cắp ô đi, tối cắp ô về. Cứ cái điệp khúc đó mà đời cha truyền đời con, rồi đến đời cháu, không ra khỏi Hà Nội, trừ những chuyến thi thoảng về thăm quê hương bản quán hoặc đi du lịch, thăm thú riêng tư…
Có người nói với tôi: “Tại sao ông nào lên cái chức ấy phát biểu đều giống nhau?”. Thì đúng thôi, lãnh đạo nào lên thì vẫn dùng chuyên viên, cán bộ chuyên trách đó làm cái công đoạn “chắp bút”. “Chắp bút” đã thành nghề, viết bài cho lãnh đạo nhanh đến mức “siêu”. Nhưng, sở dĩ nhanh là vì có các bản lưu sẵn tiwf mấy chục năm rồi, mỗi loại có một ngăn riêng, bố cục, nội dung riêng. Đã có bài bản sẵn từ lâu năm, đã qua đến mấy đời lãnh đạo rồi, như một thứ ba-rem, công thức, chỉ cần đảo lên, đảo xuống, thay địa danh, ngày tháng, đưa vào mấy số liệu có chút mới hơn, lại thay phần thưa gửi ở bên trên, lời chào cuối bài cho phù hợp từng hội nghị, từng đối tượng người nghe, thế là coi như xong việc, đáp ứng yêu cầu của lãnh đạo, chẳng cần nhiều động não. Làm việc an nhàn, lương cao, con cháu được nhờ cả dây, cả chùm giữa Hà thành, đời mà được như thế là dư sức “ổn định và phát triển”.
Đảng ta từ nhiều năm qua đang tổ chức “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Hình ảnh Bác Hồ ngồi trước máy chữ, tay đặt lên vằng trán suy nghĩ, toát lên con người tự chủ lao động của Bác, nói và làm đúng tâm, đúng tầm của mình. Cái gì cũng tự Bác viết ra. Ở núi rừng căn cứ Việt Bắc có ”bàn đá chông chênh dịch sử Đảng…”, về Hà Nội tại nhà sàn và Phủ Chủ tịch trên bàn làm việc có máy chữ. Đọc bản thảo Di chúc của Bác để lại, mới thấy cách làm việc cẩn thận, chu đáo của Bác. Bản thảo viết xong, Bác tự sửa lại đến mấy lần. Một cán bộ cựu trào từng mấy chục năm làm việc ở Văn phòng Chủ tịch nước kể lại là ông Vũ Kỳ có lần nói: “Cái này Bác để cháu viết, rồi gửi đến Bác đọc”. Bác nói: “Bài tôi phát biểu thì tôi tự viết lấy. Để cho chú viết, là cái đầu chú nghĩ ra, đâu phải đầu của Bác? Mà nếu để chú viết, tôi cũng phải xem, phải sửa lại. Thế nên tiện nhất là tôi tự viết lấy”. Chưa nói đến chuyện gì lớn, chỉ riêng tác phong, cung cách làm việc của Bác Hồ, lãnh đạo ta có mấy ai học và làm được theo tấm gương của Người?
Ngược lại, cán bộ lãnh đạo ta bây giờ còn khá nhiều vị hầu như rất ít khi tự viết, tự soạn văn bản, soạn báo cáo, lời phát biểu, tự gửi thư trả lời cho chỗ này nơi kia. Đến như bài báo, thậm chí tập thơ cũng do người khác viết cho lãnh đạo đứng danh. Từ cán bộ xã, lên lãnh đạo huyện, lên tỉnh, rối lên bộ, ngành Trung ương, tất cả đều do các cán bộ, nhân viên văn phòng, trợ lý, thư ký viết cho hết, chỉ sẵn đọc, thế mà có khi đọc còn sai. Số liệu do người “chắp bút” tìm hiểu, tổng hợp và soạn sẵn, cứ thế mà đọc. Cho nên, đọc xong quên luôn. Khi cấp trên đến làm việc, lại gọi “bộ máy” lên cùng dự rồi nếu cần thì các phòng, ban giúp việc trực tiếp báo cáo.


Có lần, tôi hỏi một ông Bí thư tỉnh ủy cho địa chỉ Email để tôi gửi một tài liệu liên quan cho ông ta đọc. Ông ta nói: “Cứ gửi đến văn phòng, rồi văn phòng in ra cho tôi đọc, tôi đâu có biết “vi tính vi toán”, có biết “i-meo, i-mẻo” là cái gì đâu” (!?). Quan liêu từ đó mà sinh ra. Rồi lãnh đạo cũng sinh ra lười biếng, ỷ lại, chỉ tay năm ngón. Từ khi có điện thoại di động, các cán bộ lãnh đạo càng an nhàn, có việc gì, chỉ cần “phôn” là có người chạy đi lo ngay. Phải chăng do cơ chế mà phát sinh bộ máy cồng kềnh, rồi chính bộ máy tốn kém nhiều tiền nhà nước đó lại biến cán bộ lãnh đạo thành cái máy?
Từ thực trạng khối hành chính, văn phòng cơ quan khổng lồ, đông đảo, cồng kênh từ huyện lên tình, bộ, ngành Trung ương như thế, liệu có cần “tái cấu trúc”, tinh giản biên chế cho phù hợp và tiết kiệm hay không? Trước hết, cơ chế đó tự nó đã sinh ra một đội ngũ cán bộ chuyên trách, những chuyên viên đã quen với lối sống và làm việc theo kiểu hành chính, quan liêu, bao cấp. Họ chỉ biết “sống dựa, ăn theo, nói leo, mách lẻo, tìm cách trèo, báo cáo lươn lẹo”. Họ có nhiều chiêu thức và kinh nghiệm lấy lòng, chiều chuộng lãnh đạo, nịnh nọt, ton hót, khéo sống “gió chiều nào che chiều đó”, hoặc là “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, miễn là được an phận thủ thường, hở ra là tìm cách tự tư tự lợi cho cá nhân, gia đình. Còn về lãnh đạo được đặt trong cơ chế, bộ máy đã thành khuôn đúc sẵn ấy thì cũng bị biến thành cái máy. Người lãnh đạo hoạt động thiếu tự chủ và ít phat huy nội lực bản thân, được an nhàn là nhờ chức danh, chức trách mà được đứng lên trên thiên hạ, được sống và làm việc bằng cái đầu của người khác: “Cái đầu văn phòng, cái chân xe công, làm ăn lòng vòng, cái mông trợ lý, chữ ký qua loa”. Thực tế, có những lãnh đạo trình độ kiến thức còn yếu, cái bằng náo đó chỉ là sự “hợp thức hóa”, chẳng bằng ai. Nhưng ông lại được quyền sống bằng những cái đầu người khác, những chuyên gia được đào tạo bài bản, những trợ lý đầy kinh nghiệm. Những cán bộ, nhân viên, trợ lý đều học hành chính quy cả, ông đâu còn sợ gì. Đi đâu có xe công ngon lành. Làm giàu thì phải ký cót dự án, vốn liếng lòng vòng. Cái ghế ở cơ quan đã có thằng trợ lý thay ông giải quyết các công việc, có gì cần thì báo cáo sếp. > (đọc thêm tại đây)
Bao giờ cơ chế, và chế độ ta mới thực sự tinh giản được cồng kềnh bộ máy? Bao giờ mới bớt được đội ngũ đông đảo ăn lương nhà nước rồi chỉ việc ngồi chơi xơi nước? Bao giờ cán bộ, lãnh đạo ta không còn điều kiện và cơ hội “sống bằng cái đầu người khác”? Người lãnh đạo phải tự biết chủ động, tự giác và thường xuyên vận động suy nghĩ, phải vắt óc, phải biết có sự mất công vì công việc, không còn là cái máy đã được cơ chế cài sằn phần mềm, được cơ chế lập trình hóa thay cho năng lực thực chất, hoặc như cái máy liên tục được đổ đầy nhiên liệu quan liêu! Vẫn biết rằng bất kỳ một thể chế chính trị nào cũng cần phải có nhiều cơ quan chuyên môn, cá nhân chuyên trách, chuyên ngành và bộ máy phục vụ, giúp việc. Điều đặt ra hiện này là rất cần rà soát lại bộ máy các cơ quan Đảng, nhà nước, ngành ở mọi cấp từ Trung ương đến địa phương. Nếu chưa hợp lý, phát hiện những bộ phận, chức danh không cần thiết sinh ra quá cồng kềnh, lãng phí thì phải tổ chức lại, tinh giản gọn nhẹ, đem lại chất lượng, hiệu quả cao. Những cán bộ còn kém về năng lực và nhiệt tình, thiếu tự giác, ít sáng tạo thực thi nhiệm vụ, buông lơi chức trách, bỏ bê nhiệm vụ, cần cho nghỉ để thay thế người khác có phẩm chất, năng lực tốt hơn, không nên chờ “hết nhiệm kỳ” mới chuyển đổi, sắp xếp, bố trí nhân sự như nếp quen gây trì trệ lâu nay.
 http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://buivanbong.blogspot.com/2012/04/bo-may-biens-lanh-ao-thanh-cai-may.html

Thứ tư, ngày 28 tháng ba năm 2012

  Mưu đồ bá vương ...





  MƯU ĐỒ BÁ VƯƠNG
 nhìn từ Đường Lưỡi Bò

Khi tự vạch ramột đường vẽ trên bản đồ biển Đông, có thể nói nhà cầm quyền Trung Quốc coi như là phác thảo phạm vi cần thiết cho bản đồ tác chiến tầm chiến lược khu vực. Họ gọi là đường chữ U, hoặc đường “đứt khúc khảo cứu hải dương”. Nhưng, hiện nay các nước trong vùng Đông Nam Á không gọi đường chữ U theo TQ mà không ai bảo ai đều gọi là Đường Lưỡi Bò, vì họ gần như đồng quan điểm nhìn nhận với nhau làlòng tham lam, ý đồ bành trướng của Trung Quốc khác nào cái lưỡi bò liếm ngoẹo khắp chung quang để rồi cái gì cũng muốn vơ vào cho nước mình, nhất là nhữngnơi có nhiều nguồn tài nguyên quý. Đất nước của họ rộng rồi, muốn rộng hơn nữa,đông dân rồi, muốn đông thêm nữa. (xem tin mới)
Mà thực tế vớiTQ thì xưa nay ai chẳng thấy máu bành trướng cứ dâng lên phừng phừng, không có độ dừng. Xưa nay, tuy đất rộng, người đông không nước nào sánh bằng, nhưng TQvẫn còn lấn chỗ này một chút đường biên, chen chỗ kia chút biến, nhòm ngó đảo này đảo kia của nước láng giềng. Nhìn lại, ý đồ bành trướng có quy mô, có tầm chiến lược ghê gớm nhất của TQ là từ những cuối thập niên 60 của thế kỷ trước. Khi ấy, đánh hơi thấy khả năng VN sắp thắng Mỹ-ngụy, sẽ giải phóng được miền Nam, thống nhất đất nước, TQ đã sắp sẵn ý đồ đã có từ lâu hòng thế chân Mỹ thôn tính Đông Dương. Đối với TQ, bán đảo này là vị trí chiến lược, là cửa ngõ phíaNam, là miếng mồi ngon nhăm nhe cả nghìn năm chưa dễ nuốt. Nhiều đời, từ giặcÂn đến giặc Minh đều không “bình định”, chinh phục nổi Việt Nam, thậm chí nhiềunơi đã cắm quan người Tàu cai trị đến tận quận, phủ, nhưng rồi cũng bị Việt Nam đánh cho tơi tả, ôm đầu máu chạy về cố quốc. Muốn “lấy” VN từ lâu rồi, nhưngkhi quân Minh bị tan tác, đến đời nhà Thanh thì sự biến trên thế giới thay đổi,TQ không từ bỏ ý đồ xâm lược, thôn tính VN, nhưng từ cuối thế kỷ 19, VN bị Phápxâm lược, rồi sau 1954 lại bị Mỹ can thiệp, Mỹ xâm lược, TQ có muốn cũng đành chờ thời cơ. Thật là “miếng ngon mất đi sầu bi phát khùng”.
Thế nên, khi ấy,dù nội bộ có “bè lũ 4 tên” (Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên,Vương Hồng) gây rối lung tung, lộn tùng phèo nội bộ thiên triều Trung Nam Hải,nhưng TQ vẫn đưa ra một số nội dung về đối ngoại và cả đối nội, bắt VN phải“từng bước phục tùng”. Khi VN tỏ thái độ cứng rắn, giữ vững quan điểm độc lập chủ quyền, tỏ ra không “tâm phục khẩu phục”, thì TQ liền tỏ thái độ khá rõ ràng. TQ cho là VN chỉ quá nghe lời LX, nghe ông Tây, hoặc bị LX xúi giục nên đã gây nhiều cuộc xung đột biên giới với Liên Xô từ thời đó. Đến mức, tình hình xung đột hai nước lớn vẫn là nỗi đau, nỗi lo của Bác Hồ trước khi Người ra đi. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Về phong trào Cộng sản thế giới - Là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hòa hiện nay giữa các đảng anh em!..”.
Tiếp đến, nhà cầm quyền TQ lúc đó còn có nhiều động thái với đủ kiểu hăm hè, đe dọa, khốngchế VN. Ai đã từng chứng kiến và theo dõi thời cuộc vào cuối những năm 60, đầu thập niên 70 của thế kỷ trước đều biết rất rành rẽ ngọn nguồn về những khó khăn trong giải quyết mối quan hệ với nước láng giềng “núi liền núi, sông liền sông”này. 

Giang Thanh và Tổng thống Mỹ Nich-xơn

Thời đó, cả hainước lớn trong phe XHCN là Liên Xô và Trung Quốc đều ủng hộ Việt Nam đánh Mỹ. Liên Xô ủng hộ bởi muốn giữ vững và mở rộng thành trì CNXH ở khu vực Đông Nam Á. Còn Trung Quốc, với sự tiếp nhận chủ nghĩa Mác nửa với, ý thức về CNXH ít hơn, chủ yêu ủng hộ VN là muốn đánh bật Mỹ ra khỏi Đông Dương để TQ thực hiện ý đồ trùm khu vực. Bởi vì khi VN đánh thắng Pháp, quân Tàu Tưởng thấy thời cơ ngon ăn nhảy vào thế chân Pháp, bị Bác Hồ nhìn thấy dã tâm không thiện chí, đã phải ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946, để Pháp dẹp Tàu Tưởng. Ai ngờ, ngay sau đó, Mỹ lại nhảy vào miền Nam Việt Nam. Cho nên, TQ tức mà không thể kêu được, hầu như phải “ngậm bồ hòn làm ngọt”. Vì thế, xét động cơ giúp VN thì trong đó có cái chủ đích của TQ giúp VN là coi như tự giúp mình, tự chủ động “giữ cho mình”, có lợi thì mới làm, buông VN thì mất hết quyền chi phối, bá chủ khu vực. Nếu như không giúp VN đánh Mỹ, để cho đế quốc đầu sỏ đầy sức mạnh nàymà chiếm được cả VN thì coi như tiêu, nguy to. Mỹ mà nằm ngay sát nách TrungQuốc thì coi như “thượng phong tiêu thế, đại kế tiềm vong” (cái thế thượng phongbị triệt hãm, mưu lớn bị mất). Thế nên, thời đó cả “hai ông anh khả kính” đều nhiệt tình dồn sức ủng hộ VN, muốn Mỹ phải cuốn gói nhanh khỏi VN. Cũng là giúp VN đánh Mỹ, nhưng Liên Xô giúp trang bị vũ khí tối tân, hiện đại, chuyển giao kỹ thuật sử dụng và tác chiến (tên lửa, máy bay, xe tăng...), còn Trung Quốc giúp quân trang (quần áo Tô Châu, mũ cối, giày dép, lương khô, bi đông đựng nước uống...).
Cũng vì “cái lưỡi bò” tham lam đó, nhìn quá lại một chút từ năm 1956, lợi dụng tình hìnhPháp rút khỏi Đông Dương, Trung Quốc (trực tiếp là Đài Loan) cho quân đội ra chiếm nhóm phía đông quần đảo Hoàng Sa, rồi cho quân đội ra chiếm đảo Ba Bình trên quần đảo Trường Sa.
Tháng 1-1974, lợi dụng tình hình Mỹ phải rút khỏi Đông Dương, Trung Quốc tranh thủ ăn chặn, chiếm chỗ trến biển Đông, qua mặt chính quyền Hà Nội, gian manh đánh lén, dùng một lực lượng hải quân, không quân quan trọng đánh chiếm nhóm phía tây quần đảo Hoàng Sa khi đó do quân đội của chính quyền Sài Gòn bảo vệ. Năm 1988, Trung Quốc lại huy động lực lượngkhông quân, hải quân tấn công chiếm sáu điểm trên quần đảo Trường Sa, từ đó rasức củng cố các điểm này làm bàn đạp cho những bước tiến mới.
Nhắc lại một sự kiện đi đã vào lịch sử thế giới, loài người không bao giờ quên được là tội ác diệt chủng của Khơ-me đỏ ở Cam-pu-chia. Đâu phải ngẫu nhiên nội tại đất nước Chùa Tháp này tự nứt nòi ra cái bè lũ diệt chủng Pôn-pốt, Iêng-xa-ri,Khiêu-xăm-phon độc tài phát xít tự hại chính dân nước mình như thế? Cái gốc sâu xa của cuộc nội chiến, gọi là “Xây dựng chế độ Cộng sản Pôn-pốt”, gây ra cảnhtang tóc đầu rơi như sungrụng, máu chảy thành sông ở CPC, xem ra không ai khác mà chính là TQ,ông thầy Tàu đầy mưu sâu kếđộc thâm hiểm do lòng tham mở rộng cương thổ bá quyền >(Nguyên TBT Lê Khả Phiêu nói về Pôn-pốt).

Tàu Trung Quốc xâm phạm sâu tận khu vực dầu khí DK1 của Việt Nam

Báo chí trên thế giới khi đó cũng đưa không ít bình luận rằng: Vì ý định nhằm đạt mục đích mưu bá đồ vương, TQ đã đưaPôn-pốt sang TQ học tập, nhồi sọ, huấn luyện Pôn-pốt và phe lũ làm tay sai. Ông thầy Tàu nhét vào đầu mấy thằng “Khơ-me đỏ” ngu dốt và thực dụng là “xây dựng chủ nghĩa cộng sản kiểu mới” ở Cao Miên theo tư tưởng TQ, và TQ hứa hẹn sẽ giúpđỡ hêt sức để Cam-pu-chia xây dựng thành công chế độ cộng sản, hai nước sẽ hữu hảo trường thiên lâu bền(!?).
Cũng trong mưu đồ muốn chớp cơ hội thay chân Mỹ thôn tính Đông Dương, TQ bày kế, xúi giục bè lũ tay sai Pôn-pốt gây hấn dọc toàn tuyến biên giới VN-CPC, chọc ngang hông, để VN mới sau chiến tranh sẽ rơi vào thế mất ổn định, thế bất lợi, có cớ cho TQ dễ bề can thiệp.Cũng với chiêu bài thành bản chất truyền đời kiểu võ lâm kiếm hiệp “tọa sơnquan hổ đấu”, TQ cử những đoàn chuyên gia quân sự sang giúp CPC, và trợ giúp mọi trang bị từ vũ khí,lương thực, thực phẩm; đồng thời đứng phía sau bày kế, kích động cho Pôn-pốt gây chiến tranh biên giới với VN. Cùng với việc TQ xúi giục bè lũ tay sai Pôn-pốt không ngán gì, cứ chọc phá VN cho nhiều vào. TQ còn nghĩ ra kế đánh lừa“thằng em thật thà” là nước Lào
Để mở được đường chiến lược từ Trung Quốc vào tận Cam-pu-chia, TQ còn nghĩ ra kế đánh lừa “thằng em thật thà” là nước Lào. TQ nói là giúp, viện trợ không hoàn lại cho Lào mở con đường từ biên giới Trung Quốc qua Lào, tại phía tây A-pa-chải của Lai Châu, phía Đông Sa-la Phăng của tỉnh Luông-phra-băng (Lào), Con đường này nằm trên đât Lào phia Tây biên giới Lào-Việt, chạy suốt từ Thượng Lào, qua Trung Lào đến tận Hạ Lào. Con đường này trong ý đồ của TQ là con đường chiến lược quan trọng, là“đường xương sống” trên bán đảo Đông Dương. Khi Lào cho phép TQ mở con đườngnày, TQ mừng như vớ được kho vàng. Theo thiết kế của TQ, con đường biên đi dọcvùng rừng núi phía Đông nước Lào, từ Thượng Lào, chạy suốt Trung Lào đến tận HạLào rồi nối thông vào tận Cam-pu-chia. Theo thiết kế, con đường này chạy dọc suốt tuyến biên giới Lào-Việt trến đất Lào, đến tận phía tây Trường Sơn, vượt qua lưu vực thượng nguồn Sê-băng-hiên, miền thượng Se-san, qua vùng rừng nui At-tô-pơ, vào tỉnh Rát-ta-na-ki-ri và Môn-dol-ki-ri của Cam-pu-chia. Nếu thực hiện được tuyến đường này, TQ sẽ có ngay con đường chiến lược tại Đông Dương. Với ý đồ này, được Lào chấp nhận, TQ rần rần cho công binh, xe máy mở đường ngay. Khi VN truy đuổi Pôn-pốt, giải phóng Cam-pu-chia,TQ đã mở được gần 100 km thông từ biên giới TQ sang Lào, chạy dọc biên giới Lào giáp với VN. Khi chế độ diệt chùng Polpot bị VN tiêu diệt, TQ cũng cho ngừng ngay việc mở đường xuyên dọc Bắc Nam trên đất Lào.

Đường do Trung Quốc dừng mở qua vùng núi giáp biên giới Trung-Lào

Vậy là, TQ kích động lũ ngu và ác “Khơ-me đỏ” ráo riết diệt chủng. Thực chất, lòng tham sinh tội ác, TQ diệt hết người dân Khơ-me, mà theo cách gọi của chúng là dân “hắc hầu” (khỉ đen) để thay người TQ vào chiếm lĩnh toàn bộ diện tích Vương quốc Cam-pu-chia (diệt hết hắc hầu, đưa dân Tàu sang chiến cứ). TQ xúi Khơ me đỏ trục xuất Việt kiều và kiều dân nhiều nước khác ra khỏi Phnompenh, còn người K gốc Hoa vẫn được ở lại. Nhu thế, TQ mới sớm đứng chân được trên đất Cam-pu-chia. Khiđó, chắc chắn cái thế thượng phong của TQ sẽ mạnh chưa từng thấy. Và khi đã đạt được mục tiêu chiến lược ấy, khi mưu sâu kế hiểm “đại thành công”, cả ĐôngDương sẽ là của TQ. Khi đã chiếm được Cam-pu-chia làm bàn đạp chiến lược, thìbiên giới phía Bắc ép xuống, biến giới phia Tây Nam nén chặt, VN có mà hết cựaquậy. Rơi vào trạng huống ấy, VN không chịu phục tùng TQ thì có mà ra bã. Khi đã “lấy” được VN thì nghiễm nhiên TQ sẽ đặt tên cả lãnh thổ VN là tỉnh Quảng Nam. Bởi vì TQ đã có tỉnh Quảng Đông, có tỉnh Quảng Tây, riêng cái địa danh QuảngNam còn để giành lại đó, chờ thời cơ mới tính. Trong ý đồ thôn tính lấu dài, chừngnào mũi Cà Mau chưa trở thành điểm cuối của tỉnh Quảng Nam (thuộc TQ !?) thì TQ vẫn còn nhiều rắp tâm và thủ đoạn khó lường. Có thể với ý đồ đó lại thêm bản tính thù dai của TQ, thì đời nay, đến đời con, cháu…nước ta cũng chưa dễ gì được yên với thế lực áp sát phía Bắc. Dân số của VN tương đươngdân số tỉnh Quảng Đông và chưa đủ gấp đôi tỉnh Quảng Tây. Thế nên, TQ mong sớm nghĩ mọi kế sách “Nam tiến” để sớm có được tỉnh Quảng Nam.TQ có tỉnh Vân Nam, chứ không đặt là Quảng Nam;“vọng vân Nam Hải hùng chinh phạt”, Vân Nam là nhìn theo mây phương Nam mà vững chí mở rộng cõi bờ Hoa Quốc.
VN bị Pôn-pốt gây chiến tranh biên giới Tây Nam, xua quân tràn sang suốt toàn tuyến biến giới, tàn sát dã man dân thường VN, cũng là thực hiện ý đồ thâm độc của TQ “tọa sơn quan hổ đấu”, “trai cò mổ nhau, ngư ông đắc lợi”. Ý đồ hết sức hiểm độc và đầy tham vọng này của TQ là: “Chúng mày cứ đánh nhau nữa đi, đánh nhau mạnhvào, thằng nào chết tao sẽ ăn thị thằng còn lại. Hơn nữa, gây hấn với VN còn là“mũi tên trúng hai con chim”, khi cần thì Pôn-pốt cứ lên tiếng, thầy Tàu đây luôn sẵn sàng nhảy sang Cam-pu-chia ứng cứu “đệ tử” ngay. Cho nên, TQ không những huấn luyện đào tạo lũ diệt chủng Khơ-me đỏ, mà còn giúp chúng xây dựng quân đội. TQ trang bị cho Pôn-pốt các loại súng bộ binh, mìn lá, mìn nhảy, mìnzip, cả quân trang, quân dụng, quân lương cho quân đội Pôn-pốt trên chiến trường Cam-pu-chia. Khi quân tình nguyện VN đánh sang Cam-pu-chia, thu được cácloại vũ khí, quân trang, quân dụng, cả quân lương phần lớn đều là của TQ. Khơ-meĐỏ là chính quyền được TQ dựng nên. Trong những năm đó TQ tài trợ cho Khơ-me Đỏtổng số vũ khí và tiền bạc lên đến 1,5 tỷ USD. Mọi chuyện xảy ra bắt đầu xuấtphát từ việc Đặng Tiêu Bình lên ngôi. Âm mưu của Đặng trước tiên là xâm chiếm xuống phía Nam.Thực sự thì có rất nhiều âm mưu và suy tính trong nước cờ xâm chiếm việt nam năm 1979 củaTQ. Không chỉ là lãnh thổ, tài nguyên mà còn cả về mặt củng cố quyền lực của Đặng, vấn đề Trường Sa, Hoàng Sa cũng không nằm ngoài những suy tính nói trên.
Tù binh Trung Quốc tại biên giới Lạng Sơn 3-1979

Lực lượng Khơ-me Đỏ gồm có 19 sư đoàn, với các phiên hiệu: 164, 170, 290, 310, 450, 703, 801, 902…Các sư đoàn này được trang bị tốt bằng vũ khí của Trung Quốc, được chỉ huy bởi các chỉ huy dày dạn kinh nghiệm trong các cuộc chiến tranh vừa qua, gồm nhiều binh lính trung thành đến cuồng tín, nhưng các sư đoàn này cũng đã bị nhiều hao tổn trong những lần giao tranh trước, và quân số mỗi sư đoàn chỉ chừng dưới 4.000 người, gần bằng nửa quân số của sư đoàn Việt Nam. Trang bị của quân đội Pôn –pốt do TQ rót như: Một số máy bay chiến đấu T-28; phân đội MiG-19 do Trung Quốc sản xuất, số Mig-19 này không kịp tham chiến vì không có phi công và rơi vào tay quân Việt Nam khi họ chiếm Phnom Penh; một sư đoàn thủy quân lục chiến; một sư đoàn hải quân; mộtsư đoàn không quân, nhưng chiến đấu như bộ binh khi giao tranh nổ ra và còn nhiều đơn vị xe tăng và trọng pháo.
Trong hơn hai VN vừa bảo vệ biên giới Tây Nam,vừa làm nghĩa vụ quốc tế đưa quân sang truy diệt bè lũ Pôn-pốt, cứu nguy cho đất nước Chùa Tháp thoát nạn diệt chủng, TQ tức lồng lộn lên. Các chuyên gia quân sự TQ chạy tẩu thoát bằng máy bay và đường bộ sang Thái Lan.
Cũng cần nóithêm là người viết bài này khi cùng bộ đội hải quân đánh chiếm đảo Cô Tang(Cam-pu-chia), tháng 1-1979, thấy trên nhà sàn bằng gỗ sao đỏ sang trọng của chuyên gia TQ còn vứt lại cả đồng tài liệu huấn luyện quân sự, chính trị. Bên góc nhà sàn chuyên gia này có hàng trăm căn cước, giấy tờ mang tên người dân đảo Thổ Chu của VN. Pôn-pốt đã đánh chiếm đảo Thổ Chu, bắt đi hơn 500 người dân, đưa về đảo Cô Tang sát hại. Suy ra từ căn cứ những giấy căn cước còn để lại ở góc sàn ngôi nhà chuyên gia TQ trên sườn phía Bắc đảo Cô Tang, thì việc đánh chiếm đảo Thổ Chu là do các chuyên gia quân sự TQ ở Cam–pu –chia, lính Pôn-pốt chí là tay sai. Cũng tại phía bắc đảo Cô Tang, mới vàinăm mà TQ đã cho đào một hầm phóng ngư lôi khoét sâu vào núi đá, ăn thông với biển, hướng thẳng sang vùng biển Thái Lan. Hầm phóng ngư lôi mà TQ làm dở chừng, nay vẫn còn, cây cỏ mọc um tùm.

TQ mất Cam-pu-chia, lồng lộn như hổ đói mất mồi. VN giải phóng Cam-pu-chia ngày 7-1-1979, thì hơn một tháng sau (ngày 17-2-1979), TQ rầm rộ xua quân gây chiến tranh biên giới phía Bắc: “Dạy cho Việt Nambài học”(Ảnh bên: Đi giúp cho Pôn-pốt).
Thế thì, đã quá rõ là khi TQ bị vỡ nát mưu đồ lấy Cam-pu-chia làm bàn đạp chiếm toàn Đông Dương, không được ăn thì đạp đổ, phá hôi, trả thù cho hả bớt cơn giận. Chế độ diệt chúng Pôn-pốt bi đập tan, TQ thua một cú đau hơn bị bò đá. Toàn bộ âm mưu và chiến lược, sách lược độc chiếm Đông Dương của TQ bị VN đánh tan, công toi, hết còn đường cứu gỡ. Đúng ra, xử tội lũ diệt chủng Pôn-pốt phải lôi kẻ chủ mưu, kẻ tổ chức, tên đầu trò là TQ ra ánh sáng pháp luật, nhưng VN vì chính sách đối ngoại, lại mới giải phóng đất nước có nhiều việc phải làm, kinh tế-xã hội thời đó nhiều khó khăn, VN đã nhân hậu bỏ qua không tố cáo TQ lên Tòa án Quốc tế, mà các nước thì cũng biết vậy thôi, không thích dây đến ông Tàu.
Tên lửa đất đối không PN-6 do TQ viện trợ cho quân đội CPC
Hiện nay, TQ vẫn tìm mọi cách theo con đường “hợp tác kinh tế” để tiếp tục ý đồ làm chủ Đông Dương. Theo nhận xét của báo mạng Asia Times ra ngày 23/8/2011 thì viên Thượng Nghĩ Sĩ Lao Meng Khin nhiều quyền lực của Đảng Nhân dân Campuchia hiện nay sẽ hợp tác với Công Ty Đầu Tư Nội Mông Erdos Hongjun trong hai dự án nhà máy thủy điện và khai thác quặng mỏ trị giá khoảng 2 tỷ USD. Campuchia có thể không cần sự giúp đỡ của Ngân hàng Thế giới khi họ dựa vào tài chính của Trung Quốc mà không phải bị bó buộc vào bất cứ điều kiện nào.
Giới quan sát đã đặc biệt ghi nhận chiều hướng tăng cường hợp tác PhnomPênh - Bắc Kinh vào lúc quan hệ Trung Việt có căng thẳng vì hồ sơ Biển Đông. Trong khi ngoài Biển Đông,Trung Quốc làm cho các nước trong khu vực, đặc biệt là Philipines và Việt Namlo ngại về tấm hải đồ tự vẽ của Trung Quốc mang tên “Đường Lưỡi Bò”, thì ở trên bộ, sát biên giới phía Tây của Việt Nam, Trung Quốc lại từng bước tiến hành chiến lược nắm quyền chi phối các nước từng nằm trong vòng ảnh hưởng của Việt Nam là Lào và CPC.
Nếu ý đồ chiến lược của Trung Quốc được hoàn thành thì coi như lãnh thổ Việt Nam bị bao vâytrong một gọng kềm, trên Biển Đông và tuyến trên bộ kéo dài từ biên giới tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) xuống Lào, đến Campuchia và vùng biển Nam Campuchia, nơi đây mở ra hai hướng phát triển, một đi ra Vịnh Thái Lan, hai đi về biển Cà Mauvà tiến đến Trường Sa.
Mưu đồ bá vương của TQ trong khu vực, trước hết phải thực hiện tại bán đảo Đông Dương. Chế độ diệt chủng Khơ-me đỏ ở CPC bị đánh tan là nỗi thất bại lớn về ý đồ thôn tính của TQ trên toàn bộ 3 nước Đông Dương, một thời cơ ngàn năm không hề trở lại. Xem cách đối ngoại quân sự, viện trợ và đầu tư kinh tế, thấy rõ ý đồ của TQ không ngừng tiến tới tạo thế đứng chân ở địa bàn chiến lược quan trọng này (CPC) vẫn theo đuổi đến cùng trong chính sách mở rộng vai trò trùm khu vực củaTQ. Hồi đầu tháng 5-2010, Trung Quốc tặng CPC 257 chiếc xe quân sự và việntrợ 50.000 bộ quân phục kèm theo 16 triệu USD. Sự kiện này đã có không ítngười đặt ra câu hỏi về mối quan hệ giữa hai nước này và đặc biệt là về sự viện trợ quân sự mà Trung Quốc dành cho CPC. Bắt đầu từnăm 1997, Trung Quốc trở thành nước viện trợ quân sự lớn nhất của CPCvới khoản tiền viện trợ hàng năm lên tới hơn 5 triệu USD. Nếu so vớiGDP của Campuchia thì con số này là quá lớn (tính đến cuối năm 2007,GDP của Campuchia mới đạt khoảng 8,4 tỷ USD với thu nhập bình quân đầu người đạt 589 USD/người. Mức này mới chỉ gần gấp hai lần năm 1997).
Xe tăng Trung Quốc mới viện trợ cho Cam-pu-chia

Hiện trong trang bị của Quân đội Hoàng gia CPC còn có rất nhiều loại vũ khí do Trung Quốc sản xuất và viện trợ như xe tăng chiến đấu chủ lực Type 59 (200 chiếc),Type 62 (30 chiếc), Type 63 (20 chiếc); Xe chiến đấu WZ 501 được Trung Quốc sản xuất theo mẫu BMP-1 của Liên Xô; Roket giàn 107 mm Type 63, 122mm Type 81/83; Pháo M1954, Type 59-1 130 mm, pháo Type 60 122 mm; Cối Type56 75 mm, cối Type 53 82 mm. Cũng phải kể đến nhiều loại súng bộ binh và súng máy phòng không các loại.
Báo “Bưu điện Phnôm Pênh” (CPC)ngày 22/8 dẫn nhận định của nhà phân tích chính trị Lao Mong Hay cho rằng mặc dù việc tăng cường hợp tác này được các quan chức Campuchia và một số tập đoàn trong nước hoan nghênh, song điều đáng lưu tâm là phần lớn giá trị đầu tư nàyxuất phát từ Trung Quốc. Ông phân tích: “Khi Trung Quốc ngày một khẳng định ảnh hưởng tại Campuchia, đất nước này sẽ càng trở nên '”quỵ lụy” vào Trung Quốc”.Chuyên gia này cho rằng bề ngoài, dường như Trung Quốc chỉ chú trọng vào thương mại khu vực và những nguồn tài nguyên dồi dào của Campuchia, nhưng mục tiêu chính của nước này lại mang tầm chiến lược.
Chuyên gia Lao Mong Hay phân tích rằng trong khi Trung Quốc và Việt Nam tiếp tục có nhữngtranh chấp đầy căng thẳng ở khu vực Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) giàu tiềmnăng dầu khí, thì Bắc Kinh coi Campuchia như là “Vành đai an ninh” trong khu vực. Báo chí Campuchia cho biết các thỏa thuận được ký kết trước sự chứng kiếncủa Thủ tướng Hun Sen và ông Chu Vĩnh Khang gồm nhiều lĩnh vực. Hàng loạt thỏa thuận và Bản ghi nhớ (MoU) được tập trung vào các khu vực viện trợ quốc phòng,năng lượng, khai khoáng, nông nghiệp và xây dựng đường sá.
Bộ trưởng thông tin CPC, ông Khieu Kanharith, cho biết Trung Quốc là nhà đầu tư lớn nhất cũng như là nước cho vay và viện trợ cho nước ông nhiều nhất mà‘không bao giờ đi kèm với bất cứ điều kiện nào’ Ông nói: “Đầu tư củaTrung Quốc ở đây là 8,8 tỷ đô la. Đây là số tiền đầu tư lớn nhất vàoCampuchia. Với khoản đầu tư này, Campuchia có thể tái thiết cơ sở hạtầng, có được độc lập chính trị và đóng vai trò thích hợp trên trường quốc tế. Cho đến nay, mối quan hệ song phương của chúng tôi đã đạt đến mức độ đối tác chiến lược toàn diện”.
Campuchia sẽ không đưa vấn đề tranh chấp Biển Đông vào chương trình nghị sự của Hội nghị thượng đỉnh Asean diễn ra vào đầu tháng Tư tới tại PhnomPênh. Quyết định này của Campuchia diễn ra trong bối cảnh Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào sẽ có chuyến thăm đến PhnomPenh vào tuần tới, theo tin từ Tân Hoa Xã. Chuyến thăm bốn ngày của ông Hồ diễn ra từ ngày 30-3 đến ngày 2-4-2012, tứclà kết thúc ngay trước thềm Hội nghị thượng đỉnh Asean.
Giặc Minh thua chạy tán loạn

Nhìn xa hơn nữa về lịch sử nghìn năm bị phương Bắc xâm đô hộ, cha ông ta từ thuở Hùng Vương dựng nước, đến Triệu (bà Triệu), trải Đinh, Lý, Trần, Lê, Hậu Lê, hết đời này sang đời khác đánh giặc phương Bắc giữ nước, giữ nền độc lập-tự do, đã có biết bao xương máu của nhiều đời không kể xiết mà “thằng em” này đã phải đổ xuống mảnh đât chỉ nhỏ bằng mộttỉnh của “ông anh”. Việt Nam vừa đánh Mỹ-ngụy, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, TQ không những không giúp VN mà còn lợi dụng thời cơ thôn tính, thực hiện ý đồ chinh phục lâu dài. Những năm đó, VN ta thật là lao đao, trong nướcthì kiệt quệ, đói kém, ngoại biên thì giặc giã quấy phá. Trong 14 năm đầu sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, toàn dân tộc VN phải đối phó gay gắt và lạiphải đổ xương máu vì âm mưu xâm chiếm toàn bộ Đông Dương của TQ sau năm 1975,với “điểm” phát hỏa tại Cam-pu-chia, gây chiến tranh biên giới Tây Nam, rồi chiến tranh biên giới phía Bắc, những cuộc đánh chiếm Hoàng Sa, Trường Sa, rồi liên tục nhiều cuộc gây bất ổn trên biển Đông… Tính ra, từ năm 1989, sau khirút toàn bộ quân tình nguyện ở Cam-pu-chia về nước, Việt Nam mới coi là thực sự có hòa bình. Tháng Tư nay là 37 năm giải phóng, nhưng tương đối yên bề xây dựng, đổi mới đất nước mới được 22 năm (1990-2012). Ôi! Cho đến nay, người dân nước Việt đã có quá nhiều bài học với “ông anh” láng giềng phía Bắc rồi, thấm lắm rồi, khỏi dạy, tốt nhất là cần tỉnh táo, luôn luôn phải cảnh giác cao. Ông “anh láng giềng” đã dùng cái lưỡi bò dài ngoằng liếm Hoàng Sa,Trường Sa, nay lại liếm sâu đến tận khu mỏ đầu khí DK1 thì thật là quá đáng.Lại nhiều lần bắt ngư dân đang hành nghề trên vùng biến của VN. Nhưng, tốt nhất là TQ khỏi cần phải lo “dạy cho VN bài học” nào nữa, mới đây, thấy tàu TQ ngang nhiên xuất hiện lù lù tận gần Côn Đảo đã biết quá những lời hữu hảo với những hứa hẹn ngon ngọt “16 chữ vàng”, "4 tốt" rồi. Hay các ông cũng muốn VN phục hồi lại nhà lao Côn Đảo để giam hàng binh của TQ xâm lược? Khổng Tử nói: "Kẻ không biết ngấm đòn còn ngu hơn cả cái roi". Ngay như đơn giản, dễ nhớ nhất là 7 điều vô ích Khổng Tử đã dạy mà đến tận thời nay nhà cầm quyền Trung Quốc cũng không nhớ được. Xin nhắc lại: Cái vô ích thứ nhất là "tâm còn chưa thiện", cái vô ích thứ 5 là "Làm trái lòng người", rồi đến cái vô ích thứ 7 là "Thời vận không thông". Thế thì quả nhiên các ông Tàu đến tận bây giờ vẫn ngu hơn cái roi. Bài học cả mấy nghìn năm nay, kể cả sự trả giá quá đắt và đại ô nhục của bao đời viễn cựu cố tổ mà nay nhà cầm quyền TQ vẫn không thấm thía được gì, thì đúng là, nếu cần, một lần nữa Việt Nam phải dạy thêm cho Trung Quốc một bài học, nếu không hạ hỏa được máu bá quyền, cứ đụng đến nền độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. (BVB)

--------------
              >> Tham vọng của Trung Quốc ...
http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://buivanbong.blogspot.com/2012/03/muu-o-ba-vuong-nuoc-lon-nhin-tu-uong.html

Thứ bảy, ngày 10 tháng ba năm 2012

  Hành trình siêu lừa của 

"Bông hồng Vàng"

Bà Diệu Hiền xây tượng Phật trước cửa công ty, nhưng ngộ theo tâm Phật
HÀNH TRÌNH SIÊU LỪA
CỦA “BÔNGHÀNG HỒNG VÀNG”

* Bùi Văn Bồng

* Nữ đại gia PhạmThị Diệu Hiền, Tổng giám đốc Công ty Bình An (Bianfishco) ở thành phố Cần Thơ suốt 3 năm liền (2006-2008) được nhận danh hiệu Cúp “Bông hồngVàng”. Lạ thay, năm 2011 bà Diệu Hiền bộc lộ làm ăn thua lỗ, không đủ khả năngtrả nợ, đã có công văn đòi nợ của các ngân hàng như thế, nhưng không hiểu sao,siêu lừa Diệu Hiền vẫn hiên ngang đoạt Cúp “Bông hồng Vàng”. Chuyện thật nhưđùa.
Giải thưởng Cúp “Bônghồng Vàng” là giải thưởng được Hội đồngDoanh nhân nữ - Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam(VCCI) xây dựng và tổ chức thường niên từ năm 2005. Đây là hoạt động nhằm ghinhận, tôn vinh phụ nữ Việt Nam nói chung, doanh nhân nữ Việt Nam nói riêng, đãcó những thành tích xuất sắc trong sản xuất, kinh doanh và đóng góp tích cựcvào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội. Qua5 năm tổ chức, đã có rất nhiều nữ doanh nhân giỏi việc nước, đảm việc nhà đượctrao tặng Cúp "Bông hồng Vàng" và họ ngày càng khẳng định vị thế củamình trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, góp phần không nhỏ cho sự pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước. Nhưng tai hại thay, riêng “Bông hồng Vàng”Diệu Hiền đã bỗng nhiên “mọc cánh” bay sang tận nước Mỹ để trốn nợ hàng nghìntỉ đồng.
Mấyngày qua, hơn 40 hộ nông dân nuôi cá ở vùng đồng bằng sông Cửu Long bồn chồn lolắng vì có nhiều nguy cơ bị đại gia Phạm Thị Diệu Hiền “ăn quỵt” (giật nợ) tiềnmua cá. Sau nhiều lần hòa giải không thành, Tòa án Nhân dân quận Ô Môn (thànhphố Cần Thơ) đã lên kế hoạch xét xử tiền nợ cá của nông dân đối với bị đơn làbà Diệu Hiền, đại gia nổi tiếng “như cồn” ở miền Tây Nambộ từ nhiều năm qua. Nhưng, nguy thay, con nợ đã như “tự mọc cánh cao chạy xabay” sang tận nước Mỹ xa xôi, sau khi chạy trăm khoanh không vay tiếp được 350tỉ đồng của ngân hàng để tiếp tục các chiêu lừa khác (riêng chuyện này cũngmừng là ngân hàng ta đã đến đủ độ để tỉnh ngộ rồi). Đại gia Diệu Hiền chạy trốngiữa tình huống quá bí về tiền, khó lừa ngân hàng được nữa, và lại có “trát” gọi ra hầu tòa. Riêng khoảnnợ tiền mua cá của nông dân đã lên đến con số 264 tỉ đồng, như ông chồng TrầnVăn trí nói trong cuộc họp báo (nhưng số liệu báo cáo tại UBND thành phố CầnThơ là 350 tỉ đồng). Ấy thế, nhưng đại gia Diệu Hiền đã bay sang nước ngoài “trịbệnh nan y”, sẽ không hầu tòa được, và nông dân cứ việc dài cổ mà kêu gào cũngkhó lấy lại được tiền bán cá, đời sống của họ đã đắp dày nghèo khó, nay lạiphải nợ đìa ra ở ngân hàng, tiền mà họ đã vay để nuôi cá. Cơn “bạo bệnh” của bàDiệu Hiền bất ngờ bị phát lên sau khi bà đã cùng chồng là ông Trần Văn Trí tổchức đám cưới cho con trai với đoàn xe hàng chục chiếc loại xe đời mới siêuhạng đắt tiền gây nhiều tai tiếng. Hai ngày sau "siêu đám cưới này", bà Hiền vội lo xuất ngoại theo đường dây đã đượcchuẩn bị trước (ông Trí, chồng bà Hiền nói trongcuộc họp báo ngày 7- 3 là bà Hiền đi Singapo). Thực chất nay bà Hiền đang ở Mỹ. Trước đó 2 ngày (ngày 18-2),nhiều nông dân đã căng băng rôn trước biệt thự của bà Hiền trên đường 30-4,thành phố Cần Thơ để đòi nợ. Nhưng bà con không hiểu hết sự tình, ngôi biệt thựsang trọng bậc nhất ở thành phố Cần Thơ này, bà Hiền đã gán nợ cho đại gia TrầmBê rồi, bà Hiền đã ở nơi khác.
Dư luận cho rằngviệc tung tin đi nước ngoài chữa bệnh chỉ là cái cớ để bà Hiền xuất ngoại, nhằmmục đích trốn nợ, trốn pháp luật, trước mắt là trốn để khỏi phải ra hầu tòa tạiquận Ô Môn (thành phố Cần Thơ) ngày 16-3 sắp tới. Thực chất, cái thứ “bệnh hoạntrầm kha” vốn có của đại gia Diệu Hiền lại nằm ở chỗ khác. Đó là căn bệnh của“lưu manh hiện đại, lưu manh cao cấp”. Xuất các chiêu siêu lừa để vay tiền cácngân hàng, dưới các con bài lập các “dự án ảo”, lập nhiều công ty kinh doanhtrá hình, vơ về nhiều giải và lời khen, chính là chiêu lừa ngoạn mục lấy cớ đụckhoét vào ngân khố quốc gia, cả việc cố tình dây dưa nhằm giật tiền bán cá củanông dân để vơ vét rồi tuồn vốn ra nước ngoài nhằm mục đích kinh doanh làm giàutại Mỹ.
Số tiền nợ muacá của nông dân nghe đã giật mình như vậy, nhưng cũng chưa ăn nhằm gì so với sốtiền khổng lồ mà đại gia Diệu Hiền đã dùng đủ mọi mánh lới để vay của ngân hàngtrong nước, đem tuồn ra đầu tư ở nước ngoài. Theo báo cáo tài chính kiểm toánnăm 2010 (do Công ty TNHH Deloitte kiểm toán), tính đến ngày 31-12-2010, Côngty Bình An có khoản nợ phải trả lên tới hơn 1.393 tỉ đồng, trong đó khoản nợngắn hạn gần 1.222 tỉ đồng và nợ dài hạn hơn 171 tỉ đồng. Cngx theo số liệu tạibáo cáo tài chính này, chỉ riêng khoản lãi vay mà công ty này phải trả gần 78tỉ đồng.
Trongnăm 2011, dù lượng tiền mặt không nhiều, nhưng Công ty CP thủy sản Bình An vẫntiếp tục lao vào đầu tư những dự án không hiệu quả (như nhà máy Collagen). Hậuquả là công ty đã không thể giảm được 30% tổng số nợ vay ngân hàng như mục tiêuđề ra, mà các khoản nợ của công ty tiếp tục phình ra.
Tại một các cuộchọp đâu tháng 3-2012 do UBND thành phố Cần Thơ tổ chức để xác định số nợ của công ty Bình An, tìm ra cách thức cânđối nợ, từ đó phương án trả nợ cho dân và các ngân hàng. Cơ quan chức năng vàcán bộ chuyên môn đã đưa ra số liệu tổng hợp cho thấy số nợ hiện tại của Côngty Bình An tới trên 1.500 tỉ đồng, trong đó nợ 10 ngân hàng khoảng trên 1.200tỉ đồng, nợ 40 hộ dân bán cá khoảng từ 300-350 tỉ đồng, còn các khoản nợ khác ởbên ngoài chưa thống kê chính thức.
Với những chiêuthức siêu lừa và báo cáo láo, đại gia Diệu Hiền đã rất nổi tiếng trên cácphương tiện thông tin đại chúng. Trung tâm truyền hình VTV tại thành phố CầnThơ, đài PTTH thành phố Cần Thơ đã nhiều lần phát những phóng sự chuyên đề kháhoành tráng và ca ngợi không tiếc lời về bà Diệu Hiền. Nhiều nhà báo, các nhânviên chuyên nghề chạy quảng cáo cũng cố tìm cách đưa bà Diệu Hiền lên mây xanh.Có tiền có khác. Chỉ cần gõ họ tên của nữ đại gia này lên trang tìm kiếm http://www. google.com.vn/ , sau một giâyđã hiện lên hơn 250.000 kết quả.
Đặc biệt, trên trang website: http://www.vinacorp.vn/, ngày 6-4-2010, đãcó bài của tác giả Phan Hải khen ngợi nữ đại gia Diệu Hiền như một thần tượngcủa doanh nhân trên đất Việt, người có “ước mơ quốc tế hóa một doanh nghiệp”.Bài báo còn kể lể về cuộc đời nữ đại gia này xuất thân từ hoàn cảnh mồ côi, đã phảiđưa vào nuôi trong chùa, nhưng bằng nghị lực và đức tính tần tảo và kiên trì,biết cách làm ăn trở thành đại gia đầy uy tín và hứa hẹn một tương lai tiếnphát đi lên khẳng định uy tín một doanh nhân có đức, có tài đầy triển vọng. Bàibáo còn ca ngợi bà Diệu Hiền không những có tài trong sản xuất, kinh doanh, làngười trung thực, nhân hậu mà còn là “người phụ nữ có lòng từ thiện tâm nhà Phậtvà nhập thể hết mình với khát vọng lớn nhất là đem lại niềm an lạc cho mọingười” (bấm vào đây để xem). Nhưng nhà báo ký bút danh Phan Hải đâu cóbiết, cái gọi là “Bông hồng Vàng” này hàng chục năm qua đã hăm hở chạy đôn chạyđáo khắp nơi xuất những chiêu lừa ngoạn mục lấy tiền ngân hàng xây biệtthự ở thành phố Cần Thơ, mua nhà, đất ở thành phố Hồ Chí Minh, mua xe siêuhạng, thỉnh thoảng có màu mè, huênh hoang làm từ thiện bằng tiền Nhà nước để tự đánh bóng,tung tiền tứ xứ để mua về những danh hiệu, những giải quốc gia và quốc tế vềlĩnh vực sản xuất kinh doanh. Bà Diệu Hiền cũng không dễ bỏ qua cơ hội để xuất hiện nhiều lần trên mặt báo, các đài phát thanh, truyền hình để khoe những việc làm từ thiện. Bà nói: "Nhờ có bà con nông dân cơ cực một nắng hai sương, Công ty của tui mới ăn nên làm ra, cho nên tui rất thương bà con lao động nghèo". Nhưng không phải cơ quan truyền thông nào cũng dễ dàng bị bà Hiền níu kéo, mồi chài. Đâu phải lúc nào bà muốn nhảy lên để muốn tự khoa trương đều được họ ủng hộ. Bởi vì, các Ban biên tập và không ít nhà báo cũng đã có thừa "nếm trải" để nhận diện là bà Hiền chỉ tung tin hão, miễn là báo đăng, có sự xuất hiện trên màn hình đối với bà là đạt yêu cầu, còn sau đó xù luôn. Theo Giám đốc Đài PTTH tỉnh Hậu Giang cho biết: Tháng 12-2004, tỉnh Hậu Giang tổ chức lễ hội "Hậu Giang ngày mới", Đài PTTH Hậu Giang truyền hình trực tiếp, cùng phát trên VTV . Trong lễ hội có chương trình kêu gọi các doanh nghiệp, doanh nhân, các nhà từ thiện ủng hộ quỹ "Vì người nghèo". Bà Hiền chuẩn bị sẵn một bảng ghi 200 triệu đồng, ngồi nhấp nhổm hàng ghế đại biểu chờ được xuất hiện trên sân khấu. Nhưng Đài truyền hình tỉnh Hậu Giang kiên quyết không mời bà Hiền lên. Đơn giản là họ đã biết tỏng cái trò làm le, lừa dư luận của bà Hiền. Nếu có mời bà Hiền lên sân khấu, công bố hẳn hoi trước công luận cũng không dễ gì lấy được tiền của nữ đại gia siêu lừa này.


Nông dân chăng biểu ngữ đòi nợ trước của biệt thự Diệu Hiền (đường 30-4)

Hành trình siêu lừa của bà Hiềnmới bùng phát hơn mười năm qua. Từ cái gốc ban đầu, với thực cảnh vợ mở khu dulịch Bình An tại thành phố Sóc Trăng, chồng làm Hiệu trưởng trường Nghiệp vụGTVT, thuộc Bộ giao thông vận tải khuvực Hậu Giang, nhưng làm ăn thua lỗ, bà Hiền bật lên thành phố Cần Thơ. Khi đó,cơ hội hiếm có đến với bà Hiền là thành phố Cần Thơ có quy hoạch mở ra khu đôthị mới, kết hợp khu công nghiệp Nam sông Cần Thơ (khu Hưng Phú), bà Hiền đã lập “dự án ảo” xin cho xây dựng Khu văn hóa –du lịch sinh thái. Được UBND tỉnh Cần Thơ (cũ) chấp nhận, bà Hiền dễ dàng lấyđược hàng chục ha đất của nông dân. Giá bồi hoàn cho nông dân quá rẻ, lúc đầu chỉvới 40.000 đồng/m2, nông dân bị mất đất oan uổng, rầm rộ đi khiếu kiện ra tậnTrung ương. Nhưng rồi mọi sự đều có trợ lực đầy quyền bính của các “ông bự”hồng hào máu mặt, bà Hiền vẫn khoanh được khu đất đã được nâng cấp lên hạng đấtđô thị ngon lành. Bà có đủ những cơ sở pháp lý và thủ tục hồ sơ và cả tìm mọicách mồi chài những chức danh “nặng ký” để vay tiền ngân hàng với lãi suất cóphần ưu đãi (do dự án xây dựng công trình phúc lợi công cộng). Khi Thủ tướngPhan Văn Khải đi thăm thành phố Cân Thơ, bà Hiền bám riết, mời mọc, còn trươnglên khẩu hiệu: “Nhiệt liệt chào mừng Thủ tướng đến thăm khu dự án xây dựng côngtrình…”. Nhưng lần ấy Thủ tướng không ghé thăm khu “đất vàng” của bà Hiền. Dù vậy, cái bảng đỏ chói dài ngoằng ấy vẫn phấp phới bay cả tuần sau mới được gỡ xuống. Cái thuật làm le trước dư luận của bà Hiền đã trở nên "ăn quen bén mùi" rồi.
Bà Hiền lập dự án ảo, lấy mục đích dự án là xây dựng công trình phúc lợi công cộng cho thành phố, thực chất là để dễ dàng vay số lượng tiền lớn của ngân hàng với lãi suất thấp, và ngay sau đó bà ta xin chuyển mục đích sử dụng khu đất này thành khudân cư đô thị. Vẫn được UBND tỉnh Cần Thơ chấp nhận, Bà Hiền vội vàng phân lô,chặt nền ra bán, thu lợi nhuận cao gấp 200-300 lần/m2 so với tiền bồi hoàn chonông dân và chi phí san lấp mặt bằng.
Tiếp đến, bà Hiền tiếp tục vaycác ngân hàng với số vốn lớn để kinh doanh địa ốc, rồi chuyển sang làm Công tyxây dựng trá hình, mục đích chỉ là lấy cớ rút tiền Nhà nước bằng con đường vay“hợp pháp”. Từ năm 2005, bà Hiền mở Công ty Cổ phần Thủy sản Bình An, với vốnđiều lệ 5.000 tỷ đồng, có chức năng, nhiệm vụ: “Nuôi trồng thủy sản nội địa,kinh doanh, xuất nhập khẩu thủy sản. Chế biến phụ phẩm thủy sản, Kho bãi và lưugiữ hàng hóa. Chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản. Sản xuấtdầu, mỡ động, thực vật, sản xuất nước tương, thực phẩm chức năng”. (Mã số doanh nghiệp 1800604806 – Sở Kế hoạchvà Đầu tư TP. Cần Thơ cấp lần đầu ngày 18/4/2007). Thực tế, công ty mới thành lập, nhàxưởng còn phải có thời gian hoàn thiện, công nhân chưa tuyển đủ, bước vào hoạtđộng sản xuất chưa đi vào ổn định, khách hàng chưa biết nhiều, hiệu quả chưabao nhiêu, nhưng bà Hiền đã báo cáo thành tích rất kêu, và cả bằng các chiêuchạy chọt nhiều cửa, chỉ chưa đầy một năm sau, năm 2006 bà Hiền đã được nhậnCúp “Bông hồng Vàng” (!).
Cho nên, dư luận cho rằng cần phảixem lại quy trình , điều kiện, tiêu chuẩn, cách chẩm điểm, kiểm tr, đánh gia vềgiải Cúp này. Tiếp đó, chỉ trong thời gian ngắn, không những chạy thành tích,khoe khoang trong nước, bà Hiền đã nhiều lần bay khắp trời Âu-Mỹ để có đượcnhiều giải thưởng cao quý của các tổ chức quốc tế trao tặng như: Giải “Chất lượng hoàn hảo và thành tích tiêubiểu’ ở Đức; giải “Bạch kim quốc tếvề chất lượng” tại Thụy Sĩ; giải thưởng “Hàngđầu về chất lượng toàn cầu”, do Tổ chức Quản lý doanh nghiệp hàng đầu BusinessIntiative Directions trao tặng tại New York; giải “Cúp mạnh bạch kim về công nghệ cho chất lượng thương hiệu mạnh”tại Italia, giải “Cam kết chất lượng toàncầu – World Quality Commitment” tại Pháp…Cỏ thể nói, riêng mặt chạy cácgiải quốc tế để tự mạ vàng, đánh bóng cho Bianfishco, thì Bà Diệu Hiền đã thànhsiêu “diệu nghệ”.
Tháng 6 năm 2011, bà lại cho cắt băng khánhthành và đưa nhà máy sản xuất nước giải khát thượng hạng Collagen trên tích9.000 m2, với mức chi phí xây dựng hàng chục triệu USD. Để tổ chức Lễ khánh thành nhà máy, bà DiệuHiền đã cho thiết kế hàng trăm chiếc xuồng chở trái cây, tái hiện cảnh sôngnước ĐBSCL. Chương trình khánh thành được tổ chức hoành tráng với sự tham dựcủa hàng ngàn đại biểu trong nước và quốc tế. Ngoài những lễ hội âm nhạc, múavà biểu diễn tốn kém, chương trình khánh thành được truyền hình trực tiếp trênVTV1 Cần Thơ từ 9 đến 11 h ngày 30/6. Bà Hiền mời các nghệ sĩ danh tiếngnhư MC Nguyễn Cao Kỳ Duyên (con gái tướng Nguyễn Cao Kỳ) đang là Đại sứ Thươnghiệu quốc tế của Bianfishco; ca sỹ Đàm Vĩnh Hưng. Đại sứ thương hiệu củaBianfishco tại Việt Nam, và MC Quyền Linh, Đại sứ Thân thiện cho Bianfishco…Nhân dịp này, Bianfishco còn ra mắt các nhà đầu tư chiến lược trong và ngoàinước gắn bó lâu dài với công ty. Đặc biệt các lãnh đạo ở thành phố cần thơ vàcác ngân hàng “ruột” đều không thể không trân trọng kính mời.

Mc Quyền Linh và Mc Nguyễn Cao Kỳ Duyên tại lễ cắt băng khánh thành nhà máy Collagen

Nhưng, chỉ mới 7 thàng sau buổi lễ đặc biệtsang trọng này và quá tốn kém này được tổ chức, sản xuất của nhà máy Collagen cũngchưa vào thế ổn định, vậy mà bà Hiền kiếm thêm cớ vay được tiền ngân hàng vớitrị giá lớn rồi nay vội chuồn ra nước ngoài, mặc cho sản xuất đình trệ, hàngnghìn công nhân mất việc làm. Luật sư Nguyễn Trường Thành, đại diện cho phíanguyên đơn là nông dân bán cá, dự đoán ra chiêu “tào tháo” của bà Hiền, đã đềnghị tòa án cần áp dụng biện pháp khẩn cấp nhằm quản lý chặt bị can, cấm xuấtcảnh đối với bà Diệu Hiền; kê biên tài sản để đảm bảo cho việc thi hành án. Thếnhưng, bà Hiền vẫn chuồn được rất nhanh ra nước ngoài cùng 3 người khác tronggia đình, giao Công ty Cổ phần bình An cho chồng là ông Trần Văn Trí ở lại đốiphó. Ngày 7-3, ông Trí có tổ chức họp báo, nhưng không thể trả lời được các câuhỏi của báo chí một cách thành tâm và chính xác,
Trong nước, bàHiền cũng chạy chọt đề nghị được các phần thưởng và lời khen như: Nhà nước tặngthưởng Huân chương Lao động hạng 3, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan gửi khenngợi. Đồng chí Trương Tấn Sang, khi còn ở cương vị Thường trực Ban bí thư, đã trao Bảng vàng “Anh hùng, bất khuất, trunghậu, đảm đang” có chữ ký của nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình…
Các kiểu siêulừa, chạy cửa sau, chớp nhanh lối tắt để có các giải thưởng, phần thưởng, thưkhen của bà Hiền thực chất là cái cớ để lừa bịp thiên hạ, khoa trương thanh thếcho Công ty, chiêu thức “thành tích ảo” nhằm đạt cái đích cuối cùng là thuyếtphục các ngân hàng vay được số lượng lớn tiền của Nhà nước, đổi thành USD vàmua vàng tuồn ra nước ngoài. Những chiêu thức kiểu này đã vô hình trung và cũngrất tự nhiên đẩy gia vàng trong nước lên cao, làm mất giá trị đồng tiền Việt Nam.Đó là chưa kể đến lối sống xa xỉ, tiêu xài xả láng rất thời thượng và lãng phícủa nữ đại gia Diệu Hiền. Như là việc tổ chức đám cưới hoành tráng gây taitiếng cả nước và cả việc bà Hiền xây dựng tại Trà Nóc một “Thủy cung massagecá” với gần 40.000 con các cảnh xinh xắn, đủ màu sắc nhập từ Thổ Nhĩ Kỳ bằngngoại tệ, ý định sẽ chuyển sang Mỹ tô diểm cho nhà hàng thủy cung du lịch.
Bà Hiền huy độngtiền trong nước với số lượng ngày càng tăng, lại được nhiều ngân hàng cho vay,bà đã tuồn vốn để “xây tổ” lâu dài ở nước ngoài, nhiều nhất là ở Mỹ. Để đạtđược mục đích cao siêu này, nữ đại gia siêu lừa Diệu Hiền đã bay đi bay lạihàng chục lần sang Mỹ để “nghiên cứu thị trường Hoa Kỳ”. Theo bàHiền đã bật mí cho các nhà báo, bà sang Mỹ thực hiện các dự án mở Văn phònggiao dịch của Bình An trị giá 8 triệu USD tại khu vực sang trọng nhất của thànhphố Beverly Hills. Xây dựng Bianfishco market tại thành phố này của Hoa Kỳ gồmchợ đầu mối, nhà hàng thủy cung kết hợp du lịch, các đại lý, của hàng bán sỉ,bán lẻ. Đây là một trong những mô hình của 8 dự án mà Bianfishco của bà Hiền sẽđầu tư xây dựng tại San Francisco, New Jersey, Los Angeles (LA), Honolulu(Hawai), New Orian, New York (Boston),Miami và Chicago.
Tưởng bà Hiền giỏi giang như thế,tác giả Phan Hải đã viết bài khen ngợi: “Bất chấp cơn khủng hoảng kinh tế đã“quật” tơi tả nhiều doanh nghiệp, nhưng chính sự chèo lái xuất sắc của nữ doanhnhân Phạm Thị Diệu Hiền đã đưa con tàu Bianfishco tiến nhanh, tiến mạnh trênthương trường quốc tế”.
“Tiến nhanh, tiến mạnh” đến đâuthì chưa biết, chỉ biết chắc chắn rằng, bà Phạm Thị Diệu Hiền đã bộc lộ rõ hànhtrình của “Bông hồng Vàng” bằng những bài độc chiêu siêu lừa đã nghênh ngangoai vệ hơn một chục năm qua, nay lại thênh thang trên “đường lén” sang bên Mỹ.Không biết trong vụ vơ vét tiền Nhà nước theo kiểu này, các nhà lãnh đạo và cơquan pháp luật sẽ vào cuộc thế nào? Dư luận cả nước đang nóng lòng chờ đợi.
Cũng tại thànhphố Cần Thơ, bà Ba Sương, người anh hùng thực thụ có công lớn, nơi nông trườngSông Hậu hoang hóa không được Nhà nước đầu tư, phải chạy vay ngân hàng để lokhai hoang, rồi lo cho đời sống của hơn 3.400 hộ nông dân, thì bị điều tra, xétxử ruồng ép, truy bức đến cùng và không chút lương tâm, cố tình bóc trắng mộtmô hình nông nghiệp công nghệ cao đang đà ăn nên làm ra. Nhưng, mọi cách “vạchlá tìm sâu, bới bèo ra bọ” suốt hơn 3 năm thanh tra, điều tra hình sự mà chỉđưa ra được con số hơn 5 tỉ đồng quỹ,lại là quỹ đời sống tự tạo của công đoàn dành để chi phí lo chính sách cho ngườilao động, bà Ba Sương không hề tư túi, mà bị “đánh” đến mức oan khốc như thế.
Còn nay, ngượclại, trước những hành động cố tình phạm pháp, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọngở Công ty Cổ phần Bình An (Bianfishco), do siêu lừa Diệu Hiền gây ra, chínhquyền và các cơ quan chức năng công quyền sẽ tính sao?. / .
Bùi Văn Bồng
http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://buivanbong.blogspot.com/2012/03/hanh-trinh-sieu-lua-cua-bong-hong-vang.html

Thứ bảy, ngày 07 tháng tư năm 2012

Từ DOC đến COC - rồi còn phải gì nữa?



TỪ DOC ĐẾN COC
             RỒI CÒN PHẢIGÌ NỮA?

* Bùi Văn Bồng

Vấn đề an ninh cho Biển Đông không phải đến bây giờ mới đặt ra gay gắt. Nhìn lại, từ gần 40 năm qua, Biển Đông vẫn không ngừng dậy sóng - những cơn sóng từ bản chất đã mang tính cố hữu, nhiều khi bất thường và xô bồ về tranh chấp chủ quyền lãnh hải, thềm lục địa.
Tính từ đầu những năm 1990, sau vụ Trung Quốc (TQ) tấn công Trường Sa, tình hình Biển Đông bắt đầu nhiều căng thẳng trên một bình diện khác thường, nhiều diễn biến ngày càng phức tạp hơn. Các nước ASEAN đưa ra yêu cầu cần có biện pháp hữu hiệu để sớm ngăn chặn tình trạng an ninh bất ổn ở vùng này. Phải mất 10 năm khởi động, không ít tranh cãi, vận động, mãi đến ngày 4 -11- 2002, Tuyên bố về ứng xử củacác bên ở Biển Đông (DOC) mới được Trung Quốc ký với các nước ASEAN.
Nhưng, thật trớ trêu trong suốt 10 năm qua, việc thực thi DOC xem ra vẫn không đem lại hiệu quả gì, mà trái lại, tình hình Biển Đông ngày càng căng thẳng hơn, chủ yếu vẫn do phía TQ gây ra cho các nước trong khu vực, nhất là 4 nước có lãnh hải tiếp giáp với Trung Quốc, trong đó Việt Nam là ở gần và trực tiếp nhất, một sự phải "đối mặt".
Vì Tuyên bố cam kết DOC không được thực thi nghiêm chỉnh, lại nhiều vi phạm ở mức độ trầm trọng, từ đó phát sinh thêm nhu cầu phải có COC (Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông), như một sự bổ trợ, đốc thúc, để muốn có một ràng buộc pháp lý các bên liên quan nhằm thực hiện DOC tốt hơn. 
Nhưng, chỉ tính trong 20 năm qua, từ khi khởi động theo nhu cầu thực tế đặt ra cấp bách, trước động cơ (cả âm mưu) và thái độ của Trung Quốc trong ứng xử, giải quyết vấn đề Biển Đông, cam kết DOC hầu như vẫn chỉ nằm trên giấy. 

Và 10 năm, tuy DOC đã được tuyên bố khá hùng hồn, nhưng nay lại phải thêm COC liệu có mang đưa đến kết quả gì? Vậy là, do mức độ phức tạp ngày càng trầmtrọng khó gỡ trên Biển Đông, sau DOC nay cần phải thêm COC, rồi còn phải những gì nữa mới đem lại bình đẳng, yên lành cho Biển Đông?
          Nhìn lại một chút về lịch sử để thấy thêm bản chất vấn đề: Từ nhiều đời nay TQ vẫn chưa bao giờ từ bỏ ý định nhòm ngó cả vùng Đông Nam Á (ĐNA) bằng ánh mắt thèm thuồng của máu bành trướng, bá quyền, mộng bá chủ thiên hạ. Qua nhiều đời “thiên mệnh triều chính”, cả nghìn năm xua quân đánh chiếm Việt Nam, dùng sức đông người và mọi thủ đoạn xảo quyệt xâm lược, áp đặt cai trị, TQ đã đặt dân tộc VN vào cả nghìn năm Bắc thuộc cơ nhục. 
             TQ chỉ mong thu phục VN về lãnh thổ, như một tỉnh,một xứ dân tộc thiểu số phía Nam của TQ. Nhưng, lịch sử đã chứng minh, ý đồ nối đời này của TQ, dù đã “Nam chinh Bắc phạt” nhiều nơi, nhưng lại bị vấp ngay phải một dân tộc có ý chí mạnh mẽ do lòng yêu nước và chí anh hùng. Cả nghìn năm, với trăm phương nghìn kế, nhưng TQ vẫn không thể khuất phục được mảnh đất ở Đông Dương bé nhỏ này. Đến tận thế kỷ thứ 18-19, đời nhà Thanh (Thanh triều, đế quốc Mãn Châu, 1616-1912), TQ vẫn nuôi chí rằng VN phải thuộc về TQ. Nhà Thanh bị Nguyễn Huệ đánh tơi bời, thua đau đớn vào đầu xuân Kỷ Dậu 1789. Bị thất bại thảm hại và nhục nhã, giặc Thanh xâm lược càng tức tối cực độ, càng nuôi lớn tham vọng, nhà Thanh vẫn rắp tâm trở lại xâm lược VN lần thứ 2.
Nhưng ở vào thời đó, các nước đế quốc, tư bản phương Tây mở rộng thị phần và thuộc địa sang  Châu Á. Dù không muốn, nhưng vua Thanh buộc phải tiếp đón các thương gia, rồi chuyên gia người Anh. Từ ấy, nhà Thanh phải đối phó với Anh quốc, rồi bị Nhật chiếm đóng, đối phó với cả Nga, Pháp, Mỹ,... dẫn tới suy yếu dần, mất cơ hội tấn công xâm lược VN. Cuối cùng, đang giữa lúc suy vong, do Cách mạng Tân Hợi mà Thanh triều bị sụp đổ vớisự thoái vị của vua Phổ Nghi, kết thúc gần 300 năm tồn tại đế quốc MãnThanh nổi tiếng hung hãn, hùng khí một phương trời. Năm nay vừa đúng 100 năm ngày sụp đổ của vương triều nhà Thanh, thìlại xảy ra nhiều sự kiện, điểm nóng ở khu vực làm dậy sóng Biển Đông.
             Từ đầu thế kỷ thứ 20, do bối cảnh của TQ và do xu thế cách mạng thực dân hóa trên toàn cầu trỗi lên mạnh mẽ, VN lại bị Pháp xâm chiếm, nên cho dù vẫn cháy bỏng ý đồ thôn tính VN, làm bàn đạp chiếm Đông Dương và các nước ĐNA, thực hiện mưu đồ bành trướng phương Nam, nhà cầm quyền TQ cũng buộc phải gác lại vì bản thân TQ đang bị các nước siêu cường xâu xé. 
             Cho đến năm 1955, sau khi bị thất bại thảm hại ở Điện Biên Phủ, quân Pháp rút khỏi Đông Dương theo Hiệp định Giơ-ne-vơ. Ngay sau đó, không bỏ lỡ cơ hội, năm 1956 TQ cho xua quân chiếm một số đảo phía Đông quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc muốn nhanh chân cướp trọn cả vùng quần đảo Hoàng Sa, nhưng Mỹ lại nhảy vào xâm chiếm can thiệp Đông Dương, dựng lên chính quyền bù nhìn tay sai Ngô Đình Diệm ở miền Nam VN rồi đưa quân sang xâm lược VN. Tình thế ấy khiến TQ bị chưng hửng, không thể lấn sâu để toại mãn tham vọng, ý đồ.
Khi còn đế quốcMỹ ở miền Nam VN, dù TQ có muốn Biển Đông đến mấy cũng không thực hiện được ý đồ gì vì hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm dưới sự quản lý của chính quyền ngụy ở miền Nam, được Mỹ bảo trợ. Quân đội Mỹ bắt đầu rút khỏi VN tháng 1-1973 theo Hiệp định Paris, thì tháng 5 và tháng 7 năm đó, TQ đã mấy lần cho tàu ngư chính và cả tàu hải quân trinh thám, thăm dò vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đã bị hải quân Việt Nam Cộng hòa xua đuổi. Từ tháng 1-1974, lợi dụng khi VN đang dồn sức chuẩn bị Chiến dịch tổng tấn công đánh cho ngụy nhào để giải phóng dân tộc, TQ đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa từ tay quân đội Việt Nam Cộng hòa. Việt Nam vừa giành được thắng lợi thống nhất đất nước, TQ đã dựng lên chế độ Khmer Đỏ ở Campuchia, rồi cho Khmer Đỏ đánh chiếm đảo Thổ Chu phía biển Tây Nam của VN, đưa bắt hết hơn 500 người dân đảo Thổ Chu về đảo Cô Tang giết sạch. Năm 1979, để bảo vệ biên giới Tây Nam và theo yêu cầu của đảng Nhân dân cách mang CPC, quân đội  VN đã đập tan chế độ diệt chủng Polpot, giải phóng Campuchia.
Cay cú do bị VN làm cho thất bại một âm mưu chiến lược lớn đầy kỳ vọng là sẽ sớm thay chân Mỹ nhảy vào chiếm cứ Đông Dương, "đột phá khẩu" bằng cách diệt chủng hết người Khmer rồi chiếm CPC đưa người TQ sang thay thế, TQ đã nổi cơn hùng hổ “dạy cho VN một bài học” gây ra cuộc chiến xâm lược VN trên toàn tuyến biên giới phía Bắc, một cuộc chiến trang ngắn, nhưng khốc liệt và đầy tai tiếng về Chủ nghĩa xã hội(!?). Mục tiêu của Trung Quốc buộc Việt Nam rút quân khỏi CPC không thành, nhưng cuộc chiến để lại hậu quả lâu dài đối với nền kinh tế VN và quan hệ căng thẳng giữa hai nước. Sau khi bị thuaở biên giới phía Bắc, TQ quay ra chiếm các đảo.
Trong những tháng đầu năm 1988, Hải quân Trung Quốc cho quân chiếm đóng một số bãi đá thuộckhu vực quần đao Trường Sa, chiếm giữ Đá Chữ Thập (31-1), Châu Viên(18-2), Ga Ven (26-2), Huy Gơ (28-2), Xu Bi (23-3). Hải quân Việt Nam đưa vũkhí, khí tài ra đóng giữ tại các đảo Đá Tiên Nữ, Đá Lá, Đá Lớn, Đá Đông, Tốc Tan, Núi Le, bước đầu ngăn chặn được hành động mở rộng phạm vi chiếm đóng của hải quân Trung Quốc ra các đảo lân cận. Phía Việt Nam dự kiến Trung Quốc có thể chiếm thêm một số bãi cạn xung quanh cụm đảo Sinh Tồn, Nam Yết và Đông kinh tuyến 1150.
Căn cứ vào tình hình xung quanh khu vực Trường Sa, Hải quân Việt Nam xác định: Gạc Ma giữ vị trí quan trọng, nếu để hải quân Trung Quốc chiếm giữ thì họ sẽ khống chế đường tiếp tế của Việt Nam cho các căn cứ tại quần đảo Trường Sa. Vì vậy, thường vụ Đảng ủy Quân chủng hạ quyết tâm đóng giữ các đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao...
Cũng từ tháng 1-1988, TQ mở chiến dịch đánh chiếm một số đảo ở Trường Sa thuộc chủ quyềncủa VN, xây căn cứ trên đảo Chữ Thập, rồi từ đó liên tục có rất nhiều hoạt động quấy rối và xâm phạm chủ quyền lãnh hải của VN và các nước khác trong khu vực. Từ khi bị hải quân TQ chiếm đóng trái phép và xây dựng căn cứ ở Bãi Cỏ Rong thuộc quần đảo Trường Sa vào tháng 3-1995, Philippines đã nâng độ cảnh giác với TQ lên mức cao. Nhiều nước khác cũng buộc phải thayđổi cách nhìn về TQ. Trước những nguy cơ uy hiếp và xung đột bằng vũ lực Thế nên, năm 1991, các nước ĐNA mới đặt ra yêu cầu cần có cam kết DOC, khởi động suốt 10 năm mãi đến năm 2002, do sức ép từ nhiều phía, TQ mới chịu ký Tuyên bố cam kết DOC mặc dù đây chỉ là một văn kiện không cótính ràng buộc về pháp lý.
Tháng 11-2002, nhân dịp Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 8 nhóm họp tại CPC, Trung Quốc cùng các bên trong khối ASEAN ra “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông” (viết tắt là DOC). Đây là văn kiện chính trị đầu tiên mà ASEANvà Trung Quốc đạt được có liên quan đến vấn đề Biển Đông và được coi là bước đột phá quan trọng trong quan hệ ASEAN-Trung Quốc về vấn đề Biển Đông. 
Việc ký DOC là kết quả nỗ lực của các nước ASEAN, đặc biệt là của bốn nước liên quan trực tiếp tranh chấp ở quần đảo Trường Sa trong việc duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông.
            Tính từ năm 2002 đến nay, mặc dù đã ký cam kết DOC, nhưng trong 10 năm qua, theo thống kê, TQ đã có gần 200 lượt tàu đánh cá, tàu ngư chính và cảtàu hải quân xâm phạm chủ quyền lãnh hải của VN. Tháng 12-2004, TQ bắt 80 ngư dân VN đang đánh cá trên vùng biển Bắc Bộ thuộc lãnh hải VN. Trắng trợnvà liều lĩnh hơn, ngày 8-1-2005, hai tàu tuần dương Trung Quốc bao vây và bắnxối xả vào các tàu đánh cá Việt Nam làm 9 ngư dân Thanh Hóa bị thiệt mạng, 7người bị thương và 8 người khác bị TQ bắt. Và liên tục năm nào TQ cũng cho tàucác loại xâm phạm vùng lãnh hải VN và các nước có vùng biển tiếp giáp, với hành động ngày càng công khai, trắng trợn hơn, không hề tôn trọng DOC như đã cam kết.
              Theo điều 1 trong Tuyên bố cam kết DOC, tháng11-2002: “Các bên tái khẳng định cam kết của mình đối với các mục tiêu và các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, Công ước LHQ về Luật biển năm 1982(UNCLOS), Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác khu vực Đông Nam Á (TAC), với năm nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình (của Trung Quốc) và những nguyên tắc được thừa nhậnphổ biến khác của luật pháp quốc tế được coi là quy tắc căn bản điều chỉnh mốiquan hệ giữa nhà nước với nhà nước”. Điều 3 trong cam kết DOC nêu rõ: “Các bên tái khẳng định sự tôn trọng và cam kết của mình đối với quyềntự do hoạt động hàng hải và bay trên vùng trời Biển Nam Trung Hoa như đã đượcminh thị bởi các nguyên tắc được thừa nhận phổ biến trong luật pháp quốc tế, kể cả Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982”. Trong điều 5,quy định cam kết rõ hơn về ứng xử và hành động: “Các bên chịu trách nhiệm thực hiện sự tự chế trong việc thi hành các hoạt động có thể gây phức tạp hoặc leo thang tranh chấp, ảnh hưởng tới hòa bình và sự ổn định, kiềm chế không tiến hành đưa người đến sinh sống trên những hòn đảo hiện không có người sinhsống…”.
Có thể nói rằng dù cho Tuyên bố cam kết DOC đã quy định rõ như vậy, nhưng ngay sau khi đã ký thì chính TQ đã không hề quan tâm thực hiện đúng cam kết, mà còn tiếp tục gây ra nhiều sự bất ổn định cho vùng biển này như đã nêu trên. Vì thế, nay các nước ASEAN lại phải bàn nhau, xét thấy cần sớm có một COC, tức là phải thêm những ràng buộc pháp lý để buộc TQ và các nước trong khu vực phải thực hiện tốt hơn, có hiệu quả hơn đối với DOC. Nhưng,kể cả sau này TQ có ký COC đi chăng nữa, liệu có gì để “ràng buộc”được con rồng đang cố vũng vẫy để khuynh loát trên biển Đông haykhông?
Ngay như dự thảocho nội dung COC do báo Jakarta Post (Indonesia) dẫn ra 8 nội dung chính củavăn bản dự kiến này, ai cũng thấycâu chữ còn chung chung, trùnglặp và thiếu tính pháp lý khó mà “ràng buộc” được ai. Thí dụ nhưcác nội dung sau:
- Việc thực hiện DOC cần tiếnhành từng bước phù hợp với các điều khoản trong DOC. Chỗ này cóphải chăng là ý của TQ cố trì kéo và phủ nhận DOC hay không? Đã có DOC nhưng 10 năm nay không thực hiện, nay tại sao lại “tiến hành từng bước” như một cách bàn lùi? Các bên tham gia DOC sẽ tiếp tục thúc đẩy đốithoại và tham vấn theo tinh thần của DOC là gì ?.
- Trong nội dung dự thảo COC còn thể hiện: Việc tiến hành các hoạt động hoặc các dự án đã được quy định trongDOC cần được xác định rõ ràng.
- Việc tham gia các hoạt độnghoặc các dự án cần được thực hiện trên cơ sở tự nguyện. Hai chữ “tự nguyện” nàyliệu có phải do TQ xen được ý vào nội dung cần dự thảo COC? Rồi tiếp theo là Cáchoạt động ban đầu được cam kết trong phạm vi DOC cần phải là các biện pháp “xâydựng lòng tin”. Quyết định thực hiện các biện pháp hoặc các hoạt động cụ thể của DOC cần dựa trên sự đồng thuận giữa các bên liên quan và tiến tới hiện thực hóa COC. Trong quá trình thực hiện các dự án đã được thỏa thuận, khi cần thiết, sẽ trưng cầu sự phục vụ của các chuyên gia, các nhân vật kiệt xuất nhằm cungcấp nguồn lực cụ thể đối với các dự án liên quan. Tiến trình thực hiện các hoạtđộng và các dự án đã được thỏa thuận trong DOC sẽ được thông báo hàng năm cho Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN-Trung Quốc...
Theo ông Vũ Mão, nội dung chính cho COC như vậy thì với những gì đạt được còn quá nhỏ so với mong đợi và nhu cầu cân fthieets nhất. Nếu nhưđây là một dạng "thông tư hướng dẫn" dưới luật thì không hiểu ASEAN và Trung Quốc sẽ phải vận dụng ra sao để triển khai DOC trên thực tế, giải quyết được xung độtmỗi ngày đang ngàymột gia tăng giữa các bên tranh chấp (TQ-Philippnes, VN) ở Biển Đông, khi những điểm đạt được rất mơ hồ và không đầy đủ. Rõ ràng là vẫn chưagiải quyết những bất đồng vẫn còn đó, chưa được giải quyết một cách cơ bản.
Nếu nội dung chính của COC như vậy, chưa nói đến một cơ chế giải quyết xung đột, thậm chí,ngay cả quy định về phạm vi hiệu lực của DOC vẫn còn bị để ngỏ. Tóm lại, cả DOC và những nội dung như thế này của COC nêu trên xem ra vẫn không đủ hiệu lực để ngăn ngừa các hành vi cố tình gây rắc rối làm phức tạp, căng thẳng tình hình của các bên trên Biển Đông vốn đã nhiều rất phức tạp và ngày càng phát sinh nhiều tình huống khó lường trước do chủ trương đẩy mạnh việc khẳng định lãnh hải của TQ là theo hình chữ U vô căn cứ. Nếu như DOC, dù không đạt được yêu cầu của tính ràng buộc pháp lý, nhưng là một cam kết chính trị của các quốc gia liên quan, thì văn bản này, về thực chất, sẽ chỉ có tác dụng để viện dẫn khi cần thiết, nhằm chứng minh khả năng tự đối mặt và giải quyết vấn đề của mình, cho giữa Trung Quốc và ASEAN. Mà những viện đãn ấy cũng không đem lại gì đáng kể. Dù vậy, hành trình từ DOC đến COC cóvẻ được xem là một nỗ lực mới theo tình thế của các nước ASEAN, còn hiệu quả thực chất của nó hẳn còn xa tít tắp.
Theo Hãng tin Reuters, ngay sau hôm vừa bế mạc Hội nghị ASEAN lần thứ 20 tại Phnom Pênh, trên Đài phát thanh Trung Quốc, ông Đặng Tiểu Cương, Phó giám đốc sở Du lịch tỉnh Hải Nam nói: “Kế hoạch tổng thể đang được soạn thảo và một kế hoạch cụ thể cũngđang được tiến hành; chúng tôi hy vọng là trong năm nay, chúng tôi có thể mở du lịch đường biển tới quần đảo Hoàng Sa”. Phát biểu trên đây của ông Đặng đã được nhiều cơ quan truyền thông của Trung Quốc đăng lại, kể cả Trung Quốc Tân VănXã, hãng thông tấn lớn thứ hai, sau Tân Hoa Xã. Báo chí Trung Quốc cho biết là trong tháng Ba vừa qua, một quan chức cấp cao, ông Vương Chí Phát, thứ trưởng, Phó chủ nhiệm Cơ quan Du lịch Quốc gia Trung Quốc cũng đã tuyên bố: “Phát triển du lịch quần đảo Hoàng Sa sẽ giúp chúng ta bảo vệ biên giới và chứng tỏ sự hiện hữu về chủ quyền của chúng ta ở đây”.
Trước thềm Hội nghị Bác Ngao ở Hải Nam, Phó thủ tướng Việt Nam Hoàng Trung Hải đã gặp phó thủtướng Trung Quốc Lý Khắc Cường. Một lần nữa Hà Nội yêu cầu Bắc Kinh trả tựdo “ngay lập tức và vô điều kiện” cho 21 ngư dân cùng hai tàu cá Việt Nam hiệnđang bị phía Trung Quốc bắt giữ. Hà Nội cũng đòi Bắc Kinh hủy cuộc đua thuyền tại Hoàng Sa. Nhưng TQ vẫn chưa có một thái độ nào về những lời yêu cầu chính dáng của VN.
Vì vậy, suy rộng ra cho thấy rằng, trước những thái độ và hành động đó của TQ, dù có DOC, COC hay phải thêm gì đi chăng nữa thì cũng khó ổn định được tình hình liên tục bất ổn và nhiều nguy cơ mất an ninh khu vực Biển Đông. Nếu như các nước ASEAN không đoànkết, không có một lập trường chung, TQ có thể sẽ dùng các thế mạnh của mình,với chủ đích chỉ chấp nhận gặp gỡ, đối thoại song phương và dùng chiến thuật “bẻ từng chiếc đũa” nhằm đạt được mục đích phân hóa, xé lẻ các nước ĐNA, “chia để trị” bằng sức mạnh mềm hoặc vũ lực, món truyền thống từ lâu đời của TQ.
Và Nếu như lần này, sau khi đã cho tiền và hứa tăng cường đầu tư vào CPC, TQ đã “dắt mũi” được đương kim Chủ tịch ASEAN không đưa vấn đề Biển Đông ra Hội nghị ASEAN-20. Nay nếu như mong muốn của TQ thành hiện thực, với sự tìm mọi lý do quanh co, chần chừ, đặt điều kiện, Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) cũng sẽ chẳng tiến bộ hơn được bao nhiêu so với Tuyên bố cam kết ứng xử trên biển Đông (DOC) hiện tại.
Dư luận cho rằng, khi đưa ra bàn thảo để ra được COC, chắc chắn TQ sẽ tránh các vấn đề, các câu chữ mang tính “quy tắc”, có giá trị ràng buộc, và có lẽ vì thế mà COC cũng bị tắc luôn (!?). Tranh chấp trên biển Đông vẫn sẽ tiếp tục căng thẳng. Hòa bình trên biển Đông vẫn sẽ mong manh. Do vậy, các nước ASEAN cần phải cùng nhau hành động. Một thực tế cần nhận rõ và luôn luôn thường trực trong ý thức cũng như hành động của các nước ĐNA rằng: Chừng nào TQ chưa thu phục được các nước ĐNA về dưới tầm ảnh hưởng và lệ thuộc vào mình như ý đồ từ lâu đời nay, thì các nước ĐNA chưa thể yên ổn được với TQ. Với thói quen nói mà không làm, nói một đằng làm một nẻo, nói ngoài miệng nhưng trong lòng rắp tâm làm trái, dù đã ký nhưng không thực hiện, lại thiếu trung thực,thẳng thắn, không cởi mở như TQ thì mọi nỗ lực cách nào cũng không thể ràngbuộc được pháp lý với TQ là điều quá bi quan ?.
Ngoài ra, việc tìm kiếm một tiếng nói chung cũng là một cơ hội để thúc đẩy sự tương hỗ và đoàn kết giữa các nước ASEAN. Hơn thế nữa nếu các nước trong khu vực ĐNA không đoàn kết lại, TQ sẽ gây áp lực hay tranh thủ các nước ASEAN khác đứng ngoài tranh chấp. Các nước này có thể không đứng về phía các nước ASEAN khác. Để khắc phục được điều này, các nước trong tranh chấp cần tính đến những bước đi chiến lược, vừa khôn khéo những cũng cần kiên quyết trong đối ngoại, đối thoại. Và tốt nhất là việc soạn thảo đi đến thống nhất chất lượng nội dung cũngnhư đàm phán COC nên được đưa ra khuôn khổ Thượng đỉnh Đông Á, thay vì chỉtrong khuôn khổ ASEAN với Trung Quốc. Như Thủ tướng Nguyễn Tân Dũng đãnói: “Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng, quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta đã làm chủ thực sự, ít nhất từ thế kỷ thứ 17. Chúng ta đã làm chủ khi hai quần đảo này chưa thuộc bất kỳ một quốc gia nào. Lập trường nhất quán của chúng ta là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta có đủ căn cứ lịch sử pháp lý để khẳng định điều này. Nhưng, chúng tachủ trương đàm phán, giải quyết đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình. Chủ trương của chúng ta phù hợp với hiến chương của Liên Hợp Quốc; Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển 1982 và Tuyên bố cam kếtDOC về ứng xử các bên trên Biển Đông”. (BVB)

 http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://buivanbong.blogspot.com/2012/04/tu-doc-den-coc-roi-con-phai-gi-nua.html

Thứ sáu, ngày 29 tháng sáu năm 2012

  CHIẾN LƯỢC "3 BƯỚC LẤN TỚI" CỦA TRUNG QUỐC


Lễ kỷ niệm 50 năm ngành Dầu khí Việt Nam

Video vụ Tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp tàu BM02 - 6/2011
Chiến lược "3 BƯỚC LẤN TỚI" 
của Trung Quốc
          Bvbqd -Trên trang mạng tuanvietnam.net có đăng bài “Gác tranh chấp, cùng khai thác của Trung Quốc”, dẫn lại bài của tác giả Dương Danh Huy, đăng trên NghiêncuuBienDong ngày 21-10-1010. Phi lộ đầu bài viết, tác giả nêu: “Gần đây, chủ trương "gác tranh chấp, cùng khai thác" được Trung Quốc nhấn mạnh nhiều lần như một sáng kiến mang tính xây dựng trong bối cảnh tranh chấp trên Biển Đông vẫn đang căng thẳng. Xét đến tính phức tạp và khó tìm lối ra hiện tại đối với tranh chấp Biển Đông, giải pháp này có thể chấp nhận được nếu các bên cùng "gác tranh chấp, cùng khai thác" một cách công bằng”…
Những lời gọi là "phi lộ" trên đây rất cần phải xem lại. Như: "sáng kiến mang tính xây dựng", rồi thì "có thể chấp nhận được...một cách công bằng". Với Trung Quốc, nhìn từ trong bản chất âm mưu, động cơ, ý định chiến lược trong các vụ tranh chấp Biển Đông đừng mất công nói đến cái ý thức  "xây dựng", sự "công bằng" với các nước trong khu vực, cả với nhiều nước khác trên thế giới...
Trong bài viết, tác giả đã dẫn liệu, phân tích: Tại hội thảo quốc tế với chủ đề "Biển Đông: tăng cường hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực" ở Hà Nội ngày 26-27/11/2009, GS Ji Guoxing của Đại học Jiaotong, Thượng Hải, nguyên giám đốc bộ môn Châu Á - Thái Bình Dương của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế Thượng Hải, nhắc lại chủ trương "gác tranh chấp, cùng khai thác" của Trung Quốc. GS Ji Guoxing cụ thể hoá bằng cách đề nghị Việt Nam và Trung Quốc bàn về khả năng cùng khai thác bãi Tư Chính, một khu vực nằm hoàn toàn bên trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý từ lãnh thổ không bị tranh chấp của Việt Nam, không thuộc quần đảo Trường Sa vốn đang trong tình trạng tranh chấp chủ quyền.
Giàn khoan dầu khí VN
Tại buổi họp báo ở Hà Nội ngày 6/1/2010, Đại sứ Trung Quốc Tôn Quốc Tường cũng đề nghị chủ trương "gác tranh chấp, cùng khai thác". Rằng: "Lãnh đạo cấp cao Trung Quốc đã nêu ra một sáng kiến mang tính xây dựng, đó là gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác", và đề nghị rằng Việt Nam và Trung Quốc nên tạm gác lại tranh chấp, đợi điều kiện chín muồi.
Thực ra, chủ trương "Gác tranh chấp, cùng khai thác" được Trung Quốc chính thức đề nghị lần đầu tiên tại chuyến thăm Nhật, ngày 25/10/1978, Thủ Tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình nói với Thủ Tướng Nhật Takeo Fukuda trong văn cảnh tranh chấp chủ quyền quần đảo Shenkaku (tên Nhật) /Điếu Ngư Đài (tên Trung Quốc) giữa Nhật và Trung Quốc. Điều đáng lưu ý là Shenkaku/Điếu Ngư Đài và vùng biển lân cận nằm dưới sự kiểm soát của Nhật, và vùng biển này gần Nhật và Đài Loan hơn Trung Quốc, cho nên Nhật có nhiều khả năng để đơn phương khai thác vùng biển này hơn Trung Quốc. Vì vậy, đề nghị của Trung Quốc để khai thác chung vùng biển này là một đề nghị nằm trong chủ đích lấn chiếm Biển Đông, có lợi cho Trung Quốc hơn là có tính xây dựng cho cả Trung Quốc và Nhật. Cho tới nay, Nhật luôn luôn khước từ tất cả các đề nghị của Trung Quốc để khai thác vùng biển lân cận đảo này.
Cũng với con bài “cây gậy và củ cà rốt” này, hồi tháng 6/1986, Đặng Tiểu Bình đề nghị với Phó Tổng Thống Philippines Salvador Laurel rằng Trung Quốc và Philippines nên gác tranh chấp Trường Sa, "không nên để vấn đề này cản trở tình hữu nghị của Trung Quốc với Philippines và các nước khác". Tiếp đến, tháng 4/1988, Đặng Tiểu Bình lại đề nghị với Tổng Thống Philippines Corazon Aquino, "Xét quan hệ hữu nghị giữa hai nước chúng ta, chúng ta có thể tạm gác vấn đề này và tiếp cận theo hướng khai thác chung".
Thế giới vẫn chưa quên sự kiện cồn sóng Biển Đông, vào đầu năm 1988 Trung Quốc chiếm đóng những bãi cạn Đá Chữ Thập, Châu Viên, Gaven, Huy Gơ và Xu Bi thuộc quần đảo Trường Sa và vào tháng 4/1988 máu của các chiến sĩ Việt Nam còn chưa tan hết trên biển Trường Sa sau khi Trung Quốc tấn công Việt Nam để chiếm Cô Lin, Gạc Ma và Len Đao ngày 14/3/1988 và chiếm được Gạc Ma. Đây là một thí dụ cho thấy rõ sự từng bước lấn sân bằng đánh, đàm, dụ dỗ không có giới hạn của Trung Quốc. Vùng biển-đảo thuộc chủ quyền các nước trong khu vực đang yên lành, Trung Quốc gây ra tranh chấp rồi đưa ra cái  gọi là "gác tranh chấp, cùng khai thác".
Như vậy, cái gọi là sáng kiến "gác tranh chấp, cùng khai thác" của chính phủ Đặng Tiểu Bình cho tranh chấp Trường Sa không phải do "có tính xây dựng" mà là để phục vụ mục đích đối trọng với các nước để từng bước chiếm đoạt hẳn. Chiến lược "3 bước lấn tới" của Trung Quốc là xông vào vùng chủ quyền lãnh hải của nước láng giềng, nước tiếp cận, gây tranh chấp, rồi đàm phán song phương "gác lại tranh chấp, cùng khai thác", cuối cùng là độc chiếm luôn. 
Dựa theo cái ‘đường lưỡi bò” tự vẽ, tự đơn phương công bố chính thức lần đầu tiên ra thế giới ngày 7-5-2009, không có ý kiến chấp nhận nào của bên thứ 2 hoặc thứ 3, Trung Quốc muốn biến vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam và các nước liên quan vốn đang yên lành thành vùng tranh chấp, thành trận địa hải chiến phức tạp rồi từng bước thực hiện chiến lược "3 bước lấn tới". Theo ông Trần Công Trực, nguyên Trưởng Ban biên giới Chính phủ thì:
"Việc CNOOC thông báo mời thầu là một hành động tiếp theo trong chuỗi chiến lược của Trung Quốc đối với tham vọng “đường lưỡi bò” nhằm biến 80% diện tích biển Đông thành ao nhà của họ. Có thể khẳng định đây là bước đi mới hết sức thâm hiểm của Trung Quốc. Việc làm này của Trung Quốc không đơn giản là hành động “răn đe” khi Quốc hội Việt Nam vừa thông qua Luật Biển Việt Nam mà là một sự tính toán, mưu đồ sâu xa, có kế hoạch từ trước. Vì thế, Việt Nam phải chuẩn bị một kế hoạch đối phó kịp thời và hiệu quả. Ngoài việc có những phản ứng ngoại giao có tính nguyên tắc thì Việt Nam phải có hành động cụ thể".
Về thực chất, Bắc Kinh đưa ra chiêu bài “gác lại tranh chấp, cùng khai thác” chỉ là cái cớ, là một bước đệm, tạm thời né vấn đề nhạy cảm “chủ quyền của nước khác, không phải của Trung Quốc” dễ gây “sốc” bất lợi cho dư luận khu vực và thế giới. Nghĩa là dù đi ăn cướp nhưng phải khéo, đi dần từ lừa đảo đến chiếm đoạt, cố giữ chút thể diện. Thế nhưng, điều chắc chắn là khi “sói đã gửi cái chân” thì có đủ điêu kiện lấn sâu hơn, đến khi  Trung Quốc đủ mạnh, không cần phải né tránh nữa, cũng dá phắt luôn cái "cùng khai thác" mà chiếm “trọn gói”. Quả nhiên, với chiêu thức thâm độc nhưng khá lộ liễu này của chiến lược "3 bước lấn tới", Trung Quốc lăm le Khu vực 9 lô dầu khí từ lâu, nay nhân sự kiện QH Việt Nam thông qua Luật biển, TQ đã lấy cớ "trừng phạt VN", kêu gọi mời thầu thăm dò khai thác hòng cố tình gây ra tranh chấp để rồi đi đến bước tiếp theo yêu cầu Việt Nam “gác tranh chấp, cùng khai thác”, làm cái nền, cái cớ để tiến tớii dùng “lưỡi bò” liếm hết luôn.
 Khu vực này nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam. Bản đồ công bố trên website của Tổng Công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC) cho thấy cả 9 lô mỏ dầu mà Trung Quốc đang mời chào thăm dò, khai thác đều nằm trong vùng biển thuộc “đường lưỡi bò” nằm trong mưu đồ tính toán đầy tham vọng có tính chiến lược của Trung Quốc. Các lô mỏ dầu này nằm ngoài khơi bờ biển miền Trung của Việt Nam, trải rộng hơn 160.000 km 2. Rìa phía tây của một số lô mỏ dầu nằm cách bờ biển Việt Nam không đầy 80 hải lý, nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế, có nơi chỉ cách đất liền 30-50 hải lý, nằm trong vùng nội thủy và thềm lục địa của Việt Nam.
Việc tuyên bố mời thầu cho thấy một bước đi mới trong nỗ lực của Trung Quốc nhằm củng cố quyền chủ quyền tại vùng biển này. Thâm hiểm, gian dối, phản trắc, dễ nuốt lời, lấy “Hữu hảo để chen ngang hứa hão” vẫn là bản chất có từ trong máu Đại Hán từ xa xưa. “Gác tranh chấp, cùng khai thác” rất phi lý lại là con bài đưa dần các nước vào tròng, bằng hung hăng đe dọa kết hợp với dụ dỗ, lấn dần. Bắc Kinh đang tìm mọi cách lật lọng để đạt cho kỳ được mục đích của tuyên bố: “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo trong biển Đông và các vùng biển lân cận; có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển liên quan cũng như đáy biển và lòng đất của những vùng biển này” (?!). Suy cho cùng, gây chiến, xâm lược, giành tài nguyên chẳng qua chỉ có lợi cho giới lãnh đạo chóp bu, các đại ca, đại gia, nhà tài phiệt vơ vét làm giàu, tích tụ tư bản, còn nhân dân dễ gì được lợi. Có chiến tranh chỉ khổ dân, chết lính, còn tư sản mại bản và "tư sản đỏ" đua nhau tranh giành quyền bính và được hưởng lợi. 
Theo TS. Nguyễn Toàn Thắng, Khoa Luật Quốc tế, Đại học Luật Hà Nội:  


Về cơ bản thì giống. Hành vi vi phạm của tàu hải giám Trung Quốc và thông báo mời thầu của CNOOC đều thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Hành vi của phía Trung Quốc là vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, được thiết lập phù hợp với quy định tại các điều 56, 58, 76 và 77 của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982. Căn cứ vào tình hình vụ việc và cơ sở pháp lý quốc tế hiện nay, một khả năng mà Việt Nam có thể xem xét là sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 (phần XV).
Trung Quốc đang thực hiện hành vi cố tình đánh lừa dư luận. Đó là muốn tạo cho dư luận hiểu rằng đang tồn tại một tranh chấp, vùng chồng lấn giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nếu chúng ta làm ngơ thì theo thời gian họ sẽ khẳng định toàn biển Đông là vùng tranh chấp. “Nếu không cương quyết và cứng rắn chúng ta sẽ vô tình đưa cả vùng quyền chủ quyền và vùng tranh chấp “lọt” vào “đường lưỡi bò”.
Trong trường hợp Việt Nam khởi kiện khi Trung Quốc có những hành động tiến xa hơn việc thông báo mời thầu và có tính chất “leo thang” thì sẽ áp dụng theo cơ chế giải quyết tranh chấp của Tòa án Luật Biển quốc tế. Cụ thể: Các cơ quan tài phán quốc tế có thể xem xét và phán quyết về việc này như Tòa án Công lý quốc tế, Tòa án Luật Biển quốc tế, Hội đồng Trọng tài quốc tế.
Rõ ràng, từ việc đẩy vấn đề theo hướng tranh chấp, để làm đà đi đến “gác tranh chấp, cùng khai thác”, nhưng vẫn nhằm đích cuối cùng là xâm chiếm. Đó chỉ là các nấc thang mà Trung Quốc đang leo dần. Với mưu đồ tham vọng bá quyền từ lâu đời của Trung Quốc, lúc nào cũng lăm le bành trướng xuống phương Nam, lấn chiếm Biển Đông sẽ không bao giờ có "sáng kiến mang tính xây dựng", và cái gọi là “công bằng” với các nước ASEAN có lãnh hải Biển Đông. Việt Nam và các nước ‘cùng cảnh’ trong khu vực đừng mất cảnh giác mắc mưu Tung Quốc để sau này khỏi phải gánh hậu họa do sự thiếu kiên quyết, do những bước đi, sự nhu nhược nhân nhượng do mềm yếu thiếu bản lĩnh  không cứu vãn nổi. 
     Bùi Văn Bồng
http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://buivanbong.blogspot.com/2012/06/ung-mong-trung-quoc-xay-dung-va-cong.html

Thứ năm, ngày 31 tháng năm năm 2012

Lòng tham và sự đớn hèn



LÒNG THAM VÀ SỰ ĐỚN HÈN                                               
Dân gian có câu: "Lủi như cáo như cheo / Trốn như mèo ăn vụng. Trốn chui, trốn lủi là một nỗi nhục nhã. Ấy vậy, nhưng thời buổi hiện nay trên đời lại xuất hiện nhiều kiểu trốn tránh, chui lủi, tránh dư luận, né khuyết điểm, tránh bị điều tra, thanh tra, xác minh, ra tòa,  thiếu hẳn dũng khí của một con người chân chính. Trong cuộc chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 lần này, người lãnh đạo và các tổ chức Đảng cần phải sớm nhận diện, nhanh chóng vạch tên chỉ mặt những sai phạm, xử lý nghiêm khắc những cán bộ, đảng viên sợ khuyết điểm, sợ pháp luật mà  sống theo kiểu đó. Ta vẫn thường thấy trong xã hội, cái mô-típ đồng dạng và cũng rất đồng bộ của bản thân mỗi con người. Người có lòng tham thường đi kèm theo lối sống và tính cách gian dối, trí trá, không trung thực, đớn hèn và nhiều thủ đoạn, lắm mánh lới, có máu lưu manh, côn đồ. Những người đó mà "nhảy" được vào trong hàng ngũ Đảng, lại có chức, có quyền, chui sâu leo cao thì thật là nguy cho xã hội, là cái họa cho dân tộc, hại dân, mọt nước. 
     Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất ghét và luôn cảnh báo những người như thế, thường xuyên phê phán lối sống như thế. Theo tư tưởng và lời dạy của Người: "Cán bộ đã mất hết uy tín, không chịu nhận khuyết điểm, không chịu từ chức, thậm chí còn ngoan cố chống chế, bảo thủ, quanh co, đổ vấy trách nhiệm cho người khác, thế là hèn. Tham và hèn là thứ sâu mọt đục phá nhân cách". Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc gì cũng phải rất thiết thực, cụ thể và đã làm phải nhanh chóng, đến cùng trên cơ sở đã tính toán kỹ. Ở phần 6, khi nói về tật xấu là thói ba hoa của cán bộ, đảng viên, Bác viết rất dân dã như nông dân nói trên bờ ruộng, dễ hiểu và thấu đáo: “Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết. Trước khi nói, phải nghĩ cho chín, phải sắp đặt cẩn thận. Phải nhớ câu tục ngữ: "Chó ba quanh mới nằm. Người ba năm mới nói"… Nghe những lời răn dạy này cứ như Bác chỉ ra khuyết điểm cho mấy ông lãnh đạo Hải Phòng đã phát ngôn sai trái, thiếu suy nghĩ trong vụ cưỡng chế đất sai pháp luật ở Tiên Lãng, nói rằng dân bức xúc, ghét ông Vươn đã tự tổ chức nhau lạ để phá nhà ông Vươn... Lại như ông Đinh La Thăng, ở cương vị bộ trưởng mà phát ngôn nhiều khi tùy tiện, tiền hậu bất nhất, quanh co, dễ bị "cướp cò lưỡi". 

Theo định kỳ, Đảng cần thường xuyên lấy ý kiến phê bình của người  dân  

Một trong những giải pháp để chỉnh đốn Đảng lần này là tự phê bình và phê bình. Đây là khâu mở đầu, mấu chốt, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Phương châm, phương pháp tiến hành là phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nhất là những mặt còn yếu kém, không nể nang, né tránh; đề ra các biện pháp khắc phục, sửa chữa thiết thực, khả thi…(Chỉ thị số 15-CT/TW của Bộ Chính trị về việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI).
Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh ngắn gọn, súc tích nhưng đầy khí phách và thể hiện thái độ dứt khoát: “Một đảng mà không biết sửa chữa khuyết điểm là một đảng hỏng”. Vậy, suy ra, một đảng viên mà che giấu khuyết điểm, bảo thủ cái sai, không tự giác nhận khuyết điểm cũng không còn xứng đáng là đảng viên. Trước hết, trong đợt chỉnh Đảng lần này, các đảng viên phải rất tự giác, cầu thị, phải “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, tự xem lại mình trước trước khi phê bình người khác. Đó là lòng tự trọng cần thiết. Không biết tự trọng đồng nghĩa với tự phỉ báng lương tâm. Chính vì thế, khi nói về phê bình và sửa chữa, Bác đã nhấn mạnh đến chữ “DŨNG”, rất cần dũng khí trong đấu tranh tự phê bình và phê bình. Bác viết: “DŨNG là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ khó khăn, có gan chịu đựng. Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý, không chính đáng. Nếu cần, thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát”.
Nói chuyện tại buổi bế mạc lớp bổ túc cán bộ trung cấp về đạo đức cán bộ, đảng viên, Bác nhấn mạnh: “DŨNG là phải mạnh dạn, quả quyết nhưng không phải làm liều. Phải có kế hoạch, rồi kiên quyết làm ngay. Nguy hiểm cũng phải làm. Nghĩa là phải có lòng dũng cảm trong công việc” (Báo Vệ quốc quân, số ra ngày 10-10-1947).
Chữ “gan” rất giản dị mà Bác đã dạy chính là dũng khí. Khi con người có lòng tự trọng và bản lĩnh, có nghị lực thì sẽ có dũng khí. Trên thế giới ta đã thấy không ít những vị lãnh đạo, những chủ doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế tuyên bố từ chức. Nhưng ở nước ta thì rất hiếm. Khi một người tuyên bố từ chức, thì điều ghi nhận đầu tiên của mọi người là người đó có lòng tự trọng, có dũng khí. Làm không được việc, hoặc vì lý do nào đó mà chức trách không hoàn thành, việc bị hỏng, gây hậu quả nghiêm trọng, thì mất uy tín. Khi đã mất uy tín, nếu tìm mọi cách cố bấu víu quyền lực, dù có được tại vị  sẽ bị người đời coi thường, xử lý công việc kém hiệu quả và luôn ở thế “há miệng mắc quai”. Như ở cương vị ông Bùi Thanh Quyến, Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương, nếu thực sự bản thân và gia đình trong sạch thì phải tự chứng minh trong sạch, sao cứ nói năng cái lối u u chung chung. Khi dư luận rùm beng về cái vườn "thượng uyển " của cậu quý tử, ông có đủ bộ máy, đệ tử trong tay và có đủ quyền năng để cậu Tùng báo rõ tiền ở đâu ra mà chơi sang vượt mặt thiên hạ, mang tai tiếng cho ông. Nhưng vì nhiều khuất tất,  khó nói ra nguồn thu bất chính ở nơi đây chỗ đó, cho nên khi nhà báo hỏi ông nói lấp lửng: "Các anh cứ việc theo công chuyện của các anh mà làm ...". Ông bị hàm oan đến mức ấy, thì mắc mớ gì không biết sớm đưa ra những chứng lý để tự giải oan? Ở ương vị Bí thư Tỉnh ủy, lại đang triển khai thực hiện NQTW 4, nếu nư có đảng viên dưới quyền ông bị báo chi nêu như thế, ông cho kiểm tra, điều tra, xác minh như thế nào để làm trong sạch Đảng? Còn đã mắc khuyết điểm, mục đích bất thành, âm mưu bại lộ thì phải tự phê bình, nhận sai, tạ lỗi. Cách tốt nhất là xin từ chức một cách hợp lý thể hiện văn hóa ứng xử. Như thế, thiên hạ chẳng ai cười, lại còn cho là người tự trọng và được tôn trọng. Theo lẽ thường, từ chức là hành động văn minh. 
Cùng đồng cảm, chia sẻ với quan niệm về từ chức, Tiến sĩ Tô Văn Trường đã viết: “Văn hóa nói chung và văn hóa từ chức nói riêng là không phải tự nhiên mà có, hơn nữa đó lại là thứ văn hóa đặc biệt quý giá. Dân tộc ta có một “nền văn hiến đã lâu” như Nguyễn Trãi đã khẳng định trong Bình Ngô đại cáo. Vậy sao bây giờ “văn hóa từ chức” lại chưa có và khó làm đến thế! Từ chức là một nét văn hóa đẹp, đáng kính trọng, thể  hiện sự tự trọng và nhân cách của con người. Thiếu vắng hiện tượng từ chức đích đáng không phải chỉ đáng tiếc mà là đáng buồn và xấu hổ”.
Suy cho cùng, có sai thì nhận sai thực sự chân thành để sửa, nếu không thì từ chức - đó là lối ứng xử có văn hóa. Tham lam, ích kỷ, nói điêu, vu khống, né tránh khuyết điểm, ưa nịnh không phải là có văn hóa. Có những cán bộ thời nay vẫn thích khen, che giấu khuyết điểm, sợ bị chê, sợ bị phê bình, thích nghe tâng bốc. Họ coi những kẻ dù vô văn hóa, kém tài, gian xảo nhưng giỏi nịnh là “đệ tử”. Thậm chí chỉ nghe kẻ ton hót xiểm nịnh “tâu” những chuyện người khác chê mình đã nổi cáu, rồi “ghi sổ”, hằm hè, xoi mói, để ý người phê bình mình, thậm chí chèn ép, kìm hãm, trù dập. Đó là ứng xử, đối phó của kẻ hèn mạt, không có dùng khí. Biểu hiện ngoan cố, báo cáo sai lệch, phát ngôn sai, đánh lạc hướng dư luận của một số cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Hải Phòng trong các vụ Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản , có khuyết điểm, vi phạm pháp thì chạy trốn như vụ bà Diệu Hiền, vụ Vinashin, Vinalines… Đó là sự thể hiện những kết cục của lòng tham và sự đớn hèn.
Trong việc bổ nhiệm ông Dương Chí Dũng (Vinalines), cho thấy công tác cán bộ được coi llà khâu then chốt, quyết định mọi thành bại. Chả thế mà từ trung ương xuống địa phương, về phía chính quyền có bộ Nội vụ, bên đảng có hẳn ban Tổ chức Trung ương (thậm chí quyền hành còn hơn bộ Nội vụ), cứ thế từ trên xuống dưới là cả bộ máy tổ chức chặt chẽ, cồng kềnh, tầng tầng lớp lớp, tưởng con kiến cũng không chui lọt. Họ có đủ cả quy trình, quy định, quy tắc, quy chế, sàng sảy kỹ hơn sàng tấm, lúc nào cũng rêu rao chọn người tài đức, vừa hồng vừa chuyên. Bao năm nay người dân vẫn tin thế, nhưng khi phát hiện ra ông to bà lớn móc ngoặc với nhau đưa con cháu, quý tử vào bộ máy công quyền bất chấp tiêu chuẩn. Đó là những sai lầm, vi phạm nguyên tắc tổ chức cán bộ. Nhưng có ai dám nhận khuyết điểm chưa? 
Việc bổ nhiệm ông Dương Chí Dũng thì Bộ Nội vụ cũng không dám đứng ra nhận sai lầm, thậm chí còn khẳng định rằng bộ này chỉ chịu trách nhiệm "thẩm định quy trình, thủ tục" cho ông Dương Chí Dũng thôi chức Chủ tịch Hội đồng Thành viên Vinalines. Thế thì sự thẩm định đến đâu? Thực hiện đã đúng quy định, quy trình theo điều 50, điều 51 Luật cán bộ, công chức hay chưa? Thế mà Bộ nội vụ vẫn nói việc bổ nhiệm ông Dũng vào ghế Cục trưởng Cục hàng hải thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Thăng và “không liên quan đến trách nhiệm của Bộ Nội vụ”. Còn Bộ trưởng Thăng thì vẫn tìm mọi cách quanh co, thậm chí còn nói rất vô lý và "ngây thơ cụ" là "điều động để giữ đoàn kết nội bộ". Cái lối luận giải tùy tiện như nói dối trẻ con của ông Thăng làm cho người ta nghĩ rằng, nếu biết sắp bị thanh tra hoặc thích chuyển cương vị khác cứ gây mâu thuẫn mất đoàn kết nội bộ là sẽ được điều động, bổ nhiệm như ý định (!?). Đó cũng là sự hèn nhát, lấp liếm, né tránh, thiếu dũng khí, thiếu trung thực, không dám mạnh dạn nhận ra sai trái để sửa chữa. Như thế là sự chối bỏ trách nhiệm, không có chút dũng khí nào, không xứng đáng là đảng viên cộng sản.
Cho nên, chịu phê bình đã khó, tự phê bình càng khó hơn. Dũng khí đảng viên còn phải được thể hiện ở chỗ không chỉ mạnh dạn tự nói ra cái yếu, cái sai của mình, mà rất cần phải nói thẳng cái sai, cái yếu của đồng chí mình, nhất là của cấp ủy, thường vụ, bí thư. Khi thấy cấp trên sai nhưng ai cũng né tránh, sợ đụng chạm bất lợi cho cá nhân mình cũng là biểu hiện sự hèn kém, cá nhân chủ nghĩa. Ngậm miệng ăn tiền, khi thấy nhiều người nói thì mình mới nói theo, gọi là a dua, không muốn tỏ rõ chính kiến. Cái có lợi cho mình thì hết sức làm, cái có hại cho tập thể, cho người dân, hại cho xã hội thì né tránh không can thiệp cũng là biểu hiện lối sống ích kỷ, vụ lợi, không có dũng khí của cán bộ, đảng viên.   
Bác Hồ đã chỉ bảo chí tình, chí lý: “Các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế, Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công. Nếu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh”.
Trong báo Sự Thật số ra ngày 15-4-1949, Bác đã có bài viết phê phán những cán bộ, đảng viên có khuyết điểm, mắc sai lầm mà cứ muốn giấu nhẹm đi, ngán ngại khi nghe người khác phê bình, chỉ sợ nói ra bị mất uy tín, mất chức, hết “ghế ngồi”. Những cán bộ như thế, Bác đã thẳng thừng chỉ trích: “Cán bộ nào không dám công khai thừa nhận khuyết điểm của mình, e sợ lời phê bình của đồng sự và của nhân dân, không có can đảm sửa chữa khuyết điểm thì những người đó không xứng đáng là cán bộ”.
Phê bình, tự phê bình không nên chỉ tiến hành trong nội bộ Đảng, mà cần phải đưa ra quần chúng, phải trưng cầu dân ý, phải thỏa chí dân nguyện, tôn trọng dân và cần được nhân dân góp sức trong cuộc đấu tranh này thì mới nhanh chóng có kết quả, triển khai Nghị quyết mới có hiệu lực trong thực tiễn cuộc sống. Cũng là thực hiện lời Bác dạy: “Việc phê bình phải từ trên xuống và từ dưới lên. Cấp trên phê bình, chưa đủ. Đồng chí, đồng sự phê bình, chưa đủ. Phải hoan nghênh quần chúng phê bình nữa, thì sự phê bình mới hoàn toàn”. 
Trong thực tế, thường là ích kỷ, tham lam, đầu óc còn cá nhân, thực dụng mới sinh ra hèn nhát, ngại người khác phê bình mình, khó chịu khi nghe dân phê phán, vạch ra những cái sai. Sự che giấu khuyết điểm của kẻ đớn hèn biểu hiện con người bị thiểu năng nhân cách, lừa dối dư luận, sống không thật lòng. Nó không đơn thuần ở cái lý lẽ thường thấy "tốt đẹp phơi ra, xấu xa đậy lại", mà đây chính là che giấu khuyết điểm trước để ngầm nuôi dưỡng cho khuyết điểm sau lớn hơn, "nặng đô" hơn. Có khi, sự cố tình che giấu khuyết điểm, đánh lạc hướng dư luận, thậm chí còn tìm mọi thủ đoạn, mánh lới "tự đánh bóng mình" để nhằm nuôi dưỡng cho một ý đồ, một âm mưu thâm hiểm hơn, hại xã hội, hại người khác, lợi cho bản thân mình. 
Do đó, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã yêu cầu: Mỗi cán bộ, đảng viên rất cần nêu cao tính đảng, tính trung thực, thẳng thắn, cầu thị, trên tinh thần xây dựng vì lợi ích của dân, của đất nước, vì sự trong sạch, vững mạnh của Đảng. Trước hết là các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các đồng chí Ủy viên Trung ương đều thể hiện rõ phẩm chất và bản lĩnh cộng sản kiên cường, cần có dũng khí tự phê bình và kiên quyết đấu tranh phê bình. Tự phê bình và phê bình là vũ khí sắc bén. Vũ khí tuy sắc bén nhưng cũng dễ bị vô hiệu hóa, không còn phát huy tác dụng nếu người sử dụng vũ khí không có dũng khí, không đủ bản lĩnh, lồng động cơ cá nhân, không trung thực. Phê bình, tự phê bình rất cần dũng khí như người lính ra trận mà kẻ thù chính là chủ nghĩa cá nhân.
                                                                                         Bùi Văn Bồng
----------------
>>  Việt Nam kê khai tài sản kiểu "đóng và kín" 
 http://webwarper.net/ww/buivanbong.blogspot.com/2012/05/long-tham-va-su-on-hen.html

Thứ tư, ngày 30 tháng năm năm 2012

  Phản pháo (!?)



PHẢN PHÁO (!?)
            Sách binh pháp xưa đã dạy: “Vào trận cần biết chịu trận mới thắng được đối trận”. Đối trận còn được gọi là kháng cự, chống trả, nhẹ hơn gọi là đối phó. Sau này người ta thường dùng từ "phản pháo" để chỉ ra hành động này của đối phương trên mặt trận. "Phản pháo" trở thành một thuật ngữ chuyên môn quân sự đặt cho một loại chiến thuật khi mặt trận có sự xuất hiện của pháo binh. Nay, mượn thuật ngữ chuyên dùng quân sự ấy, người ta nói đến “phản pháo” là ám chỉ sự chống trả của “đối phương” khi có người khác phê bình, chống lại, tấn công, truy tội. Phê bình và tự phê bình hiện nay cũng có sự “phản pháo”- đó là quy luật. Làm việc gì bất chính, sợ lộ, sợ bị đưa ra ánh sáng, khi có ai đó mới nhắc đến, hoặc dính dáng liên quan, có tật giật mình, đều có sự phản pháo. Phản pháo như cái lò xo thường trực, đụng đến là nhảy bật trở lại, phản ứng bật lò xo, nhằm chối tội, chạy tội, tránh bị đưa ra pháp luật, né kỷ luật. 
        Phải chăng, như dấu hỏi lớn đang đặt ra trong dư luận cả nước,  cái sách "bài chuồn" như một số tỉ phú bên Liên Xô (cũ) chạy ra nước ngoài trước sự kiện sụp đổ 19-8-1991, tỉ phú Từ Minh của Bạc Hy Lai bên Tàu bỏ trốn, rồi đại gia Diệu Hiền, Giang Kim Đạt, Hồ Ngọc Tùng,... nay lại đến Dương Chí Dũng cũng là một chiêu thức "phản pháo" thời hiện đại. Chiêu thức này hầu như đã có sự "bài binh bố trận", đã có "kịch bản"  từ trước, vừa trốn được trách nhiệm hình sự theo pháp luật, vừa nghiễm nhiên thành ông chủ ở ngoại bang, sau khi đã rút ruột ngân khố quốc gia tuồn ra nước ngoài cho cá nhân và nhóm lợi ích? (*)
            Tôi có một người quen. Chỉ là dừng lại ở quen thôi, không thân nổi. Khi anh ta nghỉ hưu được hơn hai năm, tôi hỏi: “Này, khi đó ông đương chức đương quyền, ông biết rất rõ sai phạm của ông X. Tham nhũng mười mươi ra đó, sao ông không phê bình?”. Ông cán bộ hưu trí ấy đã trả lời rất tỉnh queo: “Chỗ trung thực và tin cẩn như ông, tôi nói thật, mình cũng có sai, thằng cha X. cũng biết cái sai của mình, nếu như phê nó, nó sẽ phản pháo, cả hai cùng “chết”. Cho nên, tốt hơn hết là “án binh bất động”, nó sai hơn mình nhiều lắm, nhưng đụng đến nó, nó phản pháo, làm sao mà hạ cánh an toàn được!”.
            Tôi cho đó là lời tâm sự rất thật, khi ông người quen đã biết vào thời điểm này, dù có công khai những sai sót cũng chẳng sao. Một là đã hạ cánh an toàn. Hai là chuyện đó hầu như ai cũng biết cả rồi. Ba là hiện trạng vụ việc rộ lên ầm ĩ một thời, nay coi như đã xong, cứt trâu hóa bùn, bùn khô thành đất rồi. Cho nên, ông người quen nọ mới thổ lộ cái ổ tò vò trên đây với tôi.
            Phản pháo cũng là phản ứng tự nhiên. Anh đánh tôi, tôi đánh lại. Ông bắn tôi, tôi xem cái “trận địa” của ông ở đâu, lập tức phản pháo ngay. Phản pháo, trước hết là bảo vệ mình, và mục đích là buộc “địch” (đối phương) phải câm họng.
Bình thường thì không sao, nhưng khi có ai đó nói đến cái kim bọc nhiều lần trong giẻ, nói đến những điều đang cố giấu kín, thì bật lò xo ngay. Trước khi xuất ra các "chiêu chiến thuật" phản pháo thường là có sự phản ứng dữ dội, kèm theo đó là các động tác tập hợp bè cánh cùng phe nhóm, cũng như mua chuộc chính quyền, công an...Thế nên không lạ gì mấy ông quan tham, mấy nhóm lợi ích, cả cái lũ lâu la xà bần chầu rìa theo đuôi hít hơi, đi bên dựa bóng, theo đóm ăn tàn cũng vào cuộc phản pháo.
            Có một ông Thường vụ Thành ủy ở một thành phố phía Nam nói với tôi: “Mình không dính, nhưng đụng vào là chúng nó quây lại quật mình luôn. Cho nên, tốt hơn hết đừng vội choảng thẳng cánh, cứ từ từ xem sao cái đã. Thành ủy viên chả là cái gì, nhưng cũng là ‘bát ăn’ của cả nhà. Con gái mình đang làm ở thành ủy, con trai sắp vào đại học. Họ hy sinh đời bố, củng cố đời con, mình cũng vì con nên ráng mà ngậm miệng”.
 Sự vận dụng chiến thuật gọi là “từ từ” đó, cái tâm lý ngại lên tiếng, không xuất đầu lộ diện cũng có 1001 lý do. Có người không dính dáng (như ông Thường vụ nọ), nhưng an toàn vẫn là thượng sách, vi ông ta còn nghĩ đến những rơ-móoc phía sau. Hơn nữa, “chúng nó”, cả “một bộ phận không nhỏ…”, chiếm đa số, có thế lực, mình- “thấp cổ bé họng”. Thứ nữa là một số đối tượng cũng ở diện “ông ăn chả, bà ăn nem”, dính vào tham nhũng, lại còn mua bằng, mưa chức, còn yếu chỗ chỗ này, khuyết nơi kia, tiêu cực này khác, cũng chẳng trong sạch gì. Vậy thượng sách là “ta không đụng đến ngươi, người cũng đừng đụng đến ta”. Một nhóm khác là sống nhờ ân huệ, không nên “phản trắc”, nghĩa là đã nghĩ khá chín: “Ông ấy biết sắp xếp, có quyền bố trí cán bộ, đã lôi mình vào cái chức này, cũng êm rồi, thôi kệ!”. Những người thuộc diện này rõ là cuộc sống “dạy khôn lõi" cho họ phải biết “ngậm miệng ăn tiền, gây phiền hại mình trước”.
         Vậy nên, từ trong chính cuộc sống thường nhật, tự phê bình đã khó. Kê khai tài sản cũng khó mà biết đích xác. Các vị cho con, cháu, kể cả người dưng cũng bị kéo vào “ký hợp đồng đứng tên, rồi ăn hoa hồng, được trả công”. Tên người khác đấy, “án tại hồ sơ”,  không phải của Chí Phèo, đâu dễ gì đưa Chí Phèo ra pháp luật? Làm gì nhau? Trong sự phản pháo này có một số vụ các nhà báo, những người đấu tranh chống tham nhũng bị hại, đảng viên chân chính, trung thực, thẳng thắn bị kỷ luật oan, cựu chiến binh, người dân tốt bị vu khống ngược, bị xã hội đen quấy rầy, hăm dọa, trả thù, gây hại...Điển hình như vụ mới đây các thương binh đến quậy ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm, với lý do đưa ra rất lãng xẹt, coi như một sự rung dọa, hoặc trinh sát thăm dò để chuẩn bị cho các cuộc phản pháo khác.  Nếu chính quyền và công an vì công lý, vì công bằng, lẽ phải mà bảo vệ an toàn tính mạng cho công dân, bảo vệ trật tự xã hội thì phải hăng hái vào cuộc để trị "những trận địa pháo" kiểu này. Phản pháo cũng là thể hiện tự bộc lộ, sự xuất đầu lộ diện của tội phạm, của các "ổ tò vò" sai phạm, các cơ quan có chức năng về nội chính nên qua đó vào cuộc để sớm tìm ra bẩn chất vấn đề, vụ việc, đối tượng...

Rất nhiều vụ đi theo bàn cờ đô-mi-nô kiểu này. Đang hiện hữu sờ sờ như cậu ấm Bùi Thanh Tùng, làm ở khâu quản lý lao động của Sở Lao động-TB và XH, nhưng có tiền công khai xây dựng khu Công viên sinh thái tư gia ít nhất hàng chục tỉ đồng như thế đấy, còn nói là tiền “mồ hôi, nước mắt”. Có cái đặc sản “mồ hôi nước mắt” gì mà mệnh giá lớn đến vậy? Không khéo bởi vụ này, sắp tới đơn xin việc vào các sở LĐ-TB -XH cứ tơi tới. Hơn nữa, giữ vùng quê Ninh Giang đất chật, người đông, nhiều dân nghèo mà bao chiếm hơn 4.000m2 đất ruộng để làm khu vườn “thượng uyển”, lại cho con trai phơi chình ình một lối rửa tiền kiểu đó thì thử đặt câu hỏi ông Quyến là Bí thư Tỉnh ủy của Đảng nào? Với mức lương công chức và giá cả thị trường hiện nay, chức Trưởng phòng chưa chắc đủ tiền cho vợ đi chợ, con đi học, xây nhà riêng, xe cộ đi lại, có giỏi tích cóp cả đời cũng không đủ tiền mua một cây Hương vườn chứ đừng nói gì đến chuyện đủ tiền mua khu trang trại khủng đến thế! Không có thông tin về việc cha con ông Quyến khai tài sản là có bao nhiêu, mà nếu có kê khai thì dám chắc là khó mà trung thực. Giá mà Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng quan tâm đến vụ lùm xùm như thách thức với Đảng, với dân trong lúc này, đưa Nghị quyết T.Ư 4 vào cuộc sống, nhanh chóng xác minh làm rõ, thì bản chất vụ việc sẽ sáng ra hơn nhiều. Nếu không có sự lợi dụng chức vụ quyền khuất tất trong đạo đức, lối sống thì ít nhất cũng minh oan, khẳng định sự trong sáng, trong sạch không dính tham nhũng cho bản thân bí thư và gia đình ông Quyến, cũng là bảo vệ uy tín Đảng lãnh đạo. Theo ông Ðinh Xuân Thảo, Viện trưởng Viện nghiên cứu lập pháp của Quốc hội (đại biểu Quốc hội Hà Nội): “Khi có những ý kiến của công luận đưa lên về một vụ việc nào đó mà có nghi vấn về tính minh bạch tài chính, thu nhập thì cần phải làm rõ, bất cứ người đó là ai. Người đó có chức quyền, cán bộ, đảng viên thì càng phải làm nhanh, làm sớm để khi công luận rõ sẽ tạo niềm tin đối với người dân và nếu không có cũng là một cách để “minh oan” cho người bị nghi ngờ, bảo vệ cán bộ, bảo vệ uy tín cho Ðảng, Nhà nước”.


Nhưng đứng tên là Bùi Thanh Tùng, đâu phải là tài sản của đương nhiệm Bùi Thanh Quyến, UVTW Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương? Kê khai tài sản ư, chuyện nhỏ. Nhưng sẽ không bao giờ có một thằng ăn cắp chuyên nghiệp khùng điên lại bỗng dưng vào nhà mở két, mở tủ lấy đồ ăn cắp đem trả cho người bị mất. Còn phê bình và tự phê bình, nói nhiều, xưa rồi, mà cũng nhẹ hều đâu có nhằm nhò gì. Cứ tổ chức ít nhất một tuần chỉ có việc ăn với ngồi phê bình nhau, cho dù lâu hơn cả tháng đi nữa, nhưng rồi chẳng đi đến đâu: Hô hào ai đó vẫn hô hào / Ông cứ lặng thinh cũng chẳng sao...
Vì thế, cho nên, do đó, và còn bởi vậy - cuộc chỉnh đốn Đảng theo NQ Trung ương 4 lần này, mới rung chà cá đã nhảy, mới gãi ngứa đã phải nhận được rất nhiều, và đa chiều, với đủ mọi cung bậc, nhiều cách thức phản pháo. Phát hiện cán bộ, đảng viên sai phạm, nhất là sai phạm lớn, mất phẩm chất, cố tình vụ lợi, lấy của công làm của tư, lấy của dân làm của mình thì không được khoan nhượng, không bao che, mà phải xử lý nhanh và nghiêm minh theo đúng pháp luật và kỷ luật Đảng, các quy định của Đảng và chính quyền. Nếu chỉ trông chờ tự giác, sám hối, và chờ ý kiến phê bình mong đạt kết quả thì vô cùng khó  khăn, sinh ra sức ì, ách tắc, họ càng có điều kiện, cùng sự “bảo trợ” để đối phó, chạy tội, phản pháo. Họ thà mất quyền lực, sẵn àng bỏ Đảng, nhưng không bao giờ chịu dễ dàng chịu mất đi quyền lợi đã nắm giữ. Không đủ bản lĩnh, không kiên quyết, không dám chịu đau như mổ xể ung nhọt, thêm vào đó là trình độ chiến thuật, kỹ thuật yếu, và nếu như người đứng ra cầm cân nảy mực cũng là “có dính”, rồi ai cũng hiểu là cho dù có hô to “quyết liệt”, là phải quyết tâm cao, nhưng xem ra với sự chần chừ, “từ từ”  kiểu này thì kết quả sẽ không đi đến đâu! Chờ hồi sau sẽ rõ.
                                                              Bùi Văn Bồng
---------------------
(*) - ... Ông Đỗ Đức Tiến - Phó Cục trưởng Cục Hàng hải VN - cho biết : “Sáng 17/5, anh Dũng vẫn làm việc tại cơ quan vì hôm đó tôi có vào báo cáo anh Dũng trước khi tôi đi công tác”. Nhưng chiều cùng ngày thì ông Dũng không có mặt tại cơ quan. Trong khi đó, chiều 17/5, cơ quan điều tra thực hiện tống đạt quyết định khởi tố bị can đối với ông Dũng tại nhà riêng của ông ở phố Nguyên Hồng (Đống Đa, Hà Nội). Tuy nhiên, thời điểm này, ông Dũng không có mặt ở nhà. Ngày 19-5, Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an đã ra quyết định truy nã bị can Dương Chí Dũng (55 tuổi, trú tại phường Thành Công, Hà Nội - Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam)...
http://webwarper.net/ww/buivanbong.blogspot.com/2012/05/phan-phao-tat-nhien-la-vay.html

Thứ hai, ngày 04 tháng sáu năm 2012

  Lý sự của quan quyền


LÝ SỰ CỦA QUAN QUYỀN
        Mới đây nhất là vụ việc xảy ra hôm 1-6 tại Sở 4 T Hà Nội, bà Lê Hiền Đức và luật sư Hà Huy Sơn bị ngăn cản không cho vào cơ quan. Khi bà Đức không chấp nhận vì còn muốn làm nhân chứng và trợ giúp ông Diện về mặt nào đó thì lập tức bị  bảo vệ hành hung đuổi ra khỏi cơ quan. Cũng vào cơ quan nhà nước, nhưng bà Đức và luật sư Sơn đi theo ông Diện có giấy mời đàng hoàng. Còn cách đây không lâu, một nhóm thương binh không ai mời, tự ý vào Viện Nghiên cứu Hán Nôm quậy phá, thì lại cho là hợp pháp.
            Như ông Bùi Văn Đại, Trưởng công an quận Đống Đa cho biết: Sau khi tiếp nhận được nội dung sự việc, Công an quận đã cử lực lượng xuống phối hợp cùng với Công an phường Cát Linh thu thập hồ sơ, cho thấy, bà Đức đã có hành vi chửi bới, lăng mạ cán bộ. Cũng theo ông Đại: “Hành vi của bà Lê Hiền Đức đã vi phạm Nghị định 73 của Chính phủ vì đã đến trụ sở cơ quan nhà nước gây rối, cản trở hoạt động, vi phạm điều 143 Bộ luật Hình sự. Đáng ra, cơ quan công an phải bắt giữ bà Đức theo đúng quy định của pháp luật nhưng vì bà đang nằm bệnh viện nên khi nào ra viện, chúng tôi sẽ mời bà Đức đến Công an quận làm việc và xử lý nghiêm theo đúng quy định của pháp luật”. Thế thì, cũng ở quận Đống Đa, vụ quấy rối của nhóm thương binh vi phạm pháp luật ở điều mấy, chương mấy, sao các ông lại lờ đi, đến nay vẫn chưa xác minh làm rõ ai đã xúi giục những thương binh đi gây sự càn quấy như vậy?
           Cũng lối phát ngôn như vậy, ai cũng chưa quên trong vụ Tiên Lãng (Hải Phòng), ông Phó Chủ tịch Tp. Đỗ Trung Thoại đã tỉnh bơ, hơ hớ nói: “Dân tự tổ chức phá nhà ông Vươn”. Ông đại tá Đỗ Hữu Ca nói: “Đây là cuộc diễn tập, khong có chuyện công an đi cưỡng chế, trấn áp ai cả. Một cuộc diễn tập thành công, viết thành sách được”. Chưa hết, đến vụ Văn Giang, có vị còn nói là dân phòng đánh nhà báo VOV. Đến khi phim, ảnh đưa lên chứng cứ sống động sờ sờ, thì ông nào cũng chối quanh: “Tôi đâu có nói!”. Trong vụ Văn Giang, ông Phó CT Nguyễn Khắc Hào trách cứ báo chí chính thống không nhảy vào cuộc để tuyên truyền đưa tin cho khách quan, kịp thời…
Nhưng ông Hào cố ý “quên” rằng chính quyền Hưng Yên đã ngăn cấm không cho các nhà báo tiếp cận vụ việc. Khi thấy hai nhà báo VOV xuất hiện liền bị các ông nắm cổ đánh hội đồng cho sưng vù mặt mày. Lại thêm tiếp đó trong vụ cưỡng chế thu hồi đất ở Vụ Bản (Nam Định), các vị có chức có quyền ở địa phương cũng “phọt ra” những câu nói rất vô lý và trái tai, những biện giải, thanh minh vô căn cứ. 
          Với khẩu khí từ miệng lưỡi quen đổ vấy cho người khác, các vị quan quyền đều khẳng định chính quyền chỉ có tốt, đúng, phải, còn dân là sai hết.            Mới đây, thiên hạ bỗng dưng bị tá hỏa khi nghe Bộ trưởng Thăng phát biểu một câu xanh rờn: “Điều động ông Dương Chí Dũng nhận công tác khác để giữ đoàn kết nội bộ”. 
           Mà tại sao một cán bộ đảng viên gây mất đoàn kết nội bộ nghiêm trọng đến mức phải điều chuyển đi nơi khác cho yên Vinalines, lại được nhận ngay chức Cục trưởng? Thế thì nguyên tắc, điều lệ Đảng và 19 việc đảng viên không được làm các ông quẳng  đi đâu hết? Cho dù Bác Hồ đã nghiêm khắc nhắc nhở: “Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết. Trước khi nói, phải nghĩ cho chín, phải sắp đặt cẩn thận. Phải nhớ câu tục ngữ: “Chó ba quanh mới nằm. Người ba năm mới nói”. Nhưng đến tận thời nay mà  miệng lưỡi của những "quan cách mạng" kiểu ấy đã để lại biết bao đàm tiếu, miệng tiếng cho thế gian, phàn nàn thế sự, thật chán ngấy, thấy lãng nhách. Họ chỉ quen cái thói uy quyền, hách dịch, như ta đây là oai nhất, to cao nhất, thiên hạ không ai bằng. Những lối nói tùy tiện, hàm hồ, tầm bậy, ngang ngược như vậy với trẻ con còn không nên, huống hồ là báo cáo trước Thủ tướng, phát ngôn trước công luận và dân chúng. Thế mới biết: “Miệng nhà quan có gang có thép / Phận người dân như tép như ruồi” …Vậy, xin bó tay với các vị quan quyền thời nay, cứ thoải mái, thả sức, được quyền nói gì thì nói. Còn người dân, dẫu nói đúng, nói phải, nói để minh oan cũng bị bịt mồm ngay. Thế mới là xã hội “dân chủ, công bằng, văn minh” chứ nhỉ?! Theo các vị quan quyền nói “vung xích chó” nêu trên, thì như thế là đúng nghị quyết Đảng đã đề ra hay sao?
         Bùi Văn Bồng
http://webwarper.net/ww/buivanbong.blogspot.com/2012/06/ly-su-cua-quan-quyen.html

 

 

 

Thứ bảy, ngày 23 tháng sáu năm 2012

THƯ RIÊNG, SAO GỌI LÀ

 "CÔNG HÀM"?



THƯ RIÊNG,  SAO GỌI LÀ “CÔNG HÀM”?
                                                                       * Đại tá Bùi Văn Bồng
Bvbqd Theo từ điển Wiktinorya tiếng Việt: Công hàm là công văn ngoại giao của nước này gửi cho nước khác...(trao đổi công hàm giữa hai nước). Ví dụ như: Ngày 15/1/1950, Bộ trưởng Bộ Ngọai giao Nước Việt Nam DCCH Hoàng Minh Giám gửi công hàm đến Bộ trưởng Bộ Ngoại giao CHND Trung Hoa Chu Ân Lai với nội dung tuyên bố công nhận Chính phủ nhân dân Trung Quốc do Chủ tịch Mao Trạch Đông lãnh đạo (1-10-1949) và  thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức và trao đổi Đại sứ với Chính phủ nhân dân Trung Quốc. Ngày 18/1/1950, Bộ trưởng Ngọai giao CHND Trung Hoa Chu Ân Lai đã gửi công hàm phúc đáp thông điệp. Còn bức thư ngày 14-9-1958 của ông Phạm Văn Đồng, lúc đó ở cương vị Thủ tướng, không thể đại diện cho nhà nước VNDCCH, và hình thức cũng như nội dung chỉ là thư trao đổi giữa hai cá nhân với nhau trên tình đồng chí.
Ngày 4-9-1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố với quốc tế quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam). Mười ngày sau, ngày 14-9-1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi một bức thư cho Thủ tướng Chu Ân Lai, nguyên văn như sau:
"Thưa Đồng chí Tổng lý,
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng”.

Nhiều người còn nhớ,  trước sự thua đau của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ 7-5-1954, cộng sản từ Liên Xô phát huy thế thắng, mở rộng đến Trung Quốc và Việt Nam, ngày 12-9-1954 Chủ tịch Hội đồng Liên quân Hoa Kỳ đưa ra dự tính tấn công Trung Quốc bằng vũ khí nguyên tử nhưng Tổng thống Eisenhower đã do dự sử dụng vũ khí nguyên tử cũng như sự liên can của quân đội Hoa Kỳ vào cuộc chiến này. 

Nhìn lại bối cảnh năm 1958, Việt Nam mới qua cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp. Đất nước còn nghèo, lại bị Mỹ phản lại Hiệp định Genève 20-7-1954, dựng lên chế độ bù nhìn tay sai Ngô Đình Diệm để thực hiện âm mưu xâm lược Việt Nam. Trước đó, ngày 26-5-1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman đã ra lệnh cho Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan, ngăn chặn cuộc tấn công của Trung Quốc nhắm vào các đảo trên eo biển Đài Loan. Với hành động này, Mỹ đã thực sự bảo hộ Đài Loan, mặc cho Trung Quốc kịch liệt lên án. 
Năm 1958, tiếp tục xảy ra cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai. Ngày 23-8-1958 Trung Quốc đột ngột tăng cường nã pháo vào đảo Kim Môn. Theo Hiệp định Phòng thủ tương hỗ giữa Đài Loan-Hoa Kỳ, Tổng thống Eisenhower đã ra lệnh cho tàu chiến Hoa Kỳ đến bảo vệ đường tiếp tế hậu cần từ đảo Đài Loan đến 2 đảo tiền tiêu Kim Môn và Mã Tổ.
Ngoài bối cảnh "phức tạp và cấp bách” đối với Trung Quốc như đã nêu trên, theo Thạc sĩ Hoàng Việt (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông), cái mà Trung Quốc gọi là “Công hàm” 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ đặc thù Việt Nam dân chủ cộng hòa – Trung Quốc lúc đó "vừa là đồng chí vừa là anh em”. Thực chất chính phủ Hà Nội lúc đó nêu quan điểm ủng hộ tuyên bố lãnh hải của Trung Quốc là muốn cho Hạm đội 7 của Mỹ tôn trọng vùng biển như tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc mà không gây hấn phức tạp trên biển Bắc bộ, nhằm tránh sự xô xát, tranh chấp phức tạp để VN yên tâm bảo vệ nền hòa bình mới được lập lại trên miền Bắc và xây dựng cuộc sống mới.
Về vấn đề này, ngày 24-1-2008 phóng viên đài BBC (Tiếng Việt) đã phỏng vấn Tiến sĩ Balazs Szalontai, một nhà nghiên cứu về châu Á đang sống ở Hungary. Theo Tiến sĩ Balazs Szalontai: Trong các năm 1955-1958, ban lãnh đạo Bắc Việt chưa đạt tới mục tiêu thống nhất đất nước vì phải đối phó với khó khăn nội bộ và thiếu ủng hộ của quốc tế. Đồng minh chính của họ lúc này là Trung Quốc. Trong hoàn cảnh này, Hà Nội không thể hy vọng xác lập quyền kiểm soát đối với Hoàng Sa và Trường Sa trong tương lai gần, và vì vậy họ không thể có sự bất đồng lớn với Trung Quốc về các hòn đảo. 
Lúc này, chính phủ Bắc Việt tìm cách có được giúp đỡ của Trung Quốc, và họ chỉ cố gắng tránh đưa ra tuyên bố công khai ủng hộ những tuyên bố chủ quyền cụ thể của Trung Quốc hay ký vào một văn kiện bắt buộc mà sẽ công khai từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với các đảo này. Cái mà  Trung Quốc gọi là “công hàm” thực chất chỉ là một lá thư ngắn, mà ông Phạm Văn Đồng gửi cho cá nhân Thủ tướng Chu An Lai, gọi thân mất, hữu nghị là “Đồng chí Tổng lý”, rằng: "Chúng tôi xin trân trọng báo tin...", hoàn toàn không phải là Tuyên bố của nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa có đủ giá trị về mặt pháp lý. 
Sang năm 1974, tình hình hoàn toàn khác. Việc thống nhất Việt Nam không còn là khả năng xa vời. Giả sử Trung Quốc có không can thiệp, Hà Nội có thể dễ dàng lấy các đảo cùng với phần còn lại của miền Nam. Từ 1968 đến 1974, quan hệ Việt - Trung đã xuống rất thấp, trong khi Liên Xô tăng cường ủng hộ cho miền Bắc. Trong tình hình đó, quan điểm của Bắc Việt dĩ nhiên trở nên cứng cỏi hơn trước Trung Quốc so với thập niên 1950.
Vì những lý do tương tự, thái độ của Trung Quốc cũng trở nên cứng rắn hơn. Đến năm 1974, Bắc Kinh không còn hy vọng Hà Nội sẽ theo họ để chống Moscow. Thực sự vào cuối 1973 và đầu 1974, Liên Xô lại cảm thấy sự hòa hoãn Mỹ - Trung đã không đem lại kết quả như người ta nghĩ. Washington không từ bỏ quan hệ ngoại giao với Đài Loan cũng không bỏ đi ý định tìm kiếm hòa hoãn với Liên Xô. Ngược lại, quan hệ Xô - Mỹ lại tiến triển tốt. Vì thế trong năm 1974, lãnh đạo Trung Quốc lại một lần nữa cảm thấy bị bao vây. Vì vậy họ muốn cải thiện vị trí chiến lược ở Đông Nam Á bằng hành động chiếm Hoàng Sa, và tăng cường ủng hộ cho Khmer Đỏ và du kích cộng sản ở Miến Điện. Nếu Trung Quốc khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền lãnh thổ của họ thì suốt thập kỷ 60 họ đã đánh chiếm hai quần đảo này, không để cho quân đội VNCH chiếm giữ. Nhưng TQ không dả động gì. Năm 1973 Mỹ rút khỏi miền Nam VN, Trung quốc mới ra chiếm dảo Hoàng sa vào ngày 19-1-1974, nhưng cũng chưa dám đụng đến Trường Sa, có lẽ còn sợ Mỹ quay lại…

            Bức thư ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất phát từ mối quan hệ rất đặc thù với Trung Quốc trong thời điểm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa bấy giờ và là một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp thể hiện quan điểm ủng hộ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong việc tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trước các diễn biến quân sự phức tạp trên eo biển Đài Loan. 
Điều tất nhiên là khi Pháp rút, Mỹ can thiệp vào Đông Dương, thì hai nước theo đường lối XHCN Trung-Việt phải thực sự hòa hiếu, đoàn kết để chống kẻ thù chung. Việc trao đổi thư giữa các vị lãnh đạo hai nước bày tỏ tình cảm và quan điểm là chuyện đương nhiên. Do vậy, trong tình hình lãnh thổ Trung Quốc đang bị đe dọa chia cắt, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai khiến Hải quân Hoa Kỳ đưa tàu chiến vào can thiệp, việc Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải bao gồm đảo Đài Loan trước hết nhằm khẳng định chủ quyền trên biển của Trung Quốc trong tình thế bị đe dọa tại eo biển Đài Loan là có sự liên quan cả đến sự an nguy của Việt Nam. Hơn nữa, vùng biển vịnh Bắc bộ của VN tiếp giáp với TQ, khi vùng biển này theo Tuyên bố của TQ rộng 12 hải lý thì Việt Nam dân chủ cộng hòa thấy cần ủng hộ để được yên phía Biển Đông.
Thực chất, Thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc đó đã phát biểu những lời ủng hộ Trung Quốc trong hoàn cảnh hết sức khẩn trương, chiến tranh chuẩn bị leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ đang tiến vào eo biển Đài Loan, đe dọa Trung Quốc mà trực tiếp là Vịnh Bắc bộ của Việt Nam. Nội dung bức thư 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bởi, hơn ai hết, chính Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thấu hiểu quyền tuyên bố về lãnh thổ quốc gia thuộc thẩm quyền cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội, và việc bảo vệ tòan vẹn lãnh thổ quốc gia luôn luôn là mục tiêu hàng đầu đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam, nhất là trong hoàn cảnh đó Thủ tướng Phạm Văn Đồng thấy cần có động thái viết thư trao đổi riêng với Thủ tướng Chu Ân Lai.  Đây là thư trao đổi riêng giữa hai vị đồng cấp của hai nước vào thời điểm lịch sử lúc đó là “cùng phe XHCN”, là “láng giềng thân thiện”, hoàn toàn không phải là hiệp định được quốc hội mỗi nước phê chuẩn. Thế nên, nó càng không có giá trị pháp lý về chủ quyen flanhx thổ, lãnh hải.      

Bức thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không hề nói đến hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, cũng như không có một chữ nào công nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền lãnh hải Trung Quốc. Một lý do nữa là ông Phạm Văn Đồng lúc đó không thể thay mặt nhà nước gửi “công hàm” về chủ quyền hai quần đáo HS, TS, bởi theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam cộng hòa của Tổng thông Ngô Đình Diệm được Mỹ dựng lên. Đọc thư thấy có hai nội dung rất rõ ràng: Một là, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ghi nhận và tán thành việc Trung Quốc mở rộng lãnh hải ra 12 hải lý; Hai là, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng giới hạn lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố. 
Nếu chỉ xét về câu chữ trong một văn bản có tính chất thư ngoại giao cũng dễ dàng nhận thấy mọi suy diễn cho rằng “Công hàm 1958” đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và coi đó là bằng chứng khẳng định Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này là xuyên tạc lịch sử và hoàn toàn không có cơ sở pháp lý. Do vậy, phần tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc liên quan tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam với sự mượn cớ bức thư riêng ngày 14-9-1958 về cơ sở pháp lý quốc tế đương nhiên là không có hiệu lực. 
Thủ tướng Trần Văn Hữu, Trưởng phái đoàn Quốc gia Việt Nam
 ký hòa ước San Francisco ngày 8/9/1951
Tại Hội nghị San Francisco 1951, các quốc gia tham dự đã bác bỏ yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng tại hội nghị này, Việt Nam đã long trọng tuyên bố chủ quyền lâu đời và liên tục của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong phiên họp toàn thể mà không có bất kỳ sự phản đối hay ý kiến gì khác của tất cả các quốc gia tham dự, kể cả Trung Quốc. Điều đó có nghĩa là kể từ năm 1951, cộng đồng quốc tế đã thừa nhận chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cho đến hiện nay, Việt Nam có đầy đủ cơ sở lịch sử và pháp lý về chủ quyền không thể chối cãi với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Năm 1956, Liên hợp quốc bắt đầu tiến hành các hội nghị quốc tế bàn về Luật Biển, sau đó một số hiệp định được ký kết vào năm 1958, tuy nhiên vẫn chưa làm thỏa mãn yêu sách về lãnh hải của một số quốc gia. 
Cho nên, một lần nữa cần xác định cho rõ: Các tuyên bố nói trên của Trung Quốc cũng như thư của ông Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh có nhiều chuyển biến phức tạp và cấp bách đối với Trung Quốc về tình hình lãnh thổ trên biển theo luật pháp quốc tế cũng như diễn biến căng thẳng của vấn đề quân sự xung quanh eo biển Đài Loan như đã nêu và phân tích trên đây.
Trong khi đó, Chính quyền Việt Nam cộng hòa ở miền Nam có Mỹ bảo trợ, theo Hiệp định Genève 1954, đã liên tục thực thi chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước cũng như bằng việc triển khai thực thi chủ quyền thực tế trên hai quần đảo, đưa các đơn vị hải quân ra giữ đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam, Trung Quốc vẫn nghiễm nhiên công nhận việc bảo vệ chủ quyền của lực lượng hải quân Việt Nam cộng hòa, mà không có ý kiến gì. Chắc một phần là sợ Mỹ, một phần là  tự thấy không đủ căn cứ pháp lý. Nay không còn ai để phải sợ, Trung Quốc lại “bắt nạt” Việt Nam để tranh giành chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa. Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn này là trận hải chiến quyết liệt của Hải quân Việt Nam Cộng hòa chống lại sự xâm lược của tàu chiến và máy bay Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974.

Một bức thư riêng chỉ có 127 chữ với nội dung trao đổi giữ hai vị thủ tướng hai nước có tính chất ”hữu hảo” cùng lý tưởng Cộng sản nếu có chăng chỉ đơn thuần về mặt ngoại giao thời điểm, thế mà gần đây Trung Quốc luôn rêu rao cái gọi là “Công hàm”, rằng họ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Có thể nói, giải thích xuyên tạc bức thư 1958 là một trong chuỗi những hành động có tính toán nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức hóa yêu sách chủ quyền phi lý của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Nhận xét về quan điểm của Trung Quốc, Giáo sư Đại Học Paris III  Monique Chemillier-Gendreau đã viết như sau: “Trong những điều kiện này, những lời tuyên bố hoặc lập trường nào đó của chính quyền miền Bắc Việt Nam không có hiệu lực gì đối với chủ quyền. Đây không phải là chính quyền có thẩm quyền trên quần đảo này. Người ta không thể từ bỏ ở cái mà người ta không có chủ quyền…”.
Chúng ta thấy rằng, về phương diện pháp lý, nước VNDCCH lúc bấy giờ không trực tiếp quản lý đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Trong thời điểm đó, dưới góc độ tài phán quốc tế, thì Chính phủ VNDCCH không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền tại hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế.
Vào ngày 30/7/1979, Trung Quốc đã công khai công bố tại Bắc Kinh một số tài liệu với ý định để minh chứng cho việc tuyên bố chủ quyền của họ trên quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
Về vấn đề này, Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố:
1- Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa là một phần của lãnh thổ Việt Nam. Các Sứ quân Việt Nam đã là những người đầu tiên trong lịch sử đến chiếm đóng, tổ chức, kiểm soát và khai phá các quần đảo này trong chức năng của họ như là các lãnh chúa. Quyền sở hữu này có hiệu quả và phù hợp với luật pháp quốc tế. Chúng tôi có đầy đủ các tài liệu lịch sử và luật pháp để chứng minh chủ quyền tuyệt đối trên hai quần đảo này.
2. Sự diễn giải của Trung quốc về văn bản ngày 14 tháng 9 năm 1958 của Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà như một sự công nhận chủ quyền của phiá Trung quốc trên các quần đảo là một sự xuyên tạc trắng trợn khi tinh thần và ý nghĩa của bản văn chỉ có ý định công nhận giới hạn 12 hải lý của lãnh hải Trung Quốc.
Việc Trung Quốc diễn giải nội dung “Công hàm” ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của bức thư đó như là một chứng cứ cho thấy Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức chủ quan và thể hiện rõ sự tìm mọi cớ thực hiện dã tâm xâm lấn Biển Đông, hoàn toàn xa lạ với diễn tiến lịch sử, nền tảng pháp lý của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, bất chấp thực tế khách quan của bối cảnh lịch sử đương thời, không thể coi là văn bản pháp lý để đưa ra tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông. 
Sắp tới, Nhà nước Việt Nam chính thức ban hành Luật Biển theo biểu quyết thông qua của 99,2% số phiếu tán thành tại Kỳ họp thứ 3 (Quốc hội khóa XIII), ngày 21-6 mới là văn bản pháp lý chính thức của nước Việt Nam về chủ quyền biển-đảo. Luật Biển của VN lần này sẽ thực sự chấm dứt mối nghi ngờ và lắm ý kiến nhiều chiều về bức thư năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. 
Hiệp định Genève 1954, mà Trung Quốc là một nước tham gia chính thức, cũng thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam. Các điều khoản trong Hiệp định cũng yêu cầu các quốc gia tham dự Hội nghị cam kết tôn trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Luật Biển mà Việt Nam sắp ban hành cũng dựa trên những giá trị các chứng cứ lịch sử đó và đúng với Công pháp Quốc tế về Luật biển năm 1982. (BVB)
http://webwarper.net/ww/buivanbong.blogspot.com/2012/06/thu-rieng-sao-goi-la-cong-ham.html
  --------------

SỰ KIỆN "9 LÔ MỎ DẦU" GỢI LẠI "VỤ TÀU MADDOX"


SỰ KIỆN “9 LÔ MỎ DẦU” 
GỢI LẠI “VỤ TÀU MADDOX”
BvbqdSau khi Quốc hội Việt Nam thông qua Luật biển, chỉ trong một tuần qua, Trung Quốc đã lồng lộn, hung hăng gây nhiều sự biến bất an trên vùng biển chủ quyền của Việt Nam. Từ việc gọi mời thẩu quốc tế 9 lô mỏ dầu đến việc “nâng cấp” thành lập thành phố Tam Sa, rồi lên giọng phản đối việc VN ghép đặt quốc kỳ bằng gốm trên đảo Nam Uy (thuộc quần đảo Trường Sa). Vô lý hơn nữa là Trung Quốc còn cho các tàu lặn tìm dưới đáy biển chỗ nào có đồ gốm Trung Quốc, do thuyền buôn thời xa xưa cốc đế nào đó bị chìm, thì nói đó là biển Trung Quốc (!)…Thế thì một số vùng biển tận châu Phi, châu Mỹ, châu Âu vẫn có những tàu buôn hàng đồ gốm của Trung Quốc bị chìm, nay Bắc Kinh cũng vơ vào là Biển Trung Hoa hay sao?
Theo lãnh đạo Petro VN, vùng biển phía Trung Quốc gọi thầu chỉ cách bờ biển Quảng Ngãi 76 hải lý, cách phía bắc Nha Trang 60 hải lý. Khoảng cách gần nhất đến vùng giữa Nha Trang và Phan Thiết chỉ là 57 hải lý. Vùng này cũng chỉ cách đảo Phú Quý 30 hải lý và là nơi được PVN đã tiến hành các hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí từ lâu. Năm 2011, tàu Bình Minh 02 cũng bị tàu Trung Quốc cắt cáp thăm dò địa chấn trên vùng biển này. Tại tọa độ mà TQ tự ý mời thầu coi 9 lô mỏ dầu chỉ cách đảo Phú Quý có 30 hải lý (hơn 55 cây số), với ngư dân vùng này thì đó là “trong lộng”, vùng đánh bắt hải sản gần bờ. Việc này khiến người ta nghĩ ngay đến âm mưu TQ cho người lén nuôi cá bè ở Cam Ranh, Vũng Rô, ngoài những ý đồ khác,  còn nhằm mục đích “cắm chốt”, “xí chỗ”, ngầm trinh sát khu vực  này. Những việc làm đó không thể coi thường, mà đều nằm trong âm mưu Tung Quóc chuẩn bị cho những hành động liều lĩnh, minh chứng rõ ràng nhất là việc kêu gọi đấu thầu 9 lô dầu mỏ nêu trên. 
Với những hành động đó, rõ ràng TQ coi VN không là “cái thá” gì, chỉ là một nước kiểu "chư hầu" như ý muốn của TQ. Chúng không thèm đếm xỉa đến chủ quyền lãnh thổ của VN, bất chấp mọi lời tuyên bố ngoại giao, phản ứng của chính phủ và nhân dân VN, sẵn sàng đem “tình hữu nghị núi liền núi, sông liền sông”, đem phương châm “16 chữ vàng” và quan hệ  “4 tốt” ném vào sọt rác. 
Những hành động đó  càng làm cho cả thế giới thấy rằng, cái gọi là là Đảng Cộng sản Trung Quốc thực chất chỉ là một thứ vỏ bọc, bởi vì bản chất một chế độ theo lý tưởng Cộng sản không bao giờ đi gây chiến, xâm lược, ăn cướp. Nói khác đi, hai chữ "Cộng Sản"chỉ là một con ngáo ộp, đại hội Đảng CS TQ sắp tới đây chẳng qua cũng chỉ là một màn kịch để lừa nhân dân TQ, trong con mắt của cộng đồng quốc tế  thì đó là một  trò hề của những kẻ hiếu chiến mà thôi.
 Bản chất của Đảng Cộng sản từ gốc Chủ nghĩa Mark là “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại”. Nhưng Trung Quốc đã và đang “liên hiệp vô sản” theo cái kiểu đế quốc Đại Hán như thế à? “Vô sản” là các nước nghèo, thế mà lâu nay Trung Quốc đối xử với các nước nghèo trong khu vực ra sao? Dối trá, hai mặt, trịch thượng, thực dụng và vụ  lợi chỗ nào thì ai cũng biết. Sắp tới, đừng có trương cái bảng “Đại hộ Đảng Cộng sản Trung Quốc” làm vỏ bọc nữa. Thời đại này nói dối không dễ đâu. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã bị mất chất, biến hết màu từ lâu rồi, nay cứ hô lên, mãi khoa trương lên như thế, cả thế giới người ta sẽ thêm khinh miệt và cười vào mũi.
Rõ ràng là những hành động của Trung Quốc đã lộ rõ không đơn thuần một sự tranh chấp, bất hòa mà đã công khai, trắng trợn, gây “sự kiện” để cố tình khiêu chiến với Việt Nam.
Việc TQ ngày càng dấn lên một cách trắng trợn và thách thức, xâm phạm sâu tận tận vùng nội thủy và thềm lục địa của Việt Nam (biển gần) rõ ràng là nhà cầm quyền Bắc Kinh đang ráo riết cố tình tạo ra “sự kiện”, chờ  một cái "cớ" để lại "dạy cho VN môt bài học" nữa(?!), dù đó là sự phi lý  để gây chiến tranh xâm lược, dùng sức mạnh quân sự để thôn tính biển Đông.
Tàu khu trục Maddox của Mỹ xâm phạm lãnh hài Bắc Việt Nam 1964

Những hành động đó làm cho người ta nhớ lại “sự kiện” 48 năm về trước, đế quốc Mỹ muốn kiếm chuyện, tạo cớ tiến hành chiến tranh phá hoại ra miền Bắc VN, đã gây ra “sự kiện vịnh Bắc bộ” bằng cách cho tàu Maddox xâm phạm chủ quyền Việt Nam ở biển Quảng Bình và Thanh Hóa. Trong các ngày 2 và 4 tháng 8 năm 1964, Quốc hội Hoa Kỳ, với số phiếu tuyệt đối, nhất trí thông qua “Nghị quyết vịnh Bắc bộ”, cho phép Tổng thống L.B Johnson, với tư cách là Tổng Tư lệnh tối cao của quân lực Hoa kỳ, “thực hiện mọi biện pháp cần thiết nhằm đánh lui mọi hành động của Bắc Việt Nam tấn công vũ trang chống các lực lượng Hoa Kỳ và ngăn ngừa những hành động xâm lăng khác”.
Nghị quyết hiếm có này hầu như trao toàn quyền hành động cho Johnson tăng mức độ can dự của quân đội Mỹ vào Việt Nam. Trước đó, ngày 28/7/1964, tàu khu trục Maddox rời Đài Loan thực hiện nhiệm vụ "De Soto" theo kế hoạch kéo dài đến ngày 8-8-1964. Hai đêm sau, các đảo Hòn Mê và Hòn Ngư của miền Bắc VN bị tấn công, lực lượng hải quân và biên phòng miền Bắc VN đã phản ứng rất mạnh mẽ. Đầu buổi chiều 2/8, tàu Maddox chạy gần đảo Hòn Mê, phát hiện 5 tàu tuần tiễu của Bắc VN. Pháo lớn trên tàu Maddox nổ liên tục, còn lực lượng Bắc VN chỉ tự vệ bằng súng máy 12,7 mm. Trong khi đang bắn thì chiếc thứ hai trong đoàn tàu 3 chiếc bị trúng đạn quay nhanh về phía trái và phóng 2 quả ngư lôi để chống trả. Tàu Maddox quay mũi tránh ngư lôi thì chiếc thứ ba vượt qua đằng sau nó. Khi tốp máy bay F8 từ tàu Sân bay Hạm đội 7 đến tiếp viện thì cuộc giao chiến đã kết thúc. Nhưng ngày 5-8, Không quân Mỹ đã biến cuộc đụng chạm này thành "Sự kiện Vịnh Bắc bộ”, hùng hổ cho máy bay ném bom dữ dội đánh phá cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa), cho rằng đây là  “nút cổ chai” trên quốc lộ số 1, miền bắc  tiếp vận  hàng và chuyển quân vào Nam bằng đường tàu hỏa cần phải được cắt đứt  để ngăn chặn sự chi viện chính đáng của miền Bắc vào chiến trường miền Nam!
Tại Washington, Johnson ra lệnh tiếp tục giao nhiệm vụ cho De Soto và đưa thêm tàu khu trục Turner Joy đến cùng hoạt động với tàu Maddox trên vịnh Bắc bộ. Hai chiến hạm tiếp tục tuần tiễu và đến cuối ngày 4/8 báo cáo rằng họ lại bị tiến công, lần này cách bờ 60 dặm.
Sau này, tại cuộc gặp năm 1997 ở Hà Nội, Mc. Namara (Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ ở thời điểm đó) đã nhắc lại với Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, rằng:
- Thưa Ngài, tôi xin phép được hỏi Ngài một câu trước khi chúng tôi rời khỏi đây, cho đến tận hôm nay, tôi vẫn chưa biết cái gì đã thực sự xảy ra vào ngày 2/8 và 4/8/1964. Tôi nghĩ rằng, lúc đó chúng tôi có hai phán đoán sai nghiêm trọng. Ngài có thể giúp tôi sửa lại sai lầm đó được không?
Và… tôi muốn hỏi tiếp một câu: “Có thực sự là có sự kiện 4/8 xảy ra, sự kiện mà chúng tôi coi là cuộc tấn công thứ hai của phía VN?”…
Đại tướng Võ Nguyên Giáp khảng khái nói:
- Ngày 2/8, tàu Maddox đã tiến vào hải phận của chúng tôi ở Hòn Mê (Thanh Hóa), một đơn vị hải quân nhỏ ở địa phương đã đánh  lại. Ngày 4/8 hoàn toàn không có gì hết, chỉ đánh tàu địch để bảo vệ chủ quyền lãnh hải. Sự thật là trong nhật ký chiến sự của chúng tôi, ngày ấy không có một sự kiện gì xảy ra, “sự kiện” là cách gọi của phía Mỹ.
- Ai đã ra lệnh bắn vào tàu Maddox ngày 2/8?
- Từ trước tôi đã ra lệnh, bất cứ nơi nào có quân Mỹ đến, nơi ấy có quyền tự động bắn. Ngày 2.8 bắn vào tàu Mỹ là dân quân pháo bờ biển. Họ bắn vào tàu Mỹ đã đến gần.
Cũng cần nhắc lại rằng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, vào mùa thu năm 1964 là Bí thư Trung ương Cục miền Nam ra Bắc họp, đã phát biểu với các đơn vị chiến đấu với tàu chiến Mỹ “Phải đánh cho chúng nó biết rằng biển Đông không phải là ao nhà của chúng”.
Tình hình khi đó là hết sức nhạy cảm, song chủ quyền là vấn đề thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Phản ứng của các nhà lãnh đạo miền Bắc VN rất kiên quyết, nhanh chóng, không một chút sợ hãi cường quốc lớn là Hoa Kỳ mặc dù rõ ràng đây là một cuộc chiến đấu quá chênh lệch về sự cân sức…
Đã 48 năm qua, kể từ “Sự kiện Vịnh Bắc bộ”, biển Đông bây giờ lại nổi sóng mà nguyên nhân không phải từ Hoa Kỳ xa xôi, mà mỉa mai thay lại từ người "bạn" láng giềng khổng lồ phương Bắc. Họ toan tính những gì? Phải công nhận, tính toán chiến lược của họ hết sức sâu xa, mà tính toán chiến thuật của họ cũng vô cùng thâm hiểm, đầy chất ngạo mạn và trắng trợn hơn cả đế quốc Mỹ năm xưa rất nhiều. “Gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác” là một trong những thiết kế đầy tài nghệ của Đặng Tiểu Bình, ‘Tổng thiết kế sư” công cuộc cải cách và mở cửa của Trung Quốc. Từ chỗ không có gì trên biển Đông, nay họ đã có một thế đứng vô cùng vững chắc bằng những chứng cớ  tạo dựng ngụy lý.
Phản ứng và hành động của Việt Nam ta hiện nay như thế nào? Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, sau khi giặc Mỹ gây ra “Sự kiện vịnh Bắc bộ”, chiến tranh lan ra khắp cả nước, nhà thơ Tố Hữu đã viết:
Bỗng đâu tin đến, bàng hoàng
Quê ta giặc đến, mấy tràng bom rơi
Mỹ toan cướp biển, cướp trời
Quê ta anh dũng tuyệt vời, đánh tan…
          Hiện nay, chính nước “anh em, láng giềng hữu nghị”, chính các nhà lãnh đạo của cái gọi là “chính đảng cầm quyền cùng chung lý tưởng” từ phương Bắc đang bày ra đủ mọi mưu kế toan cướp biển, cướp trời của Việt Nam.  Rõ nhất là những hành động cố tình khiêu chiến dồn dập trong hai năm qua. Nếu không thể khác hơn, Trung Quốc vứt “chủ nghĩa Cộng sản” vào sọt rác, hiện nguyên hình đế quốc Đại Hán, thì buộc VN phải đoàn kết cả dân tộc vốn có truyền thống anh hùng đánh giặc ngoại xâm tự bao đời, kiên cường quyết bào vệ vững chắc độc lập, tự do và chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.
Đứng gác dưới cây phong ba

          Trong lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến năm 1946, Bác Hồ đã thẳng thắn chỉ rõ: “Chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn  tới, vì chúng mốn cướp nước ta một lần nữa”. Nay, Việt Nam càng nhân nhượng, Trung Quốc càng lấn tới, không những chỉ coi Biển Đông là cái ‘ao nhà” mà còn muốn chiếm được cả Việt Nam, cả Đông Dương. Và xa hơn thế, với mưu đồ bá vương, bành trướng thế lực xuống phương Nam, Trung Quốc đang muốn mở lãnh thổ biên cương Đại Hản ra toàn khu vực Đông Nam Á.
          Năm xưa, với pháo đài huỷ diệt là các tàu khu trục, đế quốc Mỹ huênh hoang tuyên bố, họ sẽ biến mọi đối thủ thành "vật tế thần biển" trong một cuộc chiến không cân sức như vậy mà đế quốc Mỹ vẫn chuốc lấy thất bại thảm hại. Vấn đề là sức mạnh đoàn kết và ý chí con người, sức mạnh của dân tộc VN được hun đúc qua 4 ngàn năm lịch sử với truyền thống đánh giặc giữ nước kiên cường và hào hùng. Ông cha ta ngày xưa với vũ khí thô sơ, không có nhiều kỵ binh, thủy quân mạnh và đông người như giặc Tàu mà đã chiến thắng nhiều đời xâm lược của các vương triều Trung Quốc. Nhiều tướng giặc đã phải ôm đầu máu chạy về cố quốc, không thể chinh phục để “Tàu hóa” được đất nước Việt Nam nhỏ bé. Chúng ta vững tin rằng Trung Quốc dù có  đông người, quen  thói cậy sức "lấy thịt đè người” và cho dù  vũ khí có hiện đại đến mấy cũng không thể làm  cho cả dân tộc Việt Nam nhụt chí, lo sợ và nhượng bộ để bị mất nước một lần nữa. 
       Bùi Văn Bồng
 http://webwarper.net/ww/buivanbong.blogspot.com/2012/06/su-kien-9-lo-mo-dau-goi-lai-vu-tau.html
--------------------

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét