Xuân Tân Mão

Xuân Tân Mão
Đảng và Chính phủ luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng với tất cả hoạt động, việc làm của người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia (TTg NT Dũng).

16 tháng 2 2013

Ông đồ thời laptop

Ông đồ thời laptop
Sài Sơn thi tập - tập thơ về chùa Thầy, viết cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20.
 


Ông đồ thời laptop

(LĐ) - Thứ sáu 15/02/2013
Biết Trần Trọng Dương đã lâu, nhiều lúc vẫn không thể hiểu sao anh và các đồng nghiệp của anh lại có thể say mê chữ Nôm đến thế.
“Nghiên cứu chữ Nôm là để hiểu bản sắc văn hóa của người Việt”, Dương giải thích. Năm 2012, Hội Bảo tồn Di sản chữ Nôm - một tổ chức phi chính phủ ở Mỹ, quy tụ nhiều học giả nổi tiếng của Mỹ và Việt Nam, đã trao tặng anh giải thưởng dành cho học giả nghiên cứu chữ Nôm trẻ (Young Nom Scholar Award).
Những ký tự phức tạp và cổ kính đó có điều gì mà hấp dẫn anh đến thế?
- Đó là cánh cửa đi vào quá khứ của cha ông. Tiếng Việt có từ 12 thế kỷ nay, từ sau khi Ngô Quyền đánh quân Nam Hán, thì từ đó đến năm 1945 là dùng chữ Nôm, còn từ 1945 tới nay là dùng chữ Quốc ngữ. Toàn bộ đời sống văn hóa của người Việt, từ lịch sử, toán học, nông học, y học, ngoại giao, triết học, văn học… đều được ghi bằng chữ Nôm, để làm nên “nghìn năm văn hiến” như chúng ta vẫn nói.

Chính ngôn ngữ đã làm cho các nước Đông Á trở thành những con rồng lớn. Tiếng Nhật mạnh, nước Nhật mạnh là bởi từ thế kỷ 19, Nhật Hoàng đã cho dịch toàn bộ kinh điển phương Tây sang tiếng Nhật, một mặt truyền tải hết khoa học kỹ thuật phương Tây, tư tưởng triết học phương Tây cho người Nhật, mà qua đó tiếng Nhật cũng được nâng cấp. Việc này được người Nhật làm đều đặn từ thế kỷ 19 đến nay. Trung Quốc 50 năm qua cũng học theo, chỉ 2 -3 tháng sau khi một công trình khoa học quan trọng ra đời, Trung Quốc đã mua bản quyền để dịch sang ngôn ngữ của họ.

Văn hóa, ngôn ngữ Việt Nam chịu ảnh hưởng rất nhiều từ Trung Hoa, nhưng làm thế nào chúng ta vẫn giữ được bản sắc riêng của mình?
- Chữ Nôm của ta, xuất phát từ chữ Hán, và được cha ông ta coi chữ quốc ngữ của dân tộc dùng để ghi lại tiếng Việt trong suốt một ngàn năm. Chữ Nôm giống như chữ Hiragana của Nhật Bản, chữ Hangul của Hàn Quốc… Đó lại là sự độc lập về tư duy. Trong lịch sử văn hóa nhân loại, chỉ vài ba nền văn hóa có văn tự gốc. Còn phần lớn các nước vay mượn văn tự đó để sáng tạo ra văn tự riêng, tạo thành tiếng mẹ đẻ của mình.

Với trường hợp Việt Nam cũng vậy. Chữ Nôm là một trong những tiêu chí quan trọng nhất đánh dấu sự phát triển độc lập của tư duy và ngôn ngữ dân tộc, chấm dứt thời kỳ của những huyền thoại, của sự truyền khẩu, mà văn hóa được ghi lại thành văn bản, truyền đời. Những đỉnh cao của văn hóa Việt Nam đều được ghi lại bằng chữ Nôm, từ các bài phú Nôm của vua Trần Nhân Tông, Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Truyện Kiều của Nguyễn Du… đến các điệu hát ca trù, hát xoan, tuồng, chèo, ca dao, tục ngữ… Mặt khác, chữ Nôm cùng với chữ Hán là công cụ để giúp người Việt hiểu Trung Quốc, hiểu lịch sử văn hóa, tâm lý dân tộc của họ. Chính sách song văn hóa- song ngôn ngữ là một yếu tố quan trọng cho sự độc lập dân tộc.

Luận án tiến sĩ của anh là về lịch sử tiếng Việt. Anh tìm thấy trong lịch sử đó điều gì có thể khiến ngày nay chúng ta quan tâm?
- Tiếng Việt chúng ta nói hàng ngày đã quen đến mức mọi người chỉ biết dùng nó với cảm thức của người bản ngữ. Nhưng nếu đi sâu vào lịch sử của từ ngữ đó thì cũng nhiều điều thú vị. Để tiếng Việt phát triển trong tương lai, để phát triển triết học, lịch sử, văn hóa bằng tiếng Việt thì cần nền tảng vững chắc là lịch sử tiếng Việt. Lịch sử của từng từ vựng chính là gương soi biểu hiện bản sắc văn hóa của người Việt.

Chẳng hạn như hệ thống từ vựng về cây cối, có từ cây mít, cây đa, đều bắt nguồn từ tiếng Sankrit (tiếng Phạn), ví dụ cây “mít” là lấy từ chữ paramit, trong tiếng Phạn nghĩa là “bến bờ giác ngộ”, mà người Huế có khi còn gọi là Ba La Mật, hay cây “bồ đề” (Bodhidruma) nghĩa là sự giác ngộ, nên còn được gọi là “giác thụ”. Từ đó cho thấy Phật giáo đi sâu thế nào vào tiếng Việt.

Kho tàng Hán Nôm cũng cho thấy sự giao thoa của văn hóa Việt với văn hóa Trung Quốc và nhiều nước khác, nhưng văn hóa Trung Hoa khi vào Việt Nam đã tạo nên những ánh xạ thú vị thể hiện ngay trong ngôn ngữ. Tôi đang làm bộ từ điển từ nguyên tiếng Việt thế kỷ X-XX , có lẽ phải mất 20-30 năm. Tuy nhiên, mọi việc còn đang mới bắt đầu. Bởi hiện giờ tôi chỉ mới soạn xong cuốn đầu tiên là "Nguyễn Trãi quốc âm từ điển - cuốn từ điển tiếng Việt thế kỷ XV".

Ngoài lịch sử ngôn ngữ, anh còn tìm thấy điều gì từ nghiên cứu kho tàng văn hóa chữ Nôm?
- Tôi rất say mê những biểu tượng văn hóa truyền thống của người Việt. Có nhiều biểu tượng quen thuộc mà lại mang ý nghĩa sâu xa, nhưng chẳng mấy ai trong chúng ta biết được, hoặc có biết thì cũng thường là hiểu lầm. Để những nghiên cứu của mình đến với nhiều người hơn, gần đây tôi cộng tác với VTV2 sản xuất loạt phim tài liệu “Thông điệp từ cổ vật”, về những biểu tượng trong văn hóa Việt.

Hiện vật đẹp nhất khai quật được ở Hoàng thành Thăng Long, một hình ảnh đã trở nên quen thuộc, thì nhiều người vẫn tưởng đó là đầu rồng. Nhưng thực ra đó lại là con xi vẫn - lấy từ truyền thuyết Long sinh cửu tử, rồng sinh 9 con, trong đó con đầu tiên là con xi vẫn, đầu rồng đuôi cá, được tạc trên những mái đình, mái chùa, biểu tượng cho thần nước, trừ hỏa tai. Hay con rồng thời Lý rất phổ biến trong văn hóa Việt, đó không phải là biểu tượng của vương quyền như cách nghĩ lâu nay, mà từ điển tích Phật giáo “Rồng chầu hỏa châu” (Long nữ hiến châu) là biểu tượng cho sự quy y giác ngộ.

Không nhiều người biết được chữ Nôm quan trọng và thú vị như vậy. Theo anh liệu có cứu được chữ Nôm?
- Từ năm 1945, chữ Quốc ngữ được dùng là văn tự chính thức duy nhất của Việt Nam. Do những quan niệm sai lầm, nhiều người nghĩ chữ Nôm là cổ hủ phong kiến và từ bỏ quá khứ. Đã qua 5 thế hệ kể từ đó, tạo nên một sự đứt gãy văn hóa, không thể nào cứu vãn. Từng có nhiều học giả của chúng ta mong muốn đưa chữ Hán, chữ Nôm trở lại với đời sống của người Việt nhưng đó là điều hoàn toàn không thể. Bát nước đã đổ đi không bao giờ lấy lại được.

Giờ đây nhiều gia đình không đọc được gia phả của chính họ tộc mình. Hầu hết giới nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn đều trông chờ vào tư liệu của hai ngành Hán Nôm và khảo cổ. Họ phần lớn phải nghiên cứu qua bản dịch, gây nên không ít sai lầm. Chữ Nôm giống như bao di tích, bao đình chùa, bao thư tịch, sử sách cổ vẫn đang hàng ngày bị hủy hoại ở khắp nơi trong nhiều thập kỷ qua. Chữ Nôm đã chính thức trở thành chữ viết chết (tử văn tự).

Vấn đề trong thời điểm hiện nay chưa phải là việc khôi phục chữ Nôm, mà là cần chấm dứt ngay tình trạng đơn ngữ nghèo nàn. Việt Nam cần phải có một ngôn ngữ thứ hai (tiếng Anh? Tiếng Nhật? tiếng Trung?) được dùng trong đời sống xã hội, để chúng ta vừa có thể kết nối với quá khứ vừa kết nối với được thế giới.

Quanh năm ngày tháng làm việc với những văn bản cổ, anh có thấy mình là một người cũ?
- Đối tượng nghiên cứu của tôi là cổ, nhưng tôi không làm cho mình già đi. Tôi vẫn tự mình mở cho mình những hướng đi, những sở thích, những quan tâm mới. Xã hội có vẻ phát triển hơn về vật chất, nhưng rõ ràng có sự đi xuống về tâm linh, tâm hồn. Tôi và các đồng nghiệp vẫn cố gắng để sống bằng chuyên môn và làm được điều mình thích. Nghiên cứu chữ Nôm, tôi thấy mình phong phú hơn.

Xin cảm ơn anh.
 
http://laodong.com.vn/Lao-Dong-Xuan-2013/Ong-do-thoi-laptop/102420.bld

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét