Thứ tư, ngày 20 tháng hai năm 2013
Hàng binh Trung Quốc ở biên giới Cao Bằng
THẤU XÉNG CHIU SÂU KHOAN TAI !
(T’ou xi’ang jiu shou kuan dai!)
* NGUYỄN NGUYÊN
BÌNH
(Viết nhân kỷ
niệm 34 năm chiến tranh
Trung Quốc xâm
lược Việt Nam)
Lại một tháng 2 nữa đã đến, và lại đến ngày
17-2, một ngày ghi đậm dấu ấn một hành tung đen tối của kẻ “lớn mà không đàng
hoàng” ở biên giới phía Bắc nước ta. Ai cũng biết, bọn cầm quyền ở Tàu xưa nay chẳng bao
giờ muốn một nước láng giềng nào lớn mạnh và tồn tại độc lập bên cạnh họ.
Vì
vậy khi Việt Nam thu non sông về một mối, chuẩn bị công cuộc xây dựng hòa bình,
máu đế quốc Đại Hán nổi lên xúi giục, cung cấp vũ khí, đồ dùng quân sự cho bọn
tay sai Polpot–Iêngsari diệt chủng hết dân tộc của họ, hòng đưa người Trung
Quốc chiếm cứ Campuchia, lại kích động bè
lũ Polpot đánh phá khi ta suốt dọc tuyến biên giới Tây Nam. Khi bọn tay sai
không hoàn thành được như ý muốn của họ thì tự họ nhảy ra phát động chiến tranh
đánh Việt Nam
ta. Trước cuộc tấn công 17-2, bọn Tàu xấu bụng cũng đã ít nhiều để lộ âm mưu
qua một số kênh khác nhau. Chúng ta chỉ bị bất ngờ về thời điểm nổ súng của
chúng, chứ chúng ta cũng đã có sự chuẩn bị nhiều mặt cho cuộc chiến đấu với
‘anh bạn vàng tham lam, trở mặt’.
Chính vì chuẩn bị đối phó nên
từ hàng năm trước, các cơ quan hữu quan ở Bộ Quốc phòng đã tìm một số cán bộ quân
đội biết tiếng Trung Quốc, tập trung nghiên cứu về đối tượng tác chiến mới
này.Với truyền thống coi trọng công tác vận động binh sĩ địch ra hàng để tránh
đổ máu thương vong vô ích cho cả hai bên, cơ quan địch vận cũng khẩn trương vào
cuộc. Hồi đó tôi cũng được điều động về giúp việc nghiên cứu trạng thái chính
trị tinh thần của quân Trung Quốc ở cơ quan địch vận. Đồng thời với việc nghiên
cứu, cơ quan cũng đã chuẩn bị được một loạt câu kêu gọi ngắn gọn gửi cho các
đơn vị. Một trong số đó có câu “Thấu xéng
chiu sâu khoan tai”. Phiên âm như vậy chưa thật chuẩn nhưng người Trung
quốc nghe cũng có thể hiểu ra, đó là lời nhắn nhủ: “Đầu hàng thì sẽ được đối xử tử tế.” Sau khi nhận được những khẩu
hiệu nhỏ đó, nhiều đơn vị đã nhanh chóng cho cán bộ chiến sĩ học thuộc để vận
dụng trong chiến đấu. Thế rồi, cuộc chiến mới diễn ra chừng hai chục ngày, đến
đầu tháng 3-1979, từ Cao Bằng đã có tin báo về: Cả một đại đội quân Trung Quốc
đã ra đầu hàng! Thật là một sự kiện hiếm hoi. Chắc đây là kết quả của lời kêu
gọi “Thấu xéng chiu sâu khoan tai” thì
phải?
Tin mới này
đã khiến chúng tôi phải gấp rút lên đường. Chúng tôi gặp đại đội ra hàng đó ở
một trại tạm giam khi họ đã được đưa về tuyến sau. Lúc đó, quả thật tôi mới là
một phiên dịch bất đắc dĩ (năm 1965, tôi vừa học xong một năm chuyên tu tiếng
TQ, bị cuộc ‘cách mạng văn hóa vô sản’ của ông Mao phá đám, phải về nước học
cái khác, bỏ luôn tiếng Trung Quốc cả 13 năm, nay chưa kịp ôn lại đã phải đi
dịch, đành ôm theo cuốn từ điển, vừa dịch vừa tra, thật rõ khổ!)
Thật tiếc, nhiều nôị dung khai
thác được lúc đó tôi đã để rơi rụng mất kha khá, nay chỉ còn một ít trong trí
nhớ mà thôi. Cái đại đội ra hàng đó là thuộc trung đoàn bộ binh 448, sư đoàn
150, quân đoàn 50, quân khu Thành Đô. Đơn vị còn có đầy đủ cả bộ sậu: Đại đội
trưởng, chính trị viên, cả ban chi ủy, các trung đội trưởng…và đầy đủ vũ khí
trang bị. Cùng đi với đại đội còn có hai cán bộ do trung đoàn phái xuống để đốc
chiến, một ‘vị’ là tham mưu phó trung đoàn, ‘vị’ kia là phó chính ủy trung
đoàn. Cả đại đội còn đầy đủ cả trăm con người. Đơn vị này thuộc thê đội hai của
chiến dịch, mới ngơ ngáo tiến vào vùng núi
Cao Bằng trập trùng bí hiểm, bị quân dân địa phương dồn đuổi mấy ngày,
hoang mang quá, không biết làm thế nào, đã bàn nhau (bàn trong chi ủy Đảng CSTQ
hẳn hoi) kéo cờ trắng ra hàng.
Tiếp xúc
càng nhiều với đám lính ‘quân giải phóng TQ’ này tôi càng ngạc nhiên. Trước khi gặp họ, tôi hình dung về họ khác lắm
kia. Thời gian tôi học ở Trung Quốc đúng vào lúc TQ vừa hồi phục sau thảm bại
của cuộc ‘đại nhảy vọt’ điên rồ với hàng triệu người chết đói và một đất nước
kiệt quệ bên bờ vực kinh tế. Phục hồi chưa được bao lâu, đất nước đã lại chuẩn
bị bước vào một cơn co giật động trời khác, đó là cuộc ‘đại CM văn hóa vô sản’ nổi
tiếng khủng khiếp trên thế giới. Thời gian đó, khắp đất nước TQ đâu đâu cũng đỏ
rực những lời đao to búa lớn của lãnh tụ vĩ đại. Ngày ngày người ta kêu gọi
thanh niên phải “Sống ở Trung Hoa, mắt đưa khắp thế giới”, phải “coi cái chết
nhẹ tựa lông hồng”, phải “tiến hành CM vô sản đến cùng để giải phóng toàn thế
giới”. Đối với cán bộ chiến sĩ quân giải phóng TQ thì đã có nguyên soái Lâm Bưu
luôn đốc thúc họ phải ngày ngày tâm niệm: “Đọc sách của Mao Chủ tịch, nghe lời
Mao Chủ tịch, làm theo chỉ thị của Mao Chủ tịch, làm chiến sĩ tốt của Mao Chủ
tịch”. Từng ấy thứ được nghe, được thấy ở TQ lúc đó khiến tôi cứ tưởng rằng
những người lính quân giải phóng TQ chí ít cũng phải thế nào chứ. Đằng này…
Chính trị
viên đại đội Phùng Tăng Mẫn, khi chưa lâm trận, ý hẳn cũng muốn phấn đấu theo
lời nguyên soái nên đã đặt bí danh là
Hồng Trị (Chính trị viên đỏ). Khi trở thành tù binh thì nhũn như chi chi, chẳng
thấy vai trò chính trị viên đâu nữa, chỉ luôn đáp ứng yêu cầu của cán bộ hỏi
cung, hỏi gì khai nấy, lại luôn cố gắng ‘làm thân’ với cán bộ chiến sĩ trong
trại. Có lần phải ra khai cung sớm, bữa sáng chưa kịp ăn, bị kiến bò vào. Khi
trở về, thấy cơm bị kiến bò, anh ta đã khóc, than vãn mãi về việc bị kiến ăn
tranh mất suất cơm. Khi được hỏi có yêu cầu gì đối với trại, anh ta chỉ đề nghị
được ăn cơm nóng một chút, thức ăn nhiều dầu mỡ muối hơn một chút, vì người Tứ
Xuyên hình như ăn mặn hơn người của trại!
Đại đội
trưởng Lý Hòa Bình, thân hình to cao, trông bên ngoài có vẻ chất phác, luôn cố
gắng sửa bớt cái giọng Tứ Xuyên nặng chịch để cán bộ nghe được dễ hơn. Anh ta đã
có kinh nghiệm khi gặp cán bộ khai thác mà cứ nói nặng tiếng địa phương là
phiền lắm. Quả cái tiếng Tứ Xuyên rất khó nghe, chúng tôi nghe nhiều thành quen
mới hiểu nổi, chứ vị khách nào mới đến phỏng vấn thì nghe gà hóa cuốc là việc
thường tình. Có lần chúng tôi lên trại, anh ta mới gặp đã khóc nức nở kể chuyện
bị oan ức vì một cán bộ mới đến nghe không rõ, cứ khăng khăng bảo anh ta ‘ngoan
cố, không thành khẩn khai báo’. Anh ta sợ bị cho là không thành khẩn thì sau
này hết chiến tranh có thể sẽ không được trao trả về nước với gia đình, hoặc sẽ
bị đối xử kinh khủng thế nào đó chưa biết được.
Tham mưu
phó trung đoàn tên là Phó Bồi Đức, khá thạo tin về quân sự, nói giọng dễ nghe,
nhiều người xác nhận thuộc loại ‘thật thà khai báo’, anh này thường nói mình
vốn đang mang bệnh rối loạn nhịp tim, đang xin ra quân thì bị điều động đi đánh
Việt Nam, chứ thực lòng không muốn đi tí nào. Anh ta còn nói, nghe trên tuyên
truyền Việt Nam khiêu khích TQ, nhiều lần quấy rối, đánh sang biên giới TQ thì
cũng biết vậy thôi, quân khu Thành Đô có ở biên giới đâu mà nói là thật hay
không. Khi đơn vị đánh sang đất Cao Bằng của VN thì trên lại bảo đấy là ‘phản
kích, dạy VN bài học xong rồi sẽ rút quân’. Trên bảo đơn vị trung đoàn 448 này
vào đất VN để yểm hộ bộ đội rút quân…Vì vậy, Phó Bồi Đức cứ tiếc hùi hụi, giá
không mắc kẹt với bộ đội Cao Bằng thì chẳng bao lâu nữa sẽ được lệnh rút về.
Chỉ mong nhanh chóng ra quân để nghỉ ngơi và chữa cái bệnh tim thôi (cán bộ
trại cũng đã cho thày thuốc khám bệnh, xác minh đúng anh ta có bệnh tim và đã
cấp cho ít thuốc).
Phó chính
ủy trung đoàn Long Đức Xương, ngoài những tin tức quân báo đã cung cấp, khi nói
chuyện có tính tâm sự với cán bộ trại, anh ta thường than thở: Mình nay đã quá
tuổi phát triển, sức khỏe lại kém, đã thuộc vào loại cán bộ quá độ, không còn tiền đồ gì (trông anh ta quả cũng hơi hom
hem, tuổi áng chừng trên 40 thật); lần này đơn vị bị điều đi đánh trận là bản
thân rất bất ngờ, chưa kịp chuẩn bị gì, ra đi mà trong lòng hoang mang, bối
rối… Anh ta lo lắng nhiều cho sự sống chết của bản thân vì ở nhà còn gánh gia
đình rất nặng. Còn việc có tin hay không những tuyên truyền của chính phủ và
quân đội về lý do phải ‘dạy cho VN bài học’, thì anh ta nói: Đời mình đã trải
qua quá nhiều phong trào, quá nhiều vận động rồi, bây giờ chẳng thiết tin hay
không tin cái gì cả.
Khi hỏi các
binh lính (ngoài số các cán binh của đại
đội nọ, trong trại còn có một số lính TQ bị bắt ở các nơi khác): Tại sao đi bộ
đội? Phần lớn đều nói: Để hy vọng kiếm được việc làm sau khi hết thời hạn phục
vụ. Nhưng nhiều người cũng có vẻ bi quan về vận may của mình, họ nói: Mù chữ,
vô nghề nghiệp chẳng dễ mà kiếm được việc, đến đâu hay đến đấy… Chả thấy ai nói
muốn trở thành quân nhân để tiến hành cách mạng vô sản đến cùng, để giải phóng
toàn thế giới cả.
Thời gian
mấy tháng ở trại, binh lính TQ thường tỏ ra ‘ngoan’, không dám quấy phá chống
đối gì đáng kể. Họ quan tâm nhiều đến bữa ăn. Khi có phái đoàn Chữ thập đỏ Quốc
tế đến thăm trại, một số người tố khổ: Cơm ăn không đủ no, thức ăn thì ít thịt
cá dầu mỡ, rau thì toàn loại rau ‘rỗng ruột’(tức rau muống) với dây lá bí rợ
(rau bí)…Có người cũng vặn hỏi cán bộ trại: Việt Nam nói đầu hàng thì được đối
xử tử tế, sao lại cho chúng tôi ăn như vậy? Lúc đó thật là khó giải thích cho
họ hiểu, họ đâu biết hoàn cảnh khắc nghiệt về kinh tế của Việt Nam vào thời
điểm ấy. Mỗi ngày họ được giành 700g gạo không độn mì mốc, ngô răng ngựa, bo bo
hạt; lại có chút thịt cá dầu mỡ là phía ta đã cố gắng lắm rồi! Thời gian sau,
khi trại được củng cố ổn định hơn, tù
binh được cử người cùng đi nhận thực phẩm ở kho chung với cán bộ chiến sĩ của
trại, được tận mắt chứng kiến phần thực phẩm giành cho bộ đội VN còn ít hơn
phần của tù, họ mới hiểu ra và thừa nhận là trong hoàn cảnh đó, thực sự họ đã
được đối xử tử tế.
Ở thời
điểm năm 1979 đó, mặc dù chính tai được nghe, chính mắt được thấy, nhưng tôi
vẫn nghi nghi hoặc hoặc. Tôi không thể hình dung nổi sao lại có cái khoảng cách
quá lớn giữa hình tượng người lính được tuyên truyền rầm rĩ ở TQ về ‘người chiến sĩ tốt của Mao Chủ tịch’ với
thực trạng tù binh mà tôi đã gặp. Sau này, khi có dịp đọc một số sách của các
nhà văn TQ , tôi mới hết nghi hoặc. Hình ảnh những người lính đánh VN năm 79
trong cuốn tiểu thuyết ‘Ma chiến hữu’của nhà văn Mạc Ngôn còn thảm hại, khốn
khổ khốn nạn hơn cả những người lính ở trại tù binh kia. Thế thì có lẽ các vị
lãnh đạo đất nước TQ chuyên xây dựng ra xã hội và con người kiểu ‘thùng rỗng
kêu to’chăng? Cái “biển người” tràn ngập
6 tỉnh biên giới phía Bắc VN với những người lính bạc nhược, tham sóng sợ chết
đến như vậy thì lấy đâu ra sức mạnh?
Từ 1979 đến
nay đã là 34 năm, quân đội Trung Quốc nghe nói giờ đã chính qui hiện đại hơn
nhiều lắm, vũ khí trang bị chả thua kém cường quốc nào trên thế giới với đủ cả
khí tài điện tử, máy bay tàu bò, hàng không mẫu hạm v.v..Và nay kinh tế TQ cũng
mới thấc lên, tham vọng của những người lãnh đạo nhà nước lại bùng lên như
những thời kỳ phục hồi trước đây. Vũ khí, trang bị hiện đại và lắm tiền đâu có
thay thế được con người. Thế mà họ lại lên dây cót xã hội, lại muốn ăn tươi
nuốt sống cả thế giới…Nhưng thử ngẫm mà xem: Vũ khí trang bị thì đổi mới có thể
nhanh chóng và không khó khăn gì nhiều đối với nền kinh tế đang giàu xổi của
TQ; còn con người thì sao? Liệu ba bốn chục năm đã đủ để xã hội con người trút
khỏi cái bản tính ‘thùng rỗng kêu to’chưa? Hơn nữa, những ‘ông vua con’ trong
các gia đình (kết quả của chính sách dân số mỗi gia đình chỉ sinh một con) và
hậu phương của họ liệu có sẵn sàng coi
cái chết nhẹ như lông hồng để phục vụ cho tham vọng nuốt sống quả địa cầu
không? Hay là khi lâm trận, gặp khó khăn nguy hiểm thì lại sẵn sàng nghe theo
lời kêu gọi “Thấu xéng chiu sâu khoan
tai”??
N.N.B
http://bvbong.blogspot.com/2013/02/thau-xeng-chiu-sau-khoan-tai.html#more





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét