Tiêu Dao Bảo Cự
Đọc thơ Đông Trình, suy nghĩ về
Văn nghệ, Chính trị và Sám hối.
![]() |
Nhà thơ Đông Trình
Ký họa, 2010Họa sĩ Phan Ngọc Vinh |
Từ bao năm qua, đã thành thông
lệ, cứ mỗi lần xuất bản một tập thơ, Đông Trình lại gởi tặng cho tôi, và chắc
cho nhiều bạn bè thân khác nữa, một bản đặc biệt với lời đề tặng rất trân trọng
và thân thiết. Đó là thói quen của các tác giả khi xuất bản sách, nhưng đối với
chúng tôi, đây còn là biểu hiện của tình thân và sự chia sẻ. Tình thân của
những người bạn cố tri từ gần ba mươi năm qua, chia sẻ của mỗi chặng đường sáng
tác, trong đó bao gồm những chuyển biến của nhận thức, tình cảm và tâm trạng.
Tập thơ mới nhất của Đông Trình
vừa gởi tặng tôi trong mùa thu 93 này là một tuyển tập thơ với tựa đề “Rừng và
hoa” do nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành. Đây là tập tuyển những bài thơ viết trước
năm 1975 của tác giả bao gồm các bài trích từ 4 tập thơ đã xuất bản và một số
bài đã in trên các báo qua ba giai đoạn: 1965-68 (Khi mùa mưa bắt đầu, Lót ổ
cho đại bác), 1969-72 (Rừng dậy men mùa), 1973-75 (Hoa đã hướng dương). Chỉ đọc
tựa đề các tập thơ, ta cũng có thể hình dung con đường đi của thơ và của chính
tác giả.
Tuyển tập gồm những bài thơ đã
xuất bản, nhưng khi đọc lại, trong hoàn cảnh hiện nay, chúng gợi cho tôi những
gì xưa cũ đồng thời với những suy nghĩ vô cùng mới mẻ.
Xin gió rừng ôn lại cho chúng mày
Về những
đêm nằm chung
Không đứa
nào còn nhận ra được chân tay mình
Về những ly
cà phê
Trả bằng
những đồng tiền kẽm sót dưới đáy túi mỗi đứa
. . .
Về những
mai hội thảo
Về những
chiều bàn luận
Về trên
Thiên Thai về dưới Cửa Thuận
Về trong
phòng họp về ngoài nhà thuê
Về những
đêm vào tù
Về những
ngày ra khám
Về huy
hoàng và tủi nhục
Về kiêu
hãnh và mọn hèn
Về mặt trời
và đom đóm
Về mặt
trăng và dế mèn
(Với bạn bè ở miền núi)
Đó là tình thân và cuộc sống
của những chàng sinh viên rất nghệ sĩ, đa cảm và sục sôi nhiệt huyết muốn nhận
đường, hành động và hiến dâng cho đất nước trong một giai đoạn lịch sử đầy biến
động ở Miền Nam Việt Nam.
Bạn bè ta,
những thằng nuôi chí lớn
Luyện văn
chương thành một lưỡi gươm thần
Đứng với
ngu phu làm người hảo hớn
Sống giữa
đời hèn mà rất triết nhân
. . .
Có những
chiều vàng ta lên núi
Cùng anh
em trích máu ăn thề
Bao giờ quê
hương còn lửa khói
Chí cả
đường dài ta cứ đi
Tuổi thanh
xuân ta hề chất ngất cao vọng
Thở dài hơi
trong một quả tim hồng
Tuổi thanh
xuân ta hề căng như mặt trống
Như mũi tên
chờ trên cánh cung
(Hành ca cho một tương lai đã nhìn rõ mặt)
Những câu thơ gợi nhớ về một thời
kỳ khó quên, cũng là một mốc dấu lớn trên con đường đi tới của những người trẻ
tuổi sớm ưu tư về vận nước.
Năm 1965, trong một ngày đẹp
trời, hơn 20 sinh viên của các phân khoa thuộc Đại học Huế, trong đó phần lớn
là sinh viên ban Việt văn của trường Đại học Sư Phạm, rủ nhau lên núi Thiên
Thai ở ngoại ô Thành phố Huế họp mặt để “trích máu ăn thề”. Thực tế không có
“trích máu” theo nghĩa đen, nhưng đỉnh núi Thiên Thai hôm ấy đã chứng kiến sự
quyết tâm của những chàng trai 20 tuổi sục sôi máu nóng và nung nấu chí khí.
Sau đó họ đã hình thành một tổ chức lấy tên là Hội Hồng Sơn, tổ chức hoạt động
văn học nghệ thuật yêu nước và tiến bộ, ban đầu hoạt động trong phạm vi Đại học
Huế, mấy năm sau đổi tên là Nhóm Việt và dần dần phát triển rộng ra nhiều tỉnh
ở Miền Nam Việt Nam, hoạt động liên tục cho đến năm 1975.
Thế hệ chúng tôi là một thế hệ đầy ưu tư và
chất men lý tưởng. Ở tuổi hai mươi, đang ngồi trên ghế giảng đường đại học, vẫn
học, vẫn yêu và lao vào những cuộc đấu tranh trên đường phố với tâm trí luôn bị
ám ảnh bởi niềm đau của một đất nước đầy bất hạnh:
Ta đã ngồi
chờ bao nhiêu năm
Nhìn cảnh
binh đao ruột tím bầm
Sống giữa
quê hương làm người đất trích
Tự gõ mà ca
một khúc lưu vong
(Đêm nghe pháo kích, dậy đọc
cổ thi)
Lớn hơn một chút, khi ra trường đi dạy học hay
đi làm bất cứ việc gì, ở bất cứ nơi đâu, dù phải lo chuyện cơm áo ngày thường,
không vô tư về chuyện này như xưa nữa, lo gia đình vợ con, tương lai sự nghiệp,
chúng tôi vẫn không thôi khắc khoải:
Làm sao
kể với em
Tâm trạng
anh những buổi chiểu ở phương xa
Từ một ngôi
trường nằm sấp mình bên quốc lộ
Anh, rác
rưởi và học trò
Cúi đầu
nhìn nhau nghe đời thối rữa
Mưa giăng
mù trời đốt thuốc liên miên
Xót xa vô
cùng thân anh nhà giáo
Sơn quét
đời mình như tấm bảng đen
. . .
Làm thế nào
nói với em về những đứa học trò
Ban ngày
đến trường, ban đêm rước khách
Gặp thầy ở
mỗi ngã ba
Chiếc áo nữ
sinh không che sự thật
(Vô cùng
linh thiêng như nghe theo tiếng gọi)
Tâm trạng này một phần do hoàn
cảnh lịch sử và xã hội tác động mạnh đến những ngưởi có lương tri và tâm huyết,
nhưng thực ra đã có cội nguồn từ sâu xa trong lịch sử. Hơi thở của lịch sử đã
thấm đẫm vào máu thịt của chúng tôi từ khi nghe mẹ kể chuyện cổ tích, nói tục
ngữ, hát ru ca dao và từ những trang viết vụng dại đầu đời học sử của tiền
nhân:
Ăn hạt cơm
trời mỗi ngày ba bữa
Có bao
giờ em thấy buốt chân răng?
Bởi máu tổ
tiên đã nẩy mầm trong lúa
Và mồ hôi
làm phân bón cho đồng
Trên dòng
sông hàng ngày ta vẫn tắm
Có bao giờ
em thấy rợn trong da?
Thuyền độc
mộc kiêu hùng như chiến hạm
Xác quân
thù thêm mầu mỡ phù sa
Mỗi đỉnh
núi là một đồn phòng ngự
Rừng cho ta
bao nhiêu gậy tầm vông?
Mỗi hang đá
là một hầm cố thủ
Gỗ trăm cây
đều bát ngát như trầm
(Hạo khí ca)
Do thế, tất cả chúng tôi dù khi
lớn lên sống xa nhau, mỗi người mỗi cảnh, bằng những con đường và cách thế khác
nhau, nhưng hầu hết đều nhập cuộc, chiến đấu cho cùng một lý tưởng, chính là
ước mơ đã hình thành từ thời trẻ tuổi:
Dù rất xa
nhưng đường đi phải tới
Vì đau
thương đã nạm ngọc chân người
Tim đập
nhanh theo trăm ngàn bước vội
Trong đêm
buồn đã thấy rõ ngày vui
Hãy thức
dậy cùng tôi chào thành phố
Gởi lời
chia vui đến những con đường
Sáng nay
người về cờ hồng lối gió
Trên đỉnh
này ta thắp sáng quê hương
Xin mở cửa
ra nhìn nhau bốn phía
Gọi bà con
đem phân phát nụ cười
Đuổi khỏi
bóng đêm từ lâu ngự trị
Đuổi lời vu
oan hờm sẵn trên môi
(Một thành phố cho tương lai)
Chúng tôi hòa mình trong niềm đau
chung của tổ quốc, nỗi bất hạnh của cả một dân tộc anh hùng nhưng chịu nhiều
tai ương. Chúng tôi không sao có thể bình yên để hưởng thụ cho riêng mình mặc
dù chúng tôi có khả năng để hưởng thụ nếu mình nuốn, như một số người khác ở
thế hệ chúng tôi đã làm:
Sáng hôm
nay anh dừng lại bên đường
Có thấy
những mẹ già nón cời áo rách
Hàng triệu
trẻ con tong teo ốm nhách
Quỳ mọp
dưới chân người tìm hạt cơm rơi
Và có bao
giờ trong lịch sử loài người
Ký giả
xuống đường mang theo bị gậy
Giữa Sài
gòn xa hoa lộng lẫy
Trí thức
văn nhân … đói áo đói cơm
. . .
Những người
chết hôm nay muôn đời mắt còn mở
Họ nhìn
chúng ta khẩn thiết van lơn
Họ hỏi
chúng ta cây trái Trường Sơn
Sông rạch biển
ngòi thênh thang tôm cá
Đồng bằng
Cửu Long phì nhiêu mầu mỡ
Đã thấm
nhuần xương thịt cha ông
Họ hỏi
chúng ta về những cánh đồng
Lúa gạo đi
đâu không vào kho tổ quốc
. . .
Người bạn
tôi sáu con một vợ
Dạy bốn
mươi giờ mà ăn cháo thay cơm
Đêm về lén
vợ đi lái xe ôm
Gặp học trò
cúi đầu dưới ánh đèn thành phố…
(Vì những người chết không
nhắm mắt)
Vì thế, không thể nào khác, chúng tôi đã lần
lượt đến với “cách mạng”, ít nhiều góp phần mình cho ngày lịch sử 30/4/75, ngày
“giải phóng hoàn toàn Miền Nam Việt Nam, thống nhất tổ quốc”. Ở thời
điểm này, chúng tôi tự hào và kiêu hãnh đứng về phía những người chiến thắng,
đứng về phía nhân dân Việt Nam.
18 năm sau ngày lịch sử ấy, tôi đọc lại thơ
Đông Trình và thấy mọi chuyện như lại mới bắt đầu thuở chúng tôi tuổi hai mươi,
gần 30 năm trước, với những niềm đau và nấu nung khát vọng mới. “Dù rất xa
nhưng đường đi phải tới”. Chúng tôi đã “tới” nhưng không “đến” được với niềm mơ
ước của mình.
Bài thơ “Vì những người chết
không nhắm mắt” có thể viết cho ngày hôm nay, từ nội dung, tinh thần cho đến
từng chi tiết.
Ngày hôm nay, Việt Nam
vẫn là một trong những nước nghèo đói nhất trên thế giới với hàng triệu người
thất nghiệp, hàng triệu trẻ em suy dinh dưỡng, hàng vạn người ăn xin và gái
điếm. Lúa gạo có năm xuất khẩu đứng hàng thứ ba trên thế giới nhưng trong nước
vẫn có người chết đói. Tài nguyên thiên nhiên, rừng vàng biển bạc bị khai thác
vô tội vạ, có thứ đã hầu như cạn kiệt. Nhiều nơi đã công khai thừa nhận “cơ bản
hoàn thành việc phá rừng”. Thế nhưng tiền bạc không vào tay nhân dân mà chỉ vào
túi một thiểu số lãnh đạo cầm quyền và bọn cơ hội, tư sản mới cả xanh và đỏ
trong một chế độ kinh tế gọi là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, thực chất
là kinh tế tư bản man rợ mà chủ nghĩa cộng sản đã lên án từ bao nhiêu năm qua.
Sự phân hóa giàu nghèo diễn ra gay gắt. Những người giàu lên nhanh chóng phần
lớn là cán bộ có chức quyền có điều kiện ăn cắp, tham nhũng, hối mại quyền thế
và những kẻ làm ăn bất chính. Đại bộ phận nhân dân làm việc cơ cực không đủ ăn.
Những nhà giáo vẫn nhận đồng lương chết đói và
“không phải đêm về lén vợ đi lái xe ôm, Gặp học trò cúi đầu dưới ánh đèn thành
phố” mà còn được vợ khuyến khích đi làm thêm như thế để kiếm tiền. Trước đây
người ta xem chuyện đó như một điều bất đắc dĩ tủi hổ nhưng nhiều người bây giờ
xem đó là một lối thoát. Lái xe ôm, biết nói đôi chút tiếng Anh, tiếng Pháp để
chở khách nước ngoài có thể kiếm được tiền gấp năm, gấp mười lần lương giáo
viên.
“Trí thức văn nhân” vẫn “đói áo đói cơm” và
không hề có một chút tự do ngôn luận, báo chí, xuất bản dù hiến pháp ghi đầy đủ
mọi thứ tự do của con người. Tất cả báo chí đều là công cụ của Đảng và Nhà nước
nói theo một giọng tuyên truyền. Tháng 2/1989, Câu lạc bộ Những Người Kháng Chiến Cũ Thành Phố
Hồ Chí Minh khi xin phép ra báo không được đã gởi văn bản cho Nhà nước tố cáo
chính sách về báo chí hiện nay còn thua xa thời Pháp thuộc. Thời đó, những
người Cộng sản hoạt động chống Pháp còn có điều kiện ra báo chí, in sách hơn là
trí thức, những người làm báo hiện nay. Ở Miền Nam trước 1975, một mình Sao Trên
Rừng (Nguyễn Đức Sơn) cũng ra nổi một tờ
báo. Anh em nhóm Việt chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn vẫn có sách xuất
bản, có thể tự mình ra báo hoặc cộng tác, tham gia chủ biên nhiều tờ báo đối
lập. Ngày hôm nay, những người như anh em nhóm Việt và nhiều nhà văn, nhà báo
khác không đủ tài năng và trình độ để ra báo hay sao? Trong khi đó, việc độc
quyền báo chí, xuất bản, đã mang lại điều gì tốt đẹp? Sách báo đứng đắn, có giá
trị hiếm hoi. Nạn sách đen, sách dâm ô đồi trụy, kích động bạo lực lan tràn.
Các nhà xuất bản, các tờ báo vẫn chịu sự chi phối của các tay đầu nậu lắm tiền,
chạy theo kinh doanh bất chấp văn hóa. Một số người mù tịt về văn học nghệ
thuật vẫn ngang nhiên quyết định số phận của những tác phẩm văn học nghệ thuật
đầy trí tuệ, lương tri và tâm huyết.
Không phải nói về mình một cách tự kiêu nhưng
những anh em nhóm Việt đã làm báo và có tác phẩm được nhiều người đọc và ủng hộ
ở Miền Nam trước đây, được đánh giá là những trí thức, nhà văn yêu nước và tiến
bộ, đã được Đài Tiếng Nói Việt Nam và Đài Phát Thanh Giải Phóng tuyên truyền và
ca ngợi, đã được Nhà Xuất Bản Giải Phóng chọn in thành tuyển tập từ trước 1975,
họ không phải là những kẻ bất tài hay làm cách mạng theo đuôi. Không phải chỉ
anh em nhóm Việt mà còn nhiều nhà văn, nhà báo kỳ cựu ở Miền Nam ở trong hoàn
cảnh tương tự mà người ta thường coi là những người thiên tả, thân cộng hoặc
yêu nước chân chính như Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Thế Nguyên...
Vậy thì những câu thơ của Đông
Trình ngày nay vẫn còn nguyên giá trị:
Hãy thét cho tôi triệu tiếng căm hờn
Hãy cứu báo
ra khỏi tay bọn phần thư Tần Thủy
Ngọn bút
anh sắc bạo quyền cố bẻ
Nhưng có
thể nào che mắt được nhân dân
Và những câu hỏi lớn nhức nhối vẫn được đặt
ra:
Và tại sao có những người nhân danh cả
nước
Đi kiếm
tiền như một bọn ăn xin
Và tại sao
trên những buyn đinh
Tiếng rượu
sâm banh nổ vang như pháo tết
Dưới chân
thang đồng bào ta gục chết
Mà tiếng
kêu thương không phá vỡ những trận cười?
(Vì những người chết không
nhắm mắt)
Dĩ nhiên đây là hình tượng của
thơ. Nhưng hình tượng này có đầy đủ sức mạnh, sức tố cáo và sức khái quát của
những câu thơ đã được “mài như kiếm sắc”.
Đất nước ta nhỏ bé, nghèo thật
nhưng quyết không thể hèn hạ hay đi ăn
xin. Nói “Không có gì quý hơn độc lập tự do” mà luôn quỳ gối trước Nga, Tàu,
đổi thù thành bạn, đổi bạn thành thù như chong chóng. Theo Liên Xô, chống xét
lại rồi lại thân Liên Xô, rồi lại chống cải tổ. Tình hữu nghị “núi liền núi,
sông liền sông”, “môi hở răng lạnh”, đổi ngay thành “kẻ thù truyền kiếp, trực
tiếp và nguy hiểm”, rồi lại đổi tiếp thành “hữu nghị lâu đời”, rồi chưa biết sẽ
đổi thành gì nữa. Đế quốc Mỹ là “kẻ thù trực tiếp, nguy hiểm và lâu dài” nhưng
sau chiến thắng lại năn nỉ, khẩn cầu Mỹ bỏ cấm vận và thiết lập quan hệ bình
thường. Mỹ bỏ cấm vận là đúng và cần thiết nhưng không phải vì thế mà chỉ biết
van xin một cách hèn hạ.
Hoàn cảnh đất nước ta cần hết sức
đề cao sự nghiệp giữ nước, có chính sách ngoại giao khôn khéo và thông minh. Đó
không phải là điều mới mẻ gì. Những người lãnh đạo đất nước ta hàng ngàn năm
qua đã chứng minh và làm được điều đó, dù là dưới chế độ “phong kiến thối nát”
như cách đánh giá của những người cộng sản.
Trước hết phải có tinh thần Phù
Đổng, lên ba chưa biết nói biết cười, nhưng khi nghe tin có giặc, đã vươn vai
thành dũng sĩ, nhảy lên ngựa đi cứu nước. Hai Bà Trưng vì “nợ nước thù nhà”. Bà
Triệu phận nữ nhi vẫn “quyết đạp làn sóng dữ, chém cá kình ở biển khơi”. Lý
Thường Kiệt ngạo nghễ đọc bài thơ “Nam
quốc sơn hà Nam
đế cư” và đem quân đánh Tống. Trần Hưng Đạo và vua tôi, quân dân nhà Trần ba
lần đại phá quân Nguyên là đế quốc vô địch lừng lẫy thời đó. Nguyễn Trãi và Lê
Lợi cùng quân dân cả nước đánh bại nhà Minh và sang sảng đọc “Bình Ngô đại
cáo”. Quang Trung cho người giả thay mình đi triều cống nhưng vẫn chuẩn bị kế
hoạch xuất quân đòi lại đất Trung Quốc chiếm đóng.
Bản Tuyên ngôn độc lập thành văn
lần thứ nhất của đất nước ta chính là bài thơ của Lý Thường Kiệt, lần thứ hai
chính là bài “Bình Ngô đại cáo”, đâu phải đến tháng 9/45 lần đầu ta mới có
tuyên ngôn độc lập.
Người Việt Nam yêu nước nào không rung động
tâm can khi đọc lại “Bình Ngô đại cáo”:
Như nước
Đại Việt ta từ trước
Vốn xây nền
văn hiến đã lâu
Cõi bờ sông
núi đã riêng
Phong tục
Bắc-Nam cũng khác
Trải
Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước
Cùng Hán,
Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
Tuy mạnh,
yếu có lúc khác nhau
Mà hào kiệt
không bao giờ thiếu
Những bài học lịch sử sơ đẳng
nhưng vô giá đó người Việt Nam
mấy người không biết. Những người cộng sản đừng tự kiêu rằng chỉ có mình mới
làm nên những sự tích thần kỳ và khôn ngoan, tài giỏi hơn cha ông. Chúng ta
không bao giờ bài ngoại, nhất là trong thời đại ngày nay, thời đại mở cửa và
thế giới là một mái nhà chung, nhưng không vì khó khăn mà chịu nhục, mất quốc
thể. Nếu lãnh đạo mà không đủ tài trí để lo cho dân cho nước, để Việt Nam
sau 18 năm “thống nhất, hòa bình, độc lập, tự do” vẫn là một trong những nước
nghèo đói nhất thế giới thì đừng đòi “độc quyền lãnh đạo”. Dân tộc Việt Nam
không thiếu người tài trí và không nhân dân, lịch sử nào giao phó cho những
người cộng sản độc quyền lãnh đạo. Đó là điều họ tự nhận thôi. Hãy thử trưng cầu
ý kiến nhân dân, hãy có tự do bầu cử đi
xem nhân dân sẽ tín nhiệm ai.
Trong cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc và giành quyền lãnh đạo, ban đầu những người cộng sản đã chiến thắng
nhờ có nhân dân ủng hộ và sách lược đúng. Chiến thắng này không phải là một lần
và mãi mãi. Thuận lòng dân thì còn, nghịch lòng dân thì mất. Lịch sử đã chứng
minh chân lý ấy. Ngày xưa ông cha ta nói “Được làm vua, thua làm giặc.” Các
triều đại phong kiến ngày xưa cũng tự cho mình là thiên tử, thay trời để trị
dân, cho ai chống lại mình là nghịch mệnh trời, tự tung hô mình vạn tuế nhưng
mấy triều đại quá được trăm năm? Những người cộng sản phê phán phong kiến sao
vẫn tự mình hô muôn năm và đòi mãi mãi độc quyền lãnh đạo? Hãy tự xem mình còn
đủ năng lực và tín mhiệm để lãnh đạo không chứ đừng tự huyễn hoặc mình và dùng
bạo lực đè đầu cỡi cổ nhân dân, buộc nhân dân phải phục tùng độc quyền lãnh
đạo.
Nhân dân ta không chỉ “đói cơm
đói áo” mà vẫn còn “đói hòa bình, độc lập, tự do”. Hiện nay chúng ta có thể có
hòa bình, thực ra có hòa bình bên ngoài mà không hề có hòa bình trong lòng. Hòa
bình sao được khi “Lời vu oan hờm sẵn trên môi” dành cho những người yêu nước
nhưng không phục tùng độc quyền lãnh đạo, khi lãnh đạo không phải là sáng suốt
như mình tự nhận.
Còn độc lập, tự do thật sự đã có
chưa? Và những gì nữa?
Nhân dân ta không chỉ đói cơm đói áo
Nhân
dân ta đói Hòa Bình, Độc Lập, Tự Do
Anh đói em,
chồng đói vợ, thầy đói trò
Ruộng đói
người, đất đói phân, cây đói trái
Nguồn đói
nước, mẹ đói con, thuyền đói lái
Thầy đói
Phật, Cha đói Chúa, đạo đói lương tâm...
(Vì những người chết không
nhắm mắt)
Đúng là “những người chết không
nhắm mắt” và những người sống lại càng không thể yên lòng. Cả một sự nghiệp của
dân tộc với hàng triệu người hi sinh trong bao nhiêu năm lại chỉ dẫn đến kết
quả y như cũ và còn tệ hơn cũ hay sao?
Tình cờ lúc tôi đọc tập thơ “Rừng và hoa” lại
nhận được bài viết “Nhức nhối” của Nguyễn Thế Hùng, cán bộ nghỉ hưu ở Đồng Tháp
viết từ năm 1989. Bài viết nêu ba trường hợp nhà văn, trí thức bị Đảng xử trí
oan, không cần luật pháp vào những năm 60.
Tuân Nguyễn, công tác ở Đài Phát Thanh Truyền
Hình Việt Nam
bị bắt giam giữ 6 năm không có án. Sau khi
được tha, hai vợ chồng phải đi dọn hố xí hai ngăn cho nhiều gia đình ở Hà Nội
để kiếm sống. Năm 1983, anh chết vì một tai nạn giao thông, chưa kịp có thời
gian để làm lại cuộc đời. Trong đám tang của anh, Huy Lam, một người bạn thân
thiết đã đọc lời điếu bằng thơ:
Thời đại
như ngả ba sông
Anh như con
thuyền giữa dòng nước xoáy
Thuyền
anh vượt thẳng, mà sông lại cong
Chạm
bờ sông, nước dìm anh tận đáy...
Vũ Thư Hiên, công tác ở ngành
điện ảnh, đi học Liên xô về, hiểu biết và thông thạo nhiều lĩnh vực, cũng bị
bắt giam 9 năm không có án. (Tiểu thuyết “Miền thơ ấu” của anh được tặng giải A
trong giải thưởng cho những tác phẩm xuất sắc năm 1988 của Hội đồng Văn học
Thiếu nhi Hội Nhà Văn Việt Nam).
Hoàng Minh Chính, hoạt động cách
mạng từ năm 14 tuổi, từng bị Pháp bỏ tù ở Sơn La với án 10 năm khổ sai, 10 năm
biệt xứ, từng làm Bí thư Thanh niên Trung Ương, chỉ huy trưởng đội “Quyết tử
quân” đánh phá sân bay Gia Lâm (Hà Nội), đi học Trường Đảng cao cấp của Liên
Xô, làm Viện trưởng Viện Triết học thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam.
Hoàng Minh Chính bị Đảng bắt giam
hai lần, tổng cộng trên 16 năm. Về hai trường hợp của Tuân Nguyễn và Vũ Thư
Hiên, Nguyễn Thế Hùng không nói rõ lý do nhưng đối với Hoàng Minh Chính nêu lý
do rất cụ thể.
Tháng 12/1963, trong hội nghị
Trung Ương Đảng lần thứ 9, Hoàng Minh Chính đã viết hai kiến nghị: Kiến nghị
thứ nhất lý giải và đề nghị tuân thủ trung thành với Tuyên bố chung của Hội
nghị 81 đảng Cộng sản và Công nhân quốc tế mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã ký kết
vào năm 1960. (Tuyên bố chung này đã đề ra các đường lối chính trị, các nguyên
tắc và khẩu hiệu rất tiến bộ như “Chiến tranh không phải là định mệnh. Có khả
năng loại trừ chiến tranh khỏi đời sống xã hội. Chung sống hòa bình giữa các
chế độ xã hội khác nhau”...) Tuy nhiên sau hội nghị năm 1960 này, đã có sự chia
rẽ, do đảng Cộng sản Trung quốc, đứng đầu là Mao Trạch Đông, lôi kéo một số
đảng anh em chống lại bằng các luận điểm tả khuynh cực đoan trái với tuyên bố
mà họ đã ký kết như “Bản chất chủ nghĩa tư bản đế quốc là xâm lược. Còn đế quốc
còn chiến tranh. Chiến tranh là tất yếu. Liên xô là con ngựa thành Troie, kẻ
thù nguy hiễm nhất của cách mạng thế giới. Khơrút sốp là tên xét lại”...) Kiến
nghị thứ hai lý giải về mặt lý luận Mác-Lênin và sự sai trái, phản động, phản
cách mạng của chủ nghĩa Mao.
Trong hội nghị Trung ương Đảng 9 ngày, phe
thân Trung quốc thắng thế nên một số ủy viên Trung ương Đảng bị treo giò, Hoàng
Minh chính và một số người khác do đấu tranh kiên cường như Đặng Kim Giang
(thiếu tướng), Phạm Kỳ Vân (Phó tổng biên tập tạp chí lý luận của Trung ương),
Trần Minh Việt (Phó bí thư thành ủy Hà Nội)... đã bị quy tội là “xét lại, chống
Đảng” và bị bắt giam ngoài pháp luật.
Sau khi bị bắt giam lần đầu được tha, đến
tháng 6/1981, trong kỳ họp Quốc hội khóa 7, Hoàng Minh Chính lại viết một bản
kiến nghị gởi Quốc hội. Kiến nghị nêu lên một loạt khuyết điểm nghiêm trọng
trên các bình diện chính trị, kinh tế, quân sự, xã hội, cả đối nội và đối
ngoại, trong đó đã mất cảnh giác với Trung quốc (sự kiện Trung quốc đưa 60 vạn
quân đánh vào 6 tỉnh biên giới phía bắc hồi tháng 2/79), đồng thời phê phán
việc đi theo chủ nghĩa Mao, rập khuôn nhiều cái theo Trung quốc, đẩy đất nước
vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng toàn diện như việc hợp tác hóa nông nghiệp dẫn đến cảnh người
nông dân nhiều nơi bị đói, phải đi ăn xin cả làng (Thanh hóa), nêu những yêu
cầu khẩn thiết phải sớm cải thiện đời sống nhân dân, đổi mới cơ cấu tổ chức,
giải quyết các vụ bê bối nghiêm trọng cấp nhà nước, mở rộng tự do dân chủ cho
nhân dân...
Sau kiến nghị này, Hoàng Minh Chính lại
bị bắt giam lần thứ hai, đưa về giam giữ
ở Hải Hưng về tội “kích động Quốc hội”.
Trong bài viết “Nhức nhối” trên
đây, Nguyễn Thế Hùng còn nói rõ vào năm 1985, tác giả có gặp Chủ tịch Hội Đồng
Bộ Trưởng Phạm Văn Đồng yêu cầu xem xét và trả tự do cho Hoàng Minh Chính, ông
Phạm Văn Đồng ghi nhận nhưng sau đó không có giải quyết gì cụ thể.
(Lại một tình cờ lạ lùng, khi tôi vừa viết
xong những dòng trên đây, lại được đọc một đơn kiện của Hoàng Minh Chính, viết
ngày 27/8/93 yêu cầu xét lại vụ án của mình, với nội dung như trong bài viết
của Nguyễn Thế Hùng và tố cáo đích danh tập đoàn Cộng sản tàn ác lộng quyền do
Lê Đức Thọ đứng đầu. Trong đơn kiện này, ông Hoàng Minh Chính cũng kiến nghị
với Quốc hội khóa 9 loại bỏ điều 4 trong Hiến pháp 1992 về sự áp đặt quyền độc
tôn của dảng. Theo ông, “sự độc quyền đó đã đặt các cấp ủy đảng đứng trên pháp
luật nhà nước, vô hiệu hóa tất cả các bộ máy nhà nước trước sự lộng quyền của
một vài cá nhân và nhóm người nhân danh Đảng lãnh đạo. Các quyền tự do dân chủ
được trịnh trọng ghi trong hiến pháp và các văn bản pháp luật do đó chỉ còn là
những mỹ từ trống rỗng”.)
Đây không phải là lần đầu tiên tôi đọc loại bài như bút ký “Nhức nhối”
của Nguyễn Thế Hùng. Tôi nhắc đến bài viết của Nguyễn Thế Hùng ở đây vì tôi đọc
nó cùng lúc khi đọc lại thơ Đông Trình. Tôi liên tưởng đến vấn đề vào cùng một
thời điểm lịch sử, khi anh em chúng tôi và nhiều trí thức Miền Nam khắc khoải
nhận đường để tìm về với “cách mạng”, “cống hiến cho cách mạng” với nhiệt tâm
cháy bỏng của mình, thì chính “cách mạng” lại đối xử với đồng chí mình như thế
nhưng chúng tôi lúc đó nào có biết. Cách mạng đối với chúng tôi chỉ là lý tưởng
ngời sáng giải phóng dân tộc, độc lập, tự do, công bằng xã hội. Chúng tôi đã
hiểu quá ít về “cách mạng”.
Những trường hợp Tuân Nguyễn, Vũ Thư Hiên,
Hoàng Minh Chính không phải là những trường hợp cá biệt trong lịch sử giành và
giữ chính quyền của những người Cộng sản. Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh với khẩu
hiệu “Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” vào năm 1930, chính sách
cải cách ruộng đất năm 1954, vụ án Nhân văn-Giai phẩm vào các năm 1956-57,
chính sách cải tạo đối với “ngụy quân, ngụy quyền”, chính sách cải tạo nông
nghiệp và công thương nghiệp sau l975... Và mới gần đây, sau thời kỳ gọi là đổi
mới, Đảng và Nhà nuớc vẫn tiếp tục trù dập các nhà văn Nguyên Ngọc, Dương thu
Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Hà Văn Thùy, Trần Huy Quang... , ban biên tập các tạp
chí Sông Hương, Cửa Việt, Văn nghệ Nha
Trang, cả báo Sài Gòn Giải Phóng, Tuổi Trẻ… (Những người không chịu phục tùng
một cách máy móc, nô lệ), dành những bản án nặng nề cho những người đấu tranh
cho dân chủ một cách hòa bình như các nhóm của Nguyễn Đan Quế, Đòan Viết Họat …
, đàn áp thô bạo những người dám nói tiếng nói của lương tri như Chân Tín,
Nguyễn Ngọc Lan, Nguyễn Hộ, Tạ Bá Tòng, Đỗ Trung Hiếu, Hồ Hiếu … , trong đó có
những người là cán bộ, đảng viên kỳ cựu hoặc ủng hộ Cộng sản, đã cống hiến cho
sự nghiệp chung bao năm qua. Chính bản thân tôi, cùng với Bùi Minh Quốc trong
vụ Hội Văn Nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian, đã tự thân cảm nhận sâu sắc điều
này về cách đối xử của những người lãnh đạo Cộng sản đối với những người bất
đồng quan điểm.
Tất cả đã mang lại điều gì cho
đất nước, cho dân tộc?
Tôi không phủ nhận lý tưởng cao
đẹp thuở ban đầu, sự hi sinh cống hiến và công lao của những người Cộng sản
trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Dĩ nhiên, theo một cách nhìn nhận nào đó,
ngay cả những điều này cũng cần xem xét lại (về phương thức, về cái giá phải
trả…) Tôi không bàn điều đó ở đây. Chính tôi cũng đã từng có thời gian khao
khát hướng về chủ nghĩa Cộng sản, tìm đến những người Cộng sản, đã là đảng viên
Cộng sản trong mười lăm năm cho đến khi bị khai trừ vì bất dồng quan điểm với
những người lãnh đạo Cộng sản hiện nay.
Năm 1966, thuở hai mươi, khi còn là sinh viên
trong cao trào đấu tranh cho độc lập, tự do, dân chủ của sinh viên học sinh
Miền Nam, tôi kinh tởm khi đọc bài thơ ca ngợi Stalin “Đời đời nhớ Ông” của Tố
Hữu:
Stalin!
Stalin!
Yêu biết
mấy, nghe con tập nói
Tiếng đầu
lòng con gọi Stalin!
…
Thương cha
thương mẹ thương chồng
Thương
mình thương một, thương Ông thương mười
Yêu con yêu
nước yêu nòi
Yêu bao
nhiêu lại yêu Người bấy nhiêu.
Nửa năm sau, khi phong trào đấu
tranh bị đàn áp, trong nhà giam, tôi gặp một người tù Cộng sản, người chiến sĩ
du kích hơn tôi vài tuổi, ở nông thôn, chỉ mới học hết tiểu học, đã ở tù ba
năm, chịu bao nhiêu cuộc tra tấn, mắt vẫn rực lửa hận thù và lòng tin sắt đá đã
chinh phục được tôi. Người chiến sĩ du kích này không nói với tôi về chủ nghĩa
Mác-Lênin nhưng anh và tôi đã đồng cảm sâu sắc về khát vọng độc lập, tự do, hòa
bình, hạnh phúc cho tổ quốc, cho nhân dân. Tôi đã chia sẻ với anh từ nửa chiếc
khăn mặt, gói muối mè, điếu thuốc trong nhà tù và cả tâm tình đau đớn của anh
khi phải chia tay người vợ trẻ vừa mới cưới.
Phải chăng chính tình tự dân tộc
và những khát vọng có tính lâu dài, phổ quát mới là những giá trị vĩnh cửu và
đẹp đẽ, trong sáng nhất mà mỗi người có thể cảm nhận thuở mới vào đời. Còn chủ
nghĩa, tất cả các chủ nghĩa chỉ là phương tiện để đạt tới cứu cánh. Các chủ
nghĩa có thể sai lầm và phải được kiểm nghiệm trong thực tiễn. Thực tại biến
chuyển không ngừng và không chủ nghĩa nào có thể có giá trị vĩnh cửu. Lịch sử
nhân loại không phải đã chứng minh điều đó quá rõ hay sao? Thế tại sao chúng
ta, kể cả các nhà chính trị, các nhà trí thức, các nhà văn, lại có thể tin
tưởng vào một chủ nghĩa, một giáo điều, tự mình huyễn hoặc làm nhận thức sai
lạc đi đến trở thành cuồng tín?
Văn nghệ không phi chính trị
nhưng văn nghệ không thể phục vụ mù quáng, làm công cụ tuyên truyền cho một chủ
nghĩa. Văn nghệ, về một phương diện, phải là tiếng nói của lương tri. Lương tri
phải nhận biết đúng sai, phải biết phản kháng, phải nói lên sự thật. Nếu văn
nghệ có sứ mệnh thì sứ mệnh của văn nghệ phải chăng là đi theo con đường của tự
do và chân lý, mang lại cái đẹp, cái thiện cho cuộc sống của con người. Chính
trên con đường thênh thang này, văn nghệ mói có thể thể hiện tài năng của người
nghệ sĩ.
Trước Cách Mạng Tháng Tám, một
thế hệ nghệ sĩ đầy tài năng đã xuất hiện, tác phẩm của họ thời đó đã làm rung
động tâm hồn, chiếm lĩnh tình cảm của cả dân tộc qua mấy thế hệ, cho đến tận
ngày hôm nay. Thơ Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên,
Nguyễn Bính … Văn của Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Nguyễn
Công Hoan, nhóm Tự Lực Văn Đòan … Nhạc Phạm Duy, Văn Cao, Lê Thương, Cung Tiến,
Đặng Thế Phong …
Trong cuộc kháng chiến chống
Pháp, khi người nghệ sĩ với lòng tự nguyện, dấn thân cho sự nghiệp độc lập dân
tộc, với hào khí vinh quang của người chiến sĩ ra trận, các tác phẩm của họ
cũng đã đi vào cuộc sống, trở thành tiếng hát chính trái tim mỗi người. Nhưng
khi người nghệ sĩ đã “giác ngộ”, tôn thờ một chủ nghĩa, phục vụ cho một chế độ
chính trị, tác phẩm của họ chỉ còn là những bài tuyên truyền gượng gạo, lố
bịch, những bản tụng ca một chiều. Nếu người nghệ sĩ thực sự đầy tài năng thì
tài hoa của họ cũng chỉ phết được lớp sơn màu mè lên một nội dung thô nhám.
Tố Hữu là nhà thơ cộng sản số 1, rất tài năng nhưng đã tạo nên "quái thai văn học"
( theo kiểu nói của Nguyễn Ngọc Lan ) " Đời đời nhớ ông" khóc Stalin.
Xuân Diệu, nhà thơ đắm say của
tình yêu và tuổi trẻ, những kiệt tác trong tập " Thơ thơ" của ông đã
được chép nắn nót trong sổ tay của hàng
triệu thanh niên qua nhiều thế hệ, sau năm 1954 ông sáng tác được gì ?
Tôi vẫn hoài nghi và chưa kiểm chứng được không biết những
"vần thơ" sau đây có phải thực
sự là của Xuân Diệu ( trích dẫn trong cuốn " Trăm hoa đua nở trên đất
Bắc" do Mặt trận bảo vệ tự do văn
hóa xuất bản năm 1959 ở Sài gòn):
Mỗi lần tranh đấu gay go
Chúng con
lại được Bác Hồ tới thăm
Nghe lời
bác dạy khuyên răn
Chúng con ước muốn theo chân của người…
Chúng con
thề nguyện một lời
Quyết tâm
thành khẩn… lột người từ đây.
Anh em ơi, quyết chung lưng
Đấu tranh
tiêu diệt tàn hung tử thù
Địa hào,
đối lập ra tro
Lưng chừng
phản động đến giờ tan xương
Thắp đuốc
cho sáng khắp đường
Thắp đuốc cho sáng đình làng đêm nay
Lôi cổ bọn
nó ra đây
Bắt qùy gục
xuống, đọa đày chết thôi.
Nếu quả đúng thơ Xuân Diệu thì
thật là khủng khiếp khi chính trị chi phối, chỉ đạo trực tiếp văn nghệ, thật là
khủng khiếp cho thơ ca phục vụ chính trị! Nhưng còn thơ tình Xuân Diệu? Người ta ca ngợi nhiều bài thơ "
Biển" Xuân Diệu viết năm 1962:
… Anh xin
làm sóng biếc
Hôn mãi cát
vàng em
Hôn thật
khẽ thật êm
Hôn êm đềm
mãi mãi
Đã hôn rồi, hôn lại
Cho đến mãi
muôn đời
Đến tan cả
đất trời
Anh mới
thôi dào dạt.
So với những "Giục
giã", "Tương tư, chiều"… trong "Gởi hương cho gió" và
"Thơ thơ" của Xuân Diệu hay
những "Ngậm ngùi", "Áo trắng"… trong "Lửa thiêng"
của Huy Cận đã ru hồn bao thế hệ với
tình sầu và nỗi cô liêu của kiếp người, thì
các thi sĩ trong "phục vụ nhiệm vụ chính trị" sau này còn sáng
tác được bài thơ nào ra hồn hay đã trở
thành cán bộ, quan chức văn nghệ chỉ
biết thảo công văn, đọc báo cáo và đi dự
tiệc?
Chế Lan Viên tài hoa và mê đắm
trong "Điêu tàn" cũng vẫn tài hoa, điêu luyện trong những bài tụng ca
" Người đi tìm hình của nước", " Tổ quốc có bao giờ đẹp như thế
này chăng" nhưng những bài thơ này phảng phất "mùi nghị quyết"
và không che được cái giả, cái gượng ép
của một người làm thơ muốn "nịnh
đảng, nịnh lãnh tụ" để lập công.
Còn nguyên Hồng sau "Bỉ
vỏ", Nguyễn Công Hoan sau "Kép Tư Bền", Nguyễn Tuân sau "
Vang bóng một thời"…, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, tác phẩm của họ còn có
gì sẽ đứng được với thời gian ?
Trong âm nhạc, Văn Cao làm sao
có thể sáng tác nổi thêm một "Thiên thai", một "Tiến quân ca"…
trong chế độ gọi là xã hội chủ nghĩa ưu việt. Và còn bao nhiêu nhạc sĩ tài hoa
khác tương tự như Văn Cao?
Người nghệ sĩ tự hủy hoại chính
mình và tác phẩm của mình khi phục vụ cho một chủ nghĩa, một chế độ chính trị
hay chủ nghĩa và chế độ chính trị đã làm
thui chột tài năng, hay cả hai điều này cộng lại đã tạo nên sự tàn phá
khủng khiếp cho văn học nghệ thuật trong
những thời kỳ lịch sử?
Đã đến lúc chưa, chúng ta tự hỏi
và lý giải về điều này một cách nghiêm túc?
Tôi không viết được nhiều
như một số bạn cùng thời
nhưng bản thân tôi cũng cảm thấy không thích khi đọc lại truyện ngắn
"Tự do hay là chết" của mình đăng trên tạp chí Đối diện năm 1972. Cùng với một số
bài viết khác có xu hướng tương tự đăng trên báo chí Miền Nam lúc đó, truyện
ngắn này đã được đài Tiếng Nói Việt Nam, Đài Phát Thanh Giải Phóng tuyên truyền
rộng rãi. Có sự thật ở nơi này nơi khác và tôi đã lắp ghép, cường điệu để vẽ nên một bức tranh khủng khiếp tố cáo chế độ lao
tù của chính quyền Sài Gòn. Điều đối với tôi vẫn còn nguyên giá trị là ý tưởng
"Tự do hay là chết". Nhưng điều làm ngạc nhiên ( hay không nên ngạc
nhiên) là khi nó được in lại trong tuyển
tập " Bút máu" của nhà xuất bản Giải phóng, người ta tự ý đổi thể
loại từ "truyện ngắn" sang " bút ký" và cắt bỏ một phần
đoạn kết. Lúc đưa truyện ngắn này vào tuyển tập "Mùa xuân chim én bay
về" ( Nhà xuất bản Cửu Long 1986 )
và "Tiếng hát những người đi tới" ( Nhà xuất bản Trẻ 1993 ) những
người biên tập lại tự ý đổi thêm tựa đề thành "Địa ngục trần gian"
mặc dù tác giả đã có ý kiến chính thức phản đối. Văn nghệ đã tự mình gò ép, thế
mà chính trị vẫn còn tiếp tục bóp méo và
luôn nghi kỵ, cảnh giác, sẵn sàng trù dập khi văn nghệ đòi quyền sống với tự
do, tự do đích thực chứ không phải là tự do có điều kiện, tự do có lãnh đạo
theo một chế độ, một chủ nghĩa.
Chế độ xã hội chủ nghĩa luôn tự
đề cao là chế độ ưu việt nhất, phát huy nhiều
nhất giá trị của con người, nhất là tài năng của người nghệ sĩ nhưng
thực tế đã diễn ra như thế nào? Tôi không phải là người đầu tiên nói về điều
này. Tập thơ “Chân dung nhà văn"
của Xuân Sách, một người trong cuộc, đã khắc họa rất rõ điều đó và đã làm không
ít người phẫn nộ (thậm chí đã làm đơn ký
tên tập thể kiện và đòi trừng trị tác giả). Họ phẫn nộ vì không chịu nhìn nhận
sự thật, vẫn còn tự huyễn hoặc, vẫn còn mù quáng. Phẫn nộ vì những bài thơ rất
ngắn không tựa đề của Xuân Sách lại đâm xuyên suốt nhân cách và sự nghiệp của
những nhà văn, nhà thơ bao lâu nay được
ngợi ca và tự cho mình là tài năng, vĩ đại.
Hà Sĩ Phu đã nhận ra ngay và
khái quát được điều đó khi làm bài thơ cảm tác nhân đọc chân dung Hoài Thanh
của Xuân Sách:
Hai nửa chân dung
" Vị nghệ thuật nửa cuộc đời
Nửa
đời sau lại vị người ngồi trên"
Nét
này vẽ bác Lan Viên?
Bác
Hữu ? Bác Cận ? Hay riêng bác Hoài?
Chân
dung các Bác ngời ngời
Chém
cha riêng cái nửa đời phía sau
Cuộc
đời hai nửa vì đâu
Nửa
say quỷ kế, nửa đau nhân tình.
Những nhà văn
sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa ở Miền
Bắc trước đây đã có hai nửa chân dung như thế, còn những người mới sống dưới
chế độ chủ nghĩa từ sau 75 có thay đổi chân dung không? Anh em nhóm Việt
chúng tôi và bao nhiêu nhà văn đầy lòng phản kháng ở Miền Nam trước đây, sau 75 đã viết được
gì ? Một số ít đã có thời gian viết tụng ca (kể cả Đông Trình) hoặc sáng tác về
những đề tài vô thưởng vô phạt, không phải để làm văn nghệ
chân chính mà chỉ để kiếm
sống. Trần Duy
Phiên viết " Kiến và người", "Mối và người" ( hai
truyện ngắn đăng trên tạp chí Đất Quảng và Sông Hương ) chỉ có thể dùng bút
pháp tượng trưng mà đã bị đe dọa. Đông Trình còn viết được không những vần thơ
tâm huyết đầy lửa như trong " Rừng và Hoa"? Thế Vũ với " Những
vòng hoa ngụy tín", Nguyễn Hoàng
Thu với " Người bắt ruồi", Hàng Chức Nguyên với "Tiếng
hát của người thương binh mất trí" năm xưa nay viết được gì ? Còn Lê Văn
Ngăn, Lê Nhược Thủy, Chinh Văn, Phan Duy Nhân, Nguyễn Tường Văn…? Thế Vũ mới
chỉ viết một bài báo ngắn "Điều dáng sợ nhất của văn học: Đánh mất lòng
tin ở độc gỉa" ( Phụ trang tạp chí Cánh Én 1989 ) phê phán Ban Chấp hành
Hội Nhà Văn Việt Nam trong vụ Nguyên Ngọc và Tuần báo Văn nghệ, đã bị đánh tơi
bời như một "tên ngụy, phản động…", bị mất chức, cho nghỉ việc rồi đi
sửa mo rát, biên tập thuê kiếm sống. Làm sao để giữ được quan điểm và nhân cách
của mình là điều hoàn toàn không dễ dàng.
Các nhạc sĩ
sinh viên thời phong trào đấu tranh đô thị như Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn… và
các bài hát đầy hào khí, lôi cuốn cả một thế hệ thanh niên xuống đường nhập cuộc đấu tranh, nay khi đã trở thành
những quan chức, có bao giờ còn thao thức như
những " đêm không ngủ" năm nào, dù tình hình hiện nay có nhiều
chuyện không khác xưa bao nhiêu và những bài hát cũ của các anh hát lên bây giờ
cũng hoàn toàn phù hợp. Rồi còn nữa, đâu rồi những bài ca hào hùng của Trương
Quốc Khánh, Nguyễn Tuấn Kiệt, Nguyễn Văn Sanh, Nguyễn Xuân Tân, La Hữu Vang,
Trần Xuân Tiến …?
Dù muốn dù
không, thời kỳ đổi mới, cải tổ rồi sụp đổ, suy thoái của toàn bộ hệ thống xã hội chủ nghĩa trên
thế giới đã mang đến cho Việt Nam những thay đổi nhất định về chính trị và văn
nghệ.
Ở Hà Nội, sau
những gì đã làm, đã viết trong bước đầu đổi mới, người ta mong chờ gì ở các nhà
văn Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng, Xuân Cang, Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp,
Trần Huy Quang, Lê Lựu, Bảo Ninh…, các nhà nghiên cứu phê bình Hoàng Ngọc Hiến,
Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Văn Hạnh, Ngô Thảo… các nhà làm điện ảnh như Trần Văn
Thủy, Đặng Nhật Minh …?
Ở Miền trung, người ta có thể hi vọng gì với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân,
Nguyễn Khắc Phê, Trần Vàng Sao, Thanh Thảo, Trần Huyền Ân, Triệu Phong… và lớp
trẻ hơn như Trần Thùy Mai, Nguyễn Quang Lập, Ngô Minh, Trần Thức, Hoàng Dũng,
Phạm Phú Phong…?
Còn
Sài Gòn và Nam Bộ ? Vùng đất mới năng động và rực lửa đấu tranh trong lịch sử
trẻ trung của mình với truyền thống bất khuất đã sản sinh ra bao nhiêu nhà văn,
nghệ sĩ tài năng và đầy lòng phản kháng,
lẽ nào chỉ nhạy bén với nền kinh tế thị trường ?
Ở đây, tôi cũng
muốn nói đôi lời về khía cạnh tổ chức đào tạo, giáo dục của một chế độ đối với
hoạt động văn học. Chế độ xã hội chủ nghĩa có các tổ chức đào tạo, bồi dưỡng
những người viết văn, có trường đại học viết văn, trả lương cho những người
viết văn chuyên nghiệp nhưng đã sản sinh ra bao nhiêu nhà văn, trong đó có bao
nhiêu nhà văn lớn? Ý thức phục vụ chính trị và tính chất rập khuôn đã làm hạn
chế tài năng và tinh thần tự do sáng tạo
của nhà văn như thế nào? Lại còn các tổ chức văn học nghệ thuật mang tính chất
nhà nước . Những hội gọi là sáng tạo mà cũng phải gò vào một tổ chức bất kể
quan điểm, xu hướng, phong cách sáng tác. Trong những tổ chức này người ta lại
điều hành theo kiểu hành chính, quan liêu, lôi bè kéo phái, tranh giành quyền lực, chia chác quyền lợi, đấu đá lẫn
nhau, không còn gì gọi là văn học nghệ thuật nữa. Những người lãnh đạo văn nghệ
có khi lại không có khả năng sáng tác văn nghệ hoặc khi đã trở thành lãnh đạo,
những người làm quan lại không còn khả năng sáng tác.
Văn nghệ sĩ
chân chính cần quái gì các tổ chức này. Cùng xu hướng, tâm đắc với nhau thì tự
động tập hợp lại thành nhóm, thành hội hoặc cứ một mình mà đi trong thênh thang
trời rộng, giữa dân tộc và loài người, cần chi phải chui đầu vào tổ chức.
Hiến pháp ghi
rõ quyền "tự do lập hội" nhưng mọi hội đoàn dưới chế độ xã hội chủ
nghĩa đều là hội đoàn của Đảng và Nhà nước. Nếu các văn nghệ sĩ tự mình lập hội
thì Đảng và Nhà nước có cấm và cấm được không? Tại sao văn nghệ sĩ không dám
làm điều hiến pháp đã cho phép? Không phải chỉ có quyền tự do này mà còn bao
nhiêu quyền khác đã được ghi rõ trong hiến pháp. Nếu văn nghệ sĩ, trí thức và
nhân dân nói chung không dám thực hiện những điều đã ghi trong hiến pháp thì
phải chăng việc chịu đựng áp bức, mất tự do là điều tất nhiên, như có người đã
nhận định?
Chế độ cũ trước
đây ở Miền Nam không có các cơ chế văn nghệ nhà nước như dưới chế độ xã hội chủ
nghĩa nhưng vẫn có vô số nhà văn, nhà thơ, trong đó không ít người có tài năng
và khẳng định được phong cách riêng, sự độc đáo của mình. Dĩ nhiên, nói như thế
không phải để ca ngợi chế độ cũ, nhưng để nói đến một bầu khí như thế nào để
văn học có thể phát huy tinh thần sáng tạo, điều cần thiết đối với văn học nghệ
thuật như hơi thở đối với cuộc sống con người.
Ở thời chúng
tôi, chỉ mấy lớp ban Việt văn của trường Đại Học Sư Phạm Huế bé nhỏ, mỗi lớp
chỉ có hơn 10 sinh viên, trong những năm 60, đả sản sinh không ít các nhà văn,
nhà thơ, nhà nghiên cứu, dịch thuật: Ngô Kha, Đoàn Khoách, Phùng Khánh, Nguyễn
Mộng Giác, Nguyễn Đắc Xuân, Trần Quang Long, Trần Duy Phiên, Đông Trình, Trần
Hữu Lục, Trần Hồng Quang, Tần Hoài Dạ Vũ, Huỳnh Ngọc Sơn, Ngô Văn Ban… (Chưa
nói đến tài năng, chỉ nói đến việc họ đã sáng tác, nghiên cứu và có tác phẫm
xuất bản, đăng trên báo chí. Một số
trong họ được người đọc và các nhà phê bình công nhận là thực sự có tài năng.)
Tôi nói điều đó
không phải để khoe khoang vì chẳng có gì để khoe khoang mà là để dẫn chứng và
so sánh. Ở thời chúng tôi, phần lớn sinh viên vào các ban văn vì người ta có
"tâm hồn văn chương", ngoài một số người trở thành nhà văn, không ít
người đã học, sống và đi dạy học bằng tất cả say mê và "lý tưởng văn
chương" của mình. Còn ban văn các trường Đại Học Tổng Hợp, Đại Học Sư Phạm
từ sau 1975 đến nay đã thu nhận sinh viên như thế nào và đào tạo các giáo sư
văn chương ra sao, rồi cả mấy thế hệ học sinh đã học tiếng Việt như thế nào?
Điều này báo chí gần đây đã nói đến nhiều và đưa ra tỉ lệ học sinh yếu kém môn
văn một cách báo động trong các trường học.
Có người nói
môn văn là môn học làm người và ai cũng thừa nhận, nói chung, ngành giáo dục là
nơi đào tạo con người, đào tạo những người chủ tương lai của đất nước. Đào tạo
con người ngoài kiến thức, chuyên môn, kỹ thuật, còn có đạo lý, nhân cách,
bản lãnh. Thế nhưng một điều lạ lùng là
trong các chế độ không phải là xã hội chủ nghĩa, mà là "thực dân phong
kiến", "ngụy quyền tay sai", sinh viên học sinh lại đầy lòng
phản kháng, nhận thức rất rõ và dám đứng lên đấu tranh cho độc lập tự do của tổ
quốc, cho công bằng xã hội (trong đó có nhiều người sau này là lãnh tụ cộng
sản), nhưng sinh viên học sinh trong chế độ xã hội chủ nghĩa ưu việt ở Miền Bắc
trước 1975 và cả nước sau 1975 lại hầu như tê liệt lòng phản kháng, chỉ biết
phục tùng và sa vào chủ nghĩa thực dụng. Nếu giải thích điều này bởi chủ nghĩa
xã hội ưu việt thực, không có bất công
áp bức và có đầy đủ mọi quyền tự do dân chủ nên không ai muốn kêu đòi gì nữa,
nói như thế chắc chẳng ai tin. Vậy phải chăng chỉ có thễ giải thích đây chính
là sự ưu việt của chủ nghĩa xã hội trong việc đàn áp, thống trị tư tưởng và
hành động của con người?
Cho đến khi chủ
nghĩa cộng sản đã sụp đổ ở Liên Xô và
các nước Đông Âu, đã bộc lộ những sai lầm nhược điểm không thể chối cãi, ngay
trên đất nước này, những người cộng sản kiên cường nhất đã làm gì để sửa chữa?
Sửa chữa ở đây bao hàm những thay đổi từ cơ bản của sai lầm.
Dĩ nhiên ai
cũng thấy những người lãnh đạo cộng sản gần đây đã chủ trương mở cửa, chấp nhận
kinh tế thị trường và đã mang lại những thay đổi, kết quả bước đầu, nhưng mặt
khác, lại vì lý do "ổn định chính trị" nên ra sức đàn áp dân chủ, bóp
nghẹt tư tưởng, vi phạm nhân quyền. Thực chất, người cộng sản phải tự cứu về
mặt kinh tế để khỏi sụp đổ và chỉ muốn duy trì mãi mãi độc quyền lãnh đạo.
Nhưng người dân không phải là con vật chỉ cần được ăn no là đủ. Thực ra con vật
cũng không phải chỉ cần được ăn no và thực tế chỉ một số người no mập, phủ phê,
xa xỉ, còn đại bộ phận nhân dân vẫn cùng cực. Hơn nữa, với nền kinh tế thị
trường, việc nhận viện trợ của các nước ngoài, nếu lãnh đạo không đủ tài trí,
bản lĩnh sẽ mang lại tai họa lâu dài cho đất nước trên tất cả mọi phương diện
từ kinh tế cho đến văn hóa giáo dục, xã hội, truyền thống, đạo đức…
Bạn hay thù đều
phải công nhận Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp là những lãnh tụ cộng sản thông
minh, tài trí, nhưng nay các ông hoàn toàn bất lực dù các ông thấy rõ và như
Phạm Văn Đồng đã công khai nói về sự sa sút, xuống dốc của tổ chức bộ máy Đảng
và toàn xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng như một "căn nhà rác rưởi".
Nguyễn Hữu Thọ đã tập họp được bao nhiêu người yêu nước dưới ngọn cờ Mặt Trận
Giải Phóng Miền Nam Việt Nam, sau 75 đã nhiều lần kêu gọi đấu tranh đòi dân
chủ, dân quyền, ông có đau xót và hổ thẹn không khi tổ chức Mặt Trận Tổ Quốc
Việt Nam mà ông đứng đầu chỉ là cái bung xung, vật trang trí dân chủ của một
chế độ độc tài? Trần Độ, một vị tướng yêu văn nghệ, một thời làm trưởng ban Văn
hóa Văn Nghệ Trung ương, người đã làm hết sức mình cho việc ra đời của nghị
quyết 5 về văn hóa văn nghệ, một nghị quyết cấp tiến nhất từ trước tới nay của
đảng Cộng sản Việt nam, để rồi nghị quyết bị vô hiệu hóa, xóa sổ khi mới chuẩn
bị thực hiện. Một số cán bộ cấp cao có tâm huyết , đau lòng về tình hình cũng
chỉ có thể đến mức xin về hưu và trong chỗ riêng tư, tự nhìn nhận là vì hèn nên
không dám tuyên bố ra khỏi đảng Cộng sản. Những người lãnh đạo cộng sản khác ở
mọi cấp đã thực sự nhận thức như thế nào dù họ vẫn luôn bị guồng máy cuốn đi?
Còn một số người ở Miền Nam trước 1975 được coi là cấp tiến, có tinh thần phản
kháng như bà Ngô Bá Thành, Lý Chánh Trung, trong thời gian được đảng Cộng sản
trọng dụng đã hết sức ca ngợi chế độ, to mồm nhất trong các cuộc họp quốc hội
để đàn áp quyền tự do báo chí, hạn chế quyền tự do ứng cử và bầu cử khi thông
qua các luật , nay bị vứt qua bên lề, có cay đắng và ăn năn không?
Những điều này
có phần nào liên quan đến bộ máy tổ chức. Đảng Cộng sản của những người đấu
tranh cho công bằng, nhân đạo, giải phóng giai cấp khi trở thành đảng cầm quyền
đã trở thành đảng độc tài, quan liêu, bè
phái. Thậm chí gần đây nhiều người đã nhận định đảng trở thành một tập đoàn
mafia, với những thủ đoạn tinh vi và hiểm độc, tàn bạo để thanh toán nội bộ, bị
chi phối bởi một vài cá nhân hoặc tập thể như tập đoàn Lê Đức Thọ mà Hoàng Minh
Chính đã tố cáo, với sự cám dỗ của quyền lực và quyền lợi, tất cả đã làm cho
những người trong guồng máy hầu như tê liệt lòng phản kháng hoặc không có khả
năng phê phán.
Lúc còn làm Chủ
tịch Hội đồng Bộ trưởng, Phạm Văn Đồng đã có lần kêu lên về sự bất lực của
mình. Võ Nguyên Giáp một thời gian phải đi làm "kế hoạch hoá gia
đình", đến nỗi trong dân gian đã có câu ca dao mới:
Ngày xưa đại tướng oai hùng
Ngày nay đại tướng đặt vòng cho em
Lẽ nào vị đại
tướng danh tiếng lừng lẫy thế giới với hai chiến thắng Điện Biên Phủ và 30/4/75
lại không có việc gì để làm hơn là kế hoạch hóa gia đình dù việc này cũng rất
quan trọng. Không phải nhân dân mỉa mai đại tướng Võ Nguyên Giáp nhưng người ta
cay đắng hộ cho ông và phê phán, bất bình đối với tổ chức, bộ máy của đảng Cộng
sản không gì khác hơn là một tập đoàn bè phái, sẵn sàng gạt ra ngoài những
người không ăn cánh.
Trên đây, tôi
có đề cập đền một vài người để phân tích theo mạch suy tưởng của mình. Đối với tôi và đối với nhân
dân nói chung, không có ai là bất khả xâm phạm, kể cả những anh hùng, lãnh tụ
vĩ đại nhất. Mọi người, mọi việc đều phải được nhìn nhận dưới áng sáng của trí
tuệ, lương tri và công luận.
Không phải tôi
viết lan man cốt động chạm đến việc này
việc khác, người này người khác. Tôi chỉ muốn chứng minh có một nhận định mà
nhiều người thừa nhận là những người cộng sản độc quyền lãnh đạo đã làm thui
chột thay vì phát huy những phẩm chất tốt đẹp nơi con người như họ vẫn rêu rao
trong các nghị quyết, sắc luật và các
khẩu hiệu tuyên truyền. Công bằng mà
nói, chủ nghĩa xã hội cũng phát huy được một số đức tính nào đó nhưng điều nổi bật là đã làm cho con người trở nên
cuồng tín, ngụy tín, hèn nhát và dối trá. Phan Đình Diệu, một trí thức cỡ lớn
do chế độ đào tạo đã nhiều lần công khai nói về chuyện độc quyền
tất sẽ dẫn đến độc tôn, độc tài, độc ác. Mới đây, trong tháng 9/92, khi
trả lời phỏng vấn một phóng viên nước ngoài, ông đã chính thức kêu gọi đảng từ
bỏ chủ nghĩa cộng sản và chấp nhận dân chủ đa nguyên. ( Tập san Bắc Âu nghiên
cứu Á Châu số 2/1993, xuất bản tại Đan Mạch.)
Tôi nói đến
nhận định trên không phải vì hận thù. Chủ nghĩa cộng sản đã là niềm mơ ước của
hàng triệu triệu người nhưng cũng đã là
niềm cay đắng và tội ác đối với hàng triệu triệu người trong đó có những người
đã mơ ước nó, trong những người đó có tôi.
Nhận thức được
điều này, một số người đã nghĩ, đã nói đến sám hối.
Nguyễn Minh
Châu đã viết " Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn chương minh
họa". Đó là những lời chân thành và dũng cảm, dù Đảng và Nhà nước, các nhà
văn cùng thời thừa nhận hay không. Tiếc
thay, Nguyễn Minh Châu bị mắc cơn bệnh ung thư máu nan y nên tác phẩm thể hiện
sự sám hối của ông còn quá ít, cho dù đến những giây phút cuối cùng, trên
giường bệnh, ông còn viết bài đấu tranh cho đổi mới trong vụ Nguyên Ngọc và
tuần báo Văn nghệ cuối năm 1988.
Trong những
chừng mực và cách thế khác nhau, những tác phẩm của Dương Thu Hương, Trần Mạnh
Hảo, Nguyễn Huy Thiệp, Phùng Gia Lộc, Hà Văn Thùy, Lê Lựu, Trần Huy Quang, Bùi
Minh Quốc, Nguyễn Quang Lập, Bảo Ninh … cũng là những biểu hiện sám hối.
Có những người sám hối
quá muộn dù ý thức sám hối đã có từ trước như Chế Lan Viên. Biểu hiện
sám hối chỉ nằm trong di cảo và người ta chỉ có thể suy diễn về tâm trạng của
nhà thơ. Có phải Chế Lan Viên đã biết là bánh vẽ nhưng vẫn cầm lên nhấm nháp:
Bánh Vẽ
Chưa
cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ
Thế
nhưng anh vẫn ngồi cùng bạn bè
Cầm
lên nhấm nháp
Chả
là nếu anh từ chối
Chúng sẽ bảo anh phá rối
Đêm
vui…
Bảo
anh không còn khả năng nhai
Và
đưa anh từ nay ra khỏi tiệc
Thế
thì còn dịp đâu nhai thứ thiệt?
Rốt
cuộc, anh lại ngồi vào bàn
Như
không có gì xảy ra hết
Và
những người … khác thấy anh ngồi
Họ
cũng ngồi thôi
Nhai
ngồm ngoàm…
(Di cảo, Văn học và dư luận. Tháng 5/ 1991)
Có phải trong
thẳm sâu tâm thức, ông vẫn biết mình dối trá, che dấu sự thực:
Trừ đi
Sau
này anh đọc thơ tôi nên nhớ
Có
phải tôi viết đâu.
Một
nửa
Cái
cần đưa vào thơ tôi đã giết rồi
Giết
một tiếng đau, giết một tiếng cười.
Giết
một kỷ niệm, giết một ước mơ.
Giết
cái cánh sắp bay… trước khi tôi viết.
Tôi
giết bão ngoài khơi cho được yên ổn trên bờ
Và
giết luôn cả mặt trời lên trên biển.
Giết
mưa và giết cả cỏ mọc trong mưa luôn thể.
Cho
nên câu thơ tôi gầy còm như thế.
Tôi
viết bằng xương thôi, không có thịt của mình.
Và
thơ này rơi đến tay anh
Anh
bảo đấy là tôi
Không
phải.
Nhưng cũng chính là tôi. Người có lỗi
Đã
giết đi bao nhiêu cái
Có
khi không có tội như mình.
( Chế Lan Viên. Di cảo )
Có phải Chế Lan
Viên thấy rõ tội lỗi của mình khi đối mặt với hiện thực của đất nước:
Ai ? Tôi ?
Mậu thân
2000 người xuống đồng bằng.
Chỉ một đêm,
còn sống có 30.
Ai chịu
trách nhiệm về cái chết của 2000 người đó?
Tôi ! Tôi,
người viết những câu thơ cổ võ
Ca tụng
người không tiếc mạng mình trong mọi lúc
xung phong
Một trong 30
người kia ở mặt trận về sau 10 năm
Ngồi bán
quán bên đường nuôi đàn con nhỏ
Quán treo
huân chương đầy, mọi cỡ
Chả huân
chương nào nuôi được người lính cũ !
Ai chịu
trách nhiệm vậy ? Lại chính là tôi !
Người lính
cần một câu thơ giải đáp về đời
Tôi ú ớ.
Người ấy
nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong
Mà tôi xấu hổ
Tôi chưa có
câu thơ nào hôm nay
Giúp người
ấy nuôi đàn con nhỏ…
Giữa buồn
tủi chua cay vẫn có thể cười.
( Chế Lan Viên.1987. Di cảo )
Tôi muốn trích
dẫn cả ba bài thơ này của Chế lan Viên
vì những bài này ít người biết và
vì con người, cuộc đời và thơ ca của ông là một "phản ánh hiện
thực" rất đặc trưng và đầy bi kịch của một giai đoạn lịch sử có đầy đủ
tính hùng tráng, đau thương, hiến dâng, phản bội, dối trá, ngụy trang và không
thể nào tránh khỏi sám hối.
Sám hối là nhận thức lại và ăn năn về lỗi lầm
của chính bản thân hay của cả một tập thể, một dân tộc đã đi sai đường, dù
chính mình chủ động hay thụ động, tình nguyện hay bị bó buộc. Ăn năn sám hối vì
đã cố tình hay vô ý làm điều sai, điều ác.
Chân
Tín, Nguyễn Ngọc Lan đã sám hối với sự thừa nhận rõ ràng trong tên gọi của
"Ba bài giảng sám hối". Một số thành viên trong Câu lạc bộ Những
người Kháng Chiến cũ thành phố Hồ Chí Minh những năm 88-89 như Nguyễn Hộ, Tạ Bá
Tòng, Đỗ Trung Hiếu, Hồ Hiếu cũng đã sám hối. Còn những người lãnh đạo Cộng sản, có ai đã sám hối
không hay chỉ mới dừng lại ở chỗ "sửa sai" nhẹ nhàng ?
Sám hối phải có cắn rứt lương tâm, phải đau
đớn, tiếp đến có ý thức và hành động chuộc lỗi. Sám hối đó mới có gía trị tích
cực. Sám hối không phải chỉ tự đấm ngực và cầu xin tha tội. Sám hối là dấn thân
vào cuộc đấu tranh chống lại sự hèn nhát, yếu đuối, sai lầm của bản thân, chống
lại thế lực của sự ngu si, cuồng tín, tàn bạo đã tạo ra tội ác.
Những người không có và không cần quyền lực,
hư danh, những kẻ thất cơ lỡ vận dễ sám hối hơn những người có địa vị, uy
quyền. Đối với loại người sau, ngụy tín dễ hơn sám hối, biện minh nhiều hơn
nhận lỗi, quyền lợi mạnh hơn lương tri, sám hối thực không dễ dàng.
Nội dung, đề tài của văn nghệ là vô tận. Văn
nghệ ca ngợi tình yêu, thiên nhiên, tuổi thơ, đắm mình trong huyền thoại, ước
mơ về một tương lai viễn tưởng… Không thể cưỡng bức văn nghệ phải chuyên chở
nội dung này, khai thác đề tài kia như các chế độ độc tài, nhất là độc tài cộng
sản đã làm. Văn nghệ không phi chính trị nhưng
không phục vụ chính trị một cách mù quáng. Văn nghệ không cần mang tính
đảng mà phải phi đảng. Văn nghệ không
tôn thờ chủ nghĩa.Văn nghệ phụng sự cho dân tộc và con người. Văn nghệ không
biên cương quốc gia, biên cương thời gian và biên cương chủ nghĩa. Nhưng nếu
văn nghệ vì con người thì không thể né
tránh thân phận con người, nhất là khi thân phận hàng triệu người bị quy định,
chi phối bởi các chế độ độc tài tàn bạo.
Văn nghệ lúc đó phải biết và dám nói tiếng nói của lương tri. Đó là văn nghệ
dấn thân và phản kháng.
Văn nghệ phải
đến được với công chúng, đối tượng, mục
đích, môi trường và đất sống của mình. Các chế độ độc tài luôn ngăn chặn văn
nghệ tự do, chỉ muốn lùa văn nghệ vào
các chuồng nuôi thú làm cảnh. Văn nghệ phải biết cách chiến đấu. Từ xa xưa, ông cha ta đã biết
điều này. Đó là truyện tiếu lâm, câu
đối, ca dao, hò vè, thơ ca châm biếm, sau này còn có cách viết "lách"
trên sách báo hợp pháp, xuất bản sách
báo bất hợp pháp, tổ chức "hát cho đồng bào tôi nghe"… Văn nghệ phải
ươm mầm phản kháng, thức tỉnh lương tri, kêu gọi đấu tranh, đánh thẳng vào mặt
cường quyền, đóng đinh tội ác vào giá của lịch sử.
Chính trị bao giờ cũng cần thiết cho một dân
tộc, một xã hội và toàn thế giới. Đường lối chính trị có thể đúng hoặc sai.
Người làm chính trị có thể tốt hoặc xấu. Làm chính trị phải nắm được quyền lực.
Quyền lực là sức mạnh vạn năng và là con dao hai lưỡi. Quyền lực xây dựng và
cũng quyền lực hủy hoại con người, hủy
hoại ngay chính người làm chính trị. Cám dỗ quyền lực rất lớn và nguy hiểm.
Dù sao người
làm chính trị cũng có lương tri. Tiếng nói của lương tri và sức mạnh của quần
chúng nhân dân sẽ ngăn chặn được sai lầm và tội ác. Mục đích chính trị có tốt
đẹp tới đâu nhưng phương tiện, con đường
đi là độc tài, chà đạp nhân quyền, vi phạm tự do, khủng bố bằng bạo lực, gây ra
nội chiến, trả gía bằng máu và nước mắt đều không thể tự biện minh, không đạt
đến mục đích.
Văn nghệ và
chính trị đều phải biết sám hối. Tốt hơn là đừng để phải sám hối nhưng đã lỡ
sai lầm thì phải sám hối trước khi quá muộn.
Động hoa vàng
Đà Lạt 12/10/1993
(Báo Đối thoại (Mỹ) 1994, website talawas)
http://www.nguyenhuuhongminh.com/chi-tiet-tac-pham/1535.aspx

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét