Xuân Tân Mão

Xuân Tân Mão
Đảng và Chính phủ luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng với tất cả hoạt động, việc làm của người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia (TTg NT Dũng).

22 tháng 2 2013

André Menras-Hô Cương Quyết:Lễ kỷ niệm 40 năm ký hiệp định Paris: một số mẫu chuyện và suy nghĩ cởi mở


L k nim 40 năm ký hip đnh Paris:
một số mẫu chuyện và suy nghĩ cởi mở

Tôi đã có thể thực hiện các cuộc trao quà cứu trợ và các cuộc gặp gỡ để trù tính các dự án tương lai mà tôi đã báo cáo trong bài viết trước nhờ có lời mời của Liên hiệp các Tổ chức Hữu nghị Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình.

Tôi xin chân thành cám ơn ông Vũ Xuân Hồng, Chủ tịch Hiệp hội đã tiếp đón chúng tôi hết sức nồng nhiệt. Cám ơn hai cháu Cương ở Hà Nội và Thắng ở Sài Gòn đã chăm sóc chúng tôi thật chân tình. Tôi rất vinh dự được tham gia đoàn đại biểu quốc tế gồm 50 người, được có những khoảnh khắc đầy xúc động và giàu khám phá. Hơn nữa hiệp định Paris còn in sâu mãi trong máu thịt tôi vì chính nó đã đánh dấu thời điểm tôi được kết thúc hai năm rưỡi bị tù ở khám Chí Hòa, và cũng lập túc mở ra cho tôi một giai đoạn đấu tranh mới vì hòa bình.



Những tình bạn bền lâu và một nhân vật trung tâm

Trong chuyến đi dự lễ kỷ niệm này tôi đã có dịp kết bạn thân thiết với một số đại biểu là những người vẫn luôn gắn bó sâu sắc với Việt Nam. Những khúc đoạn đường đời và những nền văn hóa khác nhau biết bao nhiêu nhưng những con tim và những giá trị thật gần gũi nhau bao nhiêu. Những nhân cách chiến sĩ đấu tranh cho hòa bình thật mạnh mẽ. Carlos thân thiết, người Vénézuela hiền lành, người đã cùng một đội biệt động bắt cóc một viên thiếu tá Mỹ để đổi lấy Nguyễn Văn Trỗi. Anh bạn Georges thân thiết của tôi, con trai của nhà báo thực địa không biết mệt mỏi Wilfret Burchett, vẫn tuyệt đối trung thành với lý tưởng của cha và với Việt Nam. Chandra hay mũi lòng, người Pakistan tị nạn ở Bengale, vẫn mải miết vô vọng đi tìm một cuốn Lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam bằng tiếng Anh. Tội nghiệp cho Chandra, hình như ở nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa tìm một cuốn Lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam bằng tiếng Anh còn khó hơn tìm một đĩa nem Sài Gòn. Chắc cuốn sách ấy đang được viết, còn phải viết đi viết lại, hay dịch chưa xong ... Tôi cũng đã gặp Michel thân yêu của tôi, con người chân chính và giản dị, là người lái xe cho đoàn Việt Nam ở Paris. Daniel, thị trưởng Choisy le Roi, luôn điềm tĩnh và tươi cười. Hélène, cựu nghĩ sĩ cộng sản, còn hay chuyện hơn cả tôi. Renato và Rosana, những người Ý sôi nổi và vui vẻ, yêu Việt Nam đến lạ ... Evguény người Nga thật đáng yêu, nửa như một chiếc xe tăng xung trận nửa như một con gấu, nói tiếng Pháp và tiếng Việt, và tất nhiên, say mê vodka. Tất cả đều hấp dẫn và vẫn tràn đầy tinh thần tươi trẻ.

Tuy nhiên nhân vật trung tâm không thể chối cãi của lễ kỷ niệm đương nhiên là bà Bình. Vẫn như như thường lệ, rực rỡ phẩm cách và minh mẫn. Tôi rất cảm phục bài diễn văn của bà ở Trung tâm Hội nghị quốc tế tại Hà Nội trước các nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng và của Nhà nước, nhất là đoạn bà nhắc lại cho những người đã quên hay muốn quên vai trò rất quan trọng và sự hy sinh to lớn của những người yêu nước thuộc “thành phần thứ ba” trong cuộc chiến đấu cho hòa bình, giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước. Tôi đặc biệt chú ý khi bà nhấn mạnh đến tính chất đoàn kết nhiều màu sắc có thật của “Mặt trận” dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi cũng đánh giá cao đoạn Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, trong diễn văn của ông, nêu bật “sự đúng đắn trong đường lối đối ngoại độc lập tự chủ” và “sức mạnh của nhân dân kết hợp với các sức mạnh của thời đại” là “những kinh nghiệm mà chúng ta có thể rút ra bài học” cho sự nghiệp “xây dựng và bảo vệ đất nước ngày nay”. Niềm kêu hãnh gà trống Gaulois của tôi được thỏa mãn với việc nước Pháp được chọn là nước chủ nhà của các cuộc đàm phán, nhưng tôi tiếc về phía các đại biểu quốc tế ở cuộc mít tinh rất chính thức này nước Pháp với đại diện là Hélène Luc mà tôi rất kính trọng đã có được thời gian phát biểu độc chiếm, trong khi đại biểu Mỹ Ramsey Clark, cựu bộ trưởng tư pháp trong chính phủ Jonhson, đã từ chức để phản đối chiến tranh và trở thành một trong những khuôn mặt tiêu biểu của phong trào hòa bình ở Mỹ đã không có được tiếng nói nào. Các đại biểu Nga và Trung Quốc cũng không thể có phát biểu ngắn, mà theo tôi, họ là rất cần được có một cách chính đáng. Bởi ai đã ít nhiều biết lịch sử cuộc chiến đấu của Việt Nam chống đế quốc đều có thể đánh giá cao sự sự đóng góp có tính lịch sử của phong trào hòa bình Mỹ, của Liên Xô và của Trung Quốc vào việc đi đến được Hiệp định Paris, theo tôi cũng quan trọng không kém vai trò chủ nhà, đương nhiên là rất quan trọng, của Pháp, của hội đồng thị chính Choisy-le-Roi và của Đảng Công sản Pháp. Nhưng đấy còn là những bí mật của ngoại giao đề cao hay giảm thiểu giá trị các thành tố của Lịch sử tùy thuộc đòi hỏi từng lúc. Một thứ khẩu vị cập nhật ngày mai sẽ thay đổi tùy theo thực khách và sự ngon miệng.

Dẫu sao các đại biểu khác và các “nhân chứng” cũng có thể phát biểu và trình bày trải nghiệm của mình trong buổi tọa đàm truyền hình trên VTV 6, đương nhiên rất không chính thức bằng nhưng lại sinh động hơn buổi lễ lớn ngày hôm trước. Cũng nhân đây xin nói qua, tôi thấy từ “nhân chứng” có vẻ không thích hợp lắm với nhiều người trong chúng tôi. Đối với một số người, tôi thích từ tham chứng (acteur) hơn, nó gợi lên ý tưởng về một sự tham gia trực tiếp hơn là một kiểu đơn giản quan sát từ bên ngoài. Nhưng đấy lại là những tế nhị của ngôn ngữ.





Đôi khoảnh khắc mặn mà và cảm động

Trong số những khoảnh khắc cảm động và mặn mà, tôi đặc biệt nhớ lúc anh bạn Michel của tôi, tài xế của đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa, khi nhận những lời chúc mừng của Chủ tịch nước đã xúc động đáp lại rằng anh đã về hưu nhưng nếu Chủ tịch cần một người lái xe thì anh hoàn toàn sẵn sàng phục vụ. Thật là bằng chứng hùng hồn về đức hy sinh lớn của anh tài xế Paris hẳn đã phải khiếp đảm khi nghĩ đến việc cầm lái giữa biển người đông như kiến luôn có những phản ứng bất ngờ tràn ngập các đường phố Hà Nội ! Tôi cũng rất thích thú khi Chủ tịch nước nói chuyện với tôi đã dùng từ “tà ru” (nói lái của “tù ra”). Tôi đã tận dụng cơ hội để đề nghị một cuộc gặp với ông một hôm nào đó ông có thời gian, để tâm sự với ông những ưu tư của tôi về đất nước. Đã thống nhất với nhau là vào dịp Tết, rồi cuộc hẹn lại không thực hiện được do chuyến trở về Pháp khẩn cấp của tôi.



“Không phải như vậy”

Một trong những khoảnh khắc tôi cũng còn nhớ là cuộc gặp hoàn toàn ngẫu nhiên trong thang máy của Trung tâm Hội nghị quốc tế khi tôi một mình với một người đàn ông kín đáo mặc côm lê có mái tóc đã ngả màu và đôi mắt long lanh mà tôi thoạt tưởng là một người Việt Nam. Để phá vỡ im lặng tôi đã hỏi ông ta có phải là đại biểu và ông đã trả lời bằng tiếng Việt sành sỏi với một giọng nhã nhặn rằng ông là đại biểu Trung Quốc trong lễ kỷ niệm hữu nghị này. Chúng tôi đã trao đổi với nhau mây câu vắn tắt chung chung về bản thân và gia đình và tôi biết ông ta đã là đại sứ của Trung Quốc ở Hà Nội trong một số năm. Vậy là, bởi vì chúng tôi chỉ có hai người với nhau, tôi đã mạnh dạn hỏi ông ta một câu hỏi đang cháy bỏng trên đầu lưỡi tôi : Ông ta nghĩ gì về tình hình Biển Đông, đặc biệt về cách đối xử mà hải quân Trung Quốc đang bắt ngư dân Việt Nam phải chịu đựng ? Rõ ràng bị bất ngờ và sau một lúc suy nghĩ vì ông ta không chờ đợi câu hỏi “nhạy cảm” này, ông ta trả lời tôi : “Không phải như vậy!” Và khi tôi nói với ông rằng tôi sẵn sàng chuyển cho ông các hồ sơ chính xác về việc này, những hồ sơ được cẩn thận lập theo ngày tháng và đầy đủ chi tiết về các vụ nổ súng, đánh đập, bắt giam, đòi nộp phạt, đánh đắm thuyền ... ông ta lặp lại với tôi : “Không phải như vậy!” Rồi bằng một giọng tâm sự, và trên thế thủ, ông ta tuyên bố rằng ngư dân Trung Quốc cũng bị phía Việt Nam đối xử như thế. Dầu rất bất bình về câu trả lời ấy, tôi đã vội đề nghị ông ta gửi cho tôi các ví dụ cụ thể chứng minh các khẳng định của ông. Tôi nói với ông, như vậy tôi sẽ có thể can thiệp với các tổ chức quốc tế để tố cáo những hành động vô nhân đạo đó đối với ngư dân Trung Quốc. Thang máy đến nơi cùng lúc kết thúc cuộc trò chuyện của chúng tôi và tôi vẫn chờ các hồ sơ của ông Đại sứ. Hẳn là cho đến khi gà mái mọc răng ! Tiếc là tôi đã không thể cung cấp cho ông ta bộ phim Hoàng Sa Việt Nam nỗi đau mất mát trên youtube vì chúng ta chưa có bản có phụ đề tiếng Bắc Kinh. Tôi sẽ gửi lại cho ông ấy ở Lãnh sự quán Trung Quốc tại Thành phố Hồ Chí Minh và cả ở Sứ quán Trung Quốc tại Paris... Nhưng tôi phải thú nhận là tại Thành phố Hồ Chí Minh, ngồi ở bàn tiệc có mặt Chủ tịch Ủy ban nhân dân Lê Hoàng Quân, vị khách mời duy nhất trong phòng mà tôi không cụng ly là ông đại sứ Trung Quốc. Đương nhiên chẳng có lý do riêng tư nào bởi vì ông ấy thậm chí trông có vẻ cũng dễ mến, nhưng đấy là một vấn đề nguyên tắc. Vả chăng, tôi cũng không có cảm giác về phần ông ấy, ông ấy quá mong muốn được chạm ly với tôi. Rõ ràng cả lý cả tình đều không hợp, trong một hiện tại mà bóng đen đã xóa nhòa tình hữu nghị quá khứ. “Không phải như vậy”, thưa ngài Đại sứ ! Cho đến khi nào các ngư dân của chúng tôi còn bị ngược đãi và nhục mạ một cách hệ thống bởi chính quyền mà một thời gian dài ông là đại diện và ông ra sức bênh vực, cho đến khi nào chủ quyền quốc gia của chúng tôi, đúng theo luật pháp quốc tế, còn bị các nhà cầm quyền của ông vi phạm trên đất liền và trên biển và các quyền con người sơ đẳng của ngư dân chúng tôi còn bị các ông dày đạp, thì sẽ tuyệt đối không có chút xíu hữu nghị nào hết giữa ông và tôi. Chút rượu ngon nhất uống cùng ông sẽ thành mật đắng ngắt trong miệng tôi.



“Lâu lắm không gặp nhau”

Trong những câu chuyện nhỏ tiếp theo trong dịp này của tôi, tôi nhớ một lúc thú vị trong buổi tiếp các đại biểu ở Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, khi ông Chủ tịch Lê Hoàng Quân đến bắt tay từng người chúng tôi. Đến chỗ tôi, ông tươi cười nói: “André khỏe không? Lâu lắm không gặp anh”. Tôi bảo ông ghé sát tai vào tôi để không ai khác nghe được và trả lời: “Ông biết tại sao mình không gặp nhau không?” Thấy ông hơi ngạc nhiên, tôi nắm bàn tay ông trong tay tôi để ông không tránh ra xa được và nói vào tai ông: “Vì ông không chịu xuống đường với André đi biểu tình chống Trung Quốc gây hấn”. Ông cười to và vội vàng bắt tiếp các bàn tay khắc. Chắc chắn là tôi đã tự cho phép mình có cuộc đối đáp riêng tư có thể bị đánh giá là hỗn hào và khiêu khích ấy của một công dân bình thường với một vị lãnh đạo cao cấp chỉ là vì tôi đã biết ông Lê Hoàng Quân từ lâu và trên phương diện cá nhân chúng tôi vốn có một sự nể trọng nhất định đối với nhau và ông ấy biết rõ tôi là ai và tôi nghĩ gì...



Nóng ấm phương Nam và … những điều còn mãi

những lãng quên

Một thời điểm quan trọng khác là cuộc gặp gỡ và các trao đổi được tổ chức ở bảo tàng di tích chiến tranh trên đường Võ Văn Tần. Thoạt tiên tôi ngạc nhiên về địa điểm được chọn này hẳn thích hợp cho một cuộc tham quan rất bổ ích để hiểu về sự tàn khốc và quy mô của chiến tranh nhưng theo tôi không đủ trang trọng để kỷ niệm một sự kiện trọng đại  như việc ký kết hiệp định Paris. Nhất là khi lễ kỷ niệm diễn ra ở miền Nam, nơi về mặt địa lý là mặt trận nóng bỏng nhất của cuộc kháng chiến và của những hy sinh. Tôi rất vui mừng được gặp lại bà Bình, cùng nhiều bạn tà ru thân thiết, trong đó có bà Võ Thị Thắng với nụ cười vẫn vẹn nguyên, và thật thú vị được thấy có cả ngài Tổng lãnh sự Pháp Fabrice Mauriès cũng đến với cuộc họp này, ông làm cho tôi được vinh dự bằng cách tới ngồi cạnh tôi. Vậy là tôi lại tiếp nối cái ngạch ngoại giao ngắn ngủi mà sáng chói của mình hồi những năm 70 đã đưa tôi lên chức vị đại sứ Pháp ở khám Chí Hòa, đại diện trên thực địa cho nước Pháp đoàn kết với cuộc đấu tranh giải phóng của Việt Nam… Gác lại chuyện đùa, với một bên là đại diện cao nhất của nước Pháp tại Thành phố Hồ Chí Minh và một bên là các bạn tà ru của tôi, tôi rất thích thú về cái khoảnh khắc được ưu tiên này. Hoàn toàn tự tin, một chân ở việt Nam, một chân ở Pháp, tôi tự hào có thể kết nối hai đất nước đều là của tôi trong lễ kỷ niệm một sự kiện hàng đầu, dù muốn hay không, đã là một bước tiến lớn đến hòa bình. Chỉ tiếc một điều, tôi đã hoài công tìm trong số những nhân vật quan trọng nhất được mời đến sự kiện này một đại diện của phong trào sinh viên và học sinh, như chẳng hạn Huỳnh Tấn Mẫm bạn tôi... Một vụ bỏ quên hay là một cú tẩy xóa có tính chính trị tùy thời ? Thật đáng tiếc bởi vì điều đó sẽ là thêm một mảng sắc thái yêu nước cho bảng màu giàu có bao nhiêu nhân cách và một tiếng nói sự thật còn thiếu ở cuộc trao đổi rất cảm động này.



Cuộc trình diễn lớn ở Dinh Thống nhất

 … Cuối cùng ngày 2 tháng hai, những đại biểu còn lưu lại được mời dự lễ kỷ niệm 83 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 45 năm cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân và 40 năm ký kết Hiệp định Paris. Theo tôi, quan niệm lịch sử và cách thể hiện theo chuỗi niên đại của buổi tối kỷ niệm là khá hợp lý trong chừng mực không có Đảng Cộng sản Việt Nam và hạt nhân yêu nước mạnh mẽ của nó với Chủ tịch Hồ Chí Minh, không có sự giúp đỡ đa dạng mà nó đã biết chuyển thành sức mạnh cụ thể và biết thu hút chủ yếu từ khối xã hội chủ nghĩa, không bao giờ nhân dân Việt Nam có thể tự giải phóng khỏi chủ nghĩa thực dân và đế quốc, không bao giờ Việt Nam có thể tái thống nhất. Sẽ không bao giờ có hòa bình. Như vậy việc thành lập Đảng, trong bối cảnh tiếp nối các phong trào văn thân yêu nước trước đó, quả đúng là yếu tố hàng đầu đã đặt nền móng cho một cuộc chiến đấu đã đưa đến Hiệp đinh Paris. Một đường dây lô gích khác : không có cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân và cuộc địa chấn nó đã gây ra trong xã hội và trong tầng lớp chính trị Mỹ và trên toàn thế giới, các cuộc thương lượng Paris đã không thể đi đến việc rút quân đội nước ngoài và lập lại hòa bình.

Buỗi lễ được diễn ra thành một chương trình truyền hình lớn trực tiếp từ ba thành phố Hồ Chí Minh (tại Dinh Thống nhất), Cần Thơ và Huế. Những hình ảnh tư liệu, phát biểu của các nhân chứng, các điệu múa và hát chen với hình từ máy quay đã chú ý nêu bật khuôn mặt các nhà lãnh đạo vừa nêu rõ tên họ ...

Có những lúc thật sự cảm động như khi đại tá Dũng ở Cần Thơ kể rằng đơn vị ông gồm 56 người chỉ còn 15 người trở về, một đơn vị khác 11 người chỉ còn 2 người sống sót. Một gia đình có đến 5 người con hy sinh... Các hình ảnh tư liệu được chiếu làm nổi bật vai trò của phụ nữ trong chiến đấu, hộ trợ y tế, tiếp tế lương thực, vũ khí, tổ chức những nơi trú ẩn và hầm bí mật... Nhiều chiến sĩ cũ đã gặp lại nhau như bà Thảo và tướng Tư Can. Và bà Thảo đã thản nhiên kể lại bà đã bắn hai phát súng như thế nào khiến gia đình bà có thể bị giết hết để cứu những chiến sĩ của đơn vị Tư Can đang bị vây. Tôi sẽ không bao giờ quên được hình ảnh người chiến sĩ biệt động bị bắt ngay giữa đường phố Sài Gòn và viên tướng Loan đã chĩa thẳng nòng súng vào thái dương bắn chết anh như bắn một con chó trước mắt toàn thế giới. Những hình ảnh ấy không có trong buổi diễn. Hy sinh là một từ khóa. Hy sinh và nỗi đau của các gia đình, của một nhân dân bị dày xé, bị tra tấn. Trong bất cứ trường hợp nào đối với tôi cảnh tượng ấy không thể là một lễ hội, ngay cả khi những tượng đài anh hùng đó có đưa đến hòa bình. Sau hơn bốn mươi năm, hy sinh và đau đớn của những người chiến sĩ, dù là ở bên nào, những hy sinh và mất mát đổ lên đầu nhân dân chỉ có thể là để khiến ta trầm tư suy ngẫm. Về những cái đã bị bỏ quên, dù không nghĩ rằng chế độ xô-viết, càng hơn thế là chế độ Trung Hoa, quá khứ và hiện tại, có gì thật tốt đẹp, dù không hề ảo tưởng về động cơ viện trợ của họ trước hết là vì lợi ích của chính họ, tôi vẫn nghĩ rằng hậu phương của hậu phương miền Bắc chính là họ và, về phương diện đơn thuần của sự thật lịch sử, họ xứng đáng có mặt trong trình diễn tưởng nhớ lớn này, mà tôi không tìm thấy chút hình ảnh nào.

Tôi cũng tiếc không tìm thấy hình ảnh nào, lời bình nào về các nhà tù, Côn Đảo và Phú Quốc... Vì mặt trận ấy cũng là một điểm chiến đấu quan trọng đối với hàng nghìn người yêu nước trong những điều kiện khủng khiếp. Nhất là khi nhiều người còn sống sót trong số các cựu tù chính trị ấy đã bị chế độ hiện hành bỏ quên trong cảnh đói nghèo. Chương trình biểu diễn truyền hình ngợi ca đã dừng lại ở năm 1975, thời điểm được trình bày là xuất phát của công cuộc tái thiết bình an. Tôi thấy đấy là một sự quên lãng to lớn trong toàn cảnh ngợi ca cuộc chiến đấu vì hòa bình và độc lập và vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam. Im lặng nặng nề về cuộc chiến tranh ở Cămpuchia, được giải thoát khỏi bọn Khơ Me đỏ do Bắc Kinh nuôi dưỡng, về cuộc xâm lược của Trung Quốc trên biên giới phía bắc năm 1979, về các cuộc xâm lược của Trung Quốc ở Hoàng Sa năm 1974, Trường Sa năm 1988... Cứ như là buổi diễn kết thúc có hậu, theo lối Walt Disney. Than ôi, tôi e rằng ông bạn láng giềng lớn phương bắc không cho phép một kết thúc có hậu như thế trong thực tế đâu.



Đồng chí…

Nhân thể và để kết luận, khi cuộc trình diễn đã xong và công chúng tản ra về, hoàn toàn tình cờ tôi gặp đồng chí Ba Đua. Tôi thấy ông ta có vẻ căng thẳng và thành thật xúc động, ông ta thổ lộ với tôi là ông ta rất buồn về nỗi tôi đã từ chối từ đồng chí khi ông ta nói chuyện với tôi bên lề cuộc biểu tình chống xâm lược Trung Quốc ngày 5 tháng sáu năm 2011. Tôi đã nhắc lại với ông rằng với tôi không có chuyện từ chối từ đồng chí. Đơn giản là có nhiều loại đồng chí và hai chúng tôi không có cùng quan điểm về tình đồng chí trên nhiều vấn đề, đặc biệt là về vấn đề chủ quyền quốc gia và thực thi tự do chủ quyền đó bằng lời nói và hành động của nhân dân. Ông vặn lại tôi : “Vậy anh cho là tôi không yêu nước?” Tôi trả lời rằng tôi không tự cho phép mình có lời kết tội nặng nề như vậy nhưng không ngần ngại khẳng định rằng chính sách ông ta đang chủ trương và dùng vũ lực để áp đặt theo tôi chỉ có thể dẫn đến chỗ mất sạch vào tay Trung Quốc chủ quyền quốc gia và độc lập đã được giành lại đắt giá biết bao. Chúng tôi chia tay giữa cuộc trao đổi dở dang đó vì xe buýt đang chờ đưa tôi về khách sạn. Nhưng tôi rất muốn tiếp tục cuộc tranh luận nghiêm trọng của chúng tôi. Dẫu sao trước khi chia tay, trả lời câu hỏi của ông, tôi cũng đã đảm bảo với ông bạn của tôi rằng bộ phim Hoàng Sa Việt Nam nỗi đau mất mát vẫn bị cấm chiếu ở Việt Nam, sắp được đưa lên youtube trong bản có phụ đề bằng tiếng Bắc Kinh. Chúng tôi tam biệt, chúc nhau có một cái Tết năm Tỵ tốt đẹp.

Nếu tôi có được một mong ước cho năm mới thì đấy là mong ước các đồng chí Sài Gòn của tôi đấu tranh vì độc lập và danh dự của đất nước không còn bị công an thường xuyên theo rõi và hạch sách và họ có thể biểu lộ chính kiến của họ một cách an toàn. Tôi rất mong các ông Lê Hoàng Quân và Ba Đua đích thân chăm lo cho được điều đó vì lợi ích của Đảng và vì sự sống còn của đất nước. Đặng cho tôi còn có thể gọi họ là “đồng chí” mà không phải đỏ mặt và không giả dối.



Ngày 17/2/2013



                                                 Hồ Cương Quyết, André Menras





Nguyên Ngọc dịch





bản gc:



Commémoration du 40ème anniversaire de la signature de l’Accord de Paris : anecdotes et réflexions à cœur ouvert.

J’ai pu réaliser les remises d’aide aux pêcheurs et les prises de contact pour des projets futurs dont j’ai fait le rapport dans un précédent article grâce à l’invitation de l’Union des associations d’amitié du Vietnam, ( Lien Hiep cac To Chuc Huu nghi Viet Nam), VUFO, à l’occasion du 40ème anniversaire de la signature de l’accord de Paris pour arrêter la guerre et rétablir la paix. Je remercie très sincèrement son président, M. Vu Xuan Hong qui nous a accueillis si généreusement. Les 2 neveux Cuong à HN et Thang à SG qui nous ont entourés de leurs soins. Ce fut pour moi un honneur, de grands moments d’émotion et de découverte que de faire partie des 50 délégués internationaux. D’autant que l’accord de Paris reste inscrit  dans ma chair de façon vivante car il a marqué la fin de mes deux ans et demi d’incarcération à Chi Hoa et que, sans transition, il a ouvert pour moi une nouvelle période de combats pour la paix.
De solides amitiés et un personnage central
J’ai lié au cours de ce voyage commémoratif de solides amitiés avec certains délégués qui tous ont gardé le Vietnam au cœur. Des parcours de vie et des cultures si différentes mais des cœurs et des valeurs si proches. De très fortes personnalités de combattants pour la paix. Ce cher Carlos, vénézuélien  au caractère si doux qui avait enlevé avec un commando un colonel américain pour l’échanger contre Nguyen Van Troi. Mon cher ami George, 100% fidèle à la mémoire de son père Wilfred Burchett cet infatigable journaliste de terrain totalement dévoué à la cause du Vietnam. Cet attendrissant Chandra, réfugié Pakistanais au Bengale toujours en quête d’un livre sur l’Histoire du PC vietnamien en anglais qu’il n’a jamais pu trouver. Pauvre Chandra ! Il semble qu’au Vietnam socialiste l’Histoire du Parti en anglais soit plus difficile à trouver qu’un plat de nem. Elle doit être en cours permanent d’écriture, de réécriture ou de traduction… J’ai rencontré aussi mon cher Michel, homme simple et authentique, chauffeur de la délégation Vietnamienne à Paris. Daniel, maire de Choisy le Roi, toujours placide et souriant. Hélène, ancienne sénatrice communiste encore plus bavarde que moi. Renato et Rosanna, les exhubérants et joyeux italiens tellement amoureux du Vietnam…Evgeny le sympathique russe, moitié char d’assaut, moitié ours, parlant français et vietnamien et, bien sûr, grand amateur de vodka. Tous étaient attachants et n’avaient rien perdu de l’esprit de leur jeunesse.
Cependant, le personnage central de cette commémoration a été incontestablement Madame Binh. Comme à l’ordinaire, magnifique de dignité et de lucidité. J’ai bien apprécié son discours au Centre de la Conférence internationale à Ha Noi devant les plus hauts dignitaires du Parti et de l’Etat, particulièrement quand elle a rappelé à ceux qui l’auraient oublié ou qui voudraient l’oublier  le rôle très important et les grands sacrifices consentis par les patriotes de « la troisième composante » du Sud dans le combat pour la paix, la libération du Sud et la réunification du pays. J’ai bien noté quand elle a insisté sur le ciment patriotique multicolore bien réel du « Front » national de libération du Sud Vietnam. J’ai bien apprécié aussi dans l’intervention du Président de la République M. Truong Tan Sang le passage où il a souligné « la justesse de la politique étrangère d’indépendance et d’autonomie » et «  la puissance du peuple en combinaison avec les forces de l’époque », «  expérience dont nous pouvons tirer des leçons » pour « la construction et la défense du pays aujourd’hui ». Ma fierté de coq gaulois a été flattée par  le rôle de choix attribué à la France en tant que pays hôte des négociations mais je regrette cependant que lors de ce meeting très officiel à Ha Noi, la France, en la personne de mon amie Hélène Luc que j’estime beaucoup, ait eu un temps de parole exclusif en ce qui concerne les délégués étrangers alors que le délégué américain Ramsey Clark, ancien ministre de la justice de Johnson, démissionnaire pour protester contre la guerre et devenu une des figures du mouvement pacifiste US, n’a pas eu droit à un seul mot, que les délégués Russe et Chinois n’aient pas pu prendre brièvement la part de parole qui, selon moi, leur était légitimement due. Car, quiconque connaît quelque peu l’Histoire de la lutte du peuple vietnamien contre l’impérialisme mesure à leur haute valeur la contribution historique du mouvement pacifiste américain, de l’Union soviétique et de la Chine à la conclusion de l’accord de Paris, selon moi au moins aussi importante que le rôle d’accueil, certes très important, de la France, de la municipalité de Choisy-le-Roi et du Parti communiste français.  Mais ce sont là encore les mystères de la diplomatie qui valorise ou minimise les composantes de l’Histoire selon les impératifs du moment. Sorte de cuisine au jour le jour qui demain changera de goût et de couleurs en fonction des convives et des appétits. Les autres délégués et « témoins » historiques ont tout de même pu s’exprimer et témoigner de leur expérience lors du Talk-show télévisé sur VTV6, certes beaucoup moins officiel mais beaucoup plus vivant que la grande messe de la veille. Soit dit en passant, le mot « témoin » employé officiellement pour nous désigner ne m’a pas semblé convenir à beaucoup d’entre nous. J’aurai préféré pour certains le mot « acteur » qui évoque une participation directe plutôt qu’une simple observation de l’extérieur. Mais ce sont là des subtilités de langage.
Quelques moments pittoresques ou émouvants
Parmi les moments émouvants ou pittoresques que je me remémore, fut celui où mon ami Michel, chauffeur de la délégation du GRP, recevant les félicitations du Président de la République lui répondit ému qu’il était à la retraite mais que si le Président avait besoin d’un chauffeur, il était entièrement à sa disposition. Grande preuve de sacrifice pour ce chauffeur parisien terrorisé à l’idée de conduire parmi les hordes grouillantes aux réactions imprévisibles qui envahissent les rues d’Ha Noi ! J’ai bien aimé aussi quand le même président s’est adressé à moi en employant le mot « Ta ru » (Tu ra=sorti de prison). J’en ai profité pour lui demander une audience, un jour où il aurait le temps, pour lui confier mes préoccupations sur le pays. D’accord sur le principe pour la période du Tet, le rendez- vous n’a pu être pris suite à mon départ en France précipité.
« Khong phai nhu vay !» (« Ce n’est pas ainsi !»)
Un des moments que je garde aussi en mémoire est cette rencontre absolument fortuite dans l’ascenseur du Centre de la Conférence internationale lorsque je me trouvais seul avec un homme discret, en complet gris aux cheveux grisonnants et aux yeux pétillants que j’ai pris pour un Vietnamien. Pour rompre le silence, je lui demandais s’il était délégué et il me répondit sur un ton affable en très bon vietnamien qu’il était le délégué Chinois à cette commémoration d’amitié. Nous avons brièvement échangé quelques mots généraux sur notre vie, nos familles et j’ai appris qu’il avait était ambassadeur de Chine à Ha Noi pendant un certain nombre d’années. Alors, puisque nous n’étions que tous les deux, je me suis enhardi et lui ai posé la question qui me brûlait la langue : Que pensait-il  de la situation en Mer de l’Est, particulièrement du traitement que la marine chinoise faisait subir aux pêcheurs vietnamiens ?  Visiblement pris au dépourvu et après un temps de réflexion car il ne s’attendait pas à cette question « sensible », il m’a répondu «  Khong phai nhu vay !» (Ce n’est pas ainsi). Et lorsque je lui ai dit que j’étais prêt à lui transmettre des dossiers précis à ce sujet, dossiers dûment datés chronologiquement et circonstanciés d’agressions de tirs à balles, de tabassages, d’emprisonnements, de demande de rançon, de chalutiers coulés… il m’a répété : « Khong phai nhu vay !». Puis, sous le ton de la confidence, et sur la défensive, comme pour justifier implicitement les actes sauvages qu’il refusait de reconnaître, il a déclaré que les pêcheurs chinois subissaient le même sort de la part du Vietnam. Alors, bien qu’indigné par cette réponse, je me suis empressé de lui proposer de m’envoyer des exemples concrets qui étaieraient ses affirmations. Ainsi, lui ai-je dit, je pourrai faire intervenir des instances internationales pour dénoncer ces actes inhumains contre les pêcheurs chinois. L’ascenseur arriva à terme ainsi que notre conversation et j’attends toujours les dossiers de M. L’ambassadeur. Quand les poules auront des dents, peut-être ! Je n’ai pu, hélas, lui procurer le lien du Film HSVNNDMM sur youtube car nous n’avons pas encore la version sous-titrée en chinois mandarin. Je la laisserai à son intention à la réception du Consulat de Chine à Saigon et aussi à l’ambassade de Chine à Paris… Mais je dois avouer qu’à Ho Chi Minh ville, alors que j’étais à sa table en présence  du Président du Comité populaire, M. Le Hoang Quan, le seul convive de la salle avec lequel je n’ai pas trinqué est monsieur l’ambassadeur chinois. Rien de personnel bien sûr car ce monsieur me paraissait même d’un abord sympathique, mais c’était une question de principe. D’ailleurs, Je n’ai pas eu l’impression que, de son côté non plus, il ait eu grande envie de trinquer avec moi. Visiblement ni le cœur ni la raison n’y étaient, dans un présent dont la noirceur efface l’amitié du passé. « Khong phai nhu vay ! », monsieur l’Ambassadeur ! Tant que nos pêcheurs seront par le pouvoir que vous avez longtemps représenté et que vous justifiez, systématiquement malmenés et humiliés, tant que notre souveraineté nationale, conforme à la loi internationale, sera par vos autorités violée sur terre et sur mer et que les droits de l’Homme élémentaires de nos pêcheurs seront par vous piétinés, il n’y aura pas le moindre semblant d’amitié entre vous et moi. Le meilleur des vins partagé avec vous deviendrait dans ma bouche un bien méchant vinaigre.
« Lau lam khong gap nhau » (« Il y a longtemps qu’on ne s’est vu »)
Dans la suite de mes petites aventures, je me souviens d’un délicieux court moment lors de la réception des délégués à l’hôtel de ville de Ho Chi Minh ville, quand le Président Le Hoang Quan vint serrer les mains de chacun d’entre  nous. Arrivé à moi, il me dit avec un franc sourire : « André khoe kg ? Lau lam kg gap anh » (Comment vas-tu ? ça fait longtemps que je ne t’ai vu). Je lui répondis en lui demandant d’approcher son oreille pour qu’il soit le seul à entendre : «  Ong biet tai sao minh kg gap nhau khong? » (Tu sais pourquoi ?). Comme il était un peu surpris, je maintins sa main dans la mienne pour qu’il ne s’écarte pas et lui dit à l’oreille : « Vi ong kg chiu xuong duong voi André di bieu tinh chong TQ gay han » (Parce que tu n’as pas voulu descendre dans la rue avec moi pour manifester contre les agressions chinoises). Il éclata d’un beau rire et enchaîna rapidement les serrements de mains. Evidemment, si je me suis permis en aparté cette répartie que l’on pourrait qualifier d’insolente ou de provocatrice de la part du simple citoyen que je suis envers un haut-dirigeant c’est seulement parce que je connaissais M. Le Hoang Quan depuis longtemps, que nous avons sur le plan personnel une certaine estime l’un pour l’autre et qu’il sait fort bien qui je suis et ce que je pense.
Chaleur du Sud et …les toujours les oublis
Un autre moment important fut la rencontre et les échanges organisés au musée des vestiges de guerre rue Vo Van Tan. Je fus tout d’abord surpris par le choix de ce lieu certes propice à une visite très instructive sur la cruauté et l’étendue de la guerre mais selon moi pas assez solennel pour commémorer un évènement capital tel que la signature de l’Accord de Paris. Surtout quand cette commémoration a lieu au Sud du pays, là où s’est situé géographiquement le front le plus brûlant de la résistance et des sacrifices. Je fus ravi d’y retrouver Madame Binh, nombre de mes très chers amis ta rus (ex-emprisonnés politiques) dont Madame Vo Thi Thang et son sourire intact, et, cerise sur le gâteau, de voir arriver dans cette assemblée M. le Consul Général de France, Fabrice Mauriès qui me fit l’honneur de venir s’asseoir près de moi. Je renouais ainsi avec ma fulgurante mais brillante carrière diplomatique qui me propulsa dans ces années 70 au poste d’ambassadeur de France à Chi Hoa, représentant sur le terrain le peuple français solidaire du combat libérateur du peuple vietnamien. Plaisanterie mise à part, avec le premier représentant de la France à HCM ville d’un côté et mes amis ta rus de l’autre, je me délectais de ce moment privilégié. Je me sentais parfaitement moi-même, un pied au Vietnam et un pied en France fier de pouvoir réunir mes deux pays dans la commémoration d’un évènement majeur qui fut qu’on le veuille ou non, un grand pas vers la paix. Un seul regret, j’ai cherché en vain dans le cercle des acteurs majeurs invités pour cet évènement un représentant du mouvement des étudiants et des lycéens tels que mon ami Huynh Tan Mam par exemple…Oubli ou habituel coup de gomme politique de circonstance ? Dommage car cela aurait ajouté une couleur patriotique à cette palette très riche de personnalités et une note de vérité manquante à ce très émouvant échange.
Le grand show du Palais de la réunification
Enfin, le 2 février, les délégués restants ont été conviés à assister à l’anniversaire des 83 ans de la fondation du Parti Communiste Vietnamien, des 45 ans de l’offensive générale du Tet Mau Than et des 40 ans de la signature des accords de Paris. La conception historique et chronologique de la soirée m’a paru logique dans la mesure où, sans le PC vietnamien et son noyau dur patriotique avec le Président Ho Chi Minh, sans la logistique d’aide multiforme qu’il a capitalisée et su drainer essentiellement du bloc socialiste, jamais le peuple vietnamien n’aurait pu se libérer du colonialisme et du capitalisme, jamais le Vietnam n’aurait pu être réunifié. Jamais la paix n’aurait pu être obtenue. La fondation du Parti, dans l’environnement des mouvements précédents de lettrés patriotes est donc bien l’élément majeur qui a jeté les bases d’un combat menant à l’Accord de Paris. Autre lien logique dans la conception du spectacle : sans l’offensive générale du Tet  Mau Than et la secousse sismique qu’elle a provoqué dans la société et la classe politique américaine et dans le monde entier, les pourparlers de Paris n’auraient pu avancer jusqu’à un retrait total des troupes étrangères et la paix.
L’évènement fut un grand show télévisé en direct et en triplex de Ho Chi Minh Ville (palais de la réunification) Can Tho et Hue. Images d’archives, témoignages d’acteurs, spectacle de danses et chant mêlés avec la caméra qui prenait bien soin de passer en revue les dignitaires d’aujourd’hui en les nommant…
Il y a eu des moments de réelle émotion comme le témoignage du colonel Dung de Can Tho qui expliquait que sur une unité de 56 partisans seulement 15 sont revenus, sur un autre groupe de 11, seulement 2 ont survécu. Dans la même famille, les 5 garçons se sont sacrifiés…Les documents projetés ont mis en avant le rôle exceptionnel des femmes dans les combats, dans l’assistance médicale, dans l’approvisionnement des vivres, des munitions, dans l’organisation des caches et tranchées secrètes…Certains acteurs se sont retrouvés comme madame Tam Thao et le colonel Tau (Tu Can). Et celle-ci a expliqué le plus naturellement du monde comment elle avait tiré deux coups de feu pour faire diversion, mettant sa famille en danger de mort pour  dégager le groupe de partisans de Tu Can qui était encerclé. Je n’oublierai jamais ces images terribles du partisan capturé en pleine rue de Saigon et que le colonel Loan, bras tendu et revolver sur la tempe, a abattu comme un chien devant le monde entier. Ces images n’étaient pas dans le show.
Sacrifice est le maître mot. Sacrifice et douleur de familles, d’un peuple déchiré, torturé. En aucun cas ce spectacle pour moi ne peut être une fête, même si ces monuments d’héroïsme ont conduit à la paix. Plus de 40 ans après, sacrifice et souffrances des combattants, de quelque bord qu’ils soient, sacrifices et deuils infligés par l’impérialisme aux populations, ne peuvent appeler que le recueillement.
Au chapitre des oublis de ce show, même si ne pense pas le plus grand bien du régime soviétique et encore moins du régime chinois, passé et actuel, même si je ne me fais aucune illusion sur leurs motivations solidaires avant tout au service de leurs propres intérêts, je pense que la base arrière de la base arrière du Nord c’étaient bien eux et que , du point de vue de la simple vérité historique, ils auraient mérité d’être présents dans ce grand show de la mémoire où je n’en ai pas trouvé trace.
Je regrette aussi qu’aucune image, aucun commentaire  n’ai  été consacré aux prisons, à Con Dao, à Phu Quoc...Car ce front a aussi été un point important du combat pour des dizaines de milliers de patriotes dans de terribles conditions. D’autant que bon nombre de survivants parmi ces anciens prisonniers politiques sont oubliés dans leur pauvreté par le régime actuel.
Le show télévisé à la gloire du Parti s’est arrêté en 1975, date présentée comme de départ tranquille de la reconstruction. J’ai vu là un autre oubli de taille dans ce tour d’horizon qui glorifie la lutte pour la paix et l’indépendance et le rôle du Parti communiste vietnamien.  Lourd silence sur la guerre au Cambodge, libératrice des Khmers rouges à la solde de Pékin,  sur l’invasion chinoise de 1979 à la frontière Nord, sur les invasions chinoises à Hoang Sa en 1974 et à Truong Sa en 1988… Comme s’il fallait que le show se termine sur une happy end, façon Walt Disney. J’ai peur hélas, que le grand voisin du Nord ne permette pas une telle fin dans la réalité.
Camarade…
A ce propos et pour conclure, lorsque le spectacle s’est terminé et que le public se dispersait, j’ai croisé tout à fait par hasard le camarade Ba Dua. Je l’ai trouvé tendu et il m’a confié, sincèrement ému, qu’il avait été attristé quand j’ai refusé le terme de camarade alors qu’il s’adressait à moi pour me dissuader en marge de la première manifestation anti-agression chinoise du 5 juin 2011. Je lui ai répété que pour moi, il n’y a pas de refus du terme camarade. Il y a simplement plusieurs sortes de camarades et nous n’avons pas le même point de vue de la camaraderie sur beaucoup de questions,  en particulier sur celle de la souveraineté nationale et sur son libre exercice par l’expression et l’action populaires. Il me rétorqua «  Alors tu dis que je ne suis pas patriote ? » Je lui répondis que je ne me permettrais pas cette grave accusation mais que j’affirmais sans hésiter que la politique qu’il a adoptée et qu’il fait appliquer par la force ne peut mener selon moi qu’à la perte totale au profit de la Chine de la souveraineté nationale et de l’indépendance si chèrement acquises. Nous nous séparons sur cet échange inachevé car le bus attend pour me ramener à l’hôtel. Mais j’aurais bien aimé poursuivre plus avant notre très grave discussion. Avant de nous quitter, j’ai quand même rassuré mon ami en répondant à sa question : le film HSVNNDMM, toujours interdit de projection au Vietnam, va bientôt paraître sur youtube dans sa version sous-titrée en chinois mandarin. Nous nous disons au revoir en nous souhaitant un bon Tet du Serpent.
 Si j’avais un vœu majeur à exprimer pour l’année qui vient ce serait que mes camarades patriotes saïgonnais qui luttent pour préserver l’indépendance et l’honneur du pays contre les agressions chinoises répétées et qui vont s’amplifier dans les mois à venir, ne soient plus systématiquement suivis et harcelés par la police et qu’ils puissent exprimer leurs opinions en toute sécurité. J’aimerais tant que Messieurs Le Hoang Quan et Ba Dua veillent à cela personnellement pour le bien du Parti et le salut du Vietnam. Pour que je puisse, sans avoir à en rougir et sans hypocrisie,  les appeler encore «camarade».
                                                                                Le 17/ 02/ 2013
                                                          Ho Cuong Quyet, André Menras



 






Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét