(bản gốc--phần tô màu cũng do tác giả đánh đấu)
Bài
đăng trên báo ĐẠI ĐOÀN KẾT số ra ngày10.8.2012, những đoạn tô màu vàng là Tòa
Soạn gạch bỏ
MÔN THI LỊCH SỬ VÀ BÀI HỌC LỊCH
SỬ
Tương Lai
Lại một lần nữa những điểm 0 môn
sử trong kỳ thi tuyển sinh vào đại học và cao đẳng năm nay như một hồi chuông
tỉnh thức những nỗi niềm lịch sử. Không là một ngẫu nhiên trong chuyện thi cử,
đây là một hiện tượng lặp lại về một nỗi đau không của riêng ngành giáo dục và
đào tạo, cho nên ở đây không nhắc lại cụ thể nỗi đau đó vì hay gì xát thêm muối
vào nỗi đau xã hội! Đừng quên rằng, Đại học, là “cái
học để làm người lớn” [Đại học giả, đại nhân chi học
dã”]. Và cũng
đừng quên, hai chữ “đại nhân” trong Kinh Dịch
thường hàm nghĩa người tài đức
! Liệu những “người lớn”, “người tài đức” của
đất nước mà sự hiểu biết về lịch sử dân tộc mình như vậy, thì rồi
đất nước "vốn xưng văn hiến"
này sẽ ra sao đây?
Văn hoá không phải là một hệ
thống đóng kín những giá trị loại biệt mà là một tổng hợp đang phát triển của
các thành tựu vật chất và tinh thần của một dân tộc. Văn hóa là một cấu trúc có
bề sâu. Cuộc sống xã hội được phản chiếu ở bề mặt, dưới bề mặt đó, văn hóa được
phân chia theo những tầng khác nhau, thường tiềm ẩn và vô thức. Nói đến “sức
mạnh văn hoá”, “bản sắc văn hoá”, chính là nói đến sự tiềm ẩn và vô thức này
nằm chìm trong đời sống của dân tộc. Chính cái đó làm nên ý thức dân tộc, tạo
ra sức mạnh Việt Nam.
Bởi vậy, mới nói rằng lịch sử là một
thành phần mà thiếu nó thì không một ý thức dân tộc nào đứng vững được. Không có ý thức đó thì không thể có một
nền văn hóa dân tộc. Cho nên cách đây năm năm, khi xã hội rung chuông báo động
về việc học sinh đang chán học môn sử, điểm thi môn sử quá kém [655 thí sinh bị
điểm 0 môn sử], trong thư gửi Hội
thảo bàn về thực trạng dạy và học sử Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhắc nhở :
“Môn lịch sử giữ vai trò quan trọng bậc
nhất trong giáo dục chủ nghĩa yêu nước, các giá trị truyền thống và cách mạng,
góp phần xây dựng nhân cách, bản lĩnh con người, giữ gìn bản sắc dân tộc”.
Liệu có cần nhắc lại ở đây một
khuyến cáo của ông Mittrrand “thái độ của
giới trẻ với lịch sử là thước đo sự tín nhiệm chính trị với chế độ”. Vị
tổng thống đương nhiệm của nước Pháp vào những năm 80 của thế kỷ XX khi sang
thăm Việt Nam, đã đến xem xét tận nơi chiến trường Điện Biên Phủ trước đây,
biểu thị một ứng xử văn hóa sâu sắc thể hiện thái độ sòng phẳng với lịch sử. Điều cần đặc biệt lưu ý là những
sự kiện lịch sử ấy và hồi chuông báo động điểm thi môn lịch sử rung lên trong
bối cảnh truyền thống lịch sử cần được khơi dậy mãnh liệt khi mà nạn ngoại xâm
đang rình rập, vận nước đang giục giã những người Việt Nam có lương tri.
Đã quá rõ ràng những thế lực hiếu chiến trong giới cầm
quyền Trung Quốc đang diễu võ giương oai nhằm hù dọa ý chí quật cường của một
dân tộc vốn chưa bao giờ chịu khuất phục trước mọi mưu ma, chước quỷ của chủ
nghĩa bành trướng Đại Hán. Vấn đề giảng dạy và học tập bộ môn lịch sử,
vấn đề biên soạn sách giáo khoa lịch sử gắn liền mật thiết với cuộc đấu tranh
phức tạp giữa các quốc gia từng có những mối quan hệ lịch sử. Chưa lúc nào tính
trung thực lịch sử lại mang dấu ấn thời sự liên quan đến an nguy của đất nước
bằng lúc này.
Cùng với việc triển khai những
hạm đội trên Biển Đông, ngang nhiên chia lô mời thầu quốc tế khai thác dầu khí
trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam đã được pháp luật quốc tế công nhận,
ngang ngược thành lập cái gọi là thành phố Tam Sa vói cả bộ chỉ huy quân sự
chốt tại đó để thao túng cả một vùng biển và thềm lục địa rộng lớn có cả quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ồ ạt xua 23.000 tàu đánh cá tràn khắp Biển Đông theo
chiến thuật quen thuộc "lấy thịt đè người", nhà cầm quyền Trung Quốc
đã khuyến khích việc ngụy tạo những "công trình" lịch sử để cố chứng
minh cái "lưỡi bò" ham hố và ghê tởm đang thè ra định nuốt trọn Biển
Đông.
Đã từ rất lâu, trong khi chúng ta hạn chế việc tuyên truyền phổ biến [thay bằng câu :
"tuyên
truyền phổ biến chưa nhiều] những
sự kiện lịch sử khách quan với đầy đủ chứng cứ trên những công trình lịch sử đã
tồn tại, những bản đồ do chính người Trung Hoa vẽ, những bằng chứng hiển nhiên
ông cha ta đã từng là chủ thể quản lý nhiều đảo trong vùng quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa, thì các học sinh phổ thông Trung Quốc đã được học trong sách giáo
khoa do Bộ Giáo dục của họ ấn hành đã ngụy tạo chứng cứ về tham vọng bành
trướng lãnh thổ không cần che dấu! Chuyện này họ làm có bài bản từ rất lâu,
không phải chỉ sau chiến tranh biên giới 1979 khi mà bộ mặt thật của giới cầm quyền hiếu chiến
Trung Quốc được phơi bày, mà từ xa xưa cha ông họ đã từng có quyết sách rất rành rọt, quyết liệt
tiến hành chính sách hủy diệt văn hóa nhằm thực hiện âm mưu đồng hóa để biến
nước ta thành quận huyện thần phục "thiên triều".
Chỉ cần nêu vài ví dụ : ở thế kỷ
XV, Minh Thành tổ đã trực tiếp ra sắc chỉ gửi viên tướng viễn chinh Chu Năng
khi tiến quân vào nước ta, thấy bất cứ cuốn sách vở nào, gặp bất cứ tấm bia đá
đều phải thiêu hủy đập phá cho bằng hết. “Việt
Kiệu thư” chép: “một mảnh giấy,
một chữ viết đều tiêu hủy hết”, đó là về sách vở. Còn các bia do
người nước Nam
dựng thì “đập phá hết, một chữ chớ
để còn”!Ngô Sĩ Liên đã phẫn uất về tội “đốt sạch” ấy: “Binh
tung sang, căm lũ giặc Minh, dáo gươm đầy đất. Lửa đốt sạch, thương ôi vận
nước, sách vở đi đời. Muốn tìm sự tích sau cơn khói lạnh tro tàn thật rất khổ
tâm về nỗi nét sai, chữ sót”. Lê Quý Đôn từng lên án nạn “cướp sạch”
kia : “tướng nhà Minh là Trương Phụ
lấy hết sách vở cổ kim của ta gửi theo đường công về Kim Lăng”.
Tháng 7 năm Mậu Tuất (1418), nhà Minh còn sai Hạ Thì và Hạ Thanh sang tìm tòi
và thu lượm những sách chép về lịch sử và sự tích xưa nay do người Việt viết!
Nhà sử học Phan Huy Ích đã nói lên nỗi đau về chuyện ấy : “Văn chương nảy nở như rừng. Nếu chẳng phải
trải qua cướp bóc, đốt phá mà hóa tro tàn, thì hẳn là trâu kéo đến toát mồ hôi,
chứa đầy đến tận xà nhà”. Hoàng Đức Lương khi sưu tầm làm nên “Trích
Diễm thi tập” đã phải xót xa kêu lên : “những gì thu thập được cũng chỉ là một hai trong trăm ngàn phần”!
Rõ ràng là : hủy diệt văn hóa
của một dân tộc "vốn xưng văn hiến
đã lâu" đã như cái xương nằm ngang cuống họng, không cho chúng nuốt
trôi vùng Đông Nam Á, là chính sách nhất quán của chủ nghĩa bành trướng Đại
Hán. Đâu phải chỉ Minh Thành Tổ! Trước đó, từ Hán, Đường, Tống, Nguyên, các thế
lực phong kiến phương Bắc đều lự chọn thời cơ khi nội tình Việt Nam có vấn đề
để xua quân đánh chiếm nhằm rộng đường bành trướng về phương nam.
Đâu phải chỉ chúng ta nói lên điều này. Frank Ching, một
nhà báo đang hoạt động ở Hong Kong cảnh báo
"Trung Quốc đang muốn làm sống lại
hệ thống chư hầu cống nạp đã từng ghi dấu sự thống trị của thiên triều trong
mấy ngàn năm". Còn GS James C.
Hsiung, ĐH New York, thì nói đến những hệ lụy nơi các nước khu vực “thái bình dưới trướng Trung Quốc”... Điều đó có nghĩa là Trung Quốc muốn các nước
láng giềng phải ưu tiên thỏa mãn lợi ích của Trung Quốc và chớ quyết định điều
gì trái ý”. Và giờ đây "ẩn mình đợi thời cơ" để nuôi dưỡng
hình ảnh một nước Trung Quốc đang “trỗi
dây hòa bình" đã qua rồi, Trung Quốc phải trỗi dậy để vồ mồi ! Càng
ngày, các lập luận hiếu chiến càng thắng thế. Một giáo sư mang lon đại
tá thuộc Đại học Quốc phòng của Trung Quốc Han Xudong kêu gọi Bắc Kinh thực
hiện một chính sách bành trướng về quân sự, địa chính trị và kinh tế đã viết
không úp mở : “Chỉ khi chúng ta đập tan tư tưởng không bành trướng, Trung Quốc mới có
thể tăng tốc độ phát triển từ một cường quốc khu vực tới một đế chế toàn cầu”.
Trong bài báo "Người
Trung Quốc bị hối thúc phải chuẩn bị chiến tranh" [Chinese urged to put war on pedestal]
đăng trên tờ The Sydney Morning Herald ngaỳ 23.5.2011, ký giả John Garnaut,
thông tín viên của hãng tin Fairfax tại Beijing đã báo động xu hướng này.
Liu Yuan, một tướng "diều hâu" có thế lực đã hung hăng tuyên bố phải “tái khám phá văn hoá quân sự của Trung Hoa”,
cho rằng lịch sử “được viết bằng máu và
những cuộc chém giết”, còn “quốc gia
- nhà nước” chỉ là “bộ máy quyền lực
hình thành từ bạo lực” trong khi chiến tranh chỉ là sự “nới rộng tự nhiên của kinh tế và chính trị”.
Để bảo vệ cho xu thế hiếu chiến
này, mạng lưới truyền thông của quân đội Trung Quốc [PLA] và truyền thông nhà
nước TQ ["Thời Báo Hoàn Cầu" là một ví dụ] đã vùi dập không thương
tiếc những tiếng nói của các học giả có lương tri như giáo sư giáo sư Chu Shu
long thuộc Phân khoa Bang giao Quốc tế tại Đại học Thanh Hoa khi ông phê phán
PLA “quá mạnh mẽ trong việc ra quyết
định, đặc biệt là về chính sách đối ngoại”. Theo ông thì những bình luận
của giới tướng lĩnh “thiếu thận trọng,
được phát ngôn mà không có ủy quyền chính thức, tạo ra rất nhiều nhầm lẫn”,
những lời tuyên bố về “lợi ích cốt lõi”
hay “PLA đã sẵn sàng sử dụng biện pháp
quân sự để chống lại những thách thức chủ quyền” là hồ đồ. Lập tức, phái
diều hâu quy kết ngay cho nhà học giả là "Hán gian"! “Trung Quốc có trên một triệu kẻ phản bội,
trong đó có một số học giả được Mỹ đào tạo. Họ đọc sách Mỹ, chấp nhận lý tưởng
của Mỹ và đang giúp Mỹ để đánh lừa người Trung Quốc”. "Cả vú lấp miệng em" đi liền
với sách lược cổ truyền "lấy thịt đè
người", được thực thi bằng việc xua 23.000 tàu đánh cá ra Biển Đông là
nằm trong âm mưu và thủ đoạn nói trên.
Trên Foreign Policy ngày 03-08-2012, ký giả Robert
Haddick đã phân tích về sách lược “tích gió thành bão” (salami-slicing), của Bắc Kinh là thông qua một
loạt các hành động nhỏ nhưng bền bỉ, dần dần tích góp bằng chứng về sự hiện
diện lâu dài của Trung Quốc trên các vùng lãnh thổ, lãnh hải mà Trung Quốc có
tuyên bố chủ quyền, với mục đích làm phai mờ các đặc quyền kinh tế được UNCLOS
quy định, thậm chí có thể làm lu mờ quyền qua lại của tàu thuyền và máy bay,
vốn được xem là những khái niệm phổ biến toàn cầu hiện nay. Với mưu đồ tiến
hành từng bước tích lũy nhằm “tạo sự đã rồi”, Trung Quốc hy vọng thiết lập sự
chiếm hữu trên thực tế (de facto) và hợp pháp (de jure) đối với các yêu sách
chủ quyền của họ.
Đưa
ra vài ví dụ nói trên để nói rằng, không được một chút mơ hồ về sự thật
lịch sử oái oăm của cái vị thế địa-chính trị của đất nước ta nằm cạnh người
láng giềng phương Bắc. Núi liền núi, sông lền sông, nhân dân ta và nhân dân
Trung Quốc đều thiết tha mong muốn sống hòa bình, hữu nghị để có cuộc sống ấm
no, hạnh phúc. Thế nhưng, các thế lực hiếu chiến trong giới cầm quyền Trung
Quốc thì từ Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh cho đến hiện nay đều chưa bao
giờ từ bỏ tham vọng bành trướng. Vì thế, lại càng không một giây phút lãng quên
bản lĩnh của ông cha ta trong cái vị thế "trứng chọi đá", vừa mềm
dẻo, linh hoạt vừa giữ vững ý chí quật cường đã từng đánh cho tan tác bọn xâm
lược, dù chúng đông đến đâu, hung hãn đến thế nào.
Tướng xâm lược Ô Mã Nhi thế kỷ
XIII từng khoác lác đe dọa các vua ta "ngươi
chạy lên trời, ta theo lên trời; ngươi chạy xuông đất ta theo xuống đất, ngươi
trốn lên núi ta theo lên núi, ngươi lặn xuống nước ta theo xuống nước"
để rồi cuối cùng y bị tóm cổ tại cửa sông Bạch Đằng! Và tấm bia đá trên cánh đồng Mồ chôn 5 vạn
quân Minh thuộc xã Tốt Động (Chương Mỹ-Hà Nội)
ghi lại sự tích chiến công trận Tốt
Động vẫn còn đó, rồi "Gò Đống Đa" (Quận Đống Đa-Hà Nôi) vùi
xác hàng vạn quân Thanh thế kỷ XVIII vẫn còn đây!
Buổi
ấy cách nay gần 600 năm, theo "Lam
Sơn thực lục" 15 vạn quân nhà Minh “dài đến mười dặm, mũ giáp lòa trời, cờ tàn rợp nội, tự cho là đánh một
trận có thể quét sạch quân ta”, cuối cùng đã tan tác không còn một mảnh
giáp, Thượng thư Trần Hiệp, nội quan Lý Lượng bị chặt đầu, Vương Thông cũng bị
thương, phải bỏ chạy thục mạng về Đông Quan, đóng cửa viết thư cầu viện binh.
Xác quân giặc chết chồng chất lên nhau khiến cả một vùng cách xa vạn dặm vẫn
còn hôi tanh mùi xú uế. “Ninh Kiều máu
chảy thành sông tanh trôi vạn dặm/ Tốt Động thây chất đầy nội nhơ để ngàn năm…”
như Nguyễn Trãi viết trong "Bình Ngô đại cáo". Để tỏ lòng nhân nghĩa,
Lê Thái Tổ đã xuống chiếu cho làng Tốt Động thu gom hài cốt quân Minh lập chôn
thành hàng trăm ngôi đại mộ. Đến năm Bính Dần, 1866 vua Tự Đức lại có chiếu cho
làng Tốt Động quy dồn tất cả thành một đại mộ quây bằng đá ong đặt tên là đồng
Mồ, trên tấm bia còn lưu giữ cho đến hôm nay được khắc lên dòng chữ “Ta rằng hỡi ôi! Số người thác ở đây trăm đời
sau vẫn là ma khách. Nay các ngươi đều được về đây, thi thể các ngươi thoát
khỏi cảnh ngâm thây đáy nước, dãi nắng bãi cỏ hoang, ăn gió uống sương hồn
phách chập chờn như đom đóm...”. Vào ngày 24 tháng Chạp hằng năm, tại đây
có tục cúng cháo cho những con “ma khách”!
Rồi
cách nay hơn 300 năm, cùng với việc thần tốc đánh tan tác toàn bộ quân xâm lược
nhà Thanh, sau khi vào Thăng Long, Vua Quang Trung đã cho thu nhặt lại
xác và xếp thành 12 đống, đắp cao lên thành gò gọi là “kình nghê quán” (gò chôn
xác giặc dữ như cá kình, cá nghê ngoài biển) 12 gò này nằm giải rác từ làng
Thịnh Quang đến làng Nam Đồng, trên gò các cây đa mọc lên um tùm và tạo thành
cái tên gò Đống Đa hiện nay, nhằm biểu dương chiến công của quân dân ta và cảnh
báo với bọn xâm lược cướp nước. Vua cho
viết bài "Văn tế", trong đó có đoạn " Nay ta cho thu nhặt xương cốt chôn vùi. Bảo lập đàn bên sông cúng tế.
Lòng ta thương chẳng kể người phương Bắc. Xuất của kho đắp điếm đống xương khô.
Hồn các ngươi đừng vất vưởng dưới trời Nam. Hãy lên đường quay về nơi
hương chỉ ". Cần nhớ thêm rằng, tướng giặc là Sầm Nghi Đống sợ quá
phải treo cổ lên cành đa tự tử trên núi Ốc (Loa Sơn) mà vị trí của nó là gần
khu chùa Bộc hiện nay. Danh sĩ Nguyễn Văn Siêu khi đến thăm núi Ốc đã có câu thơ
“Khả liên tích cốt vô quy nhật. Loạn giữ quần sơn nhất vọng nguy”, tạm dịch là: “Thây chất mong chi ngày trở lại.
Thêm cùng gò núi một cồn xương”! Đây chính là những thông điệp cần phải
gửi đến những cái đầu hiếu chiến đang hung hăng trên Biển Đông!
Chính vì thế, phải làm sống dậy
trong lòng thế hệ trẻ hôm nay những sự kiện lịch sử oai hùng ấy. Thì đó, sức sống mãnh
liệt của dân tộc vẫn bừng sáng trên ánh mắt và gương mặt của tuổi trẻ biểu thị
lòng yêu nước ngay trên đường phố. Giòng máu
Việt Nam
vẫn lưu chảy trong huyết quản của họ không gì ngăn chặn được. Và khi viết những
dòng này, người viết không nghĩ rằng những thí sinh bị điểm 0 về môn lịch sử
lại vô cảm với khí phách của ông cha mình. Tuyệt đối không! Những điểm 0 này
không thể hoàn toàn là lỗi của họ, nếu tỉnh táo và thật sự truy tìm căn nguyên
của hiện tượng, sẽ thấy ra rất nhiều điều lớn hơn bội phần việc trách cứ những
học trò vừa tốt nghiệp phổ thông kia. Bộ môn lịch sử không thể chỉ dạy trong
lớp học, mà còn phải dạy ngay trong gia đình, dạy ngay tại đường phố,
dạy trong chuyến tàu đang vượt sóng ra khơi.
Khi truyền thống bất khuất, quật cường của dân tộc được thường xuyên khởi động,
cổ vũ, phát huy thì bộ môn lịch sử sẽ tìm lại được vị trí của nó trong lòng thế
hệ trẻ. Đấy chính là vấn đề của vấn đề học lịch sử và dạy lịch sử.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét