Xuân Tân Mão

Xuân Tân Mão
Đảng và Chính phủ luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng với tất cả hoạt động, việc làm của người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia (TTg NT Dũng).

01 tháng 2 2013

Ngoại trưởng Clinton và tính nhất quán của nền ngoại giao Hoa Kỳ


01/02/2013

(Toquoc)- Đảm bảo tính nhất quán chính sách châu Á là một thách thức đối với ê kíp đối ngoại và an ninh của chính quyền Obama-II.
Nước Mỹ đã tổ chức một số sự kiện để vinh danh bà Clinton, một “ngoại trưởng xuất sắc nhất của Hoa Kỳ”, như lời đánh giá của Tổng thống Mỹ Barack Obama. Hillary Clinton kết thúc nhiệm kỳ 4 năm của mình vào ngày 1/2/2013.  
Trong cuộc họp báo cuối cùng theo kiểu “town hall”, Ngoại trưởng Clinton đã nhận các câu hỏi qua Twitter và Facebook từ khắp nơi trên thế giới, và thảo luận về các đề tài từ nữ quyền cho đến bang giao quốc tế. Nhưng châu Á-Thái Bình Dương có lẽ là nơi tên tuổi và di sản của Ngoại trưởng thứ 67 của Hoa Kỳ, Hillary Clinton, sẽ được ghi nhận và nhắc nhở tới nhiều hơn cả.
Chính sách của một quốc gia trước hết do lợi ích quốc gia đó quyết định. Nhưng bản thân nhà lãnh đạo quốc gia với tầm nhìn và tính cách của mình có thể đem lại những thay đổi không chỉ sắc thái mà cả ý nghĩa thực chất đối với chính sách ấy. 


Ngoại trưởng Hillary Clinton thăm Việt Nam lần thứ ba tháng 7/2012, thúc đẩy làm sâu sắc thêm quan hệ đối tác Mỹ-Việt
Hillary Clinton đảm nhiệm chức vụ ngoại trưởng vào lúc ảnh hưởng của nước Mỹ trên thế giới bị sa sút trước cuộc khủng hoảng kép - khủng hoảng kinh tế tài chính trong nước và khủng hoảng uy tín đối ngoại. Đó là hậu quả của những năm nước Mỹ ngạo mạn tiến hành chủ nghĩa đơn phương, áp đặt các giá trị của mình tại nhiều nơi trên thế giới và trong 8 năm tiến hành hai cuộc chiến tranh hao tiền tốn của và mất lòng dân và bị thế giới phê phán. Nữ Ngoại trưởng Mỹ đã đưa phạm trù “quyền lực mềm” vào chính sách đối ngoại như một biện pháp quan trọng. Biện pháp này giúp phát huy những giá trị tiềm ẩn của Mỹ và tỏ rõ tính hiệu quả khi nó tạo được sự tương phản ở những nơi một số cường quốc có khuynh hướng dùng vũ lực và cái thế của kẻ mạnh để cưỡng quyền đoạt lý đối với những nước nhỏ yếu hơn.
Tháng 7/2009, bà Clinton đã đến dự Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), sau rất nhiều năm vắng bóng người đứng đầu ngành ngoại giao Hoa Kỳ. Trong dịp này, Ngoại trưởng Mỹ đã ký Hiệp ước hợp tác hữu nghị ASEAN, mở đường cho việc Mỹ tham gia sâu vào công việc Đông Á và trở thành thành viên của Thượng đỉnh Đông Á. Trong chuyến thăm châu Á đầu tiên trên cương vị Ngoại trưởng này, Hillary Clinton đã tuyên bố chủ trương Mỹ “trở lại châu Á”. Đến cuối năm 2010, chính sách này được phát triển dưới cái tên “tái cân bằng lực lượng” hay còn gọi là “xoay trục”, nhằm chuyển trọng tâm chiến lược của Mỹ từ châu Âu, Trung Đông sang châu Á-Thái Bình Dương. Sự can dự của Mỹ thể hiện qua việc Tổng thống Mỹ đã tiến hành 4 cuộc gặp cấp cao với các nhà lãnh đạo quốc gia ASEAN và tham dự 2 cuộc gặp Thượng đỉnh Đông Á.
Tại sao châu Á?
Tại khu vực này từ cuộc khủng hoảng tài chính 2008, cán cân quyền lực bị đảo lộn, trật tự Mỹ thiết lập từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai bị thách thức. Trung Quốc sau gần 20 năm “giấu mình chờ thời” đã tự tin thách thức vị trí bá quyền của Mỹ.
Người ta không thể chỉ xem xét sức mạnh của một một quốc gia bằng số lượng phương tiện chiến tranh và tổng sản phẩm quốc nội (GDP), mặc dù những thứ cân đong đo đếm được này là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá quốc lực. Giới hoạch định chính sách của các nước còn chú trọng tới những sự kiện thể hiện ý đồ sâu kín của một quốc gia ở những thời điểm then chốt. Từ năm 2008-2010, Trung Quốc thể hiện mấy sự kiện khiến Mỹ bận tâm. Tháng 1/2008, khi Đô đốc tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Mỹ thăm Bắc Kinh, một đô đốc Trung Quốc đã đề xuất với phía Mỹ “chia đôi Thái Bình Dương” một khi hải quân Trung Quốc sở hữu các đội tàu sân bay. Đến tháng 3/2009, 5 tàu thuyền Trung Quốc bao vây quấy rối tàu thăm dò hải dương của hải quân Mỹ Impeccable hoạt động cách đường cơ sở của bờ biển phía nam Trung Quốc 120 km và yêu cầu tàu Mỹ rời khỏi khu vực đang hoạt động. Tháng 3 và tháng 5/2010, các quan chức cao cấp phụ trách đối ngoại của Trung Quốc yêu cầu phía Mỹ tôn trọng “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc ở Biển Đông, tức là xếp Biển Đông ngang với Tây Tạng, Tân Cương và Đài Loan.
Đến tháng 7/2010, tại hội nghị ARF-Hà Nội, Ngoại trưởng Mỹ gây bất ngờ cho người đồng nghiệm Trung Quốc bằng việc phê phán chính sách Trung Quốc tại Biển Đông và tuyên bố “tự do hàng hải tại Biển Đông thuộc lợi ích quốc gia của Mỹ”. Bà Clinton đã lấy “lợi ích quốc gia” của Mỹ đối chọi với “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Mỹ bắt đầu đưa ra các sáng kiến ngoại giao và kinh tế ở khu vực để đối trọng lại với ảnh hưởng của Trung Quốc. Ngoại trưởng Mỹ lần đầu tiên thăm Myanmar, tạo ra sự khai thông quan hệ đối với một nước trong 20 năm chịu ảnh hưởng bao trùm của Trung Quốc. Đến tháng 11/2012, Tổng thống Mỹ Obama đã bất ngờ thăm Myanmar, nhằm thúc đẩy quá trình dân chủ hóa tại quốc gia thường được xem là “sân sau” của Trung Quốc. Chính sách châu Á của chính quyền Obama-I đã được xây dựng trên một nền tảng khá vững chắc, làm cơ sở cho chính quyền Obama-II triển khai nó trong giai đoạn mới.
Trong hai năm 2010-2012, Mỹ đã hoàn tất việc tái bố trí binh lực Mỹ, cũng như tái khởi động hoặc củng cố hệ thống đồng minh và đối tác quân sự, an ninh ở châu Á-Thái Bình Dương. Đến nay, theo lời Ngoại trưởng mới của Mỹ John Kerry, Mỹ “đã có rất nhiều căn cứ quân sự ở châu Á hơn bất kỳ quốc gia nào khác, kể cả Trung Quốc”. Mỹ đã căn bản xây dựng hệ thống răn đe tiềm ẩn đối với Trung Quốc. Ngoại giao Mỹ đã “gõ” tất cả các cánh cửa cần “gõ”, “mở” tất cả các cánh cửa có thể “mở”, từ Mông Cổ, Myanmar, Lào, đến các quốc đảo ở Nam Thái Bình Dương, New Zealand… Từ những di sản này, ông John Kerry đã có thể nói đến tư duy và cách tiếp cận mới về đối ngoại của Mỹ.
Bà Hillary Clinton trong nhiệm kỳ của mình đã thăm Việt Nam ba lần và đã có những đóng góp tích cực thúc đẩy quan hệ Mỹ-Việt. Mối quan hệ này đã được chính Tổng thống Mỹ Bill Clinton khai thông bế tắc qua nhiều năm bao vây cấm vận của Mỹ, tạo ra bước ngoặt đột phá cho thời kỳ mới của quan hệ Việt - Mỹ.
Hillary Clinton là một nữ ngoại trưởng mạnh mẽ. Bà đã góp phần khôi phục lại hình ảnh và uy tín của nước Mỹ ở một số khu vực thế giới. Đó là nhờ năng lực và tính cách của bà. Ngoài ra, với việc từng là đệ nhất phu nhân cũng tạo cho bà lợi thế không nhỏ. Từ đây, ông bà Clinton là những nhân vật chính trị đương đại Mỹ được thế giới biết đến nhiều và mến mộ.
Mỹ vẫn bị không phải chỉ một “gót chân Asin”. Qua 4 năm hoạt động không mệt mỏi, vị nữ ngoại trưởng đã di chuyển hơn 1,6 triệu km, trên 570 máy bay, đến thăm 112 nước, thực hiện 1.700 cuộc gặp gỡ với các nhà lãnh đạo thế giới. Hẳn bà cũng đã nhận ra những giới hạn của quyền lực và ảnh hưởng của Mỹ và “lực bất tòng tâm”.
Tại Bangkok tháng 7/2009, bà Clinton đã tuyên bố rằng điều bà ấy “ghét nhất là sự thiếu nhất quán” của chính sách. Có thể ghi nhận những thành công của ngoại giao Hoa Kỳ ở châu Á trong 4 năm qua, trong đó đã thể hiện tính nhất quán. Đảm bảo tính nhất quán ấy cũng chính là thách thức đối với ê kíp đối ngoại và an ninh của chính quyền Obama-II./.
Nguyễn Nguyên

http://www.toquoc.vn/Sites/vi-vn/details/6/y-kien-binh-luan/114203/ngoai-truong-clinton-va-tinh-nhat-quan-cua-nen-ngoai-giao-hoa-ky.aspx

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét