Xuân Tân Mão

Xuân Tân Mão
Đảng và Chính phủ luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng với tất cả hoạt động, việc làm của người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia (TTg NT Dũng).

07 tháng 2 2013

"GIẢI PHÁP ĐỘC ĐÁO CHO NHỮNG VẤN ĐỀ GẶP PHẢI"

"GIẢI  PHÁP ĐỘC ĐÁO
CHO NHỮNG VẤN ĐỀ GẶP PHẢI"

Tương Lai


Đã hơn một lần người viết bài này giới thiệu với độc giả của báo "Đầu Tư" ý tưởng nói trên của một học giả nước ngoài : “Lịch sử cổ xưa và hiện đại cho thấy khả năng kỳ lạ của đất nước này trong việc tìm ra những giải pháp độc đáo cho những vấn đề gặp phải”.
Tại một hội thảo về "Truyền thống và hiện đại" ở Hà Nội cách nay đã hai mươi năm, Eduard De Penguilly một kiến trúc sư Pháp đã đưa ra nhận xét rất đáng chú ý ấy trong tham luận của mình. Người Pháp có cái sâu sắc và tinh tế trong cách nhìn nhận và biểu đạt ý tưởng của họ, vả chăng, có lẽ trong các học giả nước ngoài, thì các nhà nghiên cứu Pháp có bề dày hiểu biết về Việt Nam, nhất là về văn hóa, về lịch sử Việt Nam, chính vì vậy, thật đáng để suy ngẫm kỹ về nhận xét trên.
"Những vấn đề gặp phải" bàn ở đây, đương nhiên là những "vấn đề có tầm vóc lịch sử", là sự níu kéo làm trì trệ bước tiến của lịch sử hoặc là những đột phá có ý nghĩa mở đường cho sự phát triển của đất nước, sự phục hưng và đẩy tới một tầng nấc mới của tinh thần dân tộc, vun đắp và làm đậm nét bản lĩnh và bản sắc văn hóa dân tộc.
Khí phách và chiến công của Lý Thường Kiệt thế kỷ XI, bẻ gãy ngay từ đầu ý chí xâm lược của quân Tống, từ trận đột kích Ung Châu đến trận tập kích tại chiến tuyến sông Như Nguyệt đã đập tan 30 vạn quân xâm lược, kết thúc chiến tranh, mở đầu thời kỳ thịnh trị dười thời nhà Lý là một trong những ví dụ nổi bật. "Giải pháp độc đáo cho vấn đề gặp phải" của quân dân thời Trần vừa được kế thừa khí phách và chiến công của Lý Thường Kiệt, lại vừa sáng tạo trong cách giáng trả sự hung bạo của kẻ thù, đế quốc Nguyên Mông từng xéo nát dưới vó ngựa những lãnh thổ rộng lớn trải dài từ Á sang đến bờ biển Nam Tư gần thành phố Venise của nước Ý, tạo thành một đế chế rộng lớn kéo dài từ mép nước Thái Bình Dương sang đến tận bờ Hắc Hải! Ông cha đã "dùng yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều" đánh tan tác ba lần xâm lược của binh hùng tướng dữ từ phương Bắc theo cả hai đường thủy, bộ kéo sang lại là một ví dụ độc đáo nữa. Có thể tìm thêm nhiều ví dụ như vậy về "những giải pháp độc đáo cho những vấn đề gặp phải" trên những trang sử vàng chống ngoại xâm của dân tộc, nhưng không chỉ trên lĩnh vực đánh giặc mới xuất hiện những giải pháp độc đáo đó.
Xin gợi ra đây một ví dụ : khi Việt Nam gia nhập WTO, có nhà sử học cho rằng, “đây là thời cơ lớn cho chúng ta, nói là phục hưng cũng đúng. Nhưng sự phục hưng này diễn ra trong bối cảnh toàn cầu hóa sẽ rộng hơn phục hưng của nước Ý trước đây[Phan Huy Lê]. Chính vì thế ông đã phân tích về ý nghĩa của “sự kiện WTO” như là một cột mốc của “sự thay đổi cá tính dân tộc”.  Mà cá tính là vấn đề văn hóa, là sự chọn lựa văn hóa. Rồi có nhà văn đã nhấn mạnh rằng, trước hết không phải là chuyện kinh tế mà là chuyện văn hóa, một chuyển động về văn hóa và tư tưởng có khi sâu sắc nhất xưa nay, một thay đổi trong tâm lý dân tộc, tâm lý “sợ biển[Nguyên Ngọc]!
Chuyện này thì không phải đợi đến thời điểm gia nhập WTO mà là thời điểm của Nguyễn Hoàng xuôi về phương Nam theo lời khuyên của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đó là chọn lựa “phi Hán hóa”, trở về cái “gốc Nam” của mình, “vừa cứng theo lối Hán vừa mềm theo lối Việt nhằm tạo nên một sức mạnh uyển chuyển rất độc đáo và hiệu quả, một lực gia tốc phát triển kỳ lạ[ Trần Quốc Vượng]. Nói trở về, vào cuối thiên niên kỷ thứ nhất, đầu thiên niên kỷ thứ hai với việc từ bỏ cái gốc Đông Nam Á để tiếp nhận nền văn hóa “Hán hóa”, văn hóa Trung Hoa, nhằm tạo ra một nhà nước mạnh đủ sức chống chọi lại với họa xâm lược đến từ phương Bắc [Trần Quốc Vượng] để đến thế kỷ XI, Lý Thường Kiệt có đủ thế và lực để đánh tan quân Tống như đã dẫn ra ở trên và dõng dạc tuyên bố “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, khẳng định ý chí độc lập tự cường của dân tộc ta. Lời khẳng định đó được xem như “Tuyên ngôn độc lập” lần thứ nhất, để dẫn đến “Tuyên ngôn độc lập” lần thứ hai với “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi.
Vậy là có thể nói, cuộc chọn lựa khôn ngoan lần thứ hai của Nguyễn Hoàng, đưa đến một đất nước mở rộng với tư duy “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, phi Hán hóa không chỉ về măt văn hóa, tư tưởng mà còn với sự lùi xa “cương vực” về phía Nam, từ đèo Hải Vân đến Hà Tiên, hình thành một quốc gia lớn mạnh đủ sức cho Quang Trung đại phá quân xâm lược đến từ mọi phía, để rồi sau đó hai thế kỷ là lần thứ ba với "Tuyên ngôn Độc lập 2.9.1945 khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa!
Để hiểu rõ hơn điều này, xin gợi lại đây những phân tích của Cao Huy Thuần : “Nam tiến là gì nếu không phải là dời xa vùng ảnh hưởng? Nếu không phải là kéo dài lục địa để tiến về phía biển, tiến sâu vào châu Á hải đảo… thực hiện một cuộc di dân vĩ đại, để khai thác một vùng đất hứa mênh mông…Một chế độ chính trị xây dựng trên một dân cư vừa cũ vừa mới, vừa cứ mới thêm mãi, trên một lãnh thổ mà hôm qua còn mới tinh và ngày mai còn hứa hẹn tinh khôi hơn nữa, một chế độ chính trị xây dựng trên hai ẩn số căn bản biến chuyển như thế -dân cư và lãnh thổ- chắc chắn phải có những sắc thái mới mà lịch sử chưa nghiên cứu kỹ, thì đã mất nước rồi. Nhưng ít nhất chúng ta phải thấy một điều hiển nhiên: với Nguyễn Hoàng, một nửa Việt Nam là mới tinh khôi và luôn luôn mới. Địa lý mới, dân cư mới, khí hậu mới, sông núi biển đều mới, phong hóa mới, văn hóa mới, ai dám nghĩ rằng đầu óc vẽ ra một cuộc trường chinh như thế không phải là mới?
“Vạn đại dung thân” * là gì, nếu không phải là thấy chiến lược bừng sáng trong đầu về một chân trời mới mở rộng ra trước mắt, không phải cho một đời Nguyễn Hoàng, mà cho ngàn ngàn đời một dân tộc thường xuyên đi tìm lối thoát khỏi một vị thế địa dư trứng nằm dưới đá ?” Quả là danh bất hư truyền, cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có một tầm nhìn chiến lược cho đất nước, xuyên lịch sử, xuyên không gian và thời gian, để cho đến tận hôm nay vẫn tràn đầy sức thuyết phục .
Đáng tiếc là sau đó, sai lầm của việc đóng cửa khước từ canh tân để chủ động tiếp nhận những thành tựu của văn minh, văn hóa phương Tây, nhằm tạo nên thực lực đủ để chống lại chủ nghĩa thực dân cũng của phương Tây ấy, như trước đây tiếp nhận văn hóa Hán để chống lại sức mạnh của chính quốc gia có nền văn hóa Hán, đã không tiếp nối và phát huy được tư tưởng chiến lược đó. Vì vậy, vào thời điểm ấy, mất nước là cái đã trông thấy nhãn tiền!
Từ những bài học của lịch sử, có thể thấy rằng, thử thách của tiến trình hội nhập kinh tế thế giới, trước hết đúng là thử thách của trình độ kinh tế, nhưng quan trọng hơn, sâu xa hơn và cũng là cơ bản hơn, là thử thách về bản lĩnh văn hóa, về sức mạnh văn hóa của dân tộc. Trong suốt chiều dài lịch sử đất nước , thương mại vốn không được coi trọng trong một xã hội “nông vi bản”, nghề buôn bị coi khinh, thương nhân bị xếp thấp nhất trong thang bậc của hệ thống giá trị xã hội. Việt Nam lại là nước có trình độ thương nghiệp thấp nhất trong các nước chịu ảnh hưởng của Nho Giáo. Vì không có truyền thống thương mại, cho nên, một đất nước bán đảo mà nền kinh tế biển không phát triển, không có được đội thương thuyền vượt biển đi xa. Có đến trên 3000 km bờ biển, nhưng người Việt không làm ngoại thương!
Đứng trước biển, nhìn sóng vỗ bờ rồi sóng lại đều đặn lặng lẽ rút ra. Những dòng thủy triều lên xuống cũng đều đặn như vậy, kích thích cái lẽ tuần hoàn trong nếp nghĩ, trong cách suy luận. Chỉ “tuần hoàn”, đi rồi về, quay lại điểm cũ chứ không phát triển. Lối suy nghĩ ấy định hình khái niệm xoay vòng, đắp đổi theo vận hành của bốn mùa trong vũ trụ, không có đột biến, không có cách tân. Vì thế, bao đời đứng trước biển, nhưng cái ý hướng quay về đất liền, dựa vào núi, “tâm thế lục địa” vẫn mạnh, vẫn áp đảo tâm thế hướng ra biển, “tâm thế đại dương”. Cho đến thể kỷ XIX, là quốc gia biển trên bán đảo hình chữ S có điều kiện khai thác lợi thế của biển, của vị trí địa- chính trị nằm ở ngả tư con đường hàng hải, nối Ấn Đô Dương với Thaí Bình Dương, thế nhưng ngoại thương không sao phát triển được.
Rõ ràng là điều kiện thì thuận nhưng cái đầu chưa thuận. Nói cái đầu, chính là nói đến một bản lĩnh văn hóa. Vì vậy, khi nói đến "những giải pháp độc đáo cho những vấn đề gặp phải" xét đến cùng vẫn là điểm tựa văn hóa. Ở đây là sự thấu hiểu chiều cạnh văn hóa của những quyết sách về kinh tế, chính trị. Những dẫn chứng về cột mốc của sự chọn lựa văn hóa và thay đổi tâm thế của dân tộc là nhằm nói về những bài học lịch sử để dám mạnh dạn hướng ra biển, thay “tầm nhìn ao hồ, sông rạch” bằng “tầm mắt đại dương”.
Tuy nhiên, khi nói đến “tầm nhìn ao hồ, sông rạch” hoàn toàn không nhằm nói về tâm thế của con người trong "Ao thu lạnh lẽo nước trong veo. Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo" với "Sóng biếc theo làn hơi gợn tí", trầm lắng, yên bình đến độ nghe ra được âm thanh của "Cá đâu đớp động dưới chân bèo" mà cụ Yên Đổ từng tinh tế miêu tả trong tuyệt tác "Câu cá mùa thu" [Thu Điếu]. Và “tầm mắt đại dương” cũng tuyệt đối không phải là “muốn hội nhập, phải thoát khỏi văn hóa làng xã” như có một học giả nọ đã viết trên báo “Lao Động Cuối tuần” số 7. 2008, tr.14. Sự miệt thị "văn hóa làng" này không hiểu có giây mơ rễ mà gì với thái độ xấc xược đối với "người nhà quê" mà ai đó đã từng viết trên báo báo Thanh Niên ngày 26.1.08 nhân có chủ trương "cấm hàng rong " để giữ gìn vẻ đẹp đô thị dạo nào:  đô thị hôm nay là để cho những người có tiền sống và những người nghèo ở muôn phương xin đừng về Hà Nội kiếm ăn làm nhếch nhác cái đô thị này”. 

Nông dân Dưong Nội giữ đất
 
Ấy thế mà, xem ra, cái nhìn vong bản lệch lạc nói trên lại liền mạch với không ít những quyết sách ở tầm cỡ vĩ mô đối với nông dân, nông thôn và nông nghiệp cơ đấy! Thì chẳng thế sao khi mà chưa bao giờ "tiếng gọi của đất" lại vang lên tha thiết như hiện nay! Tiếng gọi này sao mà dữ dội đến vậy.
Tiếng gọi phẫn nộ cất lên cũng từ những cánh đồng quê. Liệu bà con nông dân mất đất từ chuyện chuyển đổi mục đích sử dụng theo quy hoạch, rồi giải tỏa đền bù, thu hồi, san lấp , đang bị gậy đi khiếu kiện theo tiếng gọi của đất buổi hôm nay có chút gì lướng vướng tới nỗi cảm hoài "ôi ruộng đồng quê thương nhớ ơi" trong bài "Nhớ đồng" của Tố Hữu biểu đạt sự thương nhớ của một người chiến sĩ cách mạng đang bị giam trong tù đang "mơ qua cửa khám bao ngày":

...Đâu gió cồn thơm đất nhả mùi
  Đâu ruồng tre mát thở yên vui
  Đâu từng ô mạ xanh ơn mởn
 Đâu những nương khoai ngọt sắn bùi..."  

Đây là những câu thơ ra đời vào tháng 7 năm 1939, cách nay đã 74 năm. Khi mà thời nô lệ phong kiến thực dân đã lùi xa ba phần tư thế kỷ, nhắc lại đây chẳng phải là khập khiễng lắm sao?  Biết thế! Nhưng liệu "...những lưng cong xuống luống cày / mà bùn hy vọng nức hương ngây" của thuở đau thương ấy  thì nay những "hy vọng nức hương ngây" của "những lưng cong xuống luống cày" đã được thực hiện chưa? Những người nông dân của một đất nước đã  "rũ bùn, đứng dậy, sáng lòa" [Nguyễn Đình Thi] cớ sao lại lũ lượt kéo nhau đi khiếu kiện ?  Đơn giản vì không ít những mảnh đất tưới đẫm mồ hôi lao động của chính họ và cha ông họ nay không còn là của họ nữa?
Mà đâu chỉ mồ hôi? Để thực hiện mục tiêu "người cày có ruộng", bao nhiêu máu đã đổ! Trong "Vấn đề dân cày"  của Qua Ninh và Vân Đình [bút danh của Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp]  ấn hành năm 1937 ở trang 15 đã gióng lên tiếng chuông "Dân cày muốn cho số phận mình đỡ khổ hơn, vì họ khổ quá rồi. Giờ đã đến. Không thể ngập ngừng được nữa, không thể lừa dối họ mãi được nữa. Vấn đề dân cày cần phải được giải quyết một cách thành thật, ráo riết và mạnh bạo". Và rồi nông dân đã vùng đứng dậy, họ đã là chủ lực quân của cách mạng. Nhiều thê hệ dân cày "côi cút làm ăn toan lo nghèo khó, việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm" đã từng "đạp rào lướt tới coi giặc cũng như không, nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào liều mình như chẳng có" [Nguyễn Đình Chiểu].

 

Chính họ, những người theo mệnh lệnh của trái tim đã có mặt đúng lúc, đúng thời điểm cần có mình. Và rồi, những con người thuần phác sống lầm lũi, cam chịu trong lũy tre xanh bỗng vươn mình đứng dậy. Đuổi xong giặc, giành lại độc lập cho đất nước, những người nông dân ấy lại trở về với "ruộng đồng quê thương nhớ ơi" trong tư thế của người thắng trận "súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa" [Nguyễn Đình Thi] . Nhưng rồi họ không thể "hiền"được nữa , họ dữ dội đòi quyền sống từ mảnh đất đang bị "quy hoach", "đền bù", "giải tỏa" và "thu hồi"! Mà thu hồi có nghĩa là quyền "người cày có ruộng" được đổi lấy bằng cả núi xương, sông máu không còn là, không phải là của họ nữa. Vậy là họ chưa hề có cái quyền đó  sao? Chỉ là sự sử dụng không chính xác ngôn từ mà ngôn ngữ học cần đính chính hay là phải chỉnh sửa từ một kiểu tư duy sai lầm?
Thì đây, thật xốn xang khi trên tivi chiếu một phóng sự về những khu quy hoạch đang bị bỏ hoang với hình ảnh bà con nông dân xã Lai Vu, Hải Dương đang bòn mót những củ khoai lang èo uột từ những luống khoai tranh thủ trồng vội trên mảnh đất "đã quy hoạch" ấy để xây nên khu công nghiệp thuộc quyền quản lý của Vinashin, Vinalines gì đấy! Khu quy hoạch với những công trình xây dựng dang dở đang bỏ hoang với những cọc bê tông và dàn thép nhô lên trên những thửa đất cỏ mọc rậm rì như những cánh tay thần chết khua trên mảnh đất không người chăm bón.
 
 
Những củ khoai èo uột từ những bàn tay khẳng khiu đen đủi của bà mẹ nông dân lam lũ chiếu trên tivi buổi ấy không hiểu đáng giá bao nhiêu trên thị trường và là mấy phần triệu triệu so với vốn mấy chục, hay mấy trăm, mấy ngàn tỷ đồng tiền nhà nước đổ vào khu "quy hoạch " hiện đang làm chuồng bò, chuồng dê ?
Ấy vậy mà với "tầm nhìn xa", người ta tính toán rất chính xác với những con số rất hoành tráng rằng : chuyển đổi mục đích sử dụng thì đất trồng lúa sẽ chỉ tạo ra bằng một phần nghìn, phần vạn, phần triệu gì đó giá trị gia tăng so với khu công nghiệp sẽ mọc lên, rồi khu "rì dọt", rồi sân gôn để khi cùng nhau chơi môn thể thao quý tộc này người ta bàn chuyện đại sự, những hợp đồng hàng triệu đô la được thương thảo và quyết định ngay tại đây, như vậy chẳng hơn là nai lưng trồng lúa, diễn lại cái cảnh :
                              Dưới đồng ông lão đi bừa
                              Hệt như cụ cố ngày xưa đi cày!

Chao ôi, viễn cảnh thật tuyệt. Nhưng cuộc đời oái oăm lại phơi bày ra những nghịch lý mà thiên phóng sự sắc nét về tiếng gọi của đất vừa hiện hình trên màn ảnh tivi cứ xốn xang lòng người với câu thơ của thưở còn nô lệ kia " Ôi ruộng đồng quê thương nhớ ôi" mà nhà thơ Tố Hữu đã da diết nói lên!
Bao đời, người nông dân gánh trên vai mình gánh nặng nhất của việc dựng nước và giữ nước. Từ chính sách “ngụ binh ư nông” đời Trần cho đến các cuộc chiến tranh chống các thế lực xâm lược đến từ Biển Đông, từ phía Bắc thế kỷ XX và thế kỷ XXI, nông dân vẫn là quân chủ lực. Ai đang ngày đêm có mặt ở Trường Sa hôm nay nếu không phải chủ yếu là con em của người nông dân? Nhưng đâu chỉ là chuyện cầm súng. Trong sự nghiệp xây dựng đất nước, chỉ tính trong vòng hơn hai thập kỷ sau 1975, hai lần nông thôn và nông dân đã cứu nguy cho nền kinh tế đất nước khỏi sụp đổ. Một là, vào cuối năm 1980 với sự sụp đổ của Liên Xô và khối XNXN Đông Âu, và hai là, cuối 1990 với khủng hỏang ở các nước Đông Nam Á. Cả hai lần, sản xuất công nghiệp, có lần cả dịch vụ đều sa sút, có lúc tăng trưởng âm, chỉ nhờ nông dân kiên cường và nhẫn nại với sự chịu đựng phi thường trên mặt trận sản xuất để nông nghiệp vẫn có thể phát triển, mới cứu được cho cả nền kinh tế đã đứng bên bờ vực. Là tác giả của Đổi Mới từ nông nghiệp và nông thôn mà đưa đến những khởi sắc cho đô thị và công nghiệp. Quả làcái truyền thống-nông thôn, nông nghiệp, nông dân” đã cứu cho “cái hiện đại - đô thị, công nghiệp” những “ bàn thua trông thấy ”, nhưng rồi sau đó, những thành quả của Đổi Mới thì dường như nông thôn chỉ được tí chút, còn đô thị hưởng trọn!
Chẳng những thế khi đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa thì nông dân lại đang đứng trước sự thách đố gay gắt nhất mà có lẽ khi cầm súng chiến đấu để giành độc lập và tự do, trong đó có tự do trên luống cày của mình, một ước mơ bao đời của cha anh họ, họ không thể nào nghĩ lại có sự thách đố nghiệt ngã này! Chỉ cần mở lại bộ Luật Hồng Đức đời Lê hay bộ Luật Gia Long đời Nguyễn, cũng thấy ra được những quy định thật nghiêm cẩn và chặt chẽ trong việc chuyển quyền sở hữu ruộng đất và sự tùy tiện trong việc nhân danh “sở hữu toàn dân” để tước đoạt hoặc vi phạm quyền sử dụng đất của người nông dân hiện nay!
Có lập luận rằng, muốn công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì phải trả giá thôi! Nhưng ai trả giá? Chẳng lẽ cái giá khắc nghiệt phải trả lại trút hết lên đầu nông thôn và nông dân? Là định mệnh dành cho nông dân, nông thôn sao? Nếu vậy thì vô ơn quá với người nông dân. Quả thật, "hòn đất mà biết nói năng" thì không hiểu sẽ nói gì đây ? Những tòa "bin đinh" tráng lệ mọc lên, biến đất ruộng của "những lưng cong xuống luống cày, mà bùn hy vọng nức hương ngây" kia thành nơi nghỉ dưỡng cao cấp không vướng chút "mùi bùn" nào dành cho người giàu vốn không ưa mùi ấy. Rồi để quảng cáo, người ta gọi đó những "thiên đường" thì cũng được xây lên từ những cái "để nguyên là đất cất lên là nhà"[ Nguyễn Duy]  đó thôi!
Người ta không nhớ hay cố quên rằng trong bức tranh ảm đạm của của nền kinh tế hiện nay thì nông nghiệp vẫn đang là điểm sáng hệt như hai lần trước trong những bước hiểm nghèo đã nhắc ở trên. Quả thật, với một dân tộc được lớn lên từ nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước, lực hút của đất cũng như sức bật từ đất tiềm ẩn một sức mạnh kỳ diệu thì "những giải pháp độc đáo cho những vấn đề gặp phải" không thể không bật ra từ nơi nào khác ngoài ý chí và bản lĩnh của người nông dân đang triển hết gân sức gánh trên vai mình gánh nặng của đất nước.
Bám đất giữ làng ở Dương Nội

Trên con thuyền đất nước đang ra khơi, ngoái nhìn lại những thác ghềnh của lịch sử, không khỏi ngạc nhiên và tự dằn vặt mình sao lại tự trói tay, trói chân mình một thời gian quá dài đến vậy. Thế nhưng, cuộc sống phải mở lấy đường đi cho chính nó trong một thế giới đấy biến động mà chuẩn mực chính là sự thay đổi. Cái màu xám lý luận phải nhường bước theo quy luật muôn đời của sự sống. Sức mạnh của những khả năng thích nghi và đổi mới của thời đại đã tạo nên những hợp trội của tiến hóa, tạo ra đường nét những trật tự mới có chất lượng tổ chức cao hơn. Trên tiến trình phát triển, ngoái nhìn lại những thác ghềnh của lịch sử, không khỏi ngạc nhiên và tự dằn vặt mình sao lại tự trói tay, trói chân mình một thời gian quá dài đến vậy. Nhưng rồi, cuộc sống phải tự mở lấy đường đi cho chính nó trong một thế giới đấy biến động mà chuẩn mực chính là sự thay đổi.
Cái màu xám lý luận phải nhường bước theo quy luật muôn đời của sự sống. Sức mạnh của những khả năng thích nghi và đổi mới của thời đại đã tạo nên những hợp trội của tiến hóa,  và đó chính là "những giải pháp độc đáo cho những vấn đề gặp phải" mà người ngoài cuộc như vị học giả nọ đã cảm nhận sẽ tạo ra những đột phá không thể lường trước được và cũng không cách gì cản lại được !

07/02/2013
 

[báo ĐẦU TƯ số  Tết Quý Tỵ]


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét