NGHĨ VỀ BẢN LĨNH DÂN TỘC
Tương Lai
Có nhiều cách hiểu về hai từ "bản
lĩnh", nhưng nghĩ kỹ thì định nghĩa của học giả Đào Duy Anh là gọn
nhất mà cũng chuẩn xác nhất : "cái nền gốc của nhân cách". Nếu
nhân cách là nét đặc trưng nổi bật của một cá nhân, thì cái "nền
gốc" tạo nên nhân cách [hoặc tính cách], quyêt định tính bền vững
của bản lĩnh được thể hiện trong cả cuộc đời một người. Ây vậy mà theo đại thi
hào Goethe thì trí tuệ của con người trưởng thành trong tĩnh lặng, còn tính cách
trưởng thành trong bão táp. Một cá nhân hay một dân tộc đều như thế.
Bàn về sự phát trịển của các nền văn
minh, nhà sử học lớn nhất thế kỷ XX, Arnold Toynbee cho rằng :“Thiên
nhiên phải đến với con người như một khó khăn cần phải vượt qua. Nếu con người
chọi lại thách thức thì sự chống trả của nó tạo những nền tảng cho nền văn minh
của họ”. Lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc ta là một minh chứng
sống động cho luận điểm đó. Nền tảng
hay "nền gốc" xem ra cùng
một cách diễn đạt ngọn nguồn tạo thành bản lĩnh của một người, một dân tộc, như
cát được ném vào lò nấu để tinh luyện thành chất pha lê.
Bị dồn vào cái thế kẹt oái oăm của vị trí địa-chính trị
trứng chọi đá, cận kề với một nước khổng lồ luôn có khát vọng bành trướng vì
dân số của họ quá đông, dân tộc ta muốn tồn tại và phát triển thì phải phát huy
đến mức cao nhất sự chịu đựng kiên cường với khí phách “có cứng mới đứng đầu gió”. Như cây tùng mọc giữa vách
đá, hứng chịu gió núi mây ngàn với bao phong ba bão táp vẫn sống nhờ rễ đã bám
chặt và chui sâu vào các khe đá để tìm nguồn dinh dưỡng từ đất. Là một quốc gia
biển, vừa nhận được những ân huệ của biển, vừa phải chịu đựng những cơn thịnh
nộ của đại dương để tồn tại và phát triển. Những đầu óc giàu tưởng tượng vừa
hình dung bán đảo hình chữ S này ưỡn ngực hiên ngang đón gió đại dương, nhưng
dường như phải oằn lưng gánh chịu sức nặng của một khối lục địa dồn xuống. Dù
gì thì gì, cái bản lĩnh “sóng cả không ngả tay chèo”, sóng gió hung bạo và dữ dằn của Biển Đông
tiếp nối cơn dập dồn bạo liệt của Thái Bình Dương bao la là một thách đố nghiệt
ngã.
Thách đố thường xuyên từ trời, nhưng
không chỉ từ trời mà thường trực hơn, xảo quyệt hơn là từ người. Để tồn tại,
dân tộc này phải thường trực “chọi lại” với những thế lực ngoại xâm hung bạo
vốn trường kỳ theo đuổi mục tiêu thôn tính cái quốc gia nằm ngay trên ngã tư
giao thương quốc tế từ Ấn Độ dương sang Thái Bình dương, đầu cầu của vùng Đông
Nam Á giàu tài nguyên, cứ khăng khăng không chịu thần phục, không chịu đồng
hóa. Mà nào chỉ huy động hàng chục vạn binh hùng, tướng mạnh chực sẵn chỉ thừa
cơ là nhào sang thôn tính, bền bỉ hơn nhiều, thâm hiểm hơn nhiều là sự xâm lăng
về văn hóa, là hủy diệt văn hóa bản địa, nguồn sức mạnh bất tận để dân tộc này
tồn tại và đánh bại mọi thế lực ngoại bang.
Xin trích dẫn lại một ví dụ đã hơn
một lần nói đến về sắc chỉ ngày 21.8.1406 của Minh Thành Tổ gửi tướng viễn
chinh Chu Năng : “…Một khi binh
lính vào nước Nam…hết thảy mọi sách vở văn tự, cho đến những loại
ca lý dân gian, hay sách dạy trẻ nhỏ, loaị sách có câu “thượng đại
nhân, khưu ất kỷ” …một mảnh, một chữ đều phải đốt hết…Khắp trong
nước, phàm những bia do Trung Quốc dựng từ xưa đến nay thì đều gìn giữ cẩn
thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá huỷ tất cả, một chữ chớ để
còn…”. Họ có "tầm nhìn xa" đến thế nhưng cũng lại không quên
thực hiện những tiểu xảo đánh vào lòng tham của những người nghèo kém hiểu biết
tự triệt hạ nguồn sống của chính mình với những chuyện mua móng bò, móng trâu,
rễ hồi, rồi mua đồng vụn đến mua cáp quang phế liệu mà những hậu duệ của họ
đang làm thì mới thấy họ không từ một thủ đoạn nào. Thường trực tinh thần cảnh
giác trước thế lực Đại Hán chưa bao giờ từ bỏ mộng bành trướng về phương nam
chính là một tố chất thiết yếu tạo nên bản lĩnh của ông cha ta đã kiên cường và
tỉnh táo trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.
Trong “Trúc lâm tông chỉ nguyên thanh”, Ngô Thời Nhiệm đã có lời bình thâm
thúy về chuyện vua Trần Nhân Tông rất đáng được suy ngẫm : “Người ta thấy Điều Ngự đệ nhất tổ đến ở chùa
Hoa Yên thì bảo Ngài xuất gia,[nhưng] ta biết rằng Đức Ngài lúc bấy giờ biết
xem thiên hạ là công trong mối vô sự; nhưng ở phía Bắc vẫn có nước láng giềng
mạnh mẽ, chưa được an tâm. Cái ý ấy không tiện nói ra, sợ người dao động, cho
nên nhắm được núi Yên Tử là núi cao nhất, phía Đông nhìn về Yên Quảng, phía bắc
liếc sang hai tỉnh Lạng, dựng nên ngôi chùa, thời thường dạo chơi để xem động
tĩnh, cốt để ngừa cái mối lo nước ngoài xâm phạm. Thật là một vị Vô Lượng Đại
Thế Chí Bồ Tát...”. Cũng có nhiều bàn thảo về điều này, song ở đây, điểm
cốt yếu là thông điệp của ông cha ta gửi hậu thế : ý thức thường trực cảnh giác,
“ngừa cái mối lo nước ngoài xâm phạm”, là một đòi hỏi sống còn của dân tộc.
Với đôi mắt xuyên không gian, thời gian, ông cha ta nhìn thấu gan ruột của kẻ
thù để rồi răn dạy cháu con biết cách gìn giữ mỗi thước núi, tấc sông từng thấm
đẫm máu xương của bao thế hệ Việt Nam. *
Xin gợi một ví dụ thay cho những
giải thích dài dòng : Khi cuộc đàm phán về Hiiệp định Paris
sắp ngã ngũ, H. Kissinger nói một câu đại ý : “nếu Việt Nam
chỉ anh dũng thì Mỹ thừa sức đè bẹp, nhưng chúng tôi không thể đè bẹp được vì các
anh vừa anh dũng vừa thông minh”. Trong chuyến thăm Viện Bảo tàng lịch sử
Việt Nam ở Hà Nội, dừng lại trước các cọc gỗ Bạch Đằng. Khi xem bản ghi câu thơ
của Lý thường Kiệt “Nam quốc sơn hà nam đế cư”…Kissinger lại nói : “hình như tôi đã nghe câu này ở đâu nhiều lần
rồi”, và tiếp “À, đây là chương I điều 1 của bản Hiệp định Paris”! **
Liệu ông Kissinger có biết những
chiếc cọc gỗ mà ông nhìn thấy đó không chỉ đã dìm chết quân Nguyên vào thế kỷ
XIII, mà trước đó hơn hai thế kỷ đã được Ngô Quyền sử dụng để chọc thủng
thuyền, dìm chết quân xâm lược nhà Nam Hán. Và sẽ càng thú vị hơn, nếu học giả
Kissinger lại được biết thêm rằng, hiện vẫn còn miếu thờ một bà lão mở quán
nước bên đường đã mách nước cho Hưng Đạo đại vương để ngài bày binh bố trận
tiêu diệt quân xâm lược. Thắng trận, Trần Hưng Đạo đã cho lập miếu thờ ấy! Trên
đất nước này, cơ man là những miếu thờ, đền thờ những vị anh hùng cứu nước xuất
thân áo vải chân đất! Nếu thống kê tất cả các thành hoàng được thờ tại các làng
sẽ thấy, cùng với những tổ phụ ngành nghề, tuyệt đại bộ phận là những người có
công với nước. Nó là một nét truyền thống cần được trân trọng và phát huy.
Đương nhiên, nói đến truyền
thống là nói đến yếu tố “động" của truyền thống không dừng lại ở cái tĩnh, cái “đã định hình” nhằm ru ngủ sự “ổn định trì trệ” vốn có quán tính khước
từ mọi canh tân. Tập quán ấy củng cố tính bảo thủ được khoác cho
những tấm áo đủ mọi màu sắc để xoa dịu những số phận bị kìm hãm,
đánh lừa những đầu óc muốn đổi mới. Biện chứng của cuộc sống đòi hỏi
phải tấn công vào sự “ổn định trì trệ” ấy. Nếu chỉ quen với con đường mòn,
người đi sau dẫm lên dấu chân của người đi trước, sẽ dẫn đến thảm hoạ vì con
đường mòn đó không có lối ra trong một thế giới đầy biến động với những bước đột
phá mà mọi sự dự đoán đều không chắc chắn. Dám nghĩ đến những “nghịch lý táo bạo” chính là sự thể hiện
tinh thần dám chịu trách nhiệm đối với sự nghiệp mình đang theo đuổi, dám chịu
trách nhiệm với chính mình.
Cái đó chính là bản lĩnh. Với bản lĩnh
ấy, ở vào những tình thế ngàn cân treo sợi tóc, con người Việt Nam vẫn tìm được
những giải pháp đột phá, mở đường cho cuộc sống đi tới, đó chính là bài học
lịch sử mà thế hệ trẻ hôm nay cần khắc trong tim.Đúng vậy, phải khắc trong trái
tim yêu nước mãnh liệt của thế hệ trẻ hiểu rằng "Nước chúng ta/ Nước những người
chưa bao giờ khuất/ Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất/ Những buổi ngày xưa vọng
nói về" [Nguyễn
Đình Thi]. Không có trái tim ấy, không thể nuôi
dưỡng và phát huy bản lĩnh dân tộc.
Vì rằng, “ở đâu nội dung của sự
tất yếu phổ biến không nhất trí được với trái tim, thì sự tất yếu ấy - xét về
nội dung- không là gì cả, và phải nhường chỗ cho quy luật của trái tim”***. Có lẽ thực chất của “quy luật trái tim” mà Hégel nói đây
cần được hình tượng hóa cho dễ hiểu như cách diễn đạt của M.Gorky về trái tim Đankô : "chàng
trẻ tuổi đưa hai tay lên xé toang lồng ngực, dứt trái tim ra và giơ cao trên
đầu. trái tim cháy rực sáng như mặt trời, sáng hơn mặt trời...trước ánh sáng
của trái tim Đankô, bóng tối tan tác...".
Quả thật, những gì mà trái tim thờ ơ thì
mắt cũng không nhìn thấy được ! Mệnh lệnh của trái tim yêu nước là động
lực đẩy tới những hành động thể hiện bản lĩnh của một cá nhân, cũng có thể gọi
là bản
sắc cá nhân, những bản sắc cá nhân ấy kết nối lại trở thành bản lĩnh
dân tộc, đồng thời, bản lĩnh dân tộc hun đúc và phát huy bản sắc cá nhân ấy.
Quy luật của trái tim là sự phản ánh chân thực nhất biện chứng của cuộc sống
với tất cả những sắc thái phong phú và khó dự báo hết những bước hợp trội tạo
ra những đột phá, đẩy cuộc sống đi tới.
__________
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét