ÔI RUỘNG ĐỒNG
QUÊ THƯƠNG NHỚ ƠI
QUÊ THƯƠNG NHỚ ƠI
Tương
Lai
Thử hỏi ai trong tất thảy chúng ta, tất thảy những người
đang sống ở đô thị, dù la đô thị trong nước hay tại một thành phố ở nước ngoài
lại không có gốc gác từ làng quê. Ai trong những người xa quê lại không từng
xốn xang với tâm trạng :
Ai về làng cũ hôm nay
Thư này đưa hộ cho thầy mẹ tôi
...Thày ơi đừng chặt vườn chè
Mẹ ơi đừng bán cây lê con trồng...
Nhớ thương thày mẹ khôn cùng
Lạy thầy lạy mẹ thấu lòng cho con [Thư gửi thày mẹ. Nguyễn Bính]
Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây cả tấm lòng!
Sương muối gió may rầu rĩ lắm
Còn vài hôm nữa hết mùa đông [ Xuân tha hương. Nguyễn Bính]
Vấn nạn tàu xe, đi lại trong dịp Tết vẫn là
chuyện muôn thuở, song điều ấy không thể làm vơi đi niềm khắc khoải trở về làng
để có cái Tết sum họp gia đình. Năm nay kinh tế khó khăn, số người bươn chải
tại các khu công nghiệp, dù lay lắt hay hăng hái kiếm sống nơi phồn hoa đô hội
khăn gói về quê giảm hẳn, thế nhưng dòng người về quê vẫn cứ phải chen chúc nơi
sân ga, bến xe. Đồng lương ít ỏi, khoản tiền thưởng èo uột khiến cho món quà
Tết về quê đạm bạc hơn song không thể không có. Vì vậy, một số không nhỏ bấm bụng
nhớ thương chọn một cái Tết tha hương, liệu có lặp lại tâm trạng tha hương muôn
thuở : "người ơi buồn lắm mà không
khóc, mà vẫn cười qua chén rượu đầy"! Thế rồi vẫn cứ vấn vương một câu
hỏi :
Kinh kỳ bụi quá xuân không đến
Sao chẳng về
đây? Chẳng ở đây?
Chắc là vào buổi ấy, nhà thơ không biết rằng,
bước vào thế kỷ XXI, trong một báo cáo khoa học về chủ đề nông thôn, nông nghiệp, nông
dân được trình bày tại một Hội thảo tại Hà Nội, người ta gợi lên một viễn cảnh
mang tính cảnh báo : "Nông thôn sẽ là nơi
không ai muốn ở, nông nghiệp không ai muốn đầu tư, nông dân mong thoát khỏi quê
hương nghèo khổ và vì thế, các thế hệ tương lai sẽ ngoảnh mặt với nơi mình đã
sinh ra!". Một nhà thơ lại day dứt
"những nền tảng
của văn hoá truyền thống ở các làng quê đã biến dạng và bị phá vỡ. Cái quan hệ
hàng xóm láng giềng có được trong truyền thống tốt đẹp lâu đời của văn hoá làng
Việt Nam mỗi ngày một mất đi những vẻ đẹp và tính nhân văn của nó. Làng quê Việt
Nam bây giờ “ông
chẳng ra ông thằng chẳng ra thằng”. "Phố cũng không phải phố mà làng cũng không
phải là làng” [Nguyễn Quang Thiều].
Sự trả giá cho
công ngiệp hóa, hiện đại hóa là điều không thể tránh. Nhưng ai sẽ phải trả giá?
Quá trình đô thị hóa cũng vậy. Chẳng lẽ cái giá ấy trút cả lên đầu người nông
dân sao? Cũng trong Hội nghị nói trên, người viết bài này đã lưu ý về mười
cái nhất của người nông dân nhằm
gióng lên tiếng chuông cảnh báo : "Cống
hiến nhiều nhất. Hy sinh lớn nhất. Hưởng thụ ít nhất. Được giúp kém nhất. Bị đè
nén thảm nhất. Bị tước đoạt nặng nhất. Cam chịu lâu dài nhất. Tha thứ cao cả
nhất. Thích nghi tài giỏi nhất. Năng động khôn ngoan nhất".
Đấy là chưa nói, nếu tính chẻ hoe ra thì một sào ruộng người nông dân
chỉ kiếm được khoảng 400.000 đồng một vụ, những nông dân bỏ ruộng ra thành phố
kiếm việc làm thì giỏi lắm mới kiếm được khoảng dưới 3 triệu một tháng. Rồi nói đến điều mà có thể người
lao động mệt nhoài vì công việc hàng
ngày ít khi nghĩ đến là khoản thuế mà họ phải đóng.
Ít nghĩ
và có khi cũng nghĩ đến cũng không hiểu được tường tận vì rằng, tất cả giá
thành sản phẩm đã có thuế, người chủ doanh nghiệp, chủ cửa hàng đi nộp thuế là
họ đã thay người lao động, người mua hàng nộp thuế. Riêng thuế V.A.T thì trong
100.000đ chi tiêu, người lao động đã phải đóng thuế ít nhất 5.000đ. Người ta đã
tính ra rằng, cứ mỗi một trăm nghìn đồng người lao động kiếm được đã phải đóng
ít nhất 36.000 đồng. Nếu lại tính hết các loại phí có tên và không tên thì còn
cao hơn nữa. Đấy là chưa nói đến một căn bệnh hiểm nghèo khác đang hàng ngày
làm héo mòn sinh lực của người lao động : lạm phát . Căn bệnh này bào mòn, làm
bốc hơi tài sản của mọi tầng lớp cư dân trong xã hội mà nông dân và người lao
động bỏ quê ra tỉnh kiếm việc làm sống bằng đồng tiền kiếm được, và đồng tiền
đó bị bốc hơi hàng ngày! Có thể gọi lạm phát là một thứ thuế vô hình
nhưng hết sức nghiệt ngã. Thêm vào đó, một thứ thuế oái oăm khác mà người lao
động nói chung và người nông dân nói riêng càng không để ý và nếu có thì cũng
không hiểu hết được, thứ thuế mà con em họ phải đóng trong tương lai. Đó là các
khoản vay nợ, các khoản viện trợ ODA,…mà cứ khơi khơi nghĩ như là tiền từ trên
trời rơi xuống! Không. Con cháu sẽ phải è cổ trả món nợ mà hôm nay ông cha
chúng vay ! Và cách trả cũng thật "nhẹ nhàng" : trả qua thuế mỗi người phải đóng cho nhà
nước! Mà xét cho cùng, ai sẽ phải gánh chịu gánh nặng này nếu không phải là
nông dân hiện chiếm đến 70% dân số?
Hơn nữa, cũng chính họ chứ không phải ai khác đã gánh trên vai mình
gánh nặng nhất của sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Và cũng chính họ chứ không
phải ai khác đã đi đầu trong công cuộc Đổi Mới, đem lại khởi sắc cho đô thị,
thúc đẩy công nghiệp vực dậy, nhưng rồi thành tựu của Đổi Mới thì đô thị hưởng
trọn, nông thôn chỉ nhận được chút ít để rồi tiếp đó là những thảm kịch của
không ít nơi với những "quy hoạch, giải tỏa, đền bù"!
Đương nhiên, sẽ
là ngớ ngẩn khi cố cưỡng lại quá trình đô thị hóa với sự níu kéo cái không thể
níu kéo được : “...Hôm qua em đi tỉnh về. Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” để bàng hoàng, hoảng hốt
:" Khăn nhung, quần lĩnh rộn ràng,
Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi". Thê đấy, chỉ mới "áo
cài khuy bấm" thôi mà đã hoảng đến vậy, thì với sự "mát mẻ, hở hang" của váy cũn cỡn,
rồi xẻ trước, xẻ sau, xẻ ngang, xẻ dọc hôm nay mà các bậc đạo cao đức trọng
đang cầm chịch cho văn hóa, văn minh phải vắt óc tính xem quy định váy ngắn đến
đâu là ổn, ngực hở đến đâu là vừa cho các cô gái "hiện đai", thì rồi
ai đó sẽ còn hoảng đến cỡ nào ?
Đúng là không
cưỡng lại quy luật của sự phát triển, nhưng vấn đề đặt ra là vận dụng quy luật
đó như thế nào để quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và hiện đại hóa được
vận hành một cách thông minh, hạn chế đến mức thấp nhất cái giá phải trả, nhất
là không thể hy sinh nông dân và nông thôn cho đô thị và công nghiệp như Trung
Quốc đang làm. Chưa bao giờ mà câu ca dao giàu
chất tự sự trữ tình "Ai ơi bưng bát cơm đầy. Dẻo thơm một hạt
đắng cay muôn phần" lại có sức lay động mãnh liệt đến vậy. Lời tự
sự thấm đẫm vị mặn của mồ hôi và nước mắt này nối tiếp một thông điệp xuyên
thời gian: nông dân bao đời nay là người
nuôi sống mọi người, ngay cả trong khi đang đẩy tới quá trình công nghiệp hóa
và hiện đại hóa. "Ai ơi bưng
bát cơm đầy", ai là ai đây? Là tất cả!
Trong bữa cơm của những gia đình gia giáo, những
đứa trẻ thường được nhắc nhở với ánh mắt nghiêm khắc của ông bà : "không
được đánh vãi cơm, hạt ngọc của trời đấy, phải lượm cho hết cho vào bát "!
Hạt ngọc của trời nảy mầm từ mảnh đất thấm đẫm mồ hôi, nước mắt của người dân
cày. Mà đâu chỉ nước mắt, cả máu nữa. Có thể nói, hạt gạo là báu vật quý
nhất trên đời, đời của mỗi người, đời của tất cả mọi người. Ấy thế nhưng người
làm ra báu vật ấy lại luôn là người thiệt thòi nhất! Cho dù nông nghiệp lại vẫn
đang là điểm sáng trên diện mạo u ám của nền kinh tế hôm nay. Thì chẳng thế
sao? Trong khi các ngành khác liên tục phải nhập siêu thì nông nghiệp xuất siêu
đến hơn 10 tỷ USD.
Mà đâu chỉ hiện nay. Cách nay hơn hai thập kỷ,
cuối những năm 1980 với
sự sụp đổ của Liên
Xô và phe xã hội
chủ nghĩa, rồi cuối 1990 với khủng hỏang ở các nước Đông Nam Á, thì chính nông nghiệp, nói theo ngôn từ bóng đá, "đã cứu hai bàn thua trông thấy" cho
nền kinh tế nước nhà! Cả hai lần, sản xuất công nghiệp, có lần
cả dịch vụ, đều sa
sút, có lúc tăng trưởng âm, chỉ nhờ nông dân kiên cường và nhẫn nại trên mặt
trận sản xuất, nông nghiệp phát triển, mới cứu được cho cả nền kinh tế đã đứng
bên bờ vực.
Quả thật, với một dân tộc được lớn lên từ nền
văn minh nông nghiệp trồng lúa nước, lực hút của đất cũng như sức
bật từ đất tiềm ẩn một sức mạnh kỳ diệu mà với cái nhìn hời hợt có màu
sắc vong bản thì khó có thể thấy được, càng không thể cảm được. Trong "Bài hát người làm gạch", Nguyễn Duy
nói rất hay : "tay nâng hòn đất lặng yên/ để
nguyên là đất cất lên là nhà ". Ngôi nhà hương hỏa ba gian hai
chái ông bà để lại, hay là ngôi nhà cao tầng hiện đại nơi phố phường hoa lệ
mượn chiều cao mà khoe mẻ với đời, thì cũng xây lên từ đất. Câu chuyện nông dân
vẫn là đề tài thường nhật của đời sống của một nước nông nghiệp mà tấc đất là
tấc vàng, cái quý nhất, cũng là khát vọng bao đời của người nông dân. “Chồng
cày, vợ cấy, con trâu đi bừa” là hình ảnh xuyên suốt lịch sử của nước
ta với nền văn minh lúa nước từ thời dựng nước, mở nước, cho đến tận thế kỷ XXI
này.
Đấy là chưa nói, khi nền văn minh trí tuệ với
kinh tế tri thức đang là nét đặc trưng của thời đại, thì bên cạnh những chiếc
máy cày máy gặt, trên cánh đồng làng vẫn bắt gặp không ít hình ảnh “dưới
đồng ông lão đi bừa, hệt như cụ cố ngày xưa đi cày”. Chẳng những thế, “con trâu đi bừa” có lúc biến mất để thay
vào đó là con người! Xin hãy xem hình ảnh bốn người phụ nữ đi bừa trên cánh
đồng làng cận kề với những nhà ngói cao tầng để hiểu thêm câu chuyện nông dân!
Ấy thế mà “vấn
đề dân cày” từng được đặt ra từ năm 1940 và cũng là một chủ đề nằm
trong toàn bộ cuộc vận động để đi tới Cách mạng Tháng Tám 1945 : "Dân
cày muốn cho số phận mình đỡ khổ hơn, vì họ khổ quá rồi. Giờ đã đến. Không thể
ngập ngừng được nữa, không thể lừa dối họ mãi được nữa. Vấn đề dân cày cần phải
được giải quyết một cách thành thật, ráo riết và mạnh bạo". [Vấn đề dân cày. Qua Ninh và Vân Đình]. Vấn đề này đặt ra cách đây hai phần ba thế kỷ! Và hình như
hiện nay nó vẫn mang ý nghĩa thời sự.
Bởi lẽ : "Làng là
tế bào của xã hội Việt Nam.
Xã hội Việt Nam
là sản phẩm của tự nhiên tiết ra từ quá trình định cư và cộng cư của người dân
Việt trồng trọt. Hiểu được làng Việt là có trong tay cơ sở tối thiểu và cần
thiết để tiến lên hiểu xã hội Việt nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung trong
sự năng động lịch sử của nó, trong ứng xử cộng đồng và tâm lý tập thể của nó,
trong các biểu hiện văn hóa của nó, cả trong những phản ứng của nó trước những
hình thái mà lịch sử đương đại đặt vào nó". [Từ Chi]
Quả là chúng ta đã ứng xử
không đúng đối với "làng", đối với người nông dân để rồi phải nhận “những
phản ứng của nó trước những hình thái mà lịch sử đương đại đặt vào nó".
“Sự kiện Thái Bình 1997” là một minh
chứng hiển nhiên cho điều này. Bài học
Thái Bình thật thấm thía! Đáng tiếc là người ta đã chóng quên bài học ấy hoặc
cố quên đi, không dám nhìn
thẳng vào sự thật để thấy ra sự thật đúng như nó có. “Sự kiện Tiên Lãng” mười lăm năm sau một lần nữa nghiêm khắc cảnh
báo về chủ đề nông dân với báu
vật mà tạo hóa ban cho họ : đất đai.
Họ chiến đấu để giữ nước cũng là để giữ đất, có lúc nước mất nhưng làng còn,
thì từ làng đã giành lại nước. Đó là minh chứng rành rành của lịch sử.
Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường
Đặng Hùng Võ phân tích: “Có thể coi sự việc
vừa qua ở Tiên Lãng là đỉnh điểm của những bất cập về cả luật đất đai và việc
thực thi pháp luật ở các cấp địa phương. Một người nông dân tốt, thuần chất,
ham lao động mà phải bảo vệ quyền lợi đất đai của mình bằng vũ khí tự tạo thì
quả là cùng cực. Con người ai cũng tin vào công lý và tin vào công lý đó được
pháp luật bảo vệ. Những người nông dân khai phá đất nuôi thủy sản ở Tiên Lãng
chắc chắn cũng tin như vậy. Rồi tới tòa án, nơi rất công bằng, mà những chân lý
giản dị như họ tự hiểu cũng vẫn không nhìn thấy. Họ phải tự quyết liệt một mình
trong vô vọng”. Nhất là khi mà “quốc
gia công thổ” lại được trao cho "một
bộ phận không nhỏ" những người đại diện nhà nước tại địa phương quản
lý, họ nhân danh “sở hữu toàn dân”
mà thao túng thì tiện quá. Nguyên Bộ trưởng Bộ Tư Pháp Nguyễn Đình Lộc đã cảnh
báo : "Hễ có vướng mắc nào phát
sinh thì người ta lại an ủi lẫn nhau
rằng, đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Nhưng mọi sai lầm đều từ đó mà ra".
Từ sau 1980, Hiến pháp và
Luật đất đai đã được sửa đổi nhiều, nhưng riêng điều khoản về chế độ sở hữu đất
đai vẫn "dậm chân tại chỗ". Tại sao lại kỳ quặc làm vậy? Nguyên Bộ
trưởng Bộ Tư Pháp phân tích : "nhiều
người không dễ dàng "buông" quy định này, bởi cơ chế "nhà nước
quản lý" mang lại không ít nguồn lợi hấp dẫn cho một bộ phận quan chức và
nhà đầu tư”. Cái “tổ con tò vò”
nằm ở chỗ này đây! Vấn đề đặt ra là Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959 đều thừa
nhận sở hữu tư nhân về đất đai. Chỉ
đến Hiến pháp năm 1980 mới quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Phải chăng mọi tai họa giáng xuống đầu người nông
dân có cội nguồn từ đây. Đã đến lúc gióng lên tiếng chuông khẩn thiết về sửa
đổi Luật Đất đai, trả lại cho người nông dân cái mà họ đã đổ xương máu ra để
giành lấy trong kỳ sửa đổi Hiếp Pháp sắp tới.
"Khẩn thiết" vì
đất là khát vọng bao đời của người nông dân, những người “côi cút làm ăn, toan lo nghèo
khó... việc cuốc việc cày việc bừa việc cấy, tay vốn quen làm” đã vùng
đứng dậy "đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không...nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ
đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có" [Nguyễn Đình Chiểu] để đánh giặc cứu nước, cứu nhà, cũng là cứu đất, giành lại
đất. Chẳng thế mà khi nằm trong tù, người chiến sĩ cách mạng vẫn cháy bỏng khát
vọng ấy của người nông dân :
"Đâu những lưng cong xuống luống cày
Mà bùn hy vọng
nức hương ngây"
[Tố Hữu].
Chắc chắn là những người nông dân rời bỏ ruộng đồng quê
hương cầm súng chiến đấu làm nên Cách mạng Tháng Tám, làm nên chiến công thần
kỳ của hai cuộc kháng chiến chống thực dân đế quốc và cuộc chiến dai dẳng chống
giặc bành trướng phương Bắc, sẽ không sao hình dung nổi rồi có ngày vợ con họ,
hay chính họ, lại phải bị gậy đi khiếu kiện để đòi lại mảnh đất bị cướp đoạt,
đòi lại những " hy vọng nức hương ngây" buổi ấy!
Nếu "hòn
đất mà biết nói năng", "hòn đất lặng nguyên để nguyên là đất cất lên
là nhà" ấy, sẽ nói gì đây với chúng ta, những người vốn ra đi từ
mảnh đất quê hương ấy? Những người nông dân "đòn gánh tre chín rạn hai vai" [Nguyễn Du], mà phải bỏ việc
đồng áng kéo nhau lên Trung ương, tụ tập cả ngàn người trước cổng Thanh tra
Chính phủ tại Hà Nội, thì cũng là chuyển chẳng đặng đừng. Nguyên Phó Thủ tướng
Nguyễn Ngọc Trìu từng nhận xét : " Vừa qua, một số nơi thu hồi đất của nông dân
giá rất rẻ, sau đó chuyển đổi mục đích sử dụng, cho doanh nghiệp chia lô, bán
nền là giá tăng gấp 10- 15 lần. Chính sách như vậy sẽ làm giàu cho một số người
mà làm nghèo nông dân. Tôi về nông thôn, có nông dân nói tại sao lại lấy đất
của nông dân chia cho người giàu. Đến dự khởi công một công trình tại Hà Nội,
trong khi bên trong là lễ khởi công, bên ngoài là những nông dân khiếu kiện".
Vậy là ở đây có vấn đề về chính sách và cái gọi là "cơ chế" tạo điều
kiện cho sự tước đoạt khôn khéo hoặc trắng trợn nói trên.
Mà việc khiếu nại tố cáo tăng đột biến không
phải do nhất thời mà kéo dài từ nhiều năm. "Một số địa phương chưa tập trung giải quyết tới nơi tới chốn, còn né
tránh đùn đẩy nên người dân bức xúc. Một số trường hợp còn kết luận không chính
xác nên dân không đồng tình".
Còn nhớ năm ngoái, Liên quan tới vụ cưỡng chế thu hồi đất ở Tiên Lãng,
sáng 5/4, ông Tổng thanh tra Chính phủ chỉ rõ : "chính quyền địa phương sai nhiều
vấn đề từ quản lý, sử dụng tới thu hồi đất, hậu quả dẫn tới vụ án hình sự". [theo Dân việt].Ấy thế mà vào
dịp Tết Nhâm Thìn, chính bà Phó Chủ tịch UBND huyện Thanh Hà, Hải Dương người
ký cấp GCNQSDĐ cho gia đình người nông dân khổ nọ đang trắng tay đã tuyên bố
ráo hoảnh “Việc cấp đất là sai. Đúng là
tôi có ký vào GCNQSDĐ, nhưng ông Phạm Quý Lại mới là người làm sai, nhưng
ông này đã nghỉ hưu mất rồi! Vì vậy : “Cưỡng chế vào cuối năm là hợp lý, sang năm
mới, lằng nhằng những việc này là mệt lắm”. Công bộc của dân nói thế,
làm sao dân không nổi giận?
Vậy là, người nông dân bao đời nay "việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay
vốn quen làm" kia đâu có muốn chuyện khiếu kiện đông người làm gì! Họ cũng đã từng thấm thía chuyện "sinh
sự" thì "sư sinh", không thiếu người đã sứt đầu mẻ trán, tán gia
bại sản vì những chuyện họ "vốn không quen làm " này. Chỉ
có điều, con giun xéo lắm cũng quằn, họ không thể cứ lầm lũi ngậm miệng than
trời, sao trời ở không cân, kẻ ăn không hết người lần không ra. Chẳng có ông
trời nào cả, chỉ có những "ông trời con"! Nhưng rồi, trong thời buổi
"internet nối mạng", "những ông Trời con" dù ở nơi thôn
cùng xóm vắng cũng đã hiện rõ trước ánh mắt công luận. Không một sự bưng bít
nào, dù lắt léo, toa rập, tung hứng cho nhau qua các cấp có thẩm quyền, thì rồi
vẫn bị vạch trần trước công luận không chỉ của nơi xảy ra tại một xã có cái tên
đẹp là “Vinh Quang”, một huyện cũng có cái tên rất thơ mông “Tiên Lãng”, mà là
lan truyền ngay trên cả nước, và cũng ngay lập tức truyền ra nước ngoài.
Ở đây là một “diễn biến tự nhiên và tất yếu”
và cũng là "biện chứng" [!]
dẫn đưa những bàn chân nổi giận chứ không gì khác . Bàn chân nổi giận đưa họ
đến trước công đường ở nơi cao nhất với hy vọng tìm thấy công lý. Nhưng liệu họ
có giành được công lý không? Hay là chỉ ngửi thấy cái điều mà M. Gorki từng nói
" chân lý bay rất xa vì đâu cũng là mùi của mồ hôi lao động".
Dù sao thì "ở nơi [đây] sương khói mờ nhân ảnh" ấy thì
sương khói cũng đã tan bớt đi dưới sức nóng từ đất được truyền dẫn bởi
những bàn chân nổi giận, để rồi có một buổi truyền hình khởi sắc nọ khi VTV1
đưa một phóng sự nóng hổi trong mục "Quốc
hội và Cử tri" sục sôi chuyện khiếu kiện đât đai.
Thiên phóng sự truyền hình có sức hút chặt ánh
mắt người xem, "sức hút của đất"! Sức hút từ
những lời phẫn nộ chân thật của những người nông dân ở Dương Nội trình bày với
Đoàn Thanh tra. Tiếng nói chững chạc, khúc triết với ánh mắt không dấu được
những bức xúc chất chứa của người phụ nữ nông dân trước ống kính truyền hình
như rọi một vệt sáng mới vào trang báo hình. Vệt sáng từ cuộc sống âm thầm,
nhẫn nại song không kém phần quyết liệt của người phụ nữ nông dân đã làm cho
trang báo cựa quậy trong đầu óc mọi người. Và rồi người ta đang phải lắng nghe
họ.
Người dân
Dương Nội cuốn giẻ, tẩm xăng để đốt chủ đầu tư nếu thi công dự án trên phần đất
ruộng của họ.
Và rồi, LaoĐông
ngày29.1, đưa một dòng tin có cái "mùi chân lý" vừa nói
: " Vụ án “nhà ông Vươn” ở Tiên Lãng
(Hải Phòng) là sự kiện đình đám nhất của giới truyền thông VN năm 2012. .. Các vị lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà
nước cũng cùng vào cuộc với công luận. Điều
quan trọng nhất là Tiên Lãng đã trở thành “tâm chấn” lan rộng tới sự điều hành
chính sách của Nhà nước về quyền sử dụng đất của người nông dân. Có thể nói
chính từ căn nhà bị phá của ông Vươn, vấn đề thời hạn được giao đất của nông
dân VN đã được tiếp tục kéo dài, ít nhất là 20 năm nữa". Bài báo
được giật một cái tít thật bạo : " Làn gió hòa bình" với dòng kết
thúc : " Văn phòng luật sư Hưng
Giang (Đoàn luật sư Hà Nội) đã quyên góp tiền khởi công xây căn nhà mới cho hai
bà vợ và đàn con [của anh em ông Đoàn văn Vươn?TL] đang ở lều tạm giữa mùa đông rét mướt. Người Hà Nội đã xuống Hải Phòng
tạo một làn gió “hoà bình” cho vụ việc. Tiếp đó là những dòng tin anh em
ông Đoàn Văn Vươn được đề nghị bão lĩnh về nhà ăn Tết nhưng bị từ chối!
Dù sao thì "tiếng gọi của đất"
đã có sức vang vọng. Tết này sẽ có một gia đình nông dân bị rơi vào vòng lao lý
vì "tòa án, nơi
rất công bằng, mà những chân lý giản dị như họ tự hiểu cũng vẫn không nhìn
thấy. Họ phải tự quyết liệt một mình trong vô vọng” như lời của một cựu
quan chức đã dẫn ra ở trên, đã có những phút sum vầy chưa trọn vẹn. Liệu họ có
còn nuôi giữ được "hy vọng nức hương ngây" sau
những phũ phàng họ gánh chịu và còn phải gánh chịu? Chao ôi,
"Anh đi đấy, anh về đâu
Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm... [Không đề. Nguyễn
Bính],
cái khắc khoải của thi sĩ gieo một dư âm buồn thuở ấy như
cứ vận vào cảm xúc đương đại của lũ chúng tôi hôm nay chắc là nằm ngoài dự cảm
của một tài thơ thuở nước còn nô lệ. Đâu
phải "mỗi lời là một vặn vào khó nghe" [Nguyễn Du], mà là một sự thật đắng cay
chẳng đặng đừng phải viết ra trên một bài báo Tết mà đúng ra chỉ nên có màu
hồng của hoa đào, màu vàng tươi của hoa mai, hoa cúc.
Bởi lẽ, cái tiếng gọi tha thiết thuở
nước còn nô lệ, tiếng gọi "qua cửa khám bao ngày" của một
người tù bị đế quốc bắt giam sao lại có sức lay động lạ kỳ, cứ như những lời
đồng vọng, gần gũi và da diết làm sao :
"Ôi ruộng đồng quê thương nhớ ơi"!
[Nhớ
đồng. Tố Hữu],
chẳng những thế, "cánh buồm nâu, cánh buồm nâu,
cánh buồm " thơ mộng và đơn chiếc kia chớ có cao hứng xuôi ra cửa
sông và dong ra biển vội nhé.
Ở ngoài kia tàu "Hải
giám" với những chữ vàng chữ bạc đang "hữu nghị" chặn
bắt đấy!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét