Xin gửi tiếp bản gốc bài tôi trả lời phỏng vấn báo Thanh Niên (đã lâu)
liên quan đến Dự đoán dự án Boxit Tây Nguyên (kể cả việc sử dụng Chu
dịch và dự đoán học) nay đã trở thành sự thật vì
cái chết đã được báo trước.
TVT
TVT
DỰ ĐOÁN VỀ DỰ ÁN BÔ XÍT TÂY NGUYÊN
Sau thảm họa bùn đỏ ở Hungary, nhiều người dân Việt
Nam ở cả trong và ngoài nước, đặc biệt là giới nhân sỹ, trí thức, các vị lão
thành cách mạng đã đồng loạt ký tên tham gia vào bản kiến nghị dừng dự án bô
xít ở Tây Nguyên. Quốc hội đang họp cũng nóng lên theo sự kiện có tính thời sự
này. Để rộng đường dư luận, phóng viên báo Thanh Niên có cuộc phỏng vấn TS Tô
Văn Trường thành viên Ban chủ nhiệm chương trình trọng điểm cấp nhà nước
KC08/06-10 của Bộ Khoa học & Công nghê liên quan đến phòng chống thiên tai,
khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường xung quanh vấn đề nói trên.
PV:
Đất nước muốn phát triển bền vững
phải dựa trên 3 trụ cột chủ yếu là kinh tế, xã hội và môi trường. Dự án bô xít
Tây Nguyên, ngoài việc độc hại của bùn đỏ
được nhiều người dân quan tâm, theo ông còn vấn đề gì đáng lưu ý?
TVT: Theo một số nhà khoa học nông nghiệp, người làm dự án nêu vấn
đề hoàn thổ chỉ để làm yên lòng một phần dư luận, còn trong thực tế thì đó là
vấn đề rất khó khả thi. Bằng chứng là hơn 30 ha khai thác trước ở Lâm Đồng việc
hoàn thổ hầu như không thành công. Chưa nói ý thức trách nhiệm, sợ tốn
kém, có làm thực không, nếu có làm thì lớp đất hoàn thổ chưa kịp ổn định,
thì trong điều kiện thời tiết hiện nay, nhất là sau vài trận mưa
to, lớp mặt dễ bị rửa trôi, xói mòn. Ngay ở thành phố Hồ Chí Minh trước bàn dân
thiên hạ và các cơ quan chính quyền, sau khi thi công các công trình ngầm, người
ta “hoàn thổ” để lại biết bao “hố tử thần” đang bị xã hội lên án là những bài học
nhãn tiền.
Một số người có trách nhiệm giải thích hồ bùn đỏ an toàn vì được chia làm 8
khoang, không lo vỡ đập và tràn bùn. Về
độ an toàn vỡ đập hay không còn nhiều tranh luận vì thiết kế càng an toàn thì
giá thành càng đắt, liên quan đến hiệu quả kinh tế. Mặt khác, rủi ro do biến đổi khí hậu, và vận động của vỏ
quả đất không ai nói trước được. Nhưng việc tràn bùn đỏ là dễ xảy ra vì dung tích hồ có hạn phụ thuộc diện tích hứng
nước và lượng mưa. Ở Tây Nguyên lượng mưa trung bình năm khá lớn khoảng 2100 –
2300 mm, lại thêm nạn phá rừng, dòng chảy tập trung mạnh, nên khi lượng mưa vượt
quá dung tích hồ, không thấm qua đáy thì
bùn đỏ phải tràn là điều tất nhiên. Đấy là chưa kể sau khi hết tuổi thọ của
công trình, lớp bùn đỏ đã chôn sẽ bị nước mưa thẩm thấu ảnh hưởng đến chất lượng
của nước ngầm.
PV: Việc vận
chuyển sản phẩm nếu chưa có đường sắt phải sử dụng quốc lộ 20 và 51 xuống cảng
Gò Dầu, Đồng Nai. Nếu làm tuyến đường sắt để vận chuyển phải hoàn thành cùng với cảng Kê Gà
để xuất nhập khẩu hàng hóa. Theo ông, giá thành mở rộng, xây mới cơ sở hạ tầng
phục vụ cho việc vận chuyển của nhà máy bô xít có tính vào giá thành sản phẩm?
TVT: Các chi phí đầu tư phục vụ cho dự án phải tính vào chi phí
của dự án, không thể lẫn lộn, tính theo kiểu “khôn lỏi” coi đó là đầu tư xã
hội. Nếu cộng đầu tư này vào dự án sẽ
rất cao, càng làm cho lỗ, đấy là chưa kể đến
rủi ro cao về tai nạn đường sắt trên các đồi dốc lớn của tuyến đường khoảng
270 km phải chạy qua. Chở than, chở xút để tinh luyện quặng lên Tây Nguyên rồi
chở alumina xuống để xuất khẩu, làm tăng chi phí, phá hoại môi trường, làm hỏng
đường sá. Đây không thể là cách làm khôn
ngoan. Ngành vận tải chẳng cần thêm công ăn việc làm đó, còn có quá nhiều vấn
đề vận tải ở các nơi khác. Đừng quên rằng rất nhiều dự án do doanh nghiệp nhà
nước đầu tư lúc đầu thường không tính đúng, tính đủ để chứng minh là hiệu quả
nhưng khi thực hiện, hàng chục thứ phát sinh
và tổng đầu tư luôn gấp 2-3 lần dự toán nghe rất bùi tai lúc ban đầu.
PV:
Theo ông, cách tính lời lỗ của dự
án bô xít Tây Nguyên như thế nào để thuyết phục người dân và các nhà khoa học?
TVT: Kinh doanh theo lợi nhuận phải chấp
nhận “lời ăn, lỗ chịu”. Về khía cạnh kinh tế nguyên tắc phải tính đúng, tính đủ
để tránh lời giả, lỗ thât hay nói cách khác lời doanh nghiệp và số nhóm lợi ích
hưởng những lỗ thì nhà nước nghĩa là toàn
dân phải chịu. Cần sử dụng mô hình tổng thể cân bằng kinh tế để tính
toán lời lỗ. Cách tính đơn giản hơn đem chi phí sản
xuất 1 tấn sản phẩm tại chỗ, cộng chi phí vận chuyển ra cảng, trong chi phí sản
xuất cần tính cả chi phí đầu tư. Nếu có
giá trị tổng đầu tư thì đem chia cho đời
sống của nhà máy là 36 năm để ra chi phí khấu hao phải tính vào giá thành. Sau đó, so sánh giá 1 tấn sản phẩm trên thị
trường thế giới thì biết ngay khoản lời, lỗ của dự án. Ngay cả trong trường hợp
tính có lãi cũng phải lấy lãi này so sánh với lãi nếu đem làm chuyện khác như
trồng cà phê để tính lãi theo nguyên tắc giá thành cơ hội (opportunity cost) phải
lấy lãi từ làm bô xít trừ đi lãi trồng cà phê. Đó mới là lãi thực. Ngoài chi phí
cơ hội kinh tế, còn chi phí xã hội thì khôn lường: hàng ngàn người mất nguồn
thu nhập mà nếu tính đủ thì không chỉ là tiền công 'lấy công làm lời'
mà còn cả các chi phí bảo trợ xã hội đang bị bỏ qua. Đất bazan là đặc sản của
Tây Nguyên, 1 trong những loại đất địa thành tốt nhất cho nông nghiệp nhất là
cây công nghiệp dài ngày nhờ có tỷ lệ
sét cao, khả năng giữ nước, giữa phân rất tốt, khi bị bóc đi, bề mặt bị mưa rửa
trôi, xói mòn là tổn thất không dễ bù đắp. Dù được bao cấp, ưu đãi rất nhiều
nhưng tính bằng cách nào chúng tôi cũng chỉ thấy dự án bô xít lỗ to chưa kể rất
nhiều rủi ro khó lường khác về chính trị, quốc phòng, kinh tế, xã hội, và môi
trường.
PV: Để khắc phục
bài toán kinh tế và môi trường, một số chuyên gia đề nghị đưa nhà máy luyện alumin ra gần biển và xử lý bùn đỏ bằng
phương pháp khô thay cho phương pháp ướt hiện nay. Ông có nhận xét gì về ý kiến
nói trên?
TVT: Đưa nhà máy ra gần cửa biển
chắc chắn kinh tế hơn nhiều để ở Nhân Cơ và Tân Rai vì giảm đi phần phải vận
chuyển nguyên liệu than và xút (NAOH) để
tinh luyện quặng. Quặng từ Tây Nguyên có
thể vận chuyển theo đường ống rẻ hơn nhiều so với đường bộ, đường sắt, lại đỡ
gây ô nhiễm trong quá trình vận chuyển. Xử lý bùn đỏ theo công nghệ ướt đỡ tốn
kém hơn về kinh tế so với công nghệ xử lý khô
nhưng nguy cơ ô nhiễm môi trường cao hơn. Ở gần biển khi cần thiết có thể
thải bùn đỏ trực tiếp ra biển. Tuy nhiên, xin lưu ý nhiều nước như Úc, Mỹ, Châu
Âu vẫn đang sử dụng phương pháp xử lý bùn đỏ bằng bể lưu trữ theo công nghệ khép
kín hoặc thải ra biển. Mặc dù an toàn như thế, nhưng người ta vẫn không an
tâm. Ở Pháp, có nhà máy sản xuất nhôm
duy nhất của Công ty Rio Tinto Alcan, nằm ở Gardanne, gần tỉnh Cassis có khối
lượng tích tụ bùn đỏ hiện nay khoảng 20
triệu tấn. Nhà máy Gardanne đang chuẩn bị giải pháp công nghệ mới để nâng cấp
việc xử lý bùn đỏ được chuyển thành "Bauxaline ”. Chất này, được dùng
làm vật liệu trơ trong các lĩnh vực công trình công cộng, xây dựng và có lợi thế
là có thể được sử dụng lại. Từ năm 2015 ở Pháp sẽ bị cấm thải bùn đỏ ra biển và
bể lưu giữ cũng sẽ bị cấm từ năm 2021.
PV: Ông Lê Quang Dương thứ trưởng bộ
Công thương kiêm chủ tịch hội đồng quản trị Tập đoàn công nghiệp than-khoáng sản
Việt Nam (TKV) cho rằng vì Bộ Chính trị đề nghị đặt nhà máy ở Tây Nguyên do yếu
tố chính trị và xã hội. Nếu bây giờ Chính phủ bảo dừng thì TKV sẽ dừng dự án.
Ông có bình luận gì về phát biểu nói trên?
TVT: Cần phải cảm thông và chia sẻ
với những người đang tại chức khi phải phát biểu những vấn đề rất nhạy cảm
trong xã hội. Khi còn đang đảm nhiệm cương vị Viện trưởng kiêm bí thư đảng ủy
Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam, tôi cũng phải rất đắn đo, chọn lựa để viết 2
bài “Suy nghĩ về lộ trình cải cách hệ thống chính trị Việt Nam” và bài “Suy
nghĩ về dự án bô xít Tây Nguyên” nên thấu hiểu không phải dễ mà nói thẳng, nói
thật tất cả suy nghĩ của mình trong cơ
chế chưa hoàn thiện về chính trị kinh tế xã hội như ở nước ta. Cần phải xem lại
việc phân công nhiệm vụ : Khi là thứ trưởng ông Dương đóng vai quản lý nhà nước
nghĩa là chủ thể nhưng ở vị trí chủ tịch hội đồng quản trị tập đoàn TKV thì ông
lại là khách thể. Về quản trị không thể
song trùng, 1 người vừa là quản lý lại bị quản lý, hay nói cách khác không thể
vừa đá bóng, vừa thổi còi. Nếu ông Dương và những người làm công tác tham mưu làm
đúng chức năng của mình thì phải giải trình, thuyết phục ngay từ đầu để Bộ
Chính trị và Chính phủ hiểu rõ những hậu
quả về kinh tế xã hội và môi trường do đặt nhà máy bô xít ở Tây Nguyên. Đừng để đến khi cấp trên đã chỉ thị nhất là bằng
văn bản thì chẳng phải ông Dương mà bất cứ ai đang làm công tác quản lý cũng phải
thi hành.
PV: Ông dự đoán như thế nào về dự án bô xít Tây Nguyên liệu có thể bị
ngừng lại như dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam trước đây? Nếu buộc phải dừng
khai thác tại Tân Rai. Theo ông, chi phí đầu tư sẽ được đền bù cho TKV như thế
nào?
TVT: Bất cứ lĩnh vực nào liên quan đến dự đoán đều có sai số. Tôi nghiên cứu cuốn sách “Chu dịch với dự đoán học”, ứng dụng khoa học
dự đoán của Kinh dịch vào khoa học dự đoán hiện đại nhận xét dự án bô xít thuộc
loại “quẻ quải” đúng hình cái mồm, đào ra bao nhiêu ăn hết bấy nhiêu, hậu quả
chỉ có người dân lãnh đủ. Tuy nhiên, có
thông tin rất đáng suy ngẫm theo thăm dò của báo Dân Trí tính đến ngày 27/10 những
người tán thành kiến nghị của nhiều nhân sĩ, trí thức và nhân dân là nên
dừng khai thác bô-xít Tây Nguyên chiếm tỷ lệ rất cao 93%. Những người ủng hộ chỉ 6%, người không có
ý kiến, có thể do thiếu thông tin chiếm 1%. Đấy là con số sống động phản ánh ý
dân, lòng dân không thể bỏ qua trong một xã hội dân sự, nhà nước pháp quyền. Dừng
các dự án khai thác bauxite ở Tây nguyên, thì nhà nước (tức là tất cả mọi người
dân Việt Nam) đành phải chịu thiệt hại phải trả tiền đã đầu tư, khoảng 400-500
triệu USD. Đấy là khoản mất không mà người ta đã không tính toán cẩn trọng gây
ra, nhưng cả dân tộc phải chịu và nên chịu. Thà chịu đau, nhưng còn hơn là sẽ
phải chịu tổn thất nhiều hơn rất nhiều do lỗ, do tổn hại môi trường, an ninh
quốc gia, và lòng tin của người dân.
Tôi nghĩ lúc này, không phải là tập trung phê phán ai, mà bình tĩnh, nghiêm chỉnh, khiêm tốn giãi bày
sự thật, giãi bày chân lý của khoa học và công nghệ, của kinh tế và tài chính,
của văn hoá và xã hội, làm rõ quyền lợi trước mắt và lâu dài của dân
tộc và đất nước, của đồng bào Tây Nguyên và một số tỉnh miền Trung,
miền đông Nam Bộ để Đảng và Nhà nước kịp thời điều chỉnh chiến lược phát
triển kinh tế xã hội vững bền cho giai
đoạn 2011-2020.
MAI THU THỰC HIỆN
(do TVT chuyển)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét