Xuân Tân Mão

Xuân Tân Mão
Đảng và Chính phủ luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng với tất cả hoạt động, việc làm của người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia (TTg NT Dũng).

29 tháng 2 2012

Tầm nhìn của con ngựa kéo xe

Tầm nhìn của con ngựa kéo xe

TRẦN KINH NGHỊ
 

Hồi cuối những năm 1970s tôi may mắn được trong số ít ỏi lưu học sinh của nước Việt Nam XHCN sang du học tại Anh quốc TBCN. Đó cũng là thời kỳ khó khăn nhất của Việt Nam cả trên hai mặt trận đối nội và đối ngoại.  Về đối nội, lúc đó chưa  có đổi mới, vẫn còn nguyên  chế độ bao cấp, thiếu đủ thứ từ cây kim sợi chỉ cho đến gạo, đường, mắm muối…Về đối ngoại,  Việt Nam bị cả phương Tây và ông bạn láng giềng phương Bắc gây sức ép ghê gớm vì sự kiện  Campuchia.
Thời kỳ đó, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Anh  tương đối thân thiện. Tuy nhiên phía Anh chưa công nhận chế độ bằng cấp của Việt Nam và cũng dè dặt trong quan hệ chính trị , do đó chỉ cấp một số ít học bổng hạn chế trong lĩnh vực đào tạo giáo viên Anh văn, và chỉ cấp chứng chỉ (certificate), không cấp bằng master cho ai cả. Một số cán bộ trẻ được Bộ Ngoại giao được cử đi học phải đóng vai  “giáo viên” của Đại học Sư phạm Hà Nội, và may mắn cũng vượt qua vòng thi tuyển . Sau khi hoàn tất thủ tục, đoàn du học sinh gồm 20 người chúng tôi lên đường trước Tết âm lịch năm 1978 bằng đường không qua Hồng Công để đến London. Đó là đoàn thứ 2 trong số 3 đoàn được thực hiện theo thỏa thuận giữa hai nước trước khi chương trình bị đình chỉ do tình hình quan hệ xấu đi trong bối cảnh vấn đề Campuchia và chiến tranh biên giới Trung -Việt..   
Dù sao đối với chúng tôi, chuyến du học đó cũng là một chuyến du lịch “khám phá” đến cái gọi là thế giới tư bản “đang dẫy chết” . Ai cũng đều rất  ngạc nhiên trước tình độ phát triển của Hồng Công và nước Anh, nơi có nhiều đường phố văn minh sạch đẹp và những công viên như thiên đường, với chế độ giáo dục, y tế và phúc lợi xã hội khá lý tưởng. Nhưng đồng thời chúng tôi cũng luôn tự nhũ phải giữ vững lập trường và đề cao tinh thần cảnh giác… Đi đâu, làm gì, tiếp xúc với ai chúng tôi đều cố gắng ít nhất có hai người để “bảo vệ” lẫn nhau (!) Đúng vậy, đó là trạng thái tinh thần và cũng là nội quy mà chúng tôi phải chấp hành. Có lẽ đó cũng là do kết quả của  quá trình giáo dục, đào tạo ở nước ta một thời khiến ai cũng đều có cách hiểu giống nhau về mọi vấn đề. Sự hiểu biết đó dựa trên tình cảm dân tộc kết hợp với ý thức chính trị cứng nhắc trong mỗi con người. Nhưng đó là “bảo bối” để bất cứ người Việt Nam nào được cử ra nước ngoài có thể “đứng vững” trong quá trình sống và học tập ở môi trường mới lạ.  
Tại Anh bọn sinh viên chúng tôi đã “va chạm” với rất nhiều dạng chính kiến khác nhau rất phức tạp trong những tình huống khác nhau, kể cả những hội thảo về các chủ đề nhậy cảm như vấn đề Campuchia, vấn đề người tị nạn, v.v… Trước những trường hợp khó, chúng tôi thường có bàn bạc trước để thống nhất cách ứng đáp. Giờ nghĩ lại tôi vẫn ngạc nhiên về khả năng “giữ vững lập trường” của chúng tôi trước mọi tình huống như thế. Chẳng hạn khi có người hỏi về vấn đề người di tản (boat people), chúng tôi giải thích là do một số phần tử thuộc chính quyền cũ không chịu cải tạo và hòa nhập vào xã hội mới, lại  bị kích động của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam…; về tình trạng kinh tế trì trệ và đời sống khó khăn, chúng tôi giải thích là do hậu quả chiến tranh kéo dài… ; vấn đề Campuchia, chúng tôi giải thích là do âm mưu của các thế lực thù địch nước ngoài buộc Việt Nam phải tấn công để tự vệ đồng thời giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng …Vân vân và  vân vân. Nghĩa là chúng tôi  tìm mọi cách lập luận  để Việt Nam bao giờ cũng là người  anh hùng chân chính, không bao giờ làm gì sai trái; nếu có điều gì không ổn là do âm mưu của các thế lực phản động thù địch gây ra! Lạ thay, khi chúng tôi nói những điều đó đều được đa số người nghe tán đồng; nếu có ai không tán đồng họ cũng không phản đối gay gắt. Có lẽ điều này đã khiến chúng tôi ảo tưởng rằng mình đã thành công (!?) Nhưng sau này ngẫm lại,  tôi thấy đó chỉ là bề ngoài và chỉ với những bạn bè “cả nể” không muốn tranh luận; còn dư luận thực sự đã chuyển sang thế bất lợi cho Việt Nam.
Dù sao, qua đó  chúng tôi đã học được những bài học cay đắng nhưng bổ ích. Điều thú vị là, những bài học này trước hết đến từ  những người vốn là bạn của Việt Nam, trong đó có bà già chủ nhà trọ của tôi.  Bà lão này đã từng một thời rất tích cực tham gia phong trào đấu tranh chống Mỹ xâm lược Việt Nam.  Hàng ngày , ngoài việc phục vụ ăn ở cho khách trọ, bà hay trò chuyện với chúng tôi về nhiều chủ đề.  Có điều là cuộc nói chuyện nào hầu như cũng có tranh luận, nhất là khi nói về chủ đề quyền sở hữu và tự do cá nhân, vấn đề cải tạo công thương nghiệp và vấn đề Campuchia . Bà ấy hay đưa ra những nhận xét trái ngược với chúng tôi và tỏ ra rất thất vọng về những gì đang diễn ra ở Việt Nam thời kỳ sau chiến tranh. Chúng tôi giải thích kiểu gì bà ấy cũng chỉ lắc đầu và cười như chế nhạo.  Lúc đầu tôi quyết tâm không để bị thuyết phục bới “bà già Ê-cốt” mà tôi cho là “thiếu thông tin” này . Nhưng rồi tôi nhận ra bà ấy có lý. Có lần bà bảo:  “Người anh hùng hôm qua có thể biến thành tên đồ tể ngày hôm nay” để nói từ khi VN xâm lược CPC thì không còn là người anh hùng nữa!. Lần khác bà lại đưa ra nhận xét: “Chúng mày đều giống  như con ngựa kéo xe bi tấm tấm da che hai bên mắt, chỉ nhìn thấy một hướng phía trước mặt… “. Tôi như điếng người trước lối nói ẩn dụ ấy của bà. Có lẽ chỉ những người thực sự yêu quý Việt Nam mới hiểu sâu sắc và nói ra những điều như thế.
Đó là bài học của tôi cách nay gần 35 năm rồi. Nhưng điều đáng ngạc nhiên và cũnng đáng tiếc là cho  đến nay vẫn thấy nhiều người Việt Nam, kể cả giới lãnh đạo và quan chức, dường như vẫn chưa rút ra  bài học như vậy. Trường hợp điển hình gần đây nhất là ông Bí thư Thành ủy Hải Phòng Nguyễn Văn Thành khi ông ta nhiệt thành bao biện cho những việc làm sai trái đồng thời viện dẫn nguy cơ phá hoại của các thế lực thù địch.

http://quechoa.info/2012/02/29/t%E1%BA%A7m-nhin-c%E1%BB%A7a-con-ng%E1%BB%B1a-keo-xe/

Xung quanh "máy phát điện chạy... nước"



29/02/2012

Xung quanh "máy phát điện chạy... nước"
 
Giáp Văn Dương

Hình 7: TS. Nguyễn Chánh Khê (phải) và cộng
sự trình diễn máy phát điện bằng nước có
kèm chất phụ gia) tại trung tâm Nghiên cứu
và triển khai (khu Công nghệcao TP.HCM).
Ảnh: Minh Phúc (SGGP).

Ngày 14/1/2012, tại Trung tâm nghiên cứu và triển khai, trực thuộc Khu công nghệ cao TP.HCM, đã diễn ra lễ công bố sáng chế “Máy phát điện chạy bằng nước” của TS. Nguyễn Chánh Khê 1. Nếu như trước đó, tin về máy phát điện chạy nước, dù được đăng tải dồn dập trên nhiều báo chí và thu hút sự quan tâm của dư luận, vẫn bị nhiều nhà khoa học cho là tin tức “giật gân, ly kỳ”, thì với sự công bố chính thức tại Khu công nghệ cao Tp. HCM, sự việc đã trở thành một vấn đề khoa học nghiêm túc. Vì thế, một phân tích mang tính khoa học về “máy phát điện chạy... nước” trở nên cần thiết, nhất là khi có nhiều nhà khoa học tỏ ra hoài nghi tính xác thực của sự kiện này.
 
Tóm tắt sự kiện


Trong khoảng từ cuối tháng 12/2011 đến khoảng nửa đầu tháng 1/2012, hàng chục tờ báo đồng loạt đưa tin về sáng chế “máy phát điện chạy bằng... nước” của TS. Nguyễn Chánh Khê, tạo ra một sự quan tâm lớn của không chỉ với đại chúng mà còn cả giới khoa học2,3 . Để tăng tính xác thực, báo điện tử Sài gòn Giải phóng còn đăng kèm video clip giới thiệu sáng chế này của đích thân TS. Nguyễn Chánh Khê thuyết trình4.

Sở dĩ dư luận, trong đó có cộng đồng khoa học, quan tâm đến sự kiện này vì nếu thông tin trên báo chí là xác thực thì đây là một sự kiện khoa học gây chấn động thế giới. Một vài hệ quả của sáng chế này, nếu đúng như báo chí đưa tin, có thể được tóm tắt như sau:

- Nguy cơ thiếu hụt năng lượng do cạn kiệt dầu mỏ và than đá sẽ được khắc phục. Khủng hoảng năng lượng sẽ vĩnh viễn bị đẩy lùi. Chiến tranh vì dầu mỏ sẽ không còn đe dọa thế giới.

- Nạn ô nhiễm môi trường sẽ được khắc phục một phần lớn. Hiện tượng Trái đất nóng lên bởi quá nhiều CO2 sẽ được giải quyết. Các vòng đàm phán căng thẳng về cắt giảm khí thải trở nên không cần thiết. Nghị định thư Kyoto trở nên thừa thãi vì từ nay thế giới sẽ chuyển sang sử dụng hydro thay vì dầu mỏ.

- Một ngành kinh tế mới với thị trường có thể lên đến hàng nghìn tỷ đô-la sẽ ra đời5. Với lợi thế là nơi đầu tiên khám phá ra công nghệ này, Việt Nam sẽ nhanh chóng vượt lên dẫn đầu thế giới về phát triển kinh tế do nắm được công nghệ này.

Chính vì ý nghĩa lớn lao như vậy của sáng chế “máy phát điện chạy... nước”, nên dư luận đã rất quan tâm theo dõi sự kiện này.

Vậy đâu là cơ sở khoa học của sáng chế này?

Phản ứng phân hủy nước

Trái tim của “máy phát điện chạy... nước” là chất khử nano – đôi khi còn được gọi là chất phụ gia hoặc chất xúc tác - dùng để phân hủy nước (H2O) thành khí hydro và oxy. Sau khi đã có khí hydro rồi thì chỉ cần sử dụng pin nhiên liệu để chuyển hóa hydro thành điện. Các pin nhiên liện này là sản phẩm đã được thương mại hóa từ lâu, nên để xem xét tính khoa học của sáng chế này, nhất thiết phải xét đến phản ứng phân hủy nước:
2H2O → 2H2+O2,
ΔG° = 238 kJ mol−1

Ở đây, ΔG° = 238 kJ năng lượng cần thiết để tách một mole nước6. Đây là phản ứng có năng lượng tự do dương và khá lớn, nói cách khác là phản ứng thu năng lượng, nên không thể tự xảy ra. Điều này là hiển nhiên, vì nếu phản ứng phân hủy nước tự xảy ra thì tất cả nước trong các ao hồ, đại đương đã phân hủy thành H2 và O2 hết. Hệ quả là sự sống không tồn tại, và cũng không có chúng ta ở đây để thảo luận về vấn đề này.

Làm thế nào để phản ứng phân hủy nước có thể xảy ra? Không còn cách nào khác là phải cung cấp một lượng năng lượng đủ lớn năng lượng từ bên ngoài để buộc phản ứng phải xảy ra. Giống như một quả táo không thể tự nhảy lên mặt bàn vì đó là một quá trình thu năng lượng, do thế năng của quả táo ở dưới đất thấp hơn thế năng của quả táo trên mặt bàn. Muốn quả táo lên được mặt bàn, không còn cách nào khác là ta phải đưa nó lên, tức cung cấp một năng lượng cho nó, tối thiểu phải bằng sự chênh lệch thế năng giữa đất và mặt bàn. Đây là nguyên lý chung của mọi quá trình vận động trong tự nhiên: Muốn cho một quá trình không tự xảy ra trở thành có thể xảy ra thì bắt buộc phải cung cấp một lượng năng lượng bên ngoài, tối thiểu phải bằng mức chênh lệch giữa hai trạng trái đầu và cuối của quá trình đó.

Trở lại với phản ứng phân hủy nước: Để cho quá trình này có thể xảy ra được, nguồn năng lượng cần cung cấp cho phản ứng có thể là điện năng, nhiệt năng, quang năng... Nếu là điện năng và quang năng thì đó là quá trình điện phân và phân hủy nhiệt thông thường. Còn với quang năng thì quá trình sẽ phức tạp hơn vì phải sử dụng một chất xúc tác trung gian để chuyển từ quang năng thành năng lượng sử dụng được cho phản ứng phân hủy nước. Chất xúc tác cho quá trình đó được gọi là xúc tác quang, vì nó chỉ hoạt động dưới tác dụng của ánh sáng. Cơ chế hoạt động của một chất xúc tác quang, ví dụ TiO2, được mô tả qua sơ đồ hình 1.



Hình 1: Sơ đồ phản ứng phân hủy nước trong quá trình quang điện hóa sử dụng TiO2 làm photoanode (A) và mô hình đoản mạch của quá trình này (B)7.

Nhìn vào hình 1B ta thấy rằng: Khi ánh sáng có bước sóng phù hợp chiếu vào hạt xúc tác thì các điện tử (e-) của chất này sẽ hấp thụ hạt ánh sáng (hν) để chuyển từ vùng hóa trị lên vùng dẫn có mức năng lượng cao hơn và để lại một lỗ trống (h+) ở vùng hóa trị.

Điện tử ở vùng dẫn khi đó sẽ phản ứng với ion H+ có trong nước để tạo ra khí hydro, còn lỗ trống (h+) sẽ phản ứng với nước để tạo ra oxy. Quá trình này được mô tả bởi các phương trình phản ứng như sau7:
TiO2 + hν → e- + h+
2H+ + 2e− → H2
2H2O + 4h+ → O2 + 4H+
Các ion H+ tiêu tốn sẽ luôn được bù đắp bởi quá trình phân ly của nước:
H2O ↔ H+ + OH-
Do đó phản ứng tổng thể có thể viết thành:
2H2O + 4hν → 2H2 + O2

Với quá trình điện phân thuần túy, các điện tử (e-) được sử dụng để khử ion H+ thành hydro chính là các điện tử của dòng điện, và quá trình này xảy ra ở điện cực, thay vì trên bề mặt xúc tác như trong quá trình xúc tác quang.

Dễ dàng nhận thấy rằng, các chất xúc tác quang chỉ có thể là chất bán dẫn. Vì nếu là kim loại thì chúng không có vùng cấm nên không thể tạo ra cặp điện tử (e-) - lỗ trống (h+) dưới tác dụng của ánh sáng, còn nếu là chất cách điện thì do bề rộng của vùng cấm quá lớn, năng lượng của hạt ánh sáng sẽ không đủ để kích thích điện tử nhảy từ vùng hóa trị lên vùng dẫn.
Vấn đề còn lại là phải tìm được chất bán dẫn có độ rộng của vùng cấm thích hợp để năng lượng ánh sáng tử ngoại, hoặc tốt hơn hết là ánh sáng nhìn thấy, đủ để kích thích điện tử nhảy từ vùng hóa trị lên vùng dẫn.

Với TiO2, chất xúc tác quang điển hình đã được nghiên cứu và ứng dụng nhiều, độ rộng vùng cấm là 3.2eV, tương ứng với năng lượng của hạt ánh sáng có bước sóng 387 nm, tức là ở vùng tử ngoại. Như vậy, để cho TiO2 có thể hoạt động như một chất xúc tác quang thì phải sử dụng ánh sáng ở vùng tử ngoại.

Trên lý thuyết, nếu bỏ qua hiện tượng quá thế, ở điều kiện pH=0, do thế khử của H+/H2 là 0 và thế oxy hóa của H2O/O2 là 1.23 eV, nên chỉ cần chất xúc tác có bề rộng vùng cấm lớn hơn 1.23 eV và có biên vùng ở vị trí phù hợp (đáy vùng dẫn thấp hơn thế khử của H+/H2, tức <0 eV và đỉnh vùng hóa trị ở trên thế oxy hóa của H2O/O2, tức >1.23 eV) là phản ứng có thể xảy ra được, hình 2.

 
Hình 2: Nguyên tắc cơ bản của quá trình phân hủy nước sử dụng hạt bán dẫn làm chất xúc tác7. Bề rộng vùng cấm phải lớn hơn 1.23 eV, đồng thời đáy vùng dẫn thấp hơn thế khử của H+/H2 (0 eV) và đỉnh vùng hóa trị cao hơn thế oxy hóa của H2O/O2, (1.23 eV).

Mức năng lượng 1.23 eV tương ứng với ánh sáng có bước sóng 1008 nm, nằm trong vùng hồng ngoại. Như vậy, về mặt lý thuyết, có thể tìm được một chất xúc tác hoạt động ở vùng ánh sáng nhìn thấy cho quá trình phân hủy nước. Tuy nhiên, tìm được một chất xúc tác như vậy không phải là dễ.

Kể từ khi Fujishima và Honda8 tìm ra hiện tượng phân hủy nước trong quá trình quang điện hóa năm 1972, hứa hẹn mở ra một kỷ nguyên mới về năng lượng tái tạo, nhiều thế hệ các nhà khoa và nhiều tiền của đã được Chính phủ các nước đổ ra để nghiên cứu nhằm tìm ra chất xúc tác trong mơ này.

Số lượng các bài báo công bố, với từ khóa “water spliting”, tức “phân hủy nước”, tìm trên cơ sở dữ liệu của Viện Thông tin Khoa học (ISI), tăng nhanh kể từ năm 1972, đặc biệt là những năm gần đây. Điều này phản ánh phần nào sự quan tâm của giới khoa học với phản ứng quan trọng này, hình 3.


Hình 3: Số lượng công trình nghiên cứu về phân hủy nước trên các tạp chí ISI: Tìm với từ khóa “water splitting” trong kho dữ liệu của Viện Thông tin Khoa học (ISI).

Ngoài những yêu cầu về độ rộng vùng cấm và vị trí của biên vùng như đã nói, các chất này còn phải đảm bảo một số đặc tính như có độ hoạt động ổn định, có hiệu suất cao v.v mới có thể đưa vào sử dụng trong thực tế. Chính vì thế, đã hơn bốn thập kỷ trôi qua, một chất xúc tác có thể dùng ánh sáng nhìn thấy để phân hủy nước, với hiệu suất thích hợp, vẫn là ước mơ của các nhà nghiên cứu.

Nhìn vào hình 4 sẽ thấy, dù rất nhiều chất xúc tác đã được nghiên cứu, thì chất đáp ứng được các yêu cầu về độ rộng và vị trí vùng cấm là rất hiếm hoi. Một số hướng tiếp cận như dùng xúc tác dưới dạng composite (xúc tác đa cấu tử) để tạo bậc thang cho điện tử nhảy đa cấp từ vùng hóa trị sang vùng dẫn cũng không đưa lại những kết quả tốt. Việc điện tử và lỗ trống tái kết hợp làm giảm hiệu suất, dù đã được khắc phục phần nào qua việc bẫy điện tử bởi hạt nano kim loại, cũng là một vấn đề nan giải. Chưa kể, nếu xét đến những yêu cầu khác như độ bền, hiệu suất của chất xúc tác… thì vấn đề trở nên khó khăn gấp bội.


Hình 4. Độ rộng và vị trí vùng cấm của một số chất bán dẫn9.

Chính vì thế, hiệu suất của phản ứng phân hủy nước sử dụng xúc tác quang, ngay cả khi dùng đèn tử ngoại công suất lớn làm nguồn sáng, cũng rất thấp. Hình 5 cho thấy hiệu suất phản ứng đối với  một trong những hệ xúc tác điển hình: Pt/TiO2. Hiệu suất tạo ra khí hydro trong phản ứng này nằm trong khoảng vài trăm μmol/h/g, rất nhỏ để có thể quan sát được liên tục bằng mắt thường.


Hình 5: Tốc độ tạo H2 với xúc tác N-doped TiO2 – 0.2%Pt, được xử  lý nhiệt ở các nhiệt độ khác nhau10.

Thành tựu đáng kể nhất trong khoảng thời gian gần đây về phân hủy nước sử dụng xúc tác quang là của nhóm các nhà khoa học ở Viện Công nghệ Massachusetts (MIT). Dưới sự dẫn dắt của GS. Daniel Nocera , nhóm đã tạo ra những “lá nhân tạo” dùng để thu thập năng lượng của ánh sáng nhìn thấy, đồng thời là xúc tác cho quá trình phân hủy nước. Thành tựu này đã được công bố trên tạp chí Science11, và được cộng đồng khoa học đánh giá như một bước tiến vượt bậc vì các “lá nhân tạo” này không chỉ dùng ánh sáng nhìn thấy mà hiệu suất của quá trình đạt mức cao chưa từng thấy. Tuy nhiên, dưới sự chiếu sáng trực tiếp của một nguồn sáng khá mạnh, lượng hydro được tạo ra trong quá trình này cũng chỉ đủ để sủi bọt lăn tăn chứ không làm sôi sục bình nước như trong sáng chế của TS. Nguyễn Chánh Khê, hình 6.


Hình 6: Thí nghiệm phản ứng phân hủy nước dùng “lá nhân tạo” của MIT 12.

Chất khử hay chất xúc tác?

Điểm quan trọng nhất trong sáng chế “Máy phát điện chạy... nước” của TS. Nguyễn Chánh Khê là hóa chất sử dụng trong phản ứng phân hủy nước, khi thì được mô tả là chất “phụ gia xúc tác”, khi lại là “chất khử nano”, được nhiều báo chí đưa tin là chất xúc tác nano, có vai trò khử nước thành hydro. Vậy đó là chất khử hay chất xúc tác?

Theo định nghĩa chất xúc tác, đó là chất tham gia quá trình phản ứng hóa học ở các khâu trung gian, nhưng không có mặt trong sản phẩm và được bảo toàn sau phản ứng. Như vậy, vai trò của chất xúc tác là làm tăng tốc độ phản ứng hóa học. Nếu một chất đó làm giảm tốc độ phản ứng thì thay vì được gọi là chất xúc tác, nó lại được gọi là chất ức chế.

Với lưu ý rằng, chất xúc tác chỉ làm thay đổi tốc độ của phản ứng hóa học, chứ không thể làm cho một phản ứng từ chỗ không thể xảy ra thành có thể xảy ra. Vì thế, một chất xúc tác chỉ có tác dụng khi ở một điều kiện xác định, phản ứng hóa học đã xảy ra nhưng với tốc độ nhỏ. Khi thêm chất xúc tác, tốc độ phản ứng sẽ tăng, đôi khi đến hàng triệu lần.

Với phản ứng phân hủy nước, xét về mặt nhiệt động học, là không thể tự xảy ra ở điều kiện thông thường, do đó bắt buộc phải dùng năng lượng bên ngoài để “cưỡng bức” cho xảy ra. Tuy nhiên, xem hình chụp hệ thống của TS. Nguyễn Chánh Khê, thấy rằng hệ thống này không dùng bất cứ dạng năng lượng thường thấy nào như điện năng, nhiệt năng. Điều này cũng phù hợp với mô tả của TS. Nguyễn Chánh Khê: “Nó không phải là điện giải, không phải là điện phân, và nó cũng không phải là thủy điện”.

Vậy khả năng còn lại là quang năng. Tuy nhiên, để sử dụng được quang năng thì các bình chứa thường làm bằng thủy tinh, pyrex hoặc thạch anh... và trong suốt để tăng độ truyền ánh sáng. Nhưng các bình nhựa của hệ thống do TS. Nguyễn Chánh Khê sáng chế là bình nhựa có màu xanh tím, có tác dụng như bộ lọc sắc, gây cản trở ánh sáng rất lớn, hình 7. Vậy nếu chất xúc tác TS. Nguyễn Chánh Khê sử dụng là chất xúc tác quang, thì việc sử dụng bình nhựa như vậy là không khoa học. Với chỉ một chút ánh sáng còn lại có thể truyền qua thành bình nhựa, chất xúc tác này có thể làm cho “bình nước sôi sục” cho thấy, nếu đúng hóa chất được sử dụng là chất xúc tác thì đây là một chất xúc tác cực mạnh, chưa từng biết. Một chất xúc tác như vậy quả là một “viên đá thần” và là giấc mơ của nhân loại từ ít nhất là 40 năm nay từ khi Fujishima & Honda phát hiện ra hiện tượng phân hủy nước dưới tác dụng của ánh sáng trên bề mặt xúc tác TiO2 năm 1972, vì nó giúp giải quyết nạn ô nhiễm môi trường và nguy cơ thiếu hụt năng lượng do cạn kiệt dầu mỏ, than đá...

Để minh họa cho hiệu quả của hệ thống, TS. Nguyễn Chánh Khê đã dùng một đèn điện. Dùng mắt thường để quan sát có thể ước lượng rằng, lượng ánh sáng của đèn điện tỏa ra lớn hơn lượng ánh sáng đi vào bình nhựa, điều này trái ngược với nguyên tắc bảo toàn năng lượng.

Ngoài ra, một trong những vấn đề làm đau đầu người làm nghiên cứu về xúc tác là “ngộ độc xúc tác”, tức là xúc tác bị mất hoạt tính do bị các chất bẩn hoặc chính sản phẩm của phản ứng hấp phụ lên bề mặt xúc tác. Trong trường hợp này, việc dùng nước bẩn, nước muối làm nguyên liệu như tuyên bố của TS. Nguyễn Chánh Khê sẽ làm ngộ độc xúc tác nhanh chóng.

Những lập luận này cho thấy, hóa chất mà TS. Nguyễn Chánh Khê sử dụng không thể là chất xúc tác được. Khả năng duy nhất còn lại: Hóa chất được sử dụng là một chất khử, có khả năng phản ứng trực tiếp với nước để tạo khí hydro. Điều này cũng đã được đích thân TS. Nguyễn Chánh Khê  khẳng định trong thuyết trình của mình: “Đầu tiên, chúng ta có cái vật liệu nano nó nằm ở tại đây. Nó gọi là chất khử nano. Nó sẽ biến nước thành ra khí hydro. Khí hydro sẽ đi qua bộ phận lọc để làm cho mất nước. Và khí hydro khi mà đi qua đến cái phần này thì nó đi vào trong cái pin13.

Chất khử này có thể là các kim loại kiềm và kiềm thổ như Na, K, Ca hoặc một vài hóa chất có khả năng phản ứng với nước như Sodium Silicide (NaSi, Na2Si, Na4Si4). Vì các kim loại kiềm và kiềm thổ rất đắt, phản ứng với nước tạo ra kiềm là chất độc hại, có tính ăn mòn cao, nên sẽ không hiệu quả nếu dùng các chất này làm chất khử. Trong số đó, Sodium Silicide được dùng khá phổ biến để tạo khí hydro vì hiệu quả hơn việc sử dụng kim loại kiềm hoặc kiềm thổ.

Một trong những phản ứng của Sodium Silicide với nước để cho hiệu suất tạo hydro cao nhất là14:

2NaSi + 5H2O → Na2Si2O5 + 5H2
Thực tế, một số công ty như PowerTrekk đã dùng Sodium Silicide để phân hủy nước tạo khí hydro dùng cho pin nhiêu liệu để tạo ra nguồn điện cho các sạc pin điện thoại, với công suất 4Wh15.

Tuy nhiên, NaSi là một chất đôc hại, gây bỏng da, mắt và hệ hô hấp nếu tiếp xúc, lại có khả năng tự bốc cháy (nhiệt độ tự bốc cháy thấp nhất là 260oC), nên cần phải rất cẩn thận khi sử dụng và vận chuyển16. Sản phẩm của phản ứng là Na2Si2O5, một chất có tính kiềm mạnh, nên là một chất độc hại với sức khỏe và môi trường. Phản ứng giữa Sodium Silicide với nước là phản ứng tỏa nhiệt, nên nguy cơ cháy nổ hoàn toàn có thể xảy ra nếu hệ thống phản ứng không tuân thủ những chỉ tiêu kỹ thuật nghiêm ngặt.

Vậy hóa chất mà TS. Nguyễn Chánh Khê sử dụng là gì? Điều này chỉ có TS. Nguyễn Chánh Khê và cộng sự biết, vì không được công khai đề cập trong bất kỳ bài báo nào. Tuy nhiên, việc dùng một hóa chất phản ứng trực tiếp với nước thì thường sẽ khá đắt, chứ không thể “để khởi động hệ thống này và chạy trong vài giờ, chỉ cần một chi phí nhỏ hơn 1000 đồng”17.

Quan trọng hơn, việc dùng một hóa chất làm chất khử để tạo ra hydo thì hóa chất đó chính là nguyên liệu chính để vận hành hệ thống, chứ không phải là nước như công bố. Nhìn bề ngoài, sự nhầm lẫn giữa chất khử và chất xúc tác chỉ là vấn đề ngôn ngữ, nhưng về bản chất khoa học, đây là một điều sai trái, một sự đánh tráo nguy hiểm.

Pin nhiên liệu hydro

Pin nhiên liệu là thiết bị chuyển hóa năng ở trong nhiên liệu thành điện năng thông qua phản ứng hóa học của nhiên liệu đó với tác nhân oxy hóa, thường là oxy trong không khí. Có nhiều loại pin nhiên liệu khác nhau, nhưng phổ biến nhất là pin nhiên liệu hydro, trong đó, năng lượng hóa học của phản ứng oxy hóa hydro thành nước được chuyển thành điện năng:
H2(g) + O2(g) → H2O(l), ΔH = -285.8 kJ mol−1

Phản ứng này có enthalpy âm, tức là phản ứng tỏa năng lượng. Chính phần năng lượng này sẽ được chuyển hóa thành điện năng nhờ pin nhiêu liệu. Nguyên lý hoạt động của pin nhiên liệu hydro được mô tả trong hình vẽ sau:


Hình 8: Sơ đồ nguyên tắc hoạt động của pin nhiên liệu hydro (PEM)18.

Khí hydro khi đến anode, dưới tác dụng của xúc tác, thường là Platinum, sẽ bị tách thành điện tử và ion H+. Điện tử, vì không đi được qua màng điện phân, nên sẽ chuyển sang cathode thông qua mạch ngoài tạo ra dòng điện. Còn ion H+ sẽ khuếch tán qua màng điện phân để sang cathode. Tại đây, cũng dưới tác dụng của xúc tác, ion H+ sẽ tác dụng với điện tử và oxy để tạo ra H2O. Hiệu suất của pin nhiên liệu khá cao, đạt mức 40-65%, nếu kết hợp với tận dụng nhiệt thải, có thể lên đến 85%, tức cao gấp khoảng 3 lần so với động cơ nhiệt.

Pin nhiên liệu dạng PEM19, được dùng nhiều cho các phương tiện vận chuyển vì có nhiều ưu điểm như công suất cao, không tạo ra ô nhiễm môi trường... Nhiều công ty sản xuất ô tô như Toyota, Honda, Hyundai, Daimler, and General Motors đã lên kế hoạch sản xuất xe sử dụng pin nhiên liệu vào năm 2015(20). Tuy nhiên, việc thương mại hóa sản phẩm pin nhiên liệu PEM ở phạm vi lớn vẫn chưa đạt được21. Lý do chính là do giá thành và độ bền của pin chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Với động cơ, pin thương mại phải có khả năng hoạt động trong 5000 giờ liên tục, và 40000 giờ với trạm phát điện, với khả năng suy giảm hiệu suất nhỏ hơn 10%(22). Về giá thành, tuy đã có cải thiện đáng kể, nhưng pin nhiên liệu vẫn còn đắt hơn nhiều sơ với động cơ đốt trong.


Hình 9: Biểu đồ giá thành của pin nhiên liệu dạng PEM 23

Phần lớn các pin nhiên liệu đang sử dụng đều dùng màng Nafion® và xúc tác Pt. Pin nhiên liệu của TS. Nguyễn Chánh Khê cũng thuộc loại PEM đã nêu trên, vì trong triển lãm FC Expo 2011: “TS. Nguyễn Chánh Khê cho biết, tại triển lãm, ông đã đưa ra loại vật liệu dẫn proton mới nhất thế giới đó là than nano lỏng để trực tiếp cạnh tranh với vật liệu Nafion- sản phẩm dẫn proton của công ty Dupont đang độc chiếm thị trường toàn cầu hiện nay. Công ty Dupont hiện bán 3 kg Nafion với giá 105.000 USD trong khi màng dẫn proton do TS Khê chế tạo từ than nano lỏng chỉ dao động trong mức giá khoảng 700 - 1.000 USD”24.

Ngoài ra, “TS Nguyễn Chánh Khê cho biết, dự kiến cuối tháng 8/2011 tới ông sẽ công bố và trình diễn một hệ thống pin có công suất 2.000 W đủ cung cấp điện cho một căn hộ nhỏ23, nhưng đến nay, vẫn chưa thấy thực hiện.

Công suất của pin nhiên liệu2 của TS. Nguyễn Chánh Khê là 0,13W/cm2. Đây là một công suất tương đối thấp. Trên thực tế, những pin nhiên liệu hydro có công suất 2.5W/cm2, cũng dùng màng Nafion®, đã được chế tạo25.

Cũng liên quan đến pin nhiên liệu, dường như một sáng chế tương tự đã được nộp hồ sơ đăng ký tại châu Âu từ ngày 28.9.2006, bởi TS. Nguyễn Chánh Khê và hai đồng nghiệp26. Tuy nhiên, theo thông báo mới nhất của Phòng Đăng ký Bản quyền châu Âu thì hồ sơ đăng ký này đã bị rút lại từ ngày 3/12/2009. Lý do: Không phản hồi lại thư trao đổi của phòng kiểm tra27.

Thay lời kết

Qua những phân tích ở trên, có thể kết luận rằng: Việc tạo khí hydro từ nước chỉ là sản phẩm của một phản ứng hóa học thông thường giữa một chất khử với nước. Khí hydro được tạo ra này sẽ được đưa qua pin nhiên liệu dạng PEM để tạo ra điện. Do đó, nhiên liệu để vận hành hệ thống phải là chính chất khử đó, chứ không phải là nước. Muốn hệ thống hoạt động liên tục thì chất khử này phải được bổ sung liên tục, vì nó sẽ bị tiêu tốn trong quá trình phản ứng. Pin nhiên liệu mà hệ thống sử dụng có công suất thấp hơn nhiều với pin cùng loại đang được lưu hành.

Ngoài ra, việc đưa tin về những thành tựu nghiên cứu của TS. Nguyễn Chánh Khê từ trước đến nay cũng có nhiều sai lệch. Thực vậy, từ năm 2006, nhiều báo đã đưa tin việc TS. Nguyễn Chánh Khê lần đầu tiên sản xuất thành công ống carbon nano tube hoàn toàn bằng nguyên liệu và công nghệ trong nước28. Nhiều báo còn đưa tin Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) đã dùng ống carbon nano tube để làm vỏ phi thuyền29.

Trên thực tế, từ năm 2003 nhiều cơ sở nghiên cứu trong nước đã tạo được ống các-bon nano tube nên những tin tức này đã được cảnh báo30. Còn việc NASA có dùng ống cac-bon nano tube để làm vỏ phi thuyền hay không, hoặc ít nhất có hợp tác với Trung tâm Công nghệ cao TP.HCM hay không vẫn còn chưa được kiểm nghiệm. Nhưng sự thực là từ đó đến nay đã gần 5 năm, mặt hàng được hứa hẹn “sẽ mang về siêu lợi nhuận cho đất nước” vì có giá từ “100.000 USD - 800.000 USD/kg” dường như đã chìm vào quên lãng.

Nay với việc công bố sáng chế “máy phát điện chạy... nước”, trước sự nghi ngờ của giới khoa học, thiết nghĩ Khu Công nghệ cao TP. HCM hoặc Bộ Khoa học & Công nghệ cần lập hội đồng đánh giá tính xác thực của sáng chế này.
---------------
Tác giả cảm ơn TS. Trương Văn Tân đã đọc và góp ý cho bài viết.
----------
1 Trung tâm Nghiên cứu & triển khai Khu Công nghệ cao TP.HCM: Công bố sáng chế Máy phát điện chạy bằng nước, ngày 15/01/2012.
2 Điện từ nước – phát minh độc đáo của một nhà khoa học Việt Nam, An ninh thế giới, 26/12/2011.
3 Máy phát điện chạy bằng nước, Tuổi trẻ, 15/1/2012.
4 Sáng chế máy phát điện chạy bằng nước, Sài gòn giải phóng, 3/1/2012.
5 Năm 2011, thế giới khai thác được khoảng 87,5 triệu thùng dầu, trị giá khoảng 3000 tỉ đô-la Mỹ.
6 Vincent Artero và các cộng sự, Angew. Chem. Int. Ed. (2011), 50, 7238 – 7266.
7 Kazuhiko Maeda, J. Photochem. Photobio. C: Photochem. Rev., Vol.12, Iss. 4, (2011), 237–268
8 A. Fujishima and K. Honda, Nature 238 (1972) 37.
9 Dengwei Jing, Int. J. Hydrogen Energy, Vol. 35, Iss 13, 2010, 7087–7097.
10 Bing-Shun Huang, Ming-Yen Wey, Int. J. Hydrogen Energy, Vol. 36, Iss. 16, (2011) 9479–9486.
11 S.Y. Reece, et al., Science, 334 (2011) 645-648.
12 http://web.mit.edu/newsoffice/2011/artificial-leaf-0930.html
13 http://www.youtube.com/watch?v=PDQ5NpHTbbQ
14 James L. Dye et al, J. Am. Chem. Soc., 127 (2005), 9338-9339.
15 http://www.powertrekk.com/
16http://signachem.com/wp-content/themes/signa/pdf/technical-docs/MSDS-SiGNa%20NaSi.pdf
17 Máy phát điện chạy bằng... nước, chuyện lạ..., Sài Gòn Tiếp thị, 9/2/2011.
18 DOE-EERE. FCT fuel cells: types of fuel cells; 2009.
19 Polymer Electrolyte Membrane Fuel Cells
20 Gittleman C, DM, Jorgensen S, Waldecker J, Hirano S, Mehall M. Automotive fuel cell R&D needs. In: DOE fuel cell pre-solicitation workshop. Department of Energy, Lakewood, Colorado, 2010.
21 Yun Wanga et al, Appied Energy, Vol. 88, Iss. 4, (2011), 981–1007.
22 W. Schmittinger, A. Vahidi, J. Power Sources, 180 (2008), 1–14.
23 D.
Papageorgopoulos , DOE fuel cell technology program overview and introduction to the 2010 fuel cell pre-solicitation workshop in DOE fuel cell pre-solicitation workshop. Department of Energy, Lakewood, Colorado, 2010.
24 Người chế tạo pin thay xăng,  Người đưa tin, 15/7/2011.
25 Oliver J. Murphy, G. Duncan Hitchens, David J. Manko, J. Power Sources, Vol. 47, Iss. 3, (1994), 353–368.
26 EP1949484 - ELECTROLYTE MEMBRANE FOR FUEL CELL UTILIZING NANO COMPOSITE, xem tại: https://register.epo.org/espacenet/application?number=EP06848660&tab=main
27 Nguyên văn: Despatch of communication that the application is deemed to be withdrawn, reason: reply to the communication from the examining division not received in time [2010/16]
28 TS Nguyễn Chánh Khê và sản phẩm carbon nano tube siêu lợi nhuận,  Người lao động, 9/7/2006.
29 NASA dùng carbon nano tube của VN làm vỏ phi thuyền, Tuổi trẻ, 31/5/2007.
30 Đằng sau nghiên cứu kinh ngạc của TS. Nguyễn Chánh Khê, Tuần Việt Nam, 14/6/2007.


http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=111&CategoryID=2&News=4945

Ngân hàng Xây dựng: Có cần lúc này?


Ngân hàng Xây dựng: Có cần lúc này?

(VEF.VN) - Bộ Xây Dựng cũng đã có công văn đề nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem xét đề xuất này của Hiệp hội Bất Động Sản. Tuy nhiên, trong bối cảnh chúng ta đang tập trung vào tái cơ cấu hệ thống ngân hàng liệu rằng đây có phải là thời điểm thích hợp để thành lập một ngân hàng mới?
Thời gian vừa qua, Bộ Xây Dựng đã có những động thái rất tích cực trong việc tìm kiếm giải pháp khơi thông thị trường bất động sản, huy động vốn để phát triển nhà ở cho người nghèo, người thu nhập thấp nhưng tiếc là những ý tưởng, đề xuất đó còn thiếu tính khả thi và chưa phù hợp với bối cảnh thị trường tại thời điểm đưa ra đề xuất.
Thứ nhất, thời điểm đề xuất thành lập Ngân hàng Xây dựng là chưa phù hợp bởi lẽ trong bối cảnh suy thoái kinh tế, một trong những mục tiêu quan trọng Chính phủ đặt ra là phải tái cơ cấu hệ thống kinh tế mà trong đó tái cơ cấu hệ thống ngân hàng là rất quan trọng.
Hiện nay Việt Nam đang có tương nhiều ngân hàng trên thị trường. Trong đó có rất nhiều ngân hàng mới có tăng trưởng tín dụng kém, gặp khó khăn trong việc đảm bảo thanh khoản gây mất an toàn cho hệ thống. Sau một thời gian cấp phép thành lập Ngân hàng một cách ồ ạt, Ngân hàng Nhà nước đã phải ngừng cấp phép thành lập mới ngân hàng. Trong thời điểm rà soát lại hệ thống ngân hàng hiện nay, có lẽ chưa phải là thời điểm phù hợp để thành lập một ngân hàng mới.

Thứ hai, hiện nay hệ thống ngân hàng Việt Nam có tương đối nhiều ngân hàng huy động vốn và cấp tín dụng cho mục đích xây dựng. Bên cạnh hầu hết các ngân hàng thương mại đang cấp tín dụng cho các doanh nghiệp bất động sản, thì Việt Nam cũng có một số ngân hàng chuyên trách hỗ trợ cho mục tiêu xây dựng.
Ví dụ như Ngân hàng phát triển Việt Nam (VDB), Ngân hàng chính sách xã hội (VBSP) cũng có chương trình hỗ trợ xây dựng nhà ở cho người nghèo, người thu nhập thấp theo diện chính sách. Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn (VBARD) cũng có dự án hỗ trợ xây dựng và cải tạo nhà ở do Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) tài trợ.
Trong lĩnh vực bất động sản cũng đã có Ngân hàng phát triển nhà Thành phố Hồ Chí Minh (HDBank) và ngân hàng Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nhà Hà Nội (HABUBANK). Khi một hệ thống các ngân hàng hiện có như hiện nay, thì việc lập mới một ngân hàng xây dựng theo đề xuất của doanh nghiệp bất động sản có lẽ là chưa cần thiết. Chưa kể, sẽ khó có một ngân hàng nào chỉ giới hạn cho vay với các doanh nghiệp bất động sản bởi lẽ như vậy tăng trưởng tín dụng sẽ thấp đặc biệt khi các doanh nghiệp bất động sản đang gặp khó khăn khi thị trường đóng băng như hiện nay.
Thứ ba, vào thời điểm thị trường bất động sản đang đóng băng như hiện nay, các doanh nghiệp bất động sản đang hoạt động cầm chừng, nhiều doanh nghiệp phải giảm giá sản phẩm để bán tháo, thậm chí nhiều doanh nghiệp còn đứng trước nguy cơ phá sản thì e rằng việc thành lập Ngân hàng xây dựng vào thời điểm này là chưa hợp lý.
Hơn nữa, ngân hàng nhà nước đang có động thái hạ lãi suất khiến cho hoạt động huy động vốn từ người dân không còn trở nên hấp dẫn so với các loại hình đầu tư khác nên e rằng ngân hàng xây dựng đề xuất thành lập sẽ gặp khó khăn trong huy động vốn. Nếu như thị trường bất động sản đang trong giai đoạn phát triển thị vượng, thị trường không rơi vào suy thoái thì phù hợp hơn khi đề xuất thành lập ngân hàng mới.

Thứ tư, một băn khoăn nữa là về quản trị ngân hàng mới. Tôi không rõ là đơn vị nào sẽ góp vốn và tham gia quản trị ngân hàng mới này. Nếu là một Hiệp hội thì nhiệm vụ chính của họ là đại diện cho các doanh nghiệp thành viên chứ không phải là sở hữu một ngân hàng, bởi lẽ nếu Hiệp hội sở hữu một ngân hàng thì e rằng Hiệp hội sẽ rơi vào tình thế khó khăn khi quyết định ngân hàng xây dựng sẽ rót vốn cho thành viên này mà không phải là thành viên kia. Khi đó nguy cơ xảy ra xung đột lợi ích hiện hữu.
Nếu như Ngân hàng Xây dựng do các doanh nghiệp thành viên Hiệp hội bất động sản góp vốn thành lập thì cũng bất hợp lý, bởi lẽ họ đang thiếu vốn, và gặp khó khăn trong thanh toán nợ ngân hàng thì lấy đâu tiền ra để đầu tư làm ngân hàng.
Ngay cả trong trường hợp, Ngân hàng Xây dựng được thành lập bởi một tổng công ty Nhà nước thuộc Bộ Xây Dựng thì có lẽ là không hợp lý khi đầu tư ngoài ngành của các doanh nghiệp nhà nước thời gian vừa qua đang bị báo động vì kém hiệu quả nhìn từ bài học nhãn tiên của Tập đoàn Điện Lực.
Mặc dù, đánh giá cao những nỗ lực của Bộ Xây Dựng trong việc tìm kiếm các giải pháp nhằm khai thông thị trường nguồn vốn nhằm phát triển thị trường nhà ở cho người nghèo, người thu nhập thấp, với những phân tích ở trên, tôi đề xuất Bộ Xây Dựng và Ngân hàng Nhà nước cần nghiên cứu kỹ lưỡng về việc thành lập Ngân hàng Xây dựng trong thời điểm hiện nay. Có lẽ vào bối cảnh thị trường như hiện nay, theo ý kiến cá nhân tôi, việc thành lập mới một ngân hàng xây dựng theo đề xuất của Hiệp hội Bất động sản là chưa chín muồi.

 http://vef.vn/2012-02-24-ngan-hang-xay-dung-co-can-luc-nay-

Viet-Studies bình loạn:

  Một bên là Thứ trưởng Bộ Xây Dựng, một bên là Chủ tịch VietCapital. Thời kỳ quá độ của Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là Cộng Hoà Chuối (Banana Republic).

Hàng loạt bổ sung trong 19 điều đảng viên không được làm



Hàng loạt bổ sung trong 19 điều đảng viên không được làm
29/02/2012
(ĐVO) Quy định số 47-QĐ/TW ban hành 19 điều đảng viên không không được làm, trong đó có nhiều điểm mới bổ sung, sửa đổi so với quy định cũ, phù hợp với tình hình thực tế mới.
>> TBT Nguyễn Phú Trọng: Phê bình không phải để 'vuốt ve' hay 'đấu đá' nhau
>> 19 điều đảng viên không được làm
Ngày 1/11/2011, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký Quy định số 47-QÐ/TW về những điều đảng viên không được làm (sau đây gọi tắt là Quy định số 47-QÐ/TW hoặc Quy định mới), thay thế Quy định số 115-QĐ/TW ngày 07/12/2007 do Bộ Chính trị ban hành. Quy định ban hành 19 điều đảng viên không không được làm, trong đó có những điểm mới bổ sung, sửa đổi so với quy định cũ.



Các đảng viên tại Đại hội Đảng. Ảnh: Vietnamnet.

Các nội dung mới, bổ sung trong Quy định 47-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm, cụ thể như sau:

- Điều 1 về không được làm sai quy định của Đảng và pháp luật: Bổ sung nội dung không được “không thực hiện Cương lĩnh chính trị...” (trước quy định không được nói và làm trái...); cấm “làm những việc mà pháp luật không cho phép” (trước cấm “làm những việc mà pháp luật không cho phép công dân, cán bộ, công chức làm”).

- Điều 2 về không được viết, công bố thông tin chưa được phép: Bổ sung nội dung không được “để lộ, làm mất hoặc viết bài, đăng những thông tin, tài liệu bí mật của Đảng và Nhà nước…” (trước chỉ cấm cung cấp”); cấm “tàng trữ… thông tin, tài liệu dưới mọi hình thức để truyền bá những quan điểm trái với đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước” (trước đây chỉ cấm “tuyên truyền, tán phát”).

- Điều 3 về không được viết, đăng tải bài sai sự thật : Bổ sung nội dung không được “sản xuất, tàng trữ, tán phát các tác phẩm, công trình văn học, nghệ thuật không lành mạnh …” (trước đây chỉ cấm “sáng tác”).

- Điều 4 về không được gây chia rẽ nội bộ: Bổ sung ghi rõ không được “...gây mất đoàn kết nội bộ” (trước quy định cấm “gây mất đoàn kết” ).

- Điều 5 về không được tố cáo, khiếu nại sai quy định: Bổ sung các nội không được “Cùng người khác tham gia viết, ký tên trong một đơn tố cáo” (trước đây cấm “viết, ký tên tập thể vào đơn, thư tố cáo”); cấm “Cố ý gửi hoặc phát tán đơn khiếu nại…” để làm rõ hơn trách nhiệm của đảng viên.

19 điều đảng viên không được làm

- Điều 6 về không được tổ chức, tham gia hội trái pháp luật: Bổ sung nội dung không được “biểu tình, tập trung đông người gây mất an ninh, trật tự” (trước quy định cấm “mít tinh, biểu tình khi chưa được cấp có thẩm quyền cho phép”).

- Điều 8 về không được quan liêu, thiếu trách nhiệm: Bổ sung hai nội dung không được “có hành vi để bố, mẹ, vợ (chồng), con, anh, chị, em ruột thực hiện các dự án kinh doanh các ngành nghề thuộc lĩnh vực hoặc đơn vị do mình trực tiếp phụ trách trái quy định”.

Đảng viên không được “biết mà không báo cáo, phản ảnh, xử lý các hành vi tham nhũng; không thực hiện các quy định về bảo vệ người chống tham nhũng”.

- Điều 9 về không được làm trái các quy chế tài chính: Bổ sung nội dung không được làm trái quy định trong những việc: “huy động vốn và cho vay vốn tín dụng”, "thực hiện chính sách an sinh xã hội, cứu trợ, cứu nạn".

- Điều 10 về không được lợi dụng chức vụ để bổ nhiệm, đề cử, ứng cử trái quy định: Bổ sung nội dung không được can thiệp, tác động đến tổ chức, cá nhân để bản thân hoặc người khác được “đề cử, ứng cử” (trước chỉ quy định cấm đối với việc “bổ nhiệm, đi học, đi nước ngoài”).

- Điều 11 và điều 16: Bổ sung làm rõ đối tượng “người thân” là “bố, mẹ, vợ (chồng), con, anh, chị, em ruột” trong việc đảng viên không được lợi dụng chức vụ để giúp người thân và để người thân ra nước ngoài khi chưa có phép của cơ quan có thẩm quyền.

- Điều 13 về không được kê khai, báo cáo sai: Bổ sung nội dung không được “Báo cáo, lập hồ sơ, kê khai lý lịch, lịch, lịch sử bản thân không trung thực”.

- Điều 14 (bổ sung mới): Quy định không được “Tổ chức du lịch, tặng quà, giải trí để lợi dụng người có trách nhiệm dẫn đến việc ban hành quyết định sai, có lợi riêng cho bản thân hoặc tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp mà mình tham gia”.

- Điều 15 về không được sử dụng công quỹ trái phép (trước là hai điều: Điều 14 và Điều 15): Bổ sung nội dung không được “Dùng công quỹ để thăm viếng trái quy định”; cấm “Chiếm giữ tài sản, cho vay quỹ của Nhà nước…trái quy định”.

- Điều 17 về cấm tệ nạn xã hội: Bổ sung nội dung không được “Tổ chức, tham gia đánh bạc dưới mọi hình thức”.

- Điều 18 về không được lợi dụng tín ngưỡng: Bổ sung các nội dung không được “đốt đồ mã”, cấm “lập nơi thờ tự của các tôn giáo trái phép”, cấm “tham gia các tổ chức do tôn giáo lập ra chưa được cấp có thẩm quyền cho phép. Lợi dụng tín ngưỡng để trục lợi”.

- Điều 19 về không được có các biểu hiện tiêu cực trong tổ chức hiếu hỉ: Bổ sung nội dung không được “Tổ chức việc cưới, việc tang,…lãng phí” (trước chỉ cấm tổ chức để trục lợi).

Có thể thấy, so với Quy định cũ, Quy định số 47-QÐ/TW có nhiều bổ sung, sửa đổi về nội dung và hình thức thể hiện. Theo đó, tuy vẫn giữ nguyên số lượng 19 điều nhưng Quy định mới có phạm vi nội dung rộng hơn, bổ sung vào từng điều trong Quy định cũ và có thêm nội dung mới hoàn toàn (điều 14). Câu chữ, cách diễn đạt trong Quy định mới ngắn gọn, tường minh hơn.

>> 19 điều đảng viên không được làm
Tại Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Trung ương đã thảo luận, cho ý kiến cụ thể về nhiều dự thảo quan trọng, trong đó có Quy định về những điều đảng viên không được làm. Thông báo Hội nghị của Ban chấp hành Trung ương Đảng nêu rõ: Quy định số 115-QĐ/TW, ngày 7/12/2007 của Bộ Chính trị (khóa X) về những điều đảng viên không được làm (Quy định 115), sau gần 4 năm thực hiện, đã đáp ứng tốt yêu cầu quản lý, giáo dục và rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, góp phần triển khai thực hiện đồng bộ Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; trở thành cơ sở, chuẩn mực cho đảng viên gương mẫu, phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức; là căn cứ để cấp ủy, tổ chức đảng, chi bộ, nhân dân, các tổ chức trong hệ thống chính trị giám sát đảng viên... Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, có một số nội dung chưa rõ, gây khó khăn cho việc xem xét vi phạm của đảng viên. Bên cạnh đó, bối cảnh mới hiện nay cũng đang đặt ra những yêu cầu mới. Do vậy, việc bổ sung một số vấn đề về những lĩnh vực bức xúc ảnh hưởng đến việc rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của đảng viên là cần thiết.
Quy định những điều đảng viên không được làm do Ban Chấp hành Trung ương ban hành bám sát Điều lệ Đảng khóa XI và Nghị quyết Đại hội XI của Đảng; các nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước; khắc phục được những hạn chế, bất cập trong nội dung Quy định 115 và những hạn chế, thiếu sót trong quá trình chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Những nội dung bổ sung, điều chỉnh có cơ sở thực tiễn và tính thiết thực.


Bá Mạnh
 http://baodatviet.vn/Home/chinhtrixahoi/Hang-loat-diem-bo-sung-trong-19-dieu-dang-vien-khong-duoc-lam/20122/194580.datviet

Quy hoạch và tham nhũng


Quy hoạch và tham nhũng (29/02/2012)


 (29/02/2012)
Quy hoạch đất đai luôn liên quan mật thiết đến việc phòng chống tham nhũng, lãng phí. Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hiệu quả là công cụ quan trọng trong quản lý nhà nước về đất đai, nhất là trong việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất... để tránh phát sinh tiêu cực, tham nhũng.

Bộ Tài nguyên - Môi trường chỉ ra tham nhũng
 trong lĩnh vực đất đai là nhiều nhất, trong đó 
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất xếp hàng đầu 
Ảnh T.L

Mập mờ quy hoạch, quy hoạch sai, tiêu cực phát sinh

Điều 21 Luật Phòng chống tham nhũng quy định về công khai minh bạch trong quản lý sử dụng đất đã nêu rõ: "1-Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải đảm bảo dân chủ và công khai; 2- Trong quá trình lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết, cơ quan, tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch đó phải thông báo công khai cho nhân dân địa phương nơi được quy hoạch, điều chỉnh biết; 3- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết, việc giải phóng mặt bằng, giá đền bù khi thu hồi đất sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt hoặc điều chỉnh phải được công khai; 4- Thẩm quyền, trình tự thủ tục và việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quy hoạch chi tiết và việc phân lô đất ở, đối tượng được giao đất làm nhà ở phải được công khai”. Cũng tại Luật Phòng chống tham nhũng tại Điều 14 cũng đã nêu rõ: "1-Dự án quy hoạch đầu tư xây dựng phải được lấy ý kiến nhân dân địa phương nơi quy hoạch; 2-Dự án đầu tư xây dựng từ ngân sách địa phương phải được Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định; 3- Dự án đầu tư xây dựng sau khi được quyết định phải được công khai để nhân dân giám sát”. Như vậy, từ nhận thức và thực tiễn cho thấy, vấn đề quy hoạch liên quan trực tiếp đến tiêu cực, tham nhũng.

Để hạn chế tiêu cực liên quan đến quy hoạch, pháp luật đã có những quy định rõ ràng, từ việc hình thành quy hoạch và thực hiện, cũng như mọi vấn đề phải được quyết định từ nhân dân và do nhân dân giám sát thực hiện. Tuy nhiên, trên thực tiễn, đã nảy sinh nhiều tồn tại, bất cập do việc thực hiện luật pháp không nghiêm. Nhiều quy hoạch, kế hoạch không được công khai, hay công khai không đầy đủ, dẫn đến sự mập mờ, nảy sinh tiêu cực, tham nhũng, khiếu kiện. Theo một kết quả điều tra chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam công bố vào tháng 3-2011, có tới 72 % người dân trả lời không biết về vấn đề quy hoạch, sử dụng đất tại địa phương, mặc dù họ rất cần biết vì liên quan trực tiếp đến đời sống của họ.

Nhiều năm qua, đã có rất nhiều vụ việc khiếu tố liên quan đến quy hoạch. Có vụ khiếu tố lãnh đạo một tỉnh ở phía Nam, cho mở một đường phố cong, uốn lượn chỉ vì để qua nhà mình. Hoặc như người dân Quận Tây Hồ (Hà Nội) khiếu tố con đường kè dạo quanh Hồ Tây không đúng quy hoạch ban đầu, nắn chỉnh để qua nhà hai cán bộ...

Năm 2011, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã triển khai 3 cuộc thanh tra việc chấp hành pháp luật đất đai đối với các tổ chức sử dụng đất tại Quảng Ninh, Đà Nẵng và Khánh Hòa. Thanh tra đã kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi 30.000m2 đất đô thị, 450ha đất rừng tại Quảng Ninh và đề nghị thu hồi gần 18.000m2 đất sản xuất kinh doanh tại Khánh Hòa; đề nghị chấn chỉnh các hành vi chậm đưa đất vào sử dụng, sử dụng đất chưa đạt hiệu quả. Từ thực trạng, Bộ Tài nguyên- Môi trường cũng đã chỉ ra nguy cơ tham nhũng trong lĩnh vực đất đai, nhiều nhất là: công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; công tác thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, bồi thường giải phóng mặt bằng; định giá đất... trong đó quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất xếp hàng đầu.

Quy hoạch và thực thi

Vấn đề quy hoạch cần phải nhìn nhận một cách toàn diện, từ vi mô đến vĩ mô. Một quy hoạch đưa ra không khả thi, do chủ quan, hay có thể vì lợi ích nhóm nào đó sẽ gây nên những hậu quả, thất thoát khó lường. Chỉ một thông tin trong quy hoạch mở rộng Thủ đô, các cơ quan hành chính sẽ được đưa lên chân núi Ba Vì đã làm nên cơn sốt đất ảo, làm lợi cho khối kẻ cò mồi, cơ hội, đồng thời cũng không ít người điêu đứng. Trong chiến lược quốc gia, "cái tầm, cái tâm” của những cán bộ làm công tác quy hoạch có vai trò rất quan trọng. Vấn đề vỡ quy hoạch cũng là vấn đề cần làm rõ nguyên nhân, quy trách nhiệm. Ở tầm vĩ mô, từ năm 2001 - 2010, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp cả nước đã tăng 190 nghìn ha so với năm 2000, vượt 14,10% chỉ tiêu Quốc hội đề ra, trong khi đó, tỷ lệ lấp đầy tại các khu công nghiệp chưa đến 50%. Đất ở tại đô thị và đất quốc phòng an ninh cũng đều vượt trên 20% so với chỉ tiêu. Nhiều sân gôn ra đời đã lấy vào bờ xôi, ruộng mật. Từ năm 2000-2010, đã có 270 nghìn ha đất lúa nước được chuyển cho các mục đích khác. Với xu hướng chuyển đổi diện tích đất nông nghiệp luôn vượt chỉ tiêu quy hoạch đặt ra, nhiều chủ đầu tư muốn đầu tư trên đất nông nghiệp vì đất nông nghiệp rẻ, nhiều tỉnh thành mang tâm lý sợ lỡ mất cơ hội nên dù có quy hoạch, dù có kế hoạch sử dụng đất lâu dài nhưng vẫn tiến hành điều chỉnh cho chuyển đổi mục đích sử dụng cục bộ. Theo quy hoạch, kế hoạch đến năm 2020 đề ra, phải giữ cho được 3,81 triệu ha đất trồng lúa liệu có "an toàn”?

Làm sao hạn chế tham nhũng?

Để hạn chế, tránh tham nhũng trong quy hoạch, thực hiện quy hoạch, vấn đề minh bạch hoá thông tin là yêu cầu trước hết, như Luật Phòng chống tham nhũng đã quy định, trong đó cần đảm bảo có sự tham gia của cộng đồng người dân, để thực sự "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Thực tế, ngoài Luật Phòng chống tham nhũng, vai trò của người dân đã được coi trọng và thể hiện trong một số văn bản của Nhà nước cách đây hàng chục năm như Điều lệ quản lý quy hoạch đô thị được ban hành kèm theo Nghị định số 91/CP ngày 17/07/1994 của Chính phủ; Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng được ban hành kèm theo Nghị định 52/1999/NĐ-CP ngày 08/07/1999; Nghị định 29/2007 ND-CP ngày 27/02/2007 của Chính phủ về quản lý kiến trúc đô thị; Thông tư 08/2007 TT-BXD ngày 10/09/2007 của Bộ Xây dựng cùng một số văn bản của nhà nước khác về việc hướng dẫn lập, thẩm định, phê duyệt quy chế quản lý quy hoạch đô thị.v.v. Nghị định 181/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003, cũng đã nêu rõ việc lấy ý kiến người dân khi lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết ở xã, phường là quy định bắt buộc. Tuy nhiên như các chuyên gia phân tích: Trở ngại lớn nhất là chủ nghĩa bè phái hay cạnh tranh quyền lợi trong các cộng đồng, nó làm phương hại đến mục đích cần đạt tới là "quyền lợi chung”. Điều này thường xuất hiện do sức mạnh của cá nhân có quyền lực trong các cơ quan địa phương. Tham nhũng cũng là một vấn đề liên quan đến người ủng hộ và sự bổ nhiệm. Nói một cách dân dã, nhiều khi "ý chí lãnh đạo” đã làm vỡ quy hoạch. Và như GS Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên- Môi trường, cho rằng, quy hoạch sử dụng đất phải được lập trên nguyên tắc đối thoại giữa các bên có liên quan tới sử dụng đất, lấy lợi ích kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường làm nền tảng đối thoại để đạt tới sự đồng thuận cao. Đây là một trong những giải pháp làm giảm nguy cơ tham nhũng trong quy hoạch sử dụng đất, đồng thời cần triệt tiêu tư duy quy hoạch là ý chí của lãnh đạo.
Cần đặc biệt tăng cường chế tài mạnh và tính thượng tôn pháp luật trong thi hành quy hoạch với mục tiêu quy hoạch phải có giá trị pháp lý cao, như ý kiến của TS Trần Kim Chung -Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (Bộ Kế hoạch - đầu tư) đã từng phát biểu. Thực tế cho thấy, hệ thống văn bản pháp luật đất đai có nhiều điểm chưa thống nhất, còn chồng chéo, tạo kẽ hở, phát sinh tiêu cực, tham nhũng. Để xử lý những bất cập, trong các quy định pháp luật về đất đai nói chung, về quy hoạch nói riêng cần được làm rõ, cụ thể; bổ sung, sửa đổi trong việc sửa Luật Đất đai tới đây.

Kiên Long
http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=0&chitiet=46880&Style=1

Việt Nam phản đối Trung Quốc đánh đập ngư dân tại Hoàng Sa

Thứ Tư, 29/02/2012
Việt Nam phản đối Trung Quốc đánh đập ngư dân tại Hoàng Sa
 
 
(Dân trí) - Đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp đại diện ĐSQ Trung Quốc tại Hà Nội để phản đối hành động nêu trên của phía Trung Quốc, yêu cầu phía Trung Quốc không để tái diễn những hành động sai trái tương tự và bồi thường thiệt hại cho ngư dân Việt Nam.”

Ngày 29/02/2012, trả lời câu hỏi của phóng viên về phản ứng của Việt Nam trước sự việc ngày 22/02/2012, 11 ngư dân trên tàu cá QNg 90281TS   của tỉnh Quảng Ngãi đã bị phía Trung Quốc dùng vũ lực uy hiếp, ngăn cản không cho vào quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam để tránh gió, đánh đập, lục soát lấy tài sản, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lương Thanh Nghị nêu rõ:          

“Việt Nam có chủ quyền không tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc ngư dân Việt Nam hoạt động nghề cá tại các vùng biển thuộc hai quần đảo này là việc làm bình thường từ bao đời nay và phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982.

Hành động trên của phía Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam, đi ngược lại tinh thần đối xử nhân đạo đối với ngư dân, đe dọa nghiêm trọng tính mạng và gây thiệt hại nặng nề về tài sản cho ngư dân Việt Nam, không phù hợp với quan hệ hữu nghị giữa hai nước và nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao hai nước, trái với tinh thần Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).
  
Đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp đại diện Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội để phản đối hành động nêu trên của phía Trung Quốc,  yêu cầu phía Trung Quốc không để tái diễn những hành động sai trái tương tự và bồi thường thiệt hại cho ngư dân Việt Nam.”

PV

http://dantri.com.vn/c20/s20-570178/viet-nam-phan-doi-trung-quoc-danh-dap-ngu-dan-tai-hoang-sa.htm 


tin liên quan:


Quyết tâm chỉnh đốn đảng


Thứ Tư, 29/02/2012
Quyết tâm chỉnh đốn đảng

TT-  Ngay từ khi mới ban hành, nghị quyết Hội nghị trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã nhận được sự quan tâm của đông đảo cán bộ, đảng viên và người dân.

Tin tưởng, hi vọng nhưng cũng không khỏi có những băn khoăn, lo lắng, đúng như Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu là “liệu nghị quyết lần này có được tổ chức thực hiện hiệu quả không hay lại rơi vào tình trạng “không đạt yêu cầu” như nhiều lần trước”.
Chính vì vậy, việc tổ chức hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện nghị quyết nêu trên là tín hiệu đáng mừng cho thấy quyết tâm cao của trung ương trong việc đưa nghị quyết đi vào cuộc sống. Dõi theo hội nghị có thể cảm nhận rõ ít nhất hai thông điệp. Thứ nhất, việc không tổ chức hội nghị theo vùng miền mà tổ chức hội nghị toàn quốc chính là cách làm để tất cả cùng quán triệt, tạo sự thống nhất cao về nhận thức ngay từ đầu.
Chính sự thống nhất về nhận thức mới tạo nên sức mạnh đưa nghị quyết vượt qua chặng đường khó khăn phía trước để đi đến đích. Không phải ngẫu nhiên đây được coi là hội nghị lớn nhất về phổ biến một nghị quyết chuyên đề của trung ương từ trước đến nay. Thứ hai, việc Tổng bí thư cùng tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng chủ trì, chỉ đạo hội nghị nói lên tầm quan trọng của hội nghị, của việc triển khai nghị quyết. Điều rất quan trọng là với sự vào cuộc nghiêm túc, quyết liệt ngay từ Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương, đây sẽ là tấm gương cho toàn Đảng, toàn dân noi theo, làm nghị quyết trung ương 4 thật sự đi vào cuộc sống.
Nghị quyết lần này đã tập trung vào những vấn đề cấp bách nhất với hệ thống giải pháp hết sức mạnh mẽ, như là: phê bình và tự phê bình, lấy phiếu tín nhiệm hằng năm, đẩy mạnh chất vấn trong Đảng... Đặc biệt là hệ thống giải pháp đó lại được làm sâu sắc thêm trong bài phát biểu quan trọng của Tổng bí thư, trong chỉ thị hết sức cụ thể của Bộ Chính trị. Kinh nghiệm từ việc thực hiện nghị quyết trung ương 6 (lần 2) cho thấy xây dựng và chỉnh đốn Đảng để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, để củng cố niềm tin của người dân, không những đòi hỏi quyết tâm chính trị rất lớn của cấp trung ương mà phải làm cho quyết tâm chính trị đó thấm vào mỗi cán bộ, đảng viên, để từ nhận thức biến thành hành động thực tế.
Có thể nói, nghị quyết trung ương 4 mang tính nhân văn rất cao, bởi nếu thực hiện nghị quyết này đến nơi đến chốn sẽ làm cho Đảng ta mạnh hơn, nâng cao ý thức rèn luyện, ý thức phục vụ người dân của mỗi cán bộ, đảng viên, qua đó góp phần quan trọng ngăn chặn và đẩy lùi không ít những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm kéo dài lâu nay.
Nghị quyết lần này cũng có nội dung về kiểm tra, giám sát việc thực hiện, tuy nhiên để tránh tình trạng nơi này, nơi khác, cấp này, cấp khác tổ chức thực hiện nghị quyết một cách hình thức, không thực chất, cần có sự công khai, minh bạch rộng rãi theo đúng tinh thần văn kiện Đại hội XI của Đảng là “dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân”.
Trung ương nên có kế hoạch cụ thể là giải pháp nào trong nghị quyết khi thực hiện thì sẽ được công khai kết quả, công khai đến đâu, người dân tham gia giám sát ra sao? Đơn cử như kết quả kiểm điểm của các cấp ủy, tổ chức Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên tới đây có được công khai hay không và ở mức độ nào? Chắc rằng sự công khai, minh bạch và tham gia giám sát của nhân dân sẽ tiếp thêm sức mạnh cho Đảng thực hiện thành công nghị quyết lần này.
 VŨ QUỐC HÙNG
(nguyên phó chủ nhiệm thường trực Ủy ban Kiểm tra trung ương)
VÕ VĂN THÀNH ghi

 bình lựng:
Thẳng thắn, công khai, dân chủ ? ....để xem xem có làm cho đảng thêm phân hóa  hay lực lượng thù địch lợi dụng để xuyên tạc, chống chế độ khg đã nhé ! Vạch áo cho người xem lưng ư, không bao giờ các vị ạ .

Kinh hoàng heo siêu nạc - Kỳ 3: “Thần dược” là chất độc bị cấm!


  Kinh hoàng heo siêu nạc