|
DANH HIỆU ANH HÙNG LAO ĐỘNG CHO CHIẾC XE GẮN MÁY
Ngô Tự Lập
Một trong những nhân tố quan trọng tạo nên sự phát
triển vượt bậc của Việt Nam vào thời điểm bản lề giữa hai thế kỷ
20-21, theo tôi, là chiếc xe máy.
Mặc dù xe hơi cá nhân đang ngày càng trở nên thông
dụng, phương tiện giao thông phổ biến nhất ở Việt Nam hiện nay vẫn
là xe máy. Theo điều tra của Tổng cục thống kê, năm 2009 có tới
72,3% số hộ ở Việt Nam sử dụng xe gắn máy. Tỷ lệ này còn cao hơn ở
các đô thị, có tới 83,2% số hộ sử dụng xe gắn máy. Với 33,4 triệu
chiếc xe máy đang lưu hành trên thị trường (con số do Bộ Giao thông
vận tải đưa ra tháng 8.2011, Nhịp cầu đầu tư, ngày
06/02/2012), có thể nói Việt Nam là quốc gia của xe máy. Bị coi là
thủ phạm của tình trạng tắc đường và ô nhiễm trầm trọng ở các đô thị
lớn, thật ra vai trò của chiếc xe máy đối với sự phát triển đất nước
trong trong hai chục năm qua là lớn hơn rất nhiều so với những gì
chúng ta thường nghĩ.
Chiếc xe máy xuất hiện ở Việt Nam từ khá sớm, và việc
sử dụng xe máy đã ít nhiều trở nên phổ biến sau năm 1975 nhưng chỉ
thực sự bùng nổ cùng với chính sách Đổi Mới kể từ năm 1986. Điều đó
không phải là hoàn toàn ngẫu nhiên. Nội dung cốt lõi của chính sách
Đổi Mới là chấp nhận kinh tế thị trường và khuyến khích kinh tế tư
nhân với tư cách một thành phần hợp pháp trong nền kinh tế quốc dân.
Nhưng Việt Nam phát triển kinh tế tư nhân gần như từ con số không:
cả nước không có doanh nghiệp tư nhân lớn nào. Trước đó, chiến
tranh, cấm vận, chính sách cải tạo công thương nghiệp và cơ chế quản
lý tập trung kiểu Liên Xô đã triệt tiêu gần như hoàn toàn giai cấp
tư sản. Thêm vào đó, cuộc chiên tranh biên giới và những sai lầm
trong quản lý khiến cho nền kinh tế nước ta gần như kiệt quệ.
Chính sách Đổi Mới là một cuộc cách mạng tư duy thực
sự. Đổi Mới đã “cởi trói” cho mọi nguồn lực trong xã hội, cho phép
và khuyến khích một số lượng đông đảo người dân tham gia vào các
hoạt động kinh doanh nhỏ. Có thể nói là nhà nhà tham gia, người
người tham gia. Ngoài những người kinh doanh chuyên nghiệp và người
về hưu, một bộ phận đáng kể công chức, công nhân và viên chức nhà
nước cũng tham gia vào các hoạt động kinh doanh bán thời gian, một
hình thức được mô tả là “chân trong chân ngoài”: các thầy giáo mở
quán nước, quán cà phê; các công chức mở quầy bán báo, bán hàng khô,
chữa xe đạp; các nghệ sĩ khi lưu diễn tranh thủ mua măng, chè, rượu
về bán lại; các kỹ sư mở hàng phở, bánh mỳ paté... Các hoạt động
kinh doanh nay có một đặc điểm là quy mô nhỏ, nhiều khi rất nhỏ, và
trong nhiều trường hợp được thực hiện ngay tại nhà. Đó chính là lý
do nảy sinh hiện tượng nhà bám đường quốc lộ rất đặc trưng còn tồn
tại cho đến tận ngày nay.
Kinh tế thị trường mở ra, dòng hàng hóa bắt đầu
chuyển động. Nhưng nền kinh tế đặc biệt của Việt Nam khi đó cần phải
có một loại phương tiện vận tải cơ giới đặc biệt. Phương tiện vận
tải đặc biệt đó chính là chiếc xe máy.
Vì sao phương tiện vận tại tối ưu khi đó không phải
là ô tô?
Trước hết, vào cuối thập niên 1980 đầu thập niên
1990, rất ít người Việt Nam có thể mua và sử dụng xe hơi, bởi vì giá
xe và giá xăng đều vượt quá khả năng tài chính của đa số người dân.
Nhưng giả sử có nhiều người có khả năng mua được xe hơi, anh hay chị
ta cũng khó tìm được nơi để học lái, vì các trường đào tạo lái xe
không phổ biến như ngày nay. Giả sử anh hay chị ta có thể tìm được
chỗ để học lái xe, lợi ích của việc sử dụng xe cũng thấp, vì cơ sở
hạ tầng giao thông quá yếu: đường xá khi đó quá tồi, nhiều nơi không
có đường cho xe hơi; ở các đô thị lớn, ngay cả đèn tín hiệu giao
thông hầu như cũng chưa có. Cuối cùng, giả sử khi đó có cơ sở hạ
tầng tốt thì cũng không có đủ hàng để chở với khối lượng lớn, bởi vì
khi đó chưa có nhiều doanh nghiệp lớn với nhiều hàng hóa cần chở.
Trong khi đó, chiếc xe máy thì ngược lại. Xe máy
tương đối rẻn, tiêu hao năng lượng ít, rất hợp với khả năng tài
chính của người dân. Điều khiển xe máy là công việc dễ dàng, hầu như
ai cũng có thể làm mà không cần phải đi học ở trường lớp bài bản.
Thêm nữa, chiếc xe máy nhỏ gọn, có thể vận hành trên mọi loại đường,
kể cả đường làng, bờ ruộng, có thể len lỏi cả vào các ngõ nhỏ. Không
giống như xe ô tô - có loại dùng chở hàng, có loại dùng để chở
người - chiếc xe máy vừa có thể được dùng như là xe tải hai bánh để
chở những lượng hàng rất nhỏ như bao xi măng, thùng sơn, đoạn ống
nước hay thậm chỉ chỉ một chiếc bánh mỳ, vừa có thể dùng để chở
người như một thứ taxi mini với cái tên thường gọi là “xe ôm”. Chưa
hết. Chiếc xe máy còn đóng một vai trò quan trọng trong việc gắn kết
các các thành viên của các gia đình với tư cách là phương tiện đi
lại chung: hơn hẳn xe đạp, một chiếc xe máy có thể dễ dàng chở hai
vợ chồng và hai đứa con và di chuyển trong thành phố với tốc độ
không hề thua kém xe hơi.
Với những ưu thế của mình, trong những năm 1986 -
2005, chiếc xe máy đã cơ giới hóa một cách căn bản việc đi lại của
người dân. Vai trò của nó đặc biệt quan trọng ở đô thị và các khu
công nghiệp. Ở đô thị, chiếc xe máy là phương tiện đi lại của đại đa
số dân chúng trong điều kiện hệ thống giao thông công cộng yếu ớt. Ở
các khu công nghiệp, chiếc xe máy kết nối xí nghiệp với các công
nhân, phần lớn xuất thân từ các làng quê lân cận, góp phần tăng
cường tính cạnh tranh của lực lượng lao động Việt Nam.
Tuy nhiên, chiếc xe máy đang dần dần kết thúc vai trò
lịch sử của nó để nhường chỗ cho các phương tiện giao thông khác,
phù hợp hơn với một trình độ phát triển cao hơn của đất nước. Nhưng
đó là quy luật. Trong suốt hai thập kỷ qua, chiếc xe máy đã bền bỉ
lao động để ròi loại bỏ vai trò của nó. Và nó cũng dần bộc lộ ngày
càng nhiều mặt tiêu cực. Ngoài tình trạng tắc đường và ô nhiễm đã
nói ở trên, chính đặc tính dễ vận hành và tính cơ động cao của chiếc
xe máy cũng là một trong những yếu tố tạo nên thói quen cẩu thả của
dân chúng khi tham gia giao thông. Gần đây, khi chiếc xe hơi xuất
hiện, hành vi vi phạm của người đi xe máy gần như không còn là mối
quan tâm của cảnh sát nữa, vì thế văn hóa giao thông của người đi xe
máy càng thêm tồi tệ.
Mặc dù vậy, chúng ta cần phải nhớ rằng chiếc xe máy
đã đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong đời sống kinh tế - xã
hội Việt Nam trong giai đoạn đầu chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang
nền kinh tế thị trường. Vì lẽ đó, tôi nghĩ rằng chúng ta rất nên
dựng một tượng đài kỷ niệm chiếc xe máy như là kỳ niệm một vị anh
hùng lao động thời kỳ đổi mới.
NTL
Tác giả gửi cho
viet-studies ngày 7-2-13
http://www.viet-studies.info/NgoTuLap_AnhHungXeGanMay.htm
|
08 tháng hai 2013
DANH HIỆU ANH HÙNG LAO ĐỘNG CHO CHIẾC XE GẮN MÁY
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét