Soi rọi lại "16 chữ vàng" và "4 tốt"
Cuốn sách Sự thật về quan hệ Việt Nam -
Trung Quốc trong 30 năm qua là một văn kiện quan trọng của Bộ ngoại giao nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được công bố ngày 4 tháng 10 năm 1979 nhằm
vạch trần bộ mặt phản động của bọn bành trướng Bắc Kinh đối với nước ta trong
suốt một thời gian dài... (Nhà Xuất bản Sự Thật).
"Chúng
ta phải giành cho được Đông-nam châu Á, bao gồm cả miền Nam Việt
Nam, Thái Lan, Miến Điện, Ma-lai-xi-a, và Xin-ga-po... Một vùng như Đông nam
châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản... xứng đáng với sự tốn kém cần thiết
để chiếm lấy... Sau khi giành được Đông nam châu Á, chúng ta có thể tăng cường
được sức mạnh của chúng ta ở vùng này, lúc đó chúng ta sẽ có sức mạnh đương đầu
với khối Liên Xô - Đông Âu, gió Đông sẽ thổi bạt gió Tây..." - Mao Trạch
Đông.
-----------------------------------
Nhìn lại gần 6 thập niên trước
TRUNG QUỐC VỚI VIỆC KẾT THÚC CUỘC CHẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG NĂM 1954.
I-
SAU ĐIỆN BIÊN PHỦ, NHÂN DÂN VIỆT NAM CÓ KHẢ NĂNG
GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN ĐẤT
NƯỚC.
Năm 1945,
nhân dân Việt Nam với tinh thần quật khởi, tự lực tự cường đã làm cuộc Cách mạng
tháng Tám thành công, thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Mấy tháng sau,
thực dân Pháp đã chiếm lại các tỉnh ở Nam Bộ, và từ tháng 12 năm 1946 nhân dân
Việt Nam đã phải tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài chống đế quốc Pháp xâm lược
trên phạm vi cả nước để bảo vệ độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của
mình.
Cuộc
kháng chiến của nhân dân Việt Nam vô cùng gian khổ và hết sức anh dũng ngày càng
giành được nhiều thắng lợi to lớn. Các chiến thắng của nhân dân Việt Nam cũng
như các chiến thắng của nhân dân Lào (dưới sự lãnh đạo của Chính phủ kháng chiến
Lào) và của nhân dân Cam-pu-chia (dưới sự lãnh đạo của Chính phủ kháng chiến
Cam-pu-chia), đặc biệt là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ của quân và dân Việt
Nam, đã làm thay đổi so sánh lực lượng trên chiến trường rất có lợi cho các lực
lượng kháng chiến Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia, và đặt đế quốc Pháp trước một
tình thế vô cùng khó khăn.
Bộ trưởng
quốc phòng Pháp R. Plê-ven (Pleven) cùng với chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng
tướng P. Ê-li (Ely), tham mưu trưởng lục quân tướng Blăng (Blanc), tham mưu
trưởng không quân tướng Phay (Fay), sau khi đi khảo sát chiến trường Đông Dương
tháng 2 năm 1954 đã đi tới một nhận xét bi quan về tình hình chiến trường như
sau:
“Một sự
tăng cường dù lớn đến đâu cho quân đội viễn chinh cũng không thể làm thay đổi
được tình hình. Vả lại, sự cố gắng về quân sự của chính quốc đã đến giới hạn
cuối cùng. Tất cả những điều mà chúng ta có thể hy vọng là tạo điều kiện quân sự
thuận lợi nhất cho một giải pháp chính trị cho cuộc xung đột” [1].
Ngày 18
tháng 5 năm 1954, lo ngại Quân đội nhân dân Việt Nam có thể tiến công đồng bằng
Bắc Bộ, Thủ tướng Pháp La-ni-en (Laniel) đã cử tướng Ê-li sang Đông Dương để
truyền đạt chỉ thị cho tướng Na-va (Navarre), tổng chỉ huy quân đội viễn chinh
Pháp: lúc này phải lấy mục tiêu chính, trên tất cả các cái khác, là cứu quân đội
viễn chinh.
Đại sứ
Sô-ven (Chauvel), Phó trưởng đoàn đại biểu của Pháp tại Hội nghị Giơ-ne-vơ năm
1954 về Đông Dương, trong một báo cáo gửi Bộ Ngoại giao Pháp đã viết: “Chúng ta
khó giữ được Hà Nội, Bộ chỉ huy cho biết gửi thêm hai sư đoàn nữa cũng không giữ
được thủ phủ Bắc Kỳ…” [2].
Trước đây
Chính phủ La-ni-en muốn thương lượng trên thế mạnh quân sự để giữ nguyên được
Lào, Cam-pu-chia và cố giữ được những quyền lợi gì có thể giữ được ở Việt Nam,
coi đó là giải pháp “danh dự” đối với Pháp. Sau thất bại ở Điện Biên Phủ, chính
phủ đó càng muốn thương lượng, nhằm trước hết cứu vãn đội quân viễn chinh Pháp ở
Đông Dương khỏi nguy cơ bị tiêu diệt.
Phong
trào phản chiến của nhân dân Pháp, mà nòng cốt là Đảng Cộng sản Pháp, chống cuộc
“chiến tranh bẩn thỉu” ở Đông Dương phát triển mạnh. Chính quyền ở Pháp vốn đã
chia rẽ về nhiều vấn đề càng thêm chia rẽ trước những khó khăn nghiêm trọng về
kinh tế, chính trị và xã hội. Thất bại của Pháp ở Đông Dương sẽ dẫn đến sự sụp
đổ toàn bộ hệ thống thuộc địa của đế quốc Pháp, nhất là ở Bắc Phi.
Trong bối
cảnh đó, Pháp bước vào Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông Dương với sự tham gia
của Liên Xô, Trung Quốc, Mỹ, Anh, Pháp và các bên tham chiến ở Đông
Dương.
II-
LẬP TRƯỜNG CỦA TRUNG QUỐC Ở GIƠ-NE-VƠ KHÁC HẲN LẬP TRƯỜNG CỦA VIỆT NAM, NHƯNG
PHÙ HỢP VỚI LẬP TRƯỜNG CỦA PHÁP.
Nước Cộng
hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời năm 1949 trong tình hình thế giới đã hình thành
hai hệ thống đối lập về chính trị, kinh tế và quân sự. Ở châu Âu cuộc chiến
tranh lạnh ngày càng phát triển và ở châu Á có hai cuộc chiến tranh nóng ở Triều
Tiên và Đông Dương. Những người lãnh đạo nước Trung Hoa mới muốn tranh thủ điều
kiện hòa bình để nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế, tăng cường tiềm
lực quân sự, làm cho Trung Quốc sớm trở thành một cường quốc lớn trên thế giới,
thực hiện tham vọng bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn, chủ yếu hướng
về Đông nam châu Á.
Mặc dầu
khoảng một triệu quân Trung Quốc đã bị thương vong trong chiến tranh Triều Tiên,
những người lãnh đạo Trung Quốc, để có một khu đệm phía đông bắc, năm 1953 đã
chịu nhận một cuộc ngừng bắn ở Triều Tiên: duy trì nguyên trạng, chia cắt lâu
dài Triều Tiên.
Việt Nam
và Trung Quốc là hai nước láng giềng trực tiếp, nhân dân Việt Nam và nhân dân
Trung Quốc luôn luôn ủng hộ, cổ vũ, giúp đỡ lẫn nhau, vì nước Việt Nam độc lập
có nghĩa là Trung Quốc không bị sự uy hiếp của chủ nghĩa đế quốc ở phía nam, và
ngược lại Trung Quốc được giải phóng có nghĩa là Việt Nam không bị sự uy hiếp
của chủ nghĩa đế quốc ở phía bắc. Năm 1950, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Trung Quốc là nước viện trợ vũ khí, trang bị quân sự nhiều nhất cho Việt Nam
trong những năm cuối cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt
Nam.
Tại Hội
nghị Giơ-ne-vơ năm 1954, lập trường của Việt Nam là đi tới một giải pháp hoàn
chỉnh: đình chỉ chiến sự trên toàn bán đảo Đông Dương đi đôi với một giải pháp
chính trị cho vấn đề Việt Nam, vấn đề Lào và vấn đề Cam-pu-chia trên cơ sở tôn
trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước ở Đông
Dương.
Đối với
những người lãnh đạo Trung Quốc, Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 về Triều Tiên và
Đông Dương là một cơ hội để họ cùng với các nước lớn bàn bạc và giải quyết các
vấn đề quốc tế lớn, mặc dù Mỹ đang thù địch với Trung Quốc, Pháp chưa có quan hệ
ngoại giao với Trung Quốc và Tưởng Giới Thạch còn giữ vị trí của Trung Quốc là
một trong năm ủy viên thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp
quốc.
Những
người lãnh đạo Trung Quốc muốn chấm dứt cuộc chiến tranh Đông Dương bằng một
giải pháp theo kiểu Triều Tiên, nghĩa là đình chỉ chiến sự mà không có giải pháp
chính trị. Ngày 24 tháng 8 năm 1953, chính Thủ tướng Chu Ân Lai đã tuyên bố:
đình chiến ở Triều Tiên có thể dùng làm mẫu mực cho những cuộc xung đột khác.
Với một giải pháp như thế, những người cầm quyền Trung Quốc hy vọng tạo được một
khu đệm ở Đông nam châu Á, ngăn chặn Mỹ vào thay thế Pháp ở Đông Dương, tránh
được sự đụng đầu trực tiếp với Mỹ, bảo đảm an ninh cho biên giới phía nam của
Trung Quốc, đồng thời hạn chế thắng lợi của Việt Nam, chia rẽ nhân dân ba nước
Đông Dương, hòng làm suy yếu và thôn tính ba nước đó, dùng làm bàn đạp bành
trướng xuống Đông Nam châu Á.
Pháp đến
Hội nghị Giơ-ne-vơ cũng nhằm đạt được một cuộc ngừng bắn theo kiểu Triều Tiên để
cứu đội quân viễn chinh Pháp, chia cắt Việt Nam, duy trì chủ nghĩa thực dân Pháp
ở Đông Dương.
Rõ ràng
lập trường của Trung Quốc khác hẳn lập trường của Việt Nam, nhưng lại rất phù
hợp với lập trường của Pháp.
III- HIỆP ĐỊNH GIƠ-NE-VƠ NĂM 1954 VỀ ĐÔNG
DƯƠNG VÀ SỰ PHẢN BỘI CỦA NHỮNG NGƯỜI LÃNH ĐẠO TRUNG QUỐC.
Tháng 4
năm 1954, trong một cuộc họp giữa các đoàn đại biểu Việt Nam, Liên Xô, Trung
Quốc chuẩn bị cho Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương, đại biểu Trung Quốc đã nói :
“Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa không thể công khai giúp Việt Nam được trong
trường hợp cuộc xung đột ở đây mở rộng”.
Lợi dụng
vị trí là một nước viện trợ quân sự chủ yếu và nắm con đường vận chuyển duy nhất
chi viện cho Việt Nam, đồng thời lợi dụng việc Pháp không muốn nói chuyện trên
thế yếu với Việt Nam, những người lãnh đạo Trung Quốc đã tự cho phép mình đàm
phán trực tiếp với Pháp để thỏa thuận về những điểm cơ bản của một giải pháp về
vấn đề Đông Dương.
Quá trình
đàm phán về thực chất tại Hội nghị Giơ-ne-vơ đã diễn ra qua hai thời
kỳ:
Thời kỳ
thứ nhất từ ngày 8 tháng 5 đến ngày 23 tháng 6 năm 1954, trưởng đoàn đại biểu
Pháp, trong khi tránh tiếp xúc với Việt Nam, đã đàm phán trực tiếp với trưởng
đoàn đại biểu Trung Quốc bốn lần, đi tới thỏa thuận về những nét cơ bản của một
Hiệp định ngừng bắn ở Đông Dương.
Đáng chú
ý là cuộc tiếp xúc lần thứ ba ngày 17 tháng 6 năm 1954, Thủ tướng Chu Ân Lai gặp
trưởng đoàn đại biểu Pháp G. Bi-đô (Bidault), đưa ra những nhân nhượng chính trị
có tính chất cơ bản, có hại cho nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia:
Trung Quốc có thể chấp nhận Việt Nam có hai chính quyền (Chính phủ Việt Nam dân
chủ cộng hòa và Chính phủ bù nhìn Bảo Đại), công nhận Chính phủ Vương quốc Lào
và Chính phủ Vương quốc Cam-pu-chia, từ bỏ yêu cầu có đại biểu của Chính phủ
kháng chiến Lào và Chính phủ kháng chiến Cam-pu-chia tham gia Hội nghị
Giơ-ne-vơ, và đưa ra vấn đề quân đội nước ngoài, kể cả quân tình nguyện Việt
Nam, phải rút khỏi Lào và Cam-pu-chia.
Lần thứ
tư, ngày 23 tháng 6 năm 1954, Thủ tướng Chu Ân Lai gặp Măng-đét Phrăng-xơ,
(Mandès France) Thủ tướng mới của Pháp, đưa ra những nhượng bộ mới: chia cắt
Việt Nam, hai miền Việt Nam cùng tồn tại hòa bình, giải quyết vấn đề quân sự
trước, tách rời việc giải quyết ba vấn đề Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia; Trung Quốc
sẵn sàng nhìn nhận ba nước này trong khối Liên hiệp Pháp, và muốn Lào,
Cam-pu-chia sẽ có bộ mặt mới ở Đông nam châu Á như Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a, ngược
lại chỉ yêu cầu không có căn cứ quân sự của Mỹ ở Đông Dương. Do đó, Trung Quốc
và Pháp đạt được một giải pháp khung cho vấn đề Đông Dương.
Những
điểm mà những người lãnh đạo Trung Quốc đã thỏa thuận với Pháp rất phù hợp với
giải pháp 7 điểm của Anh-Mỹ đưa ra ngày 29 tháng 6 năm 1954, tức là 6 ngày sau
cuộc tiếp xúc giữa Chu Ân Lai và Măng-đét Phran-xơ.
Thời kỳ
thứ hai từ ngày 23 tháng 6 đến ngày 20 tháng 7 năm 1954, Đoàn đại biểu Pháp tiến
hành đàm phán trực tiếp với Đoàn đại biểu Việt Nam để giải quyết các vấn đề cụ
thể. Trung Quốc giữ vai trò thúc đẩy phía Việt Nam nhân nhượng. Đến ngày 10
tháng 7 năm 1954, phía Việt Nam vẫn kiên trì lập trường của mình về vấn đề Việt
Nam, Lào và Cam-pu-chia, vẫn chủ trương đòi có đại biểu của Chính phủ kháng
chiến Lào và Chính phủ kháng chiến Cam-pu-chia tham gia như các bên đàm phán,
định giới tuyến quân sự tạm thời ở Việt Nam là vĩ tuyến 13, tổ chức tổng tuyển
cử tự do trong thời hạn 6 tháng để thống nhất nước nhà. Đối với việc giải quyết
vấn đề Lào và vấn đề Cam-pu-chia, Việt Nam vẫn giữ quan điểm là ở Lào có hai
vùng tập kết của lực lượng kháng chiến: một vùng ở phía bắc giáp Trung Quốc và
Việt Nam và một vùng ở Trung và Hạ Lào; ở Cam-pu-chia có hai vùng tập kết của
lực lượng kháng chiến Cam-pu-chia ở phía đông và đông bắc sông Mê-công (Meskong)
và phía tây nam sông Mê-công; tổ chức tổng tuyển cử tự do trong thời hạn 6 tháng
ở Lào và Cam-pu-chia.
Từ tháng
5 năm 1954, đoàn đại biểu Trung Quốc đưa ra phương án lấy vĩ tuyến 16 làm giới
tuyến giữa hai miền Việt Nam, và còn muốn Việt Nam nhân nhượng nhiều hơn nữa,
thậm chí muốn Việt Nam bỏ cả thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Phòng và đường số 5
(đường nối liền Hà Nội với Hải Phòng):
“Đánh giá
(phương án vĩ tuyến 16) khó có thể thỏa thuận, nếu không được thì sẽ lấy Hải
Phòng làm cửa bể tự do, ở gần đấy cho Pháp đóng một số quân nhất định, nếu không
được nữa thì đem đường số 5 và Hà Nội, Hải Phòng làm khu công quản và phi quân
sự…” [3].
Nhưng về
sau, đặc biệt từ ngày 10 tháng 7 năm 1954, 10 ngày trước khi Hội nghị Giơ-ne-vơ
kết thúc, Trung Quốc ngày càng thúc ép Việt Nam nhân nhượng, “có những điều kiện
công bằng và hợp lý để Chính phủ Pháp có thể nhận được, để đi đến hiệp định
trong vòng 10 ngày, điều kiện đưa ra nên giản đơn, rõ ràng để dễ đi đến hiệp
thương, không nên làm phức tạp lôi thôi để tránh thảo luận mất thì giờ, rườm rà,
kéo dài đàm phán để cho Mỹ phá hoại” [4].
Khi đó
Trung Quốc còn lo sợ Mỹ có thể can thiệp bằng vũ trang vào Đông Dương, uy hiếp
an ninh của Trung Quốc, nhưng cần nói rằng Trung Quốc cũng dùng những lời của Mỹ
đe dọa chiến tranh để ép VN.
Sự thật
là sau cuộc chiến tranh Triều Tiên, Mỹ không có khả năng can thiệp quân sự trực
tiếp vào Đông Dương. Thái độ cứng rắn của Mỹ ở Hội nghị Giơ-ne-vơ chẳng qua là
do Mỹ sợ Pháp vì bị thua ở chiến trường, có nhiều khó khăn về chính trị, kinh
tế, tài chính, có thể chấp nhận một giải pháp không có lợi cho việc Mỹ nhảy vào
Đông Dương sau này. Khi Pháp đã cùng với Trung Quốc thỏa thuận được một giải
pháp khung về Đông Dương và Mỹ đã đưa được tên tay sai Ngô Đình Diệm về làm thủ
tướng chính phủ bù nhìn Sài Gòn (ngày 13 tháng 6 năm 1954), thì Mỹ thấy có thể
chấp nhận một hiệp định theo hướng Trung Quốc và Pháp đã thỏa thuận giải quyết
cả ba vấn đề Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia. Tuy vậy, Mỹ không tham gia vào bản
Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị là vì Mỹ muốn được rảnh tay sau này để vi phạm
Hiệp định Giơ-ne-vơ thông qua chính quyền Ngô Đình Diệm, buộc Pháp phải rút lui
để thay thế Pháp ở Đông Dương.
Sau Điện
Biên Phủ, rõ ràng là với sự giúp đỡ của hệ thống xã hội chủ nghĩa, nhất là của
Trung Quốc, quân và dân Việt Nam có khả năng giải phóng cả nước, nhưng giải pháp
mà Đoàn đại biểu Trung Quốc đã thỏa thuận với Đoàn đại biểu Pháp ở Giơ-ne-vơ
không phản ảnh so sánh lực lượng trên chiến trường, cũng không đáp ứng đầy đủ
những yêu cầu chính trị của giải pháp do Đoàn đại biểu Việt Nam đề
ra.
Xuất phát
từ truyền thống yêu chuộng hòa bình, theo xu thế chung giải quyết các vấn đề
tranh chấp bằng thương lượng và trong tình thế bị Trung Quốc ép buộc, Việt Nam
đã chấp nhận giải pháp: các nước tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân
Việt Nam, nhân dân Lào, nhân dân Cam-pu-chia, ngừng bắn đồng thời ở Việt Nam và
trên toàn chiến trường Đông Dương, Pháp rút quân, vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân
sự tạm thời chia Việt Nam làm hai miền, tiến tới có tổng tuyển cử tự do trong cả
nước sau hai năm để thống nhất nước nhà.
Ở Lào có
một khu tập kết cho các lực lượng kháng chiến lào gồm hai tỉnh Sầm Nưa và
Phong-sa-lỳ. Ở Cam-pu-chia lực lượng kháng chiến không có khu tập kết nào và
phục viên tại chỗ.
Chiến
thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 đánh dấu một bước thắng lợi
của các lực lượng cách mạng ở Đông Dương, đồng thời là một đóng góp quan trọng
mở đầu sự tan rã hoàn toàn của hệ thống thuộc địa của đế quốc Pháp và báo hiệu
quá trình sụp đổ không thể đảo ngược được của chủ nghĩa thực dân cũ, của chủ
nghĩa đế quốc thế giới. Nhưng giải pháp Giơ-ne-vơ đã ngăn cản nhân dân ba nước
Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia đạt được thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến
chống Pháp, một khả năng rõ ràng là hiện thực như so sánh lực lượng trên chiến
trường lúc bấy giờ đã chỉ rõ. Đó là điều mà những người lãnh đạo Trung Quốc hiểu
rõ hơn ai hết.
Đây là sự
phản bội thứ nhất của những người lãnh đạo Trung Quốc đối với cuộc đấu tranh
cách mạng của nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân Lào và nhân dân
Cam-pu-chia. ...
______________________
Chú
thích:
[1] G.
La-cu-tuya (Jean Lacouture) và P. Đơ-vi-le (Philippe Devillers) : Sự kết thúc
của một cuộc chiến tranh, Nhà xuất bản Xơi (Seuil), Pa-ri, 1960, tr.
62-63.
[2] P.
Ru-a-nê (Rouanet): Măng-đét Phrăng-xơ cầm quyền, Nhà xuất bản La-phông
(Laffont), Pa-ri, 1965, tr.146.
[3] Điện
văn của Chu Ân Lai, ngày 30 tháng 5 năm 1954 gửi Ban chấp hành trung ương Đảng
Cộng sản Trung Quốc, sao gửi Ban chấp hành trung ương Đảng Lao động Việt
Nam.
[4] Điện
văn của Chu Ân Lai, ngày 10 tháng 7 năm 1954 gửi Ban chấp hành trung ương Đảng
Lao động Việt Nam.
-------------------------------------.
Trung Quốc với kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam;
... PHẦN THỨ BA
TRUNG QUỐC VỚI CUỘC ĐẤU TRANH CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM ĐỂ GIẢI PHÒNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT NƯỚC NHÀ (1954-1975)
Bất chấp Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Việt Nam, đế quốc Mỹ nhảy vào miền nam Việt Nam, nhằm tiêu diệt phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam, thôn tính miền nam, chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền nam Việt Nam thành thộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, lập phòng tuyến ngăn chặn chủ nghĩa xã hội lan xuống Đông nam châu Á, đồng thời lấy miền nam làm căn cứ để tiến công miền bắc, tiền đồn của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông nam châu Á, đè bẹp và đẩy lùi chủ nghĩa xã hội ở khu vực này, hòng bao vây uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa khác. Thất bại trong việc dùng chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm và tiến hành “chiến tranh đặc biệt” ở miền nam Việt Nam, đế quốc Mỹ đã lao vào cuộc phiêu liêu quân sự chống nhân dân Việt Nam, tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn nhất, dài ngày nhất, ác liệt và dã man nhất từ sau chiến tranh thế giới thứ hai.
Hưởng ứng lời kêu gọi bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” nhân dân Việt Nam đã nhất tề đứng lên chống Mỹ, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế tạo thành một sức mạnh tổng hợp to lớn để đánh thắng bọn xâm lược Mỹ. Trong chiến tranh, nhân dân Việt Nanm luôn luôn thực hành chiến lược tiến công, đẩy mạnh đấu tranh trên cả ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao, đồng thời biết kéo địch xuống thang, giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.
Quá trình hơn 20 năm nhân dân Việt Nam chống chính sách can thiệp và xâm lược của đế quốc Mỹ cũng là quá trình đấu tranh bền bỉ, hết sức phức tạp chống những âm mưu và hành động khi kín đáo, lúc trắng trợn của những người cầm quyền Trung Quốc thoả hiệp và câu kết với đế quốc Mỹ nhằm kiềm chế và làm suy yếu cách mạng Việt Nam, hòng khuất phục Việt Nam, từng bước bành trướng ở Đông Dương và Đông nam Châu Á.
I- THỜI KỲ 1954-1964
NHỮNG NGƯỜI CẦM QUYỀN TRUNG QUỐC NGĂN CẢN NHÂN DÂN VIỆT NAM ĐẤU TRANH ĐỂ THỰC HIỆN THỐNG NHẤT NƯỚC NHÀ.
Sau khi cùng với đế quốc thoả hiệp trong giải pháp Giơnevơ năm 1954, tạo được khu đệm an toàn ở phía nam, những người lãnh đạo Trung Quốc yên tâm thúc đẩy việc hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953-1957), và từ năm 1958 đề ra kế hoạch “đại nhảy vọt” với tham vọng đuổi kịp và vượt một số cường quốc về kinh tế trong một thời gian ngắn và ra sức xây dựng lực lượng hạt nhân.
Về đối ngoại họ đi vào con đường hoà hoãn với đế quốc Mỹ, tiến hành những cuộc nói chuyện với Mỹ ở Giơnevơ từ tháng 8 năm 1955; đồng thời tìm cách mở rộng ảnh hưởng ở châu Á, nhất là ở Đông nam châu Á và Nam Á.
Xuất phát từ đường lối đối nội, đối ngoại đó, những người cầm quyền Bắc Kinh đã hành động ngược lại lợi ích của nhân dân Việt Nam, phù hợp với lợi ích của đế quốc Mỹ ở Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung.
1- Gây sức ép để Việt Nam chấp nhận chủ trương “trường kỳ mai phục”
Đế quốc Mỹ và tay sai trắng trợn phá hoại việc tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất nước Việt Nam trong thời hạn hai năm như Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam đã quy định, đồng thời đàn áp cực kỳ tàn bạo phong trào yêu nước ở miền nam Việt Nam.
Những người cầm quyền Bắc Kinh luôn luôn “thuyết phục” Việt Nam rằng công cuộc thống nhất là “một cuộc đấu tranh trường kỳ” và không thể thực hiện được bằng lực lượng vũ trang.
Tháng 11 năm 1956, chủ tịch Mao Trạch Đông nói với những người lãnh đạo Việt Nam:
“Tình trạng nước Việt Nam bị chia cắt không thể giải quyết được trong một thời gian ngắn mà cần phải trường kỳ… nếu 10 năm chưa được thì phải 100 năm”
Diễn biến thực tế của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đã chứng tỏ cuộc kháng chiến đó có lâu dài, nhưng không phải lâu dài vô hạn độ như chủ tịch Mao Trạch Đông nói.
Tháng 7 năm 1955, Tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình doạ:
“Dùng lực lượng vũ trang để thống nhất nước nhà sẽ có hai khả năng: một là thắng và một khả năng nữa là mất cả miền bắc”.
Tháng 7 năm 1957, chủ tịch Mao Trạch Đông lại nói:
“Vấn đề là phải giữ biên giới hiện có. Phải giữ vĩ tuyến 17…Thời gian có lẽ dài đấy. Tôi mong thời gian dài thì sẽ tốt.”
Đó là một điều trái hẳn với Hiệp nghị Giơnevơ, vì theo Hiệp nghị này, vĩ tuyến 17 không phải là biên giới giữa hai quốc gia mà chỉ là giưói tuyến quân sự tạm thời giữa hai miền Việt Nam. Những người lãnh đạo Bắc Kinh nhiều lần nhấn mạnh rằng ở miền nam Việt nam “chỉ có thể dùng phương châm thích hợp là trường kỳ mai phục, tích trữ lực lượng, liên hệ quần chúng, chờ đợi thời cơ”. Thực chất phương châm đó là gì?
Trong một cuộc trao đổi ý kiến với những người lãnh đạo Việt Nam, uỷ viên trung ương của Đảng cộng sản Trung Quốc, thứ trưởng Bộ ngoại giao Trương Văn Thiên cho rằng ở miền nam Việt Nam có thể tiến hành đánh du kích. Nhưng sau đó, đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội, theo chỉ thị của Bắc Kinh, đã thông báo với phía Việt Nam rằng đó không phải là ý kiến của Trung ương đảng cộng sản Trung Quốc mà chỉ là ý kiến cá nhân.
Như vậy, “trường kỳ mai phục” có nghĩa là nhân dân Việt Nam thủ tiêu đấu tranh cách mạng, để mặc cho Mỹ Diệm thả sức đàn áp nhân dân Việt Nam.
“Giữ vĩ tuyến 17”, “trường kỳ mai phục”, “tích trữ lực lượng”, “chờ đợi thời cơ”… đó chẳng qua là luận điệu quanh co nhằm che dấu ý đồ của Bắc Kinh muốn duy trì nguyên trạng chính trị ở Việt Nam, công nhận Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và nguỵ quyền Sài Gòn song song tồn tại. Ngày 22 tháng 7 năm 1954, khi ăn cơm với Ngô Đình Luyện, em ruột của Ngô Đình Diệm tại Giơnevơ, thủ tướng Chu Ân Lai đã gợi ý đặt một công sứ quán của Sài Gòn tại Bắc Kinh. Dù Ngô Đình Diệm đã bác bỏ gợi ý đó, nhưng đây là một bằng chứng rõ ràng là chỉ 24 giờ sau khi Hiệp đinghj Giơnevơ được ký kết, những người lãnh đạo Bắc Kinh đã lộ rõ ý họ muốn chia cắt lâu dài nước Việt Nam.
Trong thời gian từ năm 1954 đến năm 1959, với chính sách đàn áp phát xít, Mỹ Diệm đã giết hại hàng vạn người Việt Nam yêu nước, lùa hàng vạn nhân dân vào các trại tập trung trá hình, gây cho nhân dân Việt Nam những tổn thất to lớn so với bất kỳ thời gian nào khác trong cuộc chiến tranh cứu nước của mình. Nếu cứ để chúng tiếp tục giết hại những người Việt Nam yêu nước thì làm sao “tích trữ” được lực lượng, còn nhân dân đâu để : ” liên hệ quần chúng” và chờ đợi đến thời cơ nào? Theo cái đà đó thì nước Việt Nam sẽ mất độc lập và vĩnh viễn bị chia cắt.
Vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng miền nam là tiếp tục đấu tranh chính trị hay kết hợp cả đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang?
Nhân dân Việt Nam kiên quyết đi theo đường lối độc lập, tự chủ của mình. Cuối năm 1959 đầu năm 1960, nhân dân trong những vùng rộng lớn thuộc đồng bằng Nam Bộ và miền nam Trung Bộ đã nhất tề “đồng khởi” kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự, làm rung chuyển tận gốc chế độ tay sai Ngô Đình Diệm.
-------------------------------------.
Trung Quốc với kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam;
... PHẦN THỨ BA
TRUNG QUỐC VỚI CUỘC ĐẤU TRANH CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM ĐỂ GIẢI PHÒNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT NƯỚC NHÀ (1954-1975)
Bất chấp Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Việt Nam, đế quốc Mỹ nhảy vào miền nam Việt Nam, nhằm tiêu diệt phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam, thôn tính miền nam, chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền nam Việt Nam thành thộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, lập phòng tuyến ngăn chặn chủ nghĩa xã hội lan xuống Đông nam châu Á, đồng thời lấy miền nam làm căn cứ để tiến công miền bắc, tiền đồn của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông nam châu Á, đè bẹp và đẩy lùi chủ nghĩa xã hội ở khu vực này, hòng bao vây uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa khác. Thất bại trong việc dùng chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm và tiến hành “chiến tranh đặc biệt” ở miền nam Việt Nam, đế quốc Mỹ đã lao vào cuộc phiêu liêu quân sự chống nhân dân Việt Nam, tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn nhất, dài ngày nhất, ác liệt và dã man nhất từ sau chiến tranh thế giới thứ hai.
Hưởng ứng lời kêu gọi bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” nhân dân Việt Nam đã nhất tề đứng lên chống Mỹ, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế tạo thành một sức mạnh tổng hợp to lớn để đánh thắng bọn xâm lược Mỹ. Trong chiến tranh, nhân dân Việt Nanm luôn luôn thực hành chiến lược tiến công, đẩy mạnh đấu tranh trên cả ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao, đồng thời biết kéo địch xuống thang, giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.
Quá trình hơn 20 năm nhân dân Việt Nam chống chính sách can thiệp và xâm lược của đế quốc Mỹ cũng là quá trình đấu tranh bền bỉ, hết sức phức tạp chống những âm mưu và hành động khi kín đáo, lúc trắng trợn của những người cầm quyền Trung Quốc thoả hiệp và câu kết với đế quốc Mỹ nhằm kiềm chế và làm suy yếu cách mạng Việt Nam, hòng khuất phục Việt Nam, từng bước bành trướng ở Đông Dương và Đông nam Châu Á.
I- THỜI KỲ 1954-1964
NHỮNG NGƯỜI CẦM QUYỀN TRUNG QUỐC NGĂN CẢN NHÂN DÂN VIỆT NAM ĐẤU TRANH ĐỂ THỰC HIỆN THỐNG NHẤT NƯỚC NHÀ.
Sau khi cùng với đế quốc thoả hiệp trong giải pháp Giơnevơ năm 1954, tạo được khu đệm an toàn ở phía nam, những người lãnh đạo Trung Quốc yên tâm thúc đẩy việc hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953-1957), và từ năm 1958 đề ra kế hoạch “đại nhảy vọt” với tham vọng đuổi kịp và vượt một số cường quốc về kinh tế trong một thời gian ngắn và ra sức xây dựng lực lượng hạt nhân.
Về đối ngoại họ đi vào con đường hoà hoãn với đế quốc Mỹ, tiến hành những cuộc nói chuyện với Mỹ ở Giơnevơ từ tháng 8 năm 1955; đồng thời tìm cách mở rộng ảnh hưởng ở châu Á, nhất là ở Đông nam châu Á và Nam Á.
Xuất phát từ đường lối đối nội, đối ngoại đó, những người cầm quyền Bắc Kinh đã hành động ngược lại lợi ích của nhân dân Việt Nam, phù hợp với lợi ích của đế quốc Mỹ ở Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung.
1- Gây sức ép để Việt Nam chấp nhận chủ trương “trường kỳ mai phục”
Đế quốc Mỹ và tay sai trắng trợn phá hoại việc tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất nước Việt Nam trong thời hạn hai năm như Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam đã quy định, đồng thời đàn áp cực kỳ tàn bạo phong trào yêu nước ở miền nam Việt Nam.
Những người cầm quyền Bắc Kinh luôn luôn “thuyết phục” Việt Nam rằng công cuộc thống nhất là “một cuộc đấu tranh trường kỳ” và không thể thực hiện được bằng lực lượng vũ trang.
Tháng 11 năm 1956, chủ tịch Mao Trạch Đông nói với những người lãnh đạo Việt Nam:
“Tình trạng nước Việt Nam bị chia cắt không thể giải quyết được trong một thời gian ngắn mà cần phải trường kỳ… nếu 10 năm chưa được thì phải 100 năm”
Diễn biến thực tế của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đã chứng tỏ cuộc kháng chiến đó có lâu dài, nhưng không phải lâu dài vô hạn độ như chủ tịch Mao Trạch Đông nói.
Tháng 7 năm 1955, Tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình doạ:
“Dùng lực lượng vũ trang để thống nhất nước nhà sẽ có hai khả năng: một là thắng và một khả năng nữa là mất cả miền bắc”.
Tháng 7 năm 1957, chủ tịch Mao Trạch Đông lại nói:
“Vấn đề là phải giữ biên giới hiện có. Phải giữ vĩ tuyến 17…Thời gian có lẽ dài đấy. Tôi mong thời gian dài thì sẽ tốt.”
Đó là một điều trái hẳn với Hiệp nghị Giơnevơ, vì theo Hiệp nghị này, vĩ tuyến 17 không phải là biên giới giữa hai quốc gia mà chỉ là giưói tuyến quân sự tạm thời giữa hai miền Việt Nam. Những người lãnh đạo Bắc Kinh nhiều lần nhấn mạnh rằng ở miền nam Việt nam “chỉ có thể dùng phương châm thích hợp là trường kỳ mai phục, tích trữ lực lượng, liên hệ quần chúng, chờ đợi thời cơ”. Thực chất phương châm đó là gì?
Trong một cuộc trao đổi ý kiến với những người lãnh đạo Việt Nam, uỷ viên trung ương của Đảng cộng sản Trung Quốc, thứ trưởng Bộ ngoại giao Trương Văn Thiên cho rằng ở miền nam Việt Nam có thể tiến hành đánh du kích. Nhưng sau đó, đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội, theo chỉ thị của Bắc Kinh, đã thông báo với phía Việt Nam rằng đó không phải là ý kiến của Trung ương đảng cộng sản Trung Quốc mà chỉ là ý kiến cá nhân.
Như vậy, “trường kỳ mai phục” có nghĩa là nhân dân Việt Nam thủ tiêu đấu tranh cách mạng, để mặc cho Mỹ Diệm thả sức đàn áp nhân dân Việt Nam.
“Giữ vĩ tuyến 17”, “trường kỳ mai phục”, “tích trữ lực lượng”, “chờ đợi thời cơ”… đó chẳng qua là luận điệu quanh co nhằm che dấu ý đồ của Bắc Kinh muốn duy trì nguyên trạng chính trị ở Việt Nam, công nhận Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và nguỵ quyền Sài Gòn song song tồn tại. Ngày 22 tháng 7 năm 1954, khi ăn cơm với Ngô Đình Luyện, em ruột của Ngô Đình Diệm tại Giơnevơ, thủ tướng Chu Ân Lai đã gợi ý đặt một công sứ quán của Sài Gòn tại Bắc Kinh. Dù Ngô Đình Diệm đã bác bỏ gợi ý đó, nhưng đây là một bằng chứng rõ ràng là chỉ 24 giờ sau khi Hiệp đinghj Giơnevơ được ký kết, những người lãnh đạo Bắc Kinh đã lộ rõ ý họ muốn chia cắt lâu dài nước Việt Nam.
Trong thời gian từ năm 1954 đến năm 1959, với chính sách đàn áp phát xít, Mỹ Diệm đã giết hại hàng vạn người Việt Nam yêu nước, lùa hàng vạn nhân dân vào các trại tập trung trá hình, gây cho nhân dân Việt Nam những tổn thất to lớn so với bất kỳ thời gian nào khác trong cuộc chiến tranh cứu nước của mình. Nếu cứ để chúng tiếp tục giết hại những người Việt Nam yêu nước thì làm sao “tích trữ” được lực lượng, còn nhân dân đâu để : ” liên hệ quần chúng” và chờ đợi đến thời cơ nào? Theo cái đà đó thì nước Việt Nam sẽ mất độc lập và vĩnh viễn bị chia cắt.
Vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng miền nam là tiếp tục đấu tranh chính trị hay kết hợp cả đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang?
Nhân dân Việt Nam kiên quyết đi theo đường lối độc lập, tự chủ của mình. Cuối năm 1959 đầu năm 1960, nhân dân trong những vùng rộng lớn thuộc đồng bằng Nam Bộ và miền nam Trung Bộ đã nhất tề “đồng khởi” kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự, làm rung chuyển tận gốc chế độ tay sai Ngô Đình Diệm.
---------------------->
Và, đối chứng với bài này trên Tạp chí Cộng sản
mới hơn 2 năm trước, thấy rằng nay ta đang "hướng tới tương lai":
Sáu mươi năm quan hệ ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc: Nhìn lại lịch sử, hướng tới tương lai
Và, đối chứng với bài này trên Tạp chí Cộng sản
mới hơn 2 năm trước, thấy rằng nay ta đang "hướng tới tương lai":
Sáu mươi năm quan hệ ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc: Nhìn lại lịch sử, hướng tới tương lai
16:43' 4/2/2010
TCCS - Quan hệ
Việt Nam - Trung Quốc đang mở ra những triển vọng với nhiều thời cơ
thuận lợi, nhưng cũng đứng trước những khó khăn thử thách. Để thiết thực
kỷ niệm 60 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc, chúng ta có
thể nhìn lại quá khứ, suy ngẫm những bài học lịch sử để hướng tới tương
lai.
Nhìn lại lịch sử
Nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa và nước Cộng hòa Nhân dân (CHND) Trung Hoa chính thức thiết
lập quan hệ ngoại giao ngày 18-1-1950. Nhưng trước đó, "quan hệ hữu
nghị đoàn kết chiến đấu" giữa hai Đảng và nhân dân hai nước đã trải qua
những năm tháng lâu dài, khó khăn gian khổ trong quá trình đấu tranh
cách mạng dân tộc dân chủ của mỗi nước. Trong quá trình đó, sự nghiệp
cách mạng của hai nước, vận mệnh của hai dân tộc, sứ mệnh lịch sử của
hai Đảng đã gắn bó với nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều vị cách mạng
tiền bối của Việt Nam đã nhiều năm hoạt động ở Trung Quốc, tham gia cách
mạng, được sự giúp đỡ chí tình của nhân dân Trung Quốc. Sau Cách mạng
Tháng Tám 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, nhân dân và quân
đội ta cũng đã có những hoạt động chi viện cho cuộc chiến đấu của nhân
dân và quân giải phóng Trung Quốc trên chiến trường Quảng Tây (Biên khu
Điền - Quế, chiến trường Thập - đại - vạn - sơn...). Sự chi viện của
cách mạng Việt Nam cho cách mạng Trung Quốc lúc bấy giờ tuy nhỏ, nhưng
với tình cảm lớn giữa hai dân tộc. Trong buổi gặp mặt các thành viên
Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc trước khi lên đường sang Việt Nam, ngày
30-6-1950 tại Bắc Kinh, Chủ tịch Mao Trạch Đông đã nói: "Hồ Chí Minh và
nhiều bạn Việt Nam đã từng tham gia và viện trợ cuộc đấu tranh cách mạng
của Trung Quốc, có người còn đổ máu và hy sinh. Bây giờ các đồng chí
sang giúp đỡ cuộc đấu tranh chống Pháp của họ là một việc hoàn toàn nên
làm”(1).
Nhớ lại những tình
cảm gắn bó giữa hai Đảng, nhân dân hai nước lúc bấy giờ để chúng ta
hiểu vì sao quan hệ ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc lại được thiết lập
ngay sau khi nước CHND Trung Hoa ra đời (1-10-1949) và mối quan hệ đó đã
có những năm tháng hết sức tốt đẹp, như câu thơ của Chủ tịch Hồ Chí
Minh: "vừa là đồng chí, vừa là anh em". Nhân dân Việt Nam thủy chung son
sắt sẽ không bao giờ quên sự giúp đỡ to lớn, chí tình của Đảng Cộng
sản, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc trong suốt hai cuộc kháng chiến
cứu nước và công cuộc xây dựng đất nước.
Tình hữu nghị đoàn
kết chiến đấu, hợp tác, hữu nghị đó không những đã góp phần quan trọng
vào sự nghiệp cách mạng và xây dựng đất nước của nhân dân hai nước Việt
Nam và Trung Quốc, mà còn góp phần vào sự nghiệp chung của nhân dân các
nước trong khu vực và trên thế giới phấn đấu vì mục tiêu chung: hòa
bình, độc lập và tiến bộ xã hội.
Từ sau ngày được bình thường hóa vào năm 1991, quan hệ hai nước đã được khôi phục và phát triển rất nhanh chóng.
Về chính trị,
quan hệ giữa hai Đảng, hai nhà nước, các đoàn thể, địa phương đã khôi
phục nhanh chóng từ những năm đầu bình thường hóa. Năm 1999 lãnh đạo hai
nước đã xác định phương châm 16 chữ "láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn
diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai". Sau đó lại bổ sung tinh
thần "bốn tốt": "láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt".
Gần đây, năm 2008, lãnh đạo hai nước đã định vị quan hệ Việt Nam -
Trung Quốc là "quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện".
Về kinh tế - thương mại, kim ngạch thương mại Việt Nam - Trung Quốc từ 32 triệu USD năm 1991 đã tăng lên 19,4 tỉ USD năm 2008(2).
Hiện Trung Quốc giữ vị trí thứ nhất trong các quốc gia và vùng lãnh thổ
về xuất khẩu sang Việt Nam (chiếm 18,7% thị phần) và vị trí thứ ba về
nhập khẩu từ Việt Nam (6,9%). Nhiều mặt hàng mậu dịch thương mại giữa
hai nước rất có ý nghĩa bổ sung cho nhau trong phát triển kinh tế và
phục vụ dân sinh. Đầu tư trực tiếp (FDI) của Trung Quốc vào Việt Nam
(qua các hình thức 100% vốn nước ngoài, liên doanh, hợp tác kinh doanh,
công ty cổ phần) tính đến năm 2008 đã có 629 dự án, tổng số vốn theo hợp
đồng 2,172 tỉ USD, vốn đã thực hiện 274,387 triệu USD(3). Trung Quốc đã dành cho Việt Nam nhiều khoản viện trợ tín dụng và viện trợ không hoàn lại.
Hợp tác Việt Nam -
Trung Quốc trong các lĩnh vực văn hóa, du lịch, khoa học - kỹ thuật,
giáo dục, y tế, thể dục thể thao cũng đạt nhiều thành quả đáng ghi nhận.
Tiến triển quan
trọng trong quan hệ giữa hai nước thời gian qua là việc ký kết "Hiệp ước
biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (CHXHCN)
Việt Nam và nước CHND Trung Hoa" năm 1999; "Hiệp định phân định lãnh
hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ giữa nước
CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa"; "Hiệp định hợp tác nghề cá ở
Vịnh Bắc Bộ giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ nước CHND
Trung Hoa" năm 2000. Đến nay, việc phân giới cắm mốc toàn tuyến biên
giới trên bộ và ký kết Nghị định thư phân giới cắm mốc và Hiệp định quy
chế quản lý biên giới mới đã được hoàn tất, tạo điều kiện để xây dựng
đường biên giới hòa bình, ổn định, hợp tác, hữu nghị lâu dài giữa hai
nước.
Mặt khác, quan hệ
Việt Nam - Trung Quốc hiện còn tồn tại những vấn đề trở ngại, chủ yếu là
vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Đông. Đó cũng là vấn đề chủ yếu mà hai
bên phải cùng nỗ lực giải quyết thỏa đáng.
Nhìn lại quan hệ Việt Nam - Trung Quốc 60 năm qua có thể suy ngẫm về những bài học lịch sử:
1 - Quan hệ Việt
Nam - Trung Quốc có một vai trò đặc biệt quan trọng đối với lợi ích của
hai nước, vận mệnh của hai dân tộc. Do bối cảnh lịch sử và địa lý, hai
nước Việt Nam và Trung Quốc, như cách nói của nhiều người, "sơn thủy
tương liên, văn hóa tương thông, lý tưởng tương đồng, vận mệnh tương
quan". Trước đây, đoàn kết chiến đấu trong cách mạng dân tộc dân chủ đã
góp phần quan trọng vào thắng lợi của nhân dân hai nước, thì ngày nay
hợp tác hữu nghị cũng góp phần quan trọng vào sự phát triển của hai quốc
gia. Nhân dân Việt Nam nhận thức rõ tầm quan trọng đó, cảm nhận sâu
tình cảm và sự ủng hộ của nhân dân Trung Quốc, và cũng ý thức sâu sắc
trách nhiệm của mình ủng hộ nhân dân Trung Quốc. Ngay từ thời Trung Quốc
kháng chiến chống phát-xít Nhật, đồng chí Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ
Chí Minh) đã đề cập câu ca dao lưu hành ở Việt Nam lúc bấy giờ: "Cứu
Trung Quốc là tự cứu mình". Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
của nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Mao Trạch Đông cũng đã kêu gọi nhân dân
Trung Quốc ủng hộ Việt Nam. Ngày nay, trong bối cảnh lịch sử mới, "quan
hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện" Việt Nam - Trung Quốc càng có
vai trò quan trọng đối với hòa bình, ổn định và phát triển của mỗi nước,
góp phần quan trọng vào hợp tác Đông Á, và các phong trào quốc tế nhằm
các mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.
2 - Quan hệ hữu
nghị Việt Nam - Trung Quốc có cơ sở vững chắc, phù hợp với lợi ích hai
quốc gia, thể hiện tình cảm của hai dân tộc, nên có khả năng vượt qua
mọi khó khăn, thử thách để tiếp tục phát triển nhanh chóng trên tất cả
các lĩnh vực. Hiện tượng đó có thể ví như cây cổ thụ đã sống ngàn năm
trên biên giới hai nước, vừa qua mùa đông giá lạnh trụi lá khô cành,
nhưng nhựa ấm từ lòng đất vẫn nuôi sự sống, và khi mùa xuân tới lại đâm
chồi nảy lộc, đơm hoa kết trái. Ngày nay, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc
cũng đang đứng trước những thử thách không nhỏ, nhưng cơ hội để vượt qua
cũng rất lớn. Với sự nỗ lực chung, hai bên hoàn toàn có thể vượt qua
thử thách khó khăn, phát huy thời cơ thuận lợi, đưa quan hệ hữu nghị
Việt Nam - Trung Quốc lên những tầm cao mới, tiếp tục phát triển tốt
đẹp.
3 - Để giải quyết
thỏa đáng những vấn đề trở ngại trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, hai
bên cần xuất phát từ tầm cao chiến lược, từ lợi ích căn bản và lâu dài
của nhân dân hai nước. Không để những vấn đề cục bộ, trước mắt, làm hỏng
lợi ích căn bản lâu dài; không để những nhân tố ngoại lai tác động tiêu
cực đến quan hệ song phương; không để những tàn dư của chủ nghĩa dân
tộc cực đoan tác hại đến quan hệ bình đẳng. Đó là những kinh nghiệm lịch
sử có thể rút ra từ thực tiễn quan hệ Việt Nam - Trung Quốc mấy chục
năm qua. Tất nhiên, để thực hiện được như vậy điều quan trọng trước hết
là xuất phát từ thiện chí, quyết tâm, sự kiên nhẫn và lòng tin của mỗi
bên.
Hướng tới tương lai
Tình hình thế giới
và khu vực đang có những biến đổi sâu sắc và nhanh chóng. Quan hệ hữu
nghị Việt Nam - Trung Quốc cũng đang đứng trước những thời cơ và thử
thách mới.
Xu thế hòa bình và
phát triển trên thế giới, toàn cầu hóa và liên kết khu vực đòi hỏi và
tạo cơ hội thuận lợi cho quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước phát
triển ổn định. Về mặt địa lý, và cả về phương diện kinh tế văn hóa, Việt
Nam là cầu nối giữa Trung Quốc với khu vực Đông Nam Á. Về phương diện
chính trị, Việt Nam và Trung Quốc càng có quan hệ gần gũi. Đường lối đối
ngoại của các nước đều xuất phát từ lợi ích quốc gia. Lợi ích quốc gia
có khi không thuận chiều với sự tương đồng về ý thức hệ chính trị. Nhưng
trong trường hợp quan hệ Việt Nam - Trung Quốc hiện nay, sự tương đồng
về ý thức hệ phù hợp với lợi ích quốc gia. Về phương diện kinh tế -
thương mại, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc hiện nay cũng như quan hệ giữa
các nước trên thế giới, vừa có mặt hợp tác, vừa có mặt cạnh tranh,
những vấn đề nảy sinh cần khắc phục, có thể thông qua nỗ lực hợp tác của
hai bên để từng bước giải quyết trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi.
Vấn đề hiện nay là hai bên thực hiện tốt ý tưởng hợp tác "một vành đai,
hai hành lang" giữa hai nước, lồng ghép với hợp tác "một trục hai cánh"
giữa Trung Quốc với các nước ASEAN.
Trở ngại chủ yếu,
cũng là thử thách lớn nhất đối với quan hệ Việt Nam - Trung Quốc hiện
nay và trong tương lai là vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông với
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Giải quyết tốt vấn đề đó sẽ mang lại
triển vọng rất tốt đẹp cho quan hệ Việt Nam - Trung Quốc.
Lãnh đạo hai nước
nhận thức được tầm quan trọng, những khó khăn trong việc giải quyết vấn
đề này, xuất phát từ tầm cao chiến lược, đã có những thỏa thuận được nói
rõ trong "Tuyên bố chung về Hợp tác toàn diện trong thế kỷ mới giữa
nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa" (nhân chuyến thăm Trung
Quốc của Chủ tịch Việt Nam Trần Đức Lương ngày 25-12-2000).
"Hai bên nhất trí
cho rằng, việc hai nước ký kết "Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa
nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa", "Hiệp định phân định lãnh
hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ giữa nước
CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa", "Hiệp định hợp tác nghề cá ở
Vịnh Bắc Bộ giữa chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và chính phủ nước CHND
Trung Hoa" có ý nghĩa lịch sử sâu rộng, sẽ thúc đẩy hơn nữa quan hệ láng
giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện giữa hai nước phát triển mạnh hơn nữa
trong thế kỷ XXI. Hai bên cam kết sẽ nghiêm chỉnh thực hiện các thỏa
thuận liên quan đã ký kết giữa hai nước, tích cực hợp tác, nỗ lực xây
dựng biên giới hai nước thành biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định lâu
dài.
Hai bên khẳng định
tiếp tục duy trì cơ chế đàm phán hiện có về vấn đề trên biển, kiên trì
thông qua đàm phán hòa bình để tìm ra một giải pháp cơ bản, lâu dài mà
hai bên đều có thể chấp nhận được. Trước khi vấn đề được giải quyết, với
tinh thần dễ trước khó sau, hai bên tích cực bàn bạc, tìm kiếm khả năng
và giải pháp triển khai hợp tác trên biển trong các lĩnh vực như: bảo
vệ môi trường biển, khí tượng thủy văn, phòng chống thiên tai. Đồng
thời, hai bên đều không tiến hành các hoạt động làm phức tạp thêm hoặc
mở rộng tranh chấp, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Hai
bên cần bàn bạc kịp thời và giải quyết thỏa đáng những bất đồng nẩy
sinh với thái độ bình tĩnh xây dựng, không để bất đồng ảnh hưởng đến sự
phát triển bình thường của quan hệ hai nước"(4).
Những nguyên tắc
đã thỏa thuận giữa hai bên và tinh thần hữu nghị thể hiện trong Tuyên bố
chung cần được tiếp tục tôn trọng và quán triệt trong việc giải quyết
các vấn đề liên quan đến Biển Đông. "Tuyên bố chung Việt Nam - Trung
Quốc" nhân chuyến thăm Trung Quốc của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng
tháng 10-2008 cũng đã nêu rõ: "Hai bên đã trao đổi ý kiến một cách
thẳng thắn và hữu nghị về việc giữ gìn hòa bình, ổn định ở Biển Đông;
khẳng định tuân thủ nghiêm túc nhận thức chung giữa lãnh đạo cấp cao hai
nước và tinh thần "Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông",
duy trì cơ chế đàm phán vấn đề trên biển, căn cứ nguyên tắc và chế độ
pháp lý được xác định bởi luật pháp quốc tế, bao gồm công ước Luật Biển
của Liên hợp quốc năm 1982 tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai
bên có thể chấp nhận được, tích cực nghiên cứu và bàn bạc về hợp tác
cùng phát triển để tìm ra mô hình và khu vực thích hợp. Trong quá trình
đó, hai bên cùng nỗ lực gìn giữ tình hình ổn định ở Biển Đông, không áp
dụng hành động làm phức tạp hóa hoặc mở rộng thêm tranh chấp..."(5).
Trong thời gian
vừa qua, với sự nỗ lực của hai bên, công tác phân giới trên bộ đã hoàn
thành, Nghị định thư phân giới cắm mốc và Hiệp định quy chế quản lý biên
giới mới đã được ký kết, tạo thuận lợi để xây dựng đường biên giới hòa
bình, ổn định, hợp tác hữu nghị lâu dài giữa hai nước.
Năm 2010 là "Năm
Hữu nghị Việt - Trung". Chúng ta hy vọng cũng là năm có những biến
chuyển thực chất theo hướng tốt đẹp hơn của quan hệ hữu nghị Việt Nam -
Trung Quốc vì lợi ích lâu dài của hai nước, vì tình cảm hữu nghị của hai
dân tộc./.
Nguyễn Huy Quý
---------------------------------
(1)
Sa-lực, Mân-lực: Chín lần xuất quân lớn của Trung Quốc, Nxb Văn nghệ Tứ
Xuyên (Trung Quốc), 1992 Bản dịch tiếng Việt của Cục Nghiên cứu Bộ Quốc
phòng, tr 242
(2) Nguồn: Niên giám Thống kê, Tổng cục Thống kê Việt Nam 2008
(3) Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch - Đầu tư Việt Nam
(4)
"Tuyên bố chung về Hợp tác toàn diện trong thế kỷ mới giữa nước CHXHCN
Việt Nam và nước CHND Trung Hoa", Báo Nhân dân số ra ngày 16-12-2000
(5) "Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc", Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc Số 7-2008
chu-vang-va-4-tot.html






















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét