Xuân Tân Mão

Xuân Tân Mão
Đảng và Chính phủ luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng với tất cả hoạt động, việc làm của người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia (TTg NT Dũng).

13 tháng 2 2013

Cần làm rõ hơn chế định quyền con người

Cần làm rõ hơn chế định quyền con người
 
QĐND - Thứ Ba, 12/02/2013

QĐND - Khái niệm quyền con người (QCN) đã được Nguyễn Ái Quốc - tức Chủ tịch Hồ Chí Minh nói đến trong “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” gửi đến đại diện chính phủ các nước Đồng minh thắng trận, họp ở Véc-xây (Pháp) năm 1919. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, QCN đã được Người nói đến trong bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố vào ngày 2-9-1945 và nội dung QCN đã được đưa vào Hiến pháp 1946 - Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ở nước ta, khái niệm QCN còn khá mới mẻ, không ít người dân và cán bộ công chức chưa nắm được khái niệm này. Mặt khác, là một đạo luật cơ bản, là “luật mẹ”, nội dung cô đúc,… Hiến pháp không thể trình bày đầy đủ các khái niệm nói chung trong Hiến pháp, trong đó có khái niệm QCN. Bởi vậy, trách nhiệm của các cơ quan chức năng và của giới khoa học, giới báo chí, truyền thông là phải làm rõ khái niệm QCN để người dân nhận thức được rõ khái niệm này, trước khi đóng góp ý kiến và sau này có thể hiểu và thụ hưởng đầy đủ các quyền và tự do của mình mà không làm phương hại đến quyền và lợi ích của người khác và của cộng đồng...
Chỉ thị số 22-CT/TW của Bộ Chính trị về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp (DTSĐHP) năm 1992 xem đây là “một đợt sinh hoạt chính trị quan trọng, rộng lớn trong toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị nhằm phát huy quyền làm chủ, trí tuệ, tâm huyết của các tầng lớp nhân dân, của các cấp, các ngành, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của mỗi cá nhân, cơ quan, tổ chức đối với việc sửa đổi Hiến pháp, thi hành Hiến pháp". Bởi vậy, đợt lấy ý kiến này không chỉ nhằm hoàn thiện văn bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 mà còn nhằm tạo ra sự thống nhất nhận thức về tư tưởng, chính trị và pháp lý của toàn dân trước khi Hiến pháp mới đi vào cuộc sống. Quyền con người là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử nhân loại, là tài sản chung của các dân tộc.
Dựa trên các văn kiện cơ bản của Liên hợp quốc, trong đó có Bản “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người”(1), 1948 và các công ước quốc tế về quyền con người, đặc biệt là “Công ước quốc tế về các quyền dân sự”, “Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa”(2), năm 1966 có thể hiểu QCN như sau: Với tư cách là một giá trị triết lý, đạo đức, QCN là một giá trị xã hội cơ bản, vốn có (hoặc còn được gọi là “quyền tự nhiên”) của con người. Những giá trị này bao gồm: Nhân phẩm, tự do, bình đẳng, tinh thần nhân đạo, khoan dung và trách nhiệm của mỗi người đối với cộng đồng. Với tư cách là một giá trị pháp lý, QCN là các quy định pháp luật (trong luật quốc tế và luật quốc gia) nhằm bảo vệ và thực hiện các nhu cầu vật chất và tinh thần của tất cả mọi người về các mặt: Dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa. 
Trong Hiến pháp năm 1992, QCN đặt ở Chương V - "Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân". Điều 50, trong Chương này quy định như sau: “Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam quyền con người… được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân…”. Như vậy là về mặt logic, ở Hiến pháp năm 1992, khái niệm QCN đồng nhất hoặc nằm trong khái niệm quyền công dân. 
So với Hiến pháp năm 1992, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 chế định QCN đặt ở Chương II, ngay sau Chương I, “Chế độ chính trị”. Tiêu đề Chương II như sau: “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân”. Trong tiêu đề trên, tuy khái niệm QCN không đồng nhất và nằm trong khái niệm quyền công dân, nhưng lại được lồng ghép với khái niệm quyền công dân (QCD). Điều này cần phải được làm rõ.
Trước hết, việc đặt QCN ở Chương II (so với Chương V, trong Hiến pháp năm 1992), đã thể hiện rõ tầm quan trọng của QCN và QCD so với Hiến pháp năm 1992. Đồng thời, Dự thảo lần này đã thể hiện khá đầy đủ các QCN. Bảo vệ QCN là một mục tiêu quan trọng của Hiến pháp. Song pháp luật nói chung, Hiến pháp nói riêng luôn mang bản chất chính trị của nhà nước. Bởi vậy, Hiến pháp của bất cứ quốc gia nào về khách quan cũng không chỉ nhằm bảo vệ QCN mà còn bảo vệ chế độ xã hội. Đối với chúng ta, nếu không bảo vệ được chế độ xã hội XHCN thì cũng không thể bảo vệ được QCN.
Thứ hai, cần làm rõ khái niệm QCN về một số phương diện sau:
Nói đến QCN là nói đến quyền của tất cả mọi người. Nói một cách đơn giản, đã là người thì ai cũng có quyền cho dù họ có sự khác nhau về chủng tộc, giới tính, tuổi tác, vị thế chính trị, sức khỏe... Như vậy là khái niệm QCN rộng hơn khái niệm QCD (là quyền của một thành viên của một quốc gia nhất định, được xác định bởi chế định quốc tịch). Khái niệm QCN còn rộng hơn khái niệm QCD ở một phương diện khác, đó là những người đã bị tước một phần nào đó QCD (như quyền tự do cư trú, quyền bầu cử, ứng cử do đang chấp hành một quyết định, một bản án đã có hiệu lực…) hoặc những người mất năng lực hành vi dân sự (chẳng hạn người mắc bệnh tâm thần…)… họ vẫn còn QCN. 
Liên quan đến nội dung trên, QCN, cần phải thể hiện rõ thêm một số điểm như sau: Đó là Nhà nước tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các QCN dựa trên nguyên tắc bình đẳng của tất cả mọi người trong phạm vi lãnh thổ (điều này có nghĩa QCN không chỉ là của công dân Việt Nam mà còn của người nước ngoài đang hiện diện trên lãnh thổ Việt Nam) và thẩm quyền pháp lý của Việt Nam. Nói cách khác, điều này thể hiện rõ khái niệm QCN rộng hơn khái niệm QCD.
Về mặt thời gian, QCN là quyền của mỗi con người có từ khi người đó được sinh ra (ở một số quốc gia, pháp luật quy định bào thai phát triển đến một mức nào đó cũng được xem là đã có QCN) cho đến khi người đó qua đời. Trong khi đó, QCD có thể bị tước đoạt (một phần) khi người đó vi phạm pháp luật. Hoặc trong trường hợp người đó mất năng lực hành vi dân sự (do mắc bệnh tâm thần chẳng hạn). Vấn đề này cũng cần được các chuyên gia làm sáng tỏ trong Hiến pháp.
Trong thực tiễn, nói đến QCN là nói đến pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa nhà nước với người dân, trong đó người dân là chủ thể của quyền, nhà nước là người tôn trọng, bảo vệ và thực hiện quyền của người dân. Cho nên, Dự thảo cần thể hiện rõ hơn trách nhiệm của cơ quan nhà nước, của cán bộ công chức đối với người dân. Còn trong thực tiễn, điều này có nghĩa phải xóa bỏ cơ chế “xin - cho”. Tuy là một cơ chế phi pháp nhưng cơ chế này đã và đang tồn tại trong nhận thức xã hội và đời sống thường nhật.
Về mối quan hệ giữa chủ thể quyền và trách nhiệm bảo đảm quyền trong chế độ ta, có lẽ không ai nói hay và chính xác hơn Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người nói: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư… phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(3).
Về mặt văn bản cũng cần xem xét, biên tập làm cho khái niệm QCN được chính xác hơn, chẳng hạn như: Trong Điều 15.1 Dự thảo có đoạn viết: “quyền con người, … được Nhà nước và xã hội thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm…”. Viết như vậy là chưa chính xác. Như trên đã nói, QCN là cái vốn có, nó không phụ thuộc vào việc có thừa nhận hay không. Mặt khác, dùng khái niệm “thừa nhận” có thể dẫn đến hiểu nhầm: Sự tồn tại QCN ở Việt Nam là do có một sức ép nào đó từ bên ngoài (nên phải “thừa nhận”). Hơn nữa, viết như vậy là thừa vì đã "tôn trọng" còn cao hơn “thừa nhận” rồi.
Điều 16.2, Chương II Dự thảo viết: “Không được lợi dụng quyền con người, quyền công dân để xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác”. Ở đây khái niệm “không được lợi dụng QCN…” không rõ vì khái niệm “lợi dụng” có nhiều cách giải thích và có thể bị vận dụng tùy tiện hoặc bị xuyên tạc. Bởi vậy, có thể viết đơn giản và dễ hiểu hơn, như sau: “Trong khi hưởng thụ quyền của mình, mọi người không được xâm phạm lợi ích quốc gia, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác”. 
Điều 29.2, Chương II Dự thảo viết: "Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý Nhà nước và xã hội…”. Viết như vậy vẫn chưa thoát khỏi tư duy cũ - nhà nước là người “cho” (vì khái niệm” tạo điều kiện” không thể hiện yêu cầu bắt buộc đối với nhà nước. Nói cách khác nhà nước có thể, hoặc không làm). Bởi vậy, nội dung này có thể viết như sau: "Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội…”. Viết như vậy có nghĩa nhà nước “phải tôn trọng và bảo đảm…” quyền này… chứ không phải là có “tạo điều kiện” hay không, tùy thuộc ở nhà nước!
Nói đến QCN là nói đến tinh thần nhân đạo, khoan dung. Ở nước ta cũng như các nước khác luôn tồn tại các nhóm xã hội yếu thế, dễ bị tổn thương, như trẻ em, nữ giới, người mắc bệnh tâm thần, người nhiễm HIV/AIDS,... phải được quan tâm. Lý do nhóm xã hội này cần được quan tâm không phải là ưu tiên, hoặc vì sự đóng góp của họ cho xã hội (như những người có công hoặc thương binh, gia đình liệt sĩ…) mà vì những người trong nhóm xã hội này thường thiếu khả năng tự bảo vệ quyền của mình. Bởi vậy, Hiến pháp sửa đổi lần này cần có quy định bảo vệ quyền và lợi ích của các nhóm xã hội này. Chẳng hạn, có thể bổ sung một điều nào đó (trong Chương II) với nội dung như sau: “Nhà nước, tôn trọng, bảo vệ và giúp đỡ các nhóm xã hội dễ bị tổn thương". 
Trên thực tế, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước ta đã quy định về nội dung này rồi. Chẳng hạn như Luật "Phòng, chống vi-rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người”, năm 2006; Luật “Bình đẳng giới”, 2006; Luật “Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em”, 2004; Luật “Người khuyết tật”, 2010… Mặc dù chúng ta đã có văn bản pháp luật về một số nhóm xã hội này nhưng Hiến pháp vẫn cần có quy định về nhóm xã hội dễ bị tổn thương để Nhà nước và xã hội quan tâm hơn.
QCN đến với dân tộc ta không giống như các nước tư bản chủ nghĩa. Đó không phải là thành quả của cách mạng dân chủ tư sản, mà là thành quả của cách mạng giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta về QCN xuyên suốt nhiều thập kỷ qua như đã nói ở trên đều xuất phát từ mục tiêu, lý tưởng của Đảng, từ bản chất của chế độ ta. Nó hoàn toàn không phải xuất phát từ sức ép nào đó của cộng đồng quốc tế hoặc của các lực lượng chính trị đối lập trong và ngoài nước. Trong dịp sửa đổi Hiến pháp lần này, chúng ta cần kế thừa những thành quả tư duy lý luận, pháp lý và những ý kiến đóng góp của nhân dân, đồng thời kế thừa có chọn lọc thành quả tư duy pháp lý về QCN của nhân loại, nhằm bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền và lợi ích của nhân dân ta hướng đến mục tiêu, “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” mà Cương lĩnh Đại hội XI của Đảng ta đã đề ra.

TS CAO ĐỨC THÁI, giảng viên cao cấp, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quyền con người, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.

(1) - Trung tâm nghiên cứu quyền con người, “Các văn kiện cơ bản về quyền con người”, HN, 2002. Tr 28.
(2) - Trung tâm nghiên cứu quyền con người, SĐD. Tr 249, 284.
(3) - Hồ Chí Minh Tuyển tập Tập II, NXB ST, HN. 1980, Tr 541, 542.


http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/412/414/414/228738/Default.aspx

bình luận của Ba Sàm:

Nói như ông tiến sĩ thì các nước tư bản không có quyền con người bởi họ không có chế độ xã hội XHCN thì lấy vì mà bảo vệ, mà theo ông TS thì, không bảo vệ được chế độ XHCN thì không có quyền con người! 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét