Xuân Tân Mão

Xuân Tân Mão
Đảng và Chính phủ luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng với tất cả hoạt động, việc làm của người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia (TTg NT Dũng).

12 tháng tám 2012

Soi rọi lại "16 chữ vàng" và "4 tốt"

Soi rọi lại "16 chữ vàng" và "4 tốt"

Cuốn sách Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong 30 năm qua là một văn kiện quan trọng của Bộ ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được công bố ngày 4 tháng 10 năm 1979 nhằm vạch trần bộ mặt phản động của bọn bành trướng Bắc Kinh đối với nước ta trong suốt một thời gian dài... (Nhà Xuất bản Sự Thật).























"Chúng ta phải giành cho được Đông-nam châu Á, bao gồm cả miền Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Ma-lai-xi-a, và Xin-ga-po... Một vùng như Đông nam châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản... xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy... Sau khi giành được Đông nam châu Á, chúng ta có thể tăng cường được sức mạnh của chúng ta ở vùng này, lúc đó chúng ta sẽ có sức mạnh đương đầu với khối Liên Xô - Đông Âu, gió Đông sẽ thổi bạt gió Tây..." - Mao Trạch Đông.









(Theo Mr. Vũ Thế Phan)

 -----------------------------------
Nhìn lại gần 6 thập niên trước

TRUNG QUỐC VỚI VIỆC KẾT THÚC CUỘC CHẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG NĂM 1954.

I- SAU ĐIỆN BIÊN PHỦ, NHÂN DÂN VIỆT NAM CÓ KHẢ NĂNG
GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN ĐẤT NƯỚC.
             Năm 1945, nhân dân Việt Nam với tinh thần quật khởi, tự lực tự cường đã làm cuộc Cách mạng tháng Tám thành công, thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Mấy tháng sau, thực dân Pháp đã chiếm lại các tỉnh ở Nam Bộ, và từ tháng 12 năm 1946 nhân dân Việt Nam đã phải tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài chống đế quốc Pháp xâm lược trên phạm vi cả nước để bảo vệ độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mình.


             Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam vô cùng gian khổ và hết sức anh dũng ngày càng giành được nhiều thắng lợi to lớn. Các chiến thắng của nhân dân Việt Nam cũng như các chiến thắng của nhân dân Lào (dưới sự lãnh đạo của Chính phủ kháng chiến Lào) và của nhân dân Cam-pu-chia (dưới sự lãnh đạo của Chính phủ kháng chiến Cam-pu-chia), đặc biệt là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ của quân và dân Việt Nam, đã làm thay đổi so sánh lực lượng trên chiến trường rất có lợi cho các lực lượng kháng chiến Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia, và đặt đế quốc Pháp trước một tình thế vô cùng khó khăn.


            Bộ trưởng quốc phòng Pháp R. Plê-ven (Pleven) cùng với chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng tướng P. Ê-li (Ely), tham mưu trưởng lục quân tướng Blăng (Blanc), tham mưu trưởng không quân tướng Phay (Fay), sau khi đi khảo sát chiến trường Đông Dương tháng 2 năm 1954 đã đi tới một nhận xét bi quan về tình hình chiến trường như sau:
           “Một sự tăng cường dù lớn đến đâu cho quân đội viễn chinh cũng không thể làm thay đổi được tình hình. Vả lại, sự cố gắng về quân sự của chính quốc đã đến giới hạn cuối cùng. Tất cả những điều mà chúng ta có thể hy vọng là tạo điều kiện quân sự thuận lợi nhất cho một giải pháp chính trị cho cuộc xung đột” [1].
            Ngày 18 tháng 5 năm 1954, lo ngại Quân đội nhân dân Việt Nam có thể tiến công đồng bằng Bắc Bộ, Thủ tướng Pháp La-ni-en (Laniel) đã cử tướng Ê-li sang Đông Dương để truyền đạt chỉ thị cho tướng Na-va (Navarre), tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp: lúc này phải lấy mục tiêu chính, trên tất cả các cái khác, là cứu quân đội viễn chinh.


            Đại sứ Sô-ven (Chauvel), Phó trưởng đoàn đại biểu của Pháp tại Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông Dương, trong một báo cáo gửi Bộ Ngoại giao Pháp đã viết: “Chúng ta khó giữ được Hà Nội, Bộ chỉ huy cho biết gửi thêm hai sư đoàn nữa cũng không giữ được thủ phủ Bắc Kỳ…” [2].
             Trước đây Chính phủ La-ni-en muốn thương lượng trên thế mạnh quân sự để giữ nguyên được Lào, Cam-pu-chia và cố giữ được những quyền lợi gì có thể giữ được ở Việt Nam, coi đó là giải pháp “danh dự” đối với Pháp. Sau thất bại ở Điện Biên Phủ, chính phủ đó càng muốn thương lượng, nhằm trước hết cứu vãn đội quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương khỏi nguy cơ bị tiêu diệt.
            Phong trào phản chiến của nhân dân Pháp, mà nòng cốt là Đảng Cộng sản Pháp, chống cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” ở Đông Dương phát triển mạnh. Chính quyền ở Pháp vốn đã chia rẽ về nhiều vấn đề càng thêm chia rẽ trước những khó khăn nghiêm trọng về kinh tế, chính trị và xã hội. Thất bại của Pháp ở Đông Dương sẽ dẫn đến sự sụp đổ toàn bộ hệ thống thuộc địa của đế quốc Pháp, nhất là ở Bắc Phi.
          Trong bối cảnh đó, Pháp bước vào Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông Dương với sự tham gia của Liên Xô, Trung Quốc, Mỹ, Anh, Pháp và các bên tham chiến ở Đông Dương.
II- LẬP TRƯỜNG CỦA TRUNG QUỐC Ở GIƠ-NE-VƠ KHÁC HẲN LẬP TRƯỜNG CỦA VIỆT NAM, NHƯNG PHÙ HỢP VỚI LẬP TRƯỜNG CỦA PHÁP.
              Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời năm 1949 trong tình hình thế giới đã hình thành hai hệ thống đối lập về chính trị, kinh tế và quân sự. Ở châu Âu cuộc chiến tranh lạnh ngày càng phát triển và ở châu Á có hai cuộc chiến tranh nóng ở Triều Tiên và Đông Dương. Những người lãnh đạo nước Trung Hoa mới muốn tranh thủ điều kiện hòa bình để nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế, tăng cường tiềm lực quân sự, làm cho Trung Quốc sớm trở thành một cường quốc lớn trên thế giới, thực hiện tham vọng bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn, chủ yếu hướng về Đông nam châu Á.


           Mặc dầu khoảng một triệu quân Trung Quốc đã bị thương vong trong chiến tranh Triều Tiên, những người lãnh đạo Trung Quốc, để có một khu đệm phía đông bắc, năm 1953 đã chịu nhận một cuộc ngừng bắn ở Triều Tiên: duy trì nguyên trạng, chia cắt lâu dài Triều Tiên.


          Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng trực tiếp, nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc luôn luôn ủng hộ, cổ vũ, giúp đỡ lẫn nhau, vì nước Việt Nam độc lập có nghĩa là Trung Quốc không bị sự uy hiếp của chủ nghĩa đế quốc ở phía nam, và ngược lại Trung Quốc được giải phóng có nghĩa là Việt Nam không bị sự uy hiếp của chủ nghĩa đế quốc ở phía bắc. Năm 1950, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trung Quốc là nước viện trợ vũ khí, trang bị quân sự nhiều nhất cho Việt Nam trong những năm cuối cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam.
             Tại Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954, lập trường của Việt Nam là đi tới một giải pháp hoàn chỉnh: đình chỉ chiến sự trên toàn bán đảo Đông Dương đi đôi với một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam, vấn đề Lào và vấn đề Cam-pu-chia trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước ở Đông Dương.
               Đối với những người lãnh đạo Trung Quốc, Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 về Triều Tiên và Đông Dương là một cơ hội để họ cùng với các nước lớn bàn bạc và giải quyết các vấn đề quốc tế lớn, mặc dù Mỹ đang thù địch với Trung Quốc, Pháp chưa có quan hệ ngoại giao với Trung Quốc và Tưởng Giới Thạch còn giữ vị trí của Trung Quốc là một trong năm ủy viên thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc.


             Những người lãnh đạo Trung Quốc muốn chấm dứt cuộc chiến tranh Đông Dương bằng một giải pháp theo kiểu Triều Tiên, nghĩa là đình chỉ chiến sự mà không có giải pháp chính trị. Ngày 24 tháng 8 năm 1953, chính Thủ tướng Chu Ân Lai đã tuyên bố: đình chiến ở Triều Tiên có thể dùng làm mẫu mực cho những cuộc xung đột khác. Với một giải pháp như thế, những người cầm quyền Trung Quốc hy vọng tạo được một khu đệm ở Đông nam châu Á, ngăn chặn Mỹ vào thay thế Pháp ở Đông Dương, tránh được sự đụng đầu trực tiếp với Mỹ, bảo đảm an ninh cho biên giới phía nam của Trung Quốc, đồng thời hạn chế thắng lợi của Việt Nam, chia rẽ nhân dân ba nước Đông Dương, hòng làm suy yếu và thôn tính ba nước đó, dùng làm bàn đạp bành trướng xuống Đông Nam châu Á.
            Pháp đến Hội nghị Giơ-ne-vơ cũng nhằm đạt được một cuộc ngừng bắn theo kiểu Triều Tiên để cứu đội quân viễn chinh Pháp, chia cắt Việt Nam, duy trì chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương.
            Rõ ràng lập trường của Trung Quốc khác hẳn lập trường của Việt Nam, nhưng lại rất phù hợp với lập trường của Pháp.
III- HIỆP ĐỊNH GIƠ-NE-VƠ NĂM 1954 VỀ ĐÔNG DƯƠNG VÀ SỰ PHẢN BỘI CỦA NHỮNG NGƯỜI LÃNH ĐẠO TRUNG QUỐC.


           Tháng 4 năm 1954, trong một cuộc họp giữa các đoàn đại biểu Việt Nam, Liên Xô, Trung Quốc chuẩn bị cho Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương, đại biểu Trung Quốc đã nói : “Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa không thể công khai giúp Việt Nam được trong trường hợp cuộc xung đột ở đây mở rộng”.
            Lợi dụng vị trí là một nước viện trợ quân sự chủ yếu và nắm con đường vận chuyển duy nhất chi viện cho Việt Nam, đồng thời lợi dụng việc Pháp không muốn nói chuyện trên thế yếu với Việt Nam, những người lãnh đạo Trung Quốc đã tự cho phép mình đàm phán trực tiếp với Pháp để thỏa thuận về những điểm cơ bản của một giải pháp về vấn đề Đông Dương.
              Quá trình đàm phán về thực chất tại Hội nghị Giơ-ne-vơ đã diễn ra qua hai thời kỳ:
             Thời kỳ thứ nhất từ ngày 8 tháng 5 đến ngày 23 tháng 6 năm 1954, trưởng đoàn đại biểu Pháp, trong khi tránh tiếp xúc với Việt Nam, đã đàm phán trực tiếp với trưởng đoàn đại biểu Trung Quốc bốn lần, đi tới thỏa thuận về những nét cơ bản của một Hiệp định ngừng bắn ở Đông Dương.
            Đáng chú ý là cuộc tiếp xúc lần thứ ba ngày 17 tháng 6 năm 1954, Thủ tướng Chu Ân Lai gặp trưởng đoàn đại biểu Pháp G. Bi-đô (Bidault), đưa ra những nhân nhượng chính trị có tính chất cơ bản, có hại cho nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia: Trung Quốc có thể chấp nhận Việt Nam có hai chính quyền (Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ bù nhìn Bảo Đại), công nhận Chính phủ Vương quốc Lào và Chính phủ Vương quốc Cam-pu-chia, từ bỏ yêu cầu có đại biểu của Chính phủ kháng chiến Lào và Chính phủ kháng chiến Cam-pu-chia tham gia Hội nghị Giơ-ne-vơ, và đưa ra vấn đề quân đội nước ngoài, kể cả quân tình nguyện Việt Nam, phải rút khỏi Lào và Cam-pu-chia.
             Lần thứ tư, ngày 23 tháng 6 năm 1954, Thủ tướng Chu Ân Lai gặp Măng-đét Phrăng-xơ, (Mandès France) Thủ tướng mới của Pháp, đưa ra những nhượng bộ mới: chia cắt Việt Nam, hai miền Việt Nam cùng tồn tại hòa bình, giải quyết vấn đề quân sự trước, tách rời việc giải quyết ba vấn đề Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia; Trung Quốc sẵn sàng nhìn nhận ba nước này trong khối Liên hiệp Pháp, và muốn Lào, Cam-pu-chia sẽ có bộ mặt mới ở Đông nam châu Á như Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a, ngược lại chỉ yêu cầu không có căn cứ quân sự của Mỹ ở Đông Dương. Do đó, Trung Quốc và Pháp đạt được một giải pháp khung cho vấn đề Đông Dương.
             Những điểm mà những người lãnh đạo Trung Quốc đã thỏa thuận với Pháp rất phù hợp với giải pháp 7 điểm của Anh-Mỹ đưa ra ngày 29 tháng 6 năm 1954, tức là 6 ngày sau cuộc tiếp xúc giữa Chu Ân Lai và Măng-đét Phran-xơ.
             Thời kỳ thứ hai từ ngày 23 tháng 6 đến ngày 20 tháng 7 năm 1954, Đoàn đại biểu Pháp tiến hành đàm phán trực tiếp với Đoàn đại biểu Việt Nam để giải quyết các vấn đề cụ thể. Trung Quốc giữ vai trò thúc đẩy phía Việt Nam nhân nhượng. Đến ngày 10 tháng 7 năm 1954, phía Việt Nam vẫn kiên trì lập trường của mình về vấn đề Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia, vẫn chủ trương đòi có đại biểu của Chính phủ kháng chiến Lào và Chính phủ kháng chiến Cam-pu-chia tham gia như các bên đàm phán, định giới tuyến quân sự tạm thời ở Việt Nam là vĩ tuyến 13, tổ chức tổng tuyển cử tự do trong thời hạn 6 tháng để thống nhất nước nhà. Đối với việc giải quyết vấn đề Lào và vấn đề Cam-pu-chia, Việt Nam vẫn giữ quan điểm là ở Lào có hai vùng tập kết của lực lượng kháng chiến: một vùng ở phía bắc giáp Trung Quốc và Việt Nam và một vùng ở Trung và Hạ Lào; ở Cam-pu-chia có hai vùng tập kết của lực lượng kháng chiến Cam-pu-chia ở phía đông và đông bắc sông Mê-công (Meskong) và phía tây nam sông Mê-công; tổ chức tổng tuyển cử tự do trong thời hạn 6 tháng ở Lào và Cam-pu-chia.
              Từ tháng 5 năm 1954, đoàn đại biểu Trung Quốc đưa ra phương án lấy vĩ tuyến 16 làm giới tuyến giữa hai miền Việt Nam, và còn muốn Việt Nam nhân nhượng nhiều hơn nữa, thậm chí muốn Việt Nam bỏ cả thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Phòng và đường số 5 (đường nối liền Hà Nội với Hải Phòng):
           “Đánh giá (phương án vĩ tuyến 16) khó có thể thỏa thuận, nếu không được thì sẽ lấy Hải Phòng làm cửa bể tự do, ở gần đấy cho Pháp đóng một số quân nhất định, nếu không được nữa thì đem đường số 5 và Hà Nội, Hải Phòng làm khu công quản và phi quân sự…” [3].
             Nhưng về sau, đặc biệt từ ngày 10 tháng 7 năm 1954, 10 ngày trước khi Hội nghị Giơ-ne-vơ kết thúc, Trung Quốc ngày càng thúc ép Việt Nam nhân nhượng, “có những điều kiện công bằng và hợp lý để Chính phủ Pháp có thể nhận được, để đi đến hiệp định trong vòng 10 ngày, điều kiện đưa ra nên giản đơn, rõ ràng để dễ đi đến hiệp thương, không nên làm phức tạp lôi thôi để tránh thảo luận mất thì giờ, rườm rà, kéo dài đàm phán để cho Mỹ phá hoại” [4].


              Khi đó Trung Quốc còn lo sợ Mỹ có thể can thiệp bằng vũ trang vào Đông Dương, uy hiếp an ninh của Trung Quốc, nhưng cần nói rằng Trung Quốc cũng dùng những lời của Mỹ đe dọa chiến tranh để ép VN.


                 Sự thật là sau cuộc chiến tranh Triều Tiên, Mỹ không có khả năng can thiệp quân sự trực tiếp vào Đông Dương. Thái độ cứng rắn của Mỹ ở Hội nghị Giơ-ne-vơ chẳng qua là do Mỹ sợ Pháp vì bị thua ở chiến trường, có nhiều khó khăn về chính trị, kinh tế, tài chính, có thể chấp nhận một giải pháp không có lợi cho việc Mỹ nhảy vào Đông Dương sau này. Khi Pháp đã cùng với Trung Quốc thỏa thuận được một giải pháp khung về Đông Dương và Mỹ đã đưa được tên tay sai Ngô Đình Diệm về làm thủ tướng chính phủ bù nhìn Sài Gòn (ngày 13 tháng 6 năm 1954), thì Mỹ thấy có thể chấp nhận một hiệp định theo hướng Trung Quốc và Pháp đã thỏa thuận giải quyết cả ba vấn đề Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia. Tuy vậy, Mỹ không tham gia vào bản Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị là vì Mỹ muốn được rảnh tay sau này để vi phạm Hiệp định Giơ-ne-vơ thông qua chính quyền Ngô Đình Diệm, buộc Pháp phải rút lui để thay thế Pháp ở Đông Dương.
             Sau Điện Biên Phủ, rõ ràng là với sự giúp đỡ của hệ thống xã hội chủ nghĩa, nhất là của Trung Quốc, quân và dân Việt Nam có khả năng giải phóng cả nước, nhưng giải pháp mà Đoàn đại biểu Trung Quốc đã thỏa thuận với Đoàn đại biểu Pháp ở Giơ-ne-vơ không phản ảnh so sánh lực lượng trên chiến trường, cũng không đáp ứng đầy đủ những yêu cầu chính trị của giải pháp do Đoàn đại biểu Việt Nam đề ra.


             Xuất phát từ truyền thống yêu chuộng hòa bình, theo xu thế chung giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng thương lượng và trong tình thế bị Trung Quốc ép buộc, Việt Nam đã chấp nhận giải pháp: các nước tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào, nhân dân Cam-pu-chia, ngừng bắn đồng thời ở Việt Nam và trên toàn chiến trường Đông Dương, Pháp rút quân, vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời chia Việt Nam làm hai miền, tiến tới có tổng tuyển cử tự do trong cả nước sau hai năm để thống nhất nước nhà.
           Ở Lào có một khu tập kết cho các lực lượng kháng chiến lào gồm hai tỉnh Sầm Nưa và Phong-sa-lỳ. Ở Cam-pu-chia lực lượng kháng chiến không có khu tập kết nào và phục viên tại chỗ.
           Chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 đánh dấu một bước thắng lợi của các lực lượng cách mạng ở Đông Dương, đồng thời là một đóng góp quan trọng mở đầu sự tan rã hoàn toàn của hệ thống thuộc địa của đế quốc Pháp và báo hiệu quá trình sụp đổ không thể đảo ngược được của chủ nghĩa thực dân cũ, của chủ nghĩa đế quốc thế giới. Nhưng giải pháp Giơ-ne-vơ đã ngăn cản nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia đạt được thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Pháp, một khả năng rõ ràng là hiện thực như so sánh lực lượng trên chiến trường lúc bấy giờ đã chỉ rõ. Đó là điều mà những người lãnh đạo Trung Quốc hiểu rõ hơn ai hết.
            Đây là sự phản bội thứ nhất của những người lãnh đạo Trung Quốc đối với cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân Lào và nhân dân Cam-pu-chia. ...
______________________


Chú thích:
[1] G. La-cu-tuya (Jean Lacouture) và P. Đơ-vi-le (Philippe Devillers) : Sự kết thúc của một cuộc chiến tranh, Nhà xuất bản Xơi (Seuil), Pa-ri, 1960, tr. 62-63.
[2] P. Ru-a-nê (Rouanet): Măng-đét Phrăng-xơ cầm quyền, Nhà xuất bản La-phông (Laffont), Pa-ri, 1965, tr.146.
[3] Điện văn của Chu Ân Lai, ngày 30 tháng 5 năm 1954 gửi Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, sao gửi Ban chấp hành trung ương Đảng Lao động Việt Nam.
[4] Điện văn của Chu Ân Lai, ngày 10 tháng 7 năm 1954 gửi Ban chấp hành trung ương Đảng Lao động Việt Nam.

-------------------------------------.

Trung Quốc với kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam;

... PHẦN THỨ BA

TRUNG QUỐC VỚI CUỘC ĐẤU TRANH CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM ĐỂ GIẢI PHÒNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT NƯỚC NHÀ (1954-1975)

            Bất chấp Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Việt Nam, đế quốc Mỹ nhảy vào miền nam Việt Nam, nhằm tiêu diệt phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam, thôn tính miền nam, chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền nam Việt Nam thành thộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, lập phòng tuyến ngăn chặn chủ nghĩa xã hội lan xuống Đông nam châu Á, đồng thời lấy miền nam làm căn cứ để tiến công miền bắc, tiền đồn của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông nam châu Á, đè bẹp và đẩy lùi chủ nghĩa xã hội ở khu vực này, hòng bao vây uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa khác. Thất bại trong việc dùng chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm và tiến hành “chiến tranh đặc biệt” ở miền nam Việt Nam, đế quốc Mỹ đã lao vào cuộc phiêu liêu quân sự chống nhân dân Việt Nam, tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn nhất, dài ngày nhất, ác liệt và dã man nhất từ sau chiến tranh thế giới thứ hai.
             Hưởng ứng lời kêu gọi bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” nhân dân Việt Nam đã nhất tề đứng lên chống Mỹ, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế tạo thành một sức mạnh tổng hợp to lớn để đánh thắng bọn xâm lược Mỹ. Trong chiến tranh, nhân dân Việt Nanm luôn luôn thực hành chiến lược tiến công, đẩy mạnh đấu tranh trên cả ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao, đồng thời biết kéo địch xuống thang, giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.
             Quá trình hơn 20 năm nhân dân Việt Nam chống chính sách can thiệp và xâm lược của đế quốc Mỹ cũng là quá trình đấu tranh bền bỉ, hết sức phức tạp chống những âm mưu và hành động khi kín đáo, lúc trắng trợn của những người cầm quyền Trung Quốc thoả hiệp và câu kết với đế quốc Mỹ nhằm kiềm chế và làm suy yếu cách mạng Việt Nam, hòng khuất phục Việt Nam, từng bước bành trướng ở Đông Dương và Đông nam Châu Á.

I- THỜI KỲ 1954-1964

NHỮNG NGƯỜI CẦM QUYỀN TRUNG QUỐC NGĂN CẢN NHÂN DÂN VIỆT NAM ĐẤU TRANH ĐỂ THỰC HIỆN THỐNG NHẤT NƯỚC NHÀ.
             Sau khi cùng với đế quốc thoả hiệp trong giải pháp Giơnevơ năm 1954, tạo được khu đệm an toàn ở phía nam, những người lãnh đạo Trung Quốc yên tâm thúc đẩy việc hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953-1957), và từ năm 1958 đề ra kế hoạch “đại nhảy vọt” với tham vọng đuổi kịp và vượt một số cường quốc về kinh tế trong một thời gian ngắn và ra sức xây dựng lực lượng hạt nhân.
          Về đối ngoại họ đi vào con đường hoà hoãn với đế quốc Mỹ, tiến hành những cuộc nói chuyện với Mỹ ở Giơnevơ từ tháng 8 năm 1955; đồng thời tìm cách mở rộng ảnh hưởng ở châu Á, nhất là ở Đông nam châu Á và Nam Á.
             Xuất phát từ đường lối đối nội, đối ngoại đó, những người cầm quyền Bắc Kinh đã hành động ngược lại lợi ích của nhân dân Việt Nam, phù hợp với lợi ích của đế quốc Mỹ ở Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung.
1- Gây sức ép để Việt Nam chấp nhận chủ trương “trường kỳ mai phục”
          Đế quốc Mỹ và tay sai trắng trợn phá hoại việc tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất nước Việt Nam trong thời hạn hai năm như Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam đã quy định, đồng thời đàn áp cực kỳ tàn bạo phong trào yêu nước ở miền nam Việt Nam.
            Những người cầm quyền Bắc Kinh luôn luôn “thuyết phục” Việt Nam rằng công cuộc thống nhất là “một cuộc đấu tranh trường kỳ” và không thể thực hiện được bằng lực lượng vũ trang.
            Tháng 11 năm 1956, chủ tịch Mao Trạch Đông nói với những người lãnh đạo Việt Nam:
“Tình trạng nước Việt Nam bị chia cắt không thể giải quyết được trong một thời gian ngắn mà cần phải trường kỳ… nếu 10 năm chưa được thì phải 100 năm”
Diễn biến thực tế của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đã chứng tỏ cuộc kháng chiến đó có lâu dài, nhưng không phải lâu dài vô hạn độ như chủ tịch Mao Trạch Đông nói.
Tháng 7 năm 1955, Tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình doạ:
“Dùng lực lượng vũ trang để thống nhất nước nhà sẽ có hai khả năng: một là thắng và một khả năng nữa là mất cả miền bắc”.
Tháng 7 năm 1957, chủ tịch Mao Trạch Đông lại nói:
“Vấn đề là phải giữ biên giới hiện có. Phải giữ vĩ tuyến 17…Thời gian có lẽ dài đấy. Tôi mong thời gian dài thì sẽ tốt.”
              Đó là một điều trái hẳn với Hiệp nghị Giơnevơ, vì theo Hiệp nghị này, vĩ tuyến 17 không phải là biên giới giữa hai quốc gia mà chỉ là giưói tuyến quân sự tạm thời giữa hai miền Việt Nam. Những người lãnh đạo Bắc Kinh nhiều lần nhấn mạnh rằng ở miền nam Việt nam “chỉ có thể dùng phương châm thích hợp là trường kỳ mai phục, tích trữ lực lượng, liên hệ quần chúng, chờ đợi thời cơ”. Thực chất phương châm đó là gì?
             Trong một cuộc trao đổi ý kiến với những người lãnh đạo Việt Nam, uỷ viên trung ương của Đảng cộng sản Trung Quốc, thứ trưởng Bộ ngoại giao Trương Văn Thiên cho rằng ở miền nam Việt Nam có thể tiến hành đánh du kích. Nhưng sau đó, đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội, theo chỉ thị của Bắc Kinh, đã thông báo với phía Việt Nam rằng đó không phải là ý kiến của Trung ương đảng cộng sản Trung Quốc mà chỉ là ý kiến cá nhân.
             Như vậy, “trường kỳ mai phục” có nghĩa là nhân dân Việt Nam thủ tiêu đấu tranh cách mạng, để mặc cho Mỹ Diệm thả sức đàn áp nhân dân Việt Nam.
           “Giữ vĩ tuyến 17”, “trường kỳ mai phục”, “tích trữ lực lượng”, “chờ đợi thời cơ”… đó chẳng qua là luận điệu quanh co nhằm che dấu ý đồ của Bắc Kinh muốn duy trì nguyên trạng chính trị ở Việt Nam, công nhận Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và nguỵ quyền Sài Gòn song song tồn tại. Ngày 22 tháng 7 năm 1954, khi ăn cơm với Ngô Đình Luyện, em ruột của Ngô Đình Diệm tại Giơnevơ, thủ tướng Chu Ân Lai đã gợi ý đặt một công sứ quán của Sài Gòn tại Bắc Kinh. Dù Ngô Đình Diệm đã bác bỏ gợi ý đó, nhưng đây là một bằng chứng rõ ràng là chỉ 24 giờ sau khi Hiệp đinghj Giơnevơ được ký kết, những người lãnh đạo Bắc Kinh đã lộ rõ ý họ muốn chia cắt lâu dài nước Việt Nam.
             Trong thời gian từ năm 1954 đến năm 1959, với chính sách đàn áp phát xít, Mỹ Diệm đã giết hại hàng vạn người Việt Nam yêu nước, lùa hàng vạn nhân dân vào các trại tập trung trá hình, gây cho nhân dân Việt Nam những tổn thất to lớn so với bất kỳ thời gian nào khác trong cuộc chiến tranh cứu nước của mình. Nếu cứ để chúng tiếp tục giết hại những người Việt Nam yêu nước thì làm sao “tích trữ” được lực lượng, còn nhân dân đâu để : ” liên hệ quần chúng” và chờ đợi đến thời cơ nào? Theo cái đà đó thì nước Việt Nam sẽ mất độc lập và vĩnh viễn bị chia cắt.
             Vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng miền nam là tiếp tục đấu tranh chính trị hay kết hợp cả đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang?
            Nhân dân Việt Nam kiên quyết đi theo đường lối độc lập, tự chủ của mình. Cuối năm 1959 đầu năm 1960, nhân dân trong những vùng rộng lớn thuộc đồng bằng Nam Bộ và miền nam Trung Bộ đã nhất tề “đồng khởi” kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự, làm rung chuyển tận gốc chế độ tay sai Ngô Đình Diệm.
---------------------->
Và, đối chứng với bài này trên Tạp chí Cộng sản

mới hơn 2 năm trước, thấy rằng nay ta đang "hướng tới tương lai":


Sáu mươi năm quan hệ ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc: Nhìn lại lịch sử, hướng tới tương lai


16:43' 4/2/2010


TCCS - Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc đang mở ra những triển vọng với nhiều thời cơ thuận lợi, nhưng cũng đứng trước những khó khăn thử thách. Để thiết thực kỷ niệm 60 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc, chúng ta có thể nhìn lại quá khứ, suy ngẫm những bài học lịch sử để hướng tới tương lai.
Nhìn lại lịch sử
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nước Cộng hòa Nhân dân (CHND) Trung Hoa chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 18-1-1950. Nhưng trước đó, "quan hệ hữu nghị đoàn kết chiến đấu" giữa hai Đảng và nhân dân hai nước đã trải qua những năm tháng lâu dài, khó khăn gian khổ trong quá trình đấu tranh cách mạng dân tộc dân chủ của mỗi nước. Trong quá trình đó, sự nghiệp cách mạng của hai nước, vận mệnh của hai dân tộc, sứ mệnh lịch sử của hai Đảng đã gắn bó với nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều vị cách mạng tiền bối của Việt Nam đã nhiều năm hoạt động ở Trung Quốc, tham gia cách mạng, được sự giúp đỡ chí tình của nhân dân Trung Quốc. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, nhân dân và quân đội ta cũng đã có những hoạt động chi viện cho cuộc chiến đấu của nhân dân và quân giải phóng Trung Quốc trên chiến trường Quảng Tây (Biên khu Điền - Quế, chiến trường Thập - đại - vạn - sơn...). Sự chi viện của cách mạng Việt Nam cho cách mạng Trung Quốc lúc bấy giờ tuy nhỏ, nhưng với tình cảm lớn giữa hai dân tộc. Trong buổi gặp mặt các thành viên Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc trước khi lên đường sang Việt Nam, ngày 30-6-1950 tại Bắc Kinh, Chủ tịch Mao Trạch Đông đã nói: "Hồ Chí Minh và nhiều bạn Việt Nam đã từng tham gia và viện trợ cuộc đấu tranh cách mạng của Trung Quốc, có người còn đổ máu và hy sinh. Bây giờ các đồng chí sang giúp đỡ cuộc đấu tranh chống Pháp của họ là một việc hoàn toàn nên làm”(1).
Nhớ lại những tình cảm gắn bó giữa hai Đảng, nhân dân hai nước lúc bấy giờ để chúng ta hiểu vì sao quan hệ ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc lại được thiết lập ngay sau khi nước CHND Trung Hoa ra đời (1-10-1949) và mối quan hệ đó đã có những năm tháng hết sức tốt đẹp, như câu thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "vừa là đồng chí, vừa là anh em". Nhân dân Việt Nam thủy chung son sắt sẽ không bao giờ quên sự giúp đỡ to lớn, chí tình của Đảng Cộng sản, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc trong suốt hai cuộc kháng chiến cứu nước và công cuộc xây dựng đất nước.
Tình hữu nghị đoàn kết chiến đấu, hợp tác, hữu nghị đó không những đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng và xây dựng đất nước của nhân dân hai nước Việt Nam và Trung Quốc, mà còn góp phần vào sự nghiệp chung của nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới phấn đấu vì mục tiêu chung: hòa bình, độc lập và tiến bộ xã hội.
Từ sau ngày được bình thường hóa vào năm 1991, quan hệ hai nước đã được khôi phục và phát triển rất nhanh chóng.
Về chính trị, quan hệ giữa hai Đảng, hai nhà nước, các đoàn thể, địa phương đã khôi phục nhanh chóng từ những năm đầu bình thường hóa. Năm 1999 lãnh đạo hai nước đã xác định phương châm 16 chữ "láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai". Sau đó lại bổ sung tinh thần "bốn tốt": "láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt". Gần đây, năm 2008, lãnh đạo hai nước đã định vị quan hệ Việt Nam - Trung Quốc là "quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện".
Về kinh tế - thương mại, kim ngạch thương mại Việt Nam - Trung Quốc từ 32 triệu USD năm 1991 đã tăng lên 19,4 tỉ USD năm 2008(2). Hiện Trung Quốc giữ vị trí thứ nhất trong các quốc gia và vùng lãnh thổ về xuất khẩu sang Việt Nam (chiếm 18,7% thị phần) và vị trí thứ ba về nhập khẩu từ Việt Nam (6,9%). Nhiều mặt hàng mậu dịch thương mại giữa hai nước rất có ý nghĩa bổ sung cho nhau trong phát triển kinh tế và phục vụ dân sinh. Đầu tư trực tiếp (FDI) của Trung Quốc vào Việt Nam (qua các hình thức 100% vốn nước ngoài, liên doanh, hợp tác kinh doanh, công ty cổ phần) tính đến năm 2008 đã có 629 dự án, tổng số vốn theo hợp đồng 2,172 tỉ USD, vốn đã thực hiện 274,387 triệu USD(3). Trung Quốc đã dành cho Việt Nam nhiều khoản viện trợ tín dụng và viện trợ không hoàn lại.
Hợp tác Việt Nam - Trung Quốc trong các lĩnh vực văn hóa, du lịch, khoa học - kỹ thuật, giáo dục, y tế, thể dục thể thao cũng đạt nhiều thành quả đáng ghi nhận.
Tiến triển quan trọng trong quan hệ giữa hai nước thời gian qua là việc ký kết "Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam và nước CHND Trung Hoa" năm 1999; "Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa"; "Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ nước CHND Trung Hoa" năm 2000. Đến nay, việc phân giới cắm mốc toàn tuyến biên giới trên bộ và ký kết Nghị định thư phân giới cắm mốc và Hiệp định quy chế quản lý biên giới mới đã được hoàn tất, tạo điều kiện để xây dựng đường biên giới hòa bình, ổn định, hợp tác, hữu nghị lâu dài giữa hai nước.
Mặt khác, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc hiện còn tồn tại những vấn đề trở ngại, chủ yếu là vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Đông. Đó cũng là vấn đề chủ yếu mà hai bên phải cùng nỗ lực giải quyết thỏa đáng.
Nhìn lại quan hệ Việt Nam - Trung Quốc 60 năm qua có thể suy ngẫm về những bài học lịch sử:
1 - Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc có một vai trò đặc biệt quan trọng đối với lợi ích của hai nước, vận mệnh của hai dân tộc. Do bối cảnh lịch sử và địa lý, hai nước Việt Nam và Trung Quốc, như cách nói của nhiều người, "sơn thủy tương liên, văn hóa tương thông, lý tưởng tương đồng, vận mệnh tương quan". Trước đây, đoàn kết chiến đấu trong cách mạng dân tộc dân chủ đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của nhân dân hai nước, thì ngày nay hợp tác hữu nghị cũng góp phần quan trọng vào sự phát triển của hai quốc gia. Nhân dân Việt Nam nhận thức rõ tầm quan trọng đó, cảm nhận sâu tình cảm và sự ủng hộ của nhân dân Trung Quốc, và cũng ý thức sâu sắc trách nhiệm của mình ủng hộ nhân dân Trung Quốc. Ngay từ thời Trung Quốc kháng chiến chống phát-xít Nhật, đồng chí Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh) đã đề cập câu ca dao lưu hành ở Việt Nam lúc bấy giờ: "Cứu Trung Quốc là tự cứu mình". Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Mao Trạch Đông cũng đã kêu gọi nhân dân Trung Quốc ủng hộ Việt Nam. Ngày nay, trong bối cảnh lịch sử mới, "quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện" Việt Nam - Trung Quốc càng có vai trò quan trọng đối với hòa bình, ổn định và phát triển của mỗi nước, góp phần quan trọng vào hợp tác Đông Á, và các phong trào quốc tế nhằm các mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.
2 - Quan hệ hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc có cơ sở vững chắc, phù hợp với lợi ích hai quốc gia, thể hiện tình cảm của hai dân tộc, nên có khả năng vượt qua mọi khó khăn, thử thách để tiếp tục phát triển nhanh chóng trên tất cả các lĩnh vực. Hiện tượng đó có thể ví như cây cổ thụ đã sống ngàn năm trên biên giới hai nước, vừa qua mùa đông giá lạnh trụi lá khô cành, nhưng nhựa ấm từ lòng đất vẫn nuôi sự sống, và khi mùa xuân tới lại đâm chồi nảy lộc, đơm hoa kết trái. Ngày nay, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc cũng đang đứng trước những thử thách không nhỏ, nhưng cơ hội để vượt qua cũng rất lớn. Với sự nỗ lực chung, hai bên hoàn toàn có thể vượt qua thử thách khó khăn, phát huy thời cơ thuận lợi, đưa quan hệ hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc lên những tầm cao mới, tiếp tục phát triển tốt đẹp.
3 - Để giải quyết thỏa đáng những vấn đề trở ngại trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, hai bên cần xuất phát từ tầm cao chiến lược, từ lợi ích căn bản và lâu dài của nhân dân hai nước. Không để những vấn đề cục bộ, trước mắt, làm hỏng lợi ích căn bản lâu dài; không để những nhân tố ngoại lai tác động tiêu cực đến quan hệ song phương; không để những tàn dư của chủ nghĩa dân tộc cực đoan tác hại đến quan hệ bình đẳng. Đó là những kinh nghiệm lịch sử có thể rút ra từ thực tiễn quan hệ Việt Nam - Trung Quốc mấy chục năm qua. Tất nhiên, để thực hiện được như vậy điều quan trọng trước hết là xuất phát từ thiện chí, quyết tâm, sự kiên nhẫn và lòng tin của mỗi bên.
Hướng tới tương lai
Tình hình thế giới và khu vực đang có những biến đổi sâu sắc và nhanh chóng. Quan hệ hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc cũng đang đứng trước những thời cơ và thử thách mới.
Xu thế hòa bình và phát triển trên thế giới, toàn cầu hóa và liên kết khu vực đòi hỏi và tạo cơ hội thuận lợi cho quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước phát triển ổn định. Về mặt địa lý, và cả về phương diện kinh tế văn hóa, Việt Nam là cầu nối giữa Trung Quốc với khu vực Đông Nam Á. Về phương diện chính trị, Việt Nam và Trung Quốc càng có quan hệ gần gũi. Đường lối đối ngoại của các nước đều xuất phát từ lợi ích quốc gia. Lợi ích quốc gia có khi không thuận chiều với sự tương đồng về ý thức hệ chính trị. Nhưng trong trường hợp quan hệ Việt Nam - Trung Quốc hiện nay, sự tương đồng về ý thức hệ phù hợp với lợi ích quốc gia. Về phương diện kinh tế - thương mại, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc hiện nay cũng như quan hệ giữa các nước trên thế giới, vừa có mặt hợp tác, vừa có mặt cạnh tranh, những vấn đề nảy sinh cần khắc phục, có thể thông qua nỗ lực hợp tác của hai bên để từng bước giải quyết trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi. Vấn đề hiện nay là hai bên thực hiện tốt ý tưởng hợp tác "một vành đai, hai hành lang" giữa hai nước, lồng ghép với hợp tác "một trục hai cánh" giữa Trung Quốc với các nước ASEAN.
Trở ngại chủ yếu, cũng là thử thách lớn nhất đối với quan hệ Việt Nam - Trung Quốc hiện nay và trong tương lai là vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Giải quyết tốt vấn đề đó sẽ mang lại triển vọng rất tốt đẹp cho quan hệ Việt Nam - Trung Quốc.
Lãnh đạo hai nước nhận thức được tầm quan trọng, những khó khăn trong việc giải quyết vấn đề này, xuất phát từ tầm cao chiến lược, đã có những thỏa thuận được nói rõ trong "Tuyên bố chung về Hợp tác toàn diện trong thế kỷ mới giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa" (nhân chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch Việt Nam Trần Đức Lương ngày 25-12-2000).
"Hai bên nhất trí cho rằng, việc hai nước ký kết "Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa", "Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa", "Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ giữa chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và chính phủ nước CHND Trung Hoa" có ý nghĩa lịch sử sâu rộng, sẽ thúc đẩy hơn nữa quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện giữa hai nước phát triển mạnh hơn nữa trong thế kỷ XXI. Hai bên cam kết sẽ nghiêm chỉnh thực hiện các thỏa thuận liên quan đã ký kết giữa hai nước, tích cực hợp tác, nỗ lực xây dựng biên giới hai nước thành biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định lâu dài.
Hai bên khẳng định tiếp tục duy trì cơ chế đàm phán hiện có về vấn đề trên biển, kiên trì thông qua đàm phán hòa bình để tìm ra một giải pháp cơ bản, lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được. Trước khi vấn đề được giải quyết, với tinh thần dễ trước khó sau, hai bên tích cực bàn bạc, tìm kiếm khả năng và giải pháp triển khai hợp tác trên biển trong các lĩnh vực như: bảo vệ môi trường biển, khí tượng thủy văn, phòng chống thiên tai. Đồng thời, hai bên đều không tiến hành các hoạt động làm phức tạp thêm hoặc mở rộng tranh chấp, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Hai bên cần bàn bạc kịp thời và giải quyết thỏa đáng những bất đồng nẩy sinh với thái độ bình tĩnh xây dựng, không để bất đồng ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của quan hệ hai nước"(4).
Những nguyên tắc đã thỏa thuận giữa hai bên và tinh thần hữu nghị thể hiện trong Tuyên bố chung cần được tiếp tục tôn trọng và quán triệt trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến Biển Đông. "Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc" nhân chuyến thăm Trung Quốc của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tháng 10-2008 cũng đã nêu rõ: "Hai bên đã trao đổi ý kiến một cách thẳng thắn và hữu nghị về việc giữ gìn hòa bình, ổn định ở Biển Đông; khẳng định tuân thủ nghiêm túc nhận thức chung giữa lãnh đạo cấp cao hai nước và tinh thần "Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông", duy trì cơ chế đàm phán vấn đề trên biển, căn cứ nguyên tắc và chế độ pháp lý được xác định bởi luật pháp quốc tế, bao gồm công ước Luật Biển của Liên hợp quốc năm 1982 tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên có thể chấp nhận được, tích cực nghiên cứu và bàn bạc về hợp tác cùng phát triển để tìm ra mô hình và khu vực thích hợp. Trong quá trình đó, hai bên cùng nỗ lực gìn giữ tình hình ổn định ở Biển Đông, không áp dụng hành động làm phức tạp hóa hoặc mở rộng thêm tranh chấp..."(5).
Trong thời gian vừa qua, với sự nỗ lực của hai bên, công tác phân giới trên bộ đã hoàn thành, Nghị định thư phân giới cắm mốc và Hiệp định quy chế quản lý biên giới mới đã được ký kết, tạo thuận lợi để xây dựng đường biên giới hòa bình, ổn định, hợp tác hữu nghị lâu dài giữa hai nước.
Năm 2010 là "Năm Hữu nghị Việt - Trung". Chúng ta hy vọng cũng là năm có những biến chuyển thực chất theo hướng tốt đẹp hơn của quan hệ hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc vì lợi ích lâu dài của hai nước, vì tình cảm hữu nghị của hai dân tộc./.
Nguyễn Huy Quý
---------------------------------
(1) Sa-lực, Mân-lực: Chín lần xuất quân lớn của Trung Quốc, Nxb Văn nghệ Tứ Xuyên (Trung Quốc), 1992 Bản dịch tiếng Việt của Cục Nghiên cứu Bộ Quốc phòng, tr 242
(2) Nguồn: Niên giám Thống kê, Tổng cục Thống kê Việt Nam 2008
(3) Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch - Đầu tư Việt Nam
(4) "Tuyên bố chung về Hợp tác toàn diện trong thế kỷ mới giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa", Báo Nhân dân số ra ngày 16-12-2000
(5) "Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc", Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc Số 7-2008
com/2012/08/soi-roi-lai-16-


chu-vang-va-4-tot.html

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét