Xuân Tân Mão

Xuân Tân Mão
Đảng và Chính phủ luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng với tất cả hoạt động, việc làm của người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia (TTg NT Dũng).

08 tháng 2 2013

TRUNG QUỐC TĂNG CƯỜNG SỨC MẠNH QUÂN SỰ


THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)
Thứ tư, ngày 6/2/2013

TRUNG QUỐC TĂNG CƯỜNG SỨC MẠNH QUÂN SỰ

TTXVN (Niu Yoóc 1/2)
Báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ cho biết trong thập kỷ 60 hoặc 70 của thế kỷ trước, các nước đặt mua xe tăng, tàu chiến hoặc máy bay của Trung Quốc rất có thế đẩy binh sĩ của họ vào tình thế nguy hiểm gấp đôi vì phải chống lại kẻ thù bằng các loại vũ khí trang bị rẻ tiền bắt chước từ các loại vũ khí trang bị của Liên Xô vốn không có độ tin cậy cao. Nhưng hiện nay tình hình đó đã hoàn toàn thay đổi, như cuộc triển lãm hàng không lần thứ 9 của Trung Quốc đã khẳng định với các nước tham gia cuộc triển lãm.

Trung Quốc đang dần dần thay thế các loại máy bay, rađa, tên lửa và các trang thiết bị khác bắt chước của Nga trước đây bằng các loại vũ khí chất lượng cao do Trung Quốc tự sản xuất. Thực tế phần lớn các loại vũ khí trang thiết bị quân sự của Trung Quốc có nguồn gốc của Nga hoặc Ucraina, nhưng các kỹ sư và các nhà sản xuất Trung Quốc đã học được rất nhiều từ các loại vũ khí trang bị đó. Cuộc cách mạng công nghiệp quân sự của Trung Quốc đã đến tuổi trưởng thành. Không cần lấy dẫn chứng nào hơn bằng cuộc triển lãm hàng không Chu Hải gần đây, từ trước đến nay đây là cuộc triển lãm lớn nhất, quy mô nhất, tổ chức tốt nhất và thân thiện nhất. Cuộc triển lãm này có thể góp phần làm tăng cảm giác tự hào của người Trung Quốc về vai trò đang nổi lên của họ trong việc cân bằng địa chiến lược của thế giới. Một nhà phân tích quốc phòng của Mỹ từng tham dự các cuộc triển lãm Chu Hải từ lâu cho biết Trung Quốc có rất nhiều loại vũ khí mà ông ta chưa bao giờ thấy từ trước đến nay: Nhìn chung, cuộc triển lãm Chu Hải 2012 đã phát triển trên cơ sở các loại vũ khí của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) và xu hướng đó có thể thấy rõ từ năm 2004: ngân sách chi cho các hệ thống vũ khí tên lửa và máy bay tăng gấp nhiều lần để thúc đẩy sự cạnh tranh trong nước, các chu kỳ phát triển nhanh hơn và tung các sản phẩm ra các thị trường tràn ngập vũ khí nước ngoài. PLA có thể mua các loại vũ khí mới xuất hiện, nhưng Trung Quốc cũng có khả năng nhanh chóng chào bán hầu hết các loại vũ khí mới đó. Trung Quốc cũng đang cố gắng đóng vai trò hàng đầu như một cố Vấn dày dạn kinh nghiệm cho nhiều nước khác. Pháp, Đức, Pakixtan, Nga và Tandania đã tham gia Hội nghị Huấn luyện Chuyến bay Quân sự (MF-TC 2012) được tổ chức tại Chu Hải ngày 11-12/11 do Lực lượng không quân PLA (PLAAF) và Tổng công ty Công nghiệp Hàng không Trung Quốc (AVIC) tài trợ.
Nhưng có một vấn đề không rõ ràng về thành phần quốc tế tham dự triển lãm hàng không Chu Hải như trước đây. Các quan chức chính phủ Mỹ cho biết một phái đoàn của Chính phủ Xuđăng tham dự triển lãm để đặt mua các loại vũ khí. Hơn 10 năm qua, Trung Quốc đã và đang tăng cường cung cấp các loại vũ khí cho một số quốc gia châu Phi nhằm giành quyền khai thác các khu Vực dầu lửa mà bỏ qua những lời tố cáo của quốc tế về các vụ vi phạm nhân quyền của Xuđăng và nhiều nước châu Phi khác. Xuđăng, từng mua của Trung Quốc 20 máy chiến đấu Fantan (MiG- 19) hay Q-5/A-5C và 6 máy bay chiến đấu/huấn luyện Hongdu JL-8/K-8, và hiện đang đặt mua 12 máy bay chiến đấu Thần sấm FC-1 Xiaolong/JF- 17. Ông Richard Fisher, chuyên gia cao cấp về các Vấn đề quân sự châu Á thuộc Trung tâm Chiến lược và Đánh giá Quốc tế, cho biết vấn đề là Trung Quốc đang gặp nhiều khó khăn về máy bay, bởi vì phần lớn vật liệu của chúng không tốt. Mặc dù giá của Trung Quốc tương đối rẻ, nhưng thị trường đang tràn ngập các đối thủ cạnh tranh với giá cả hợp lý, chẳng hạn loại máy bay chiến F-16 và Gripen. Ngoài ra, hầu hết các nước sẽ không mua máy bay chiến đấu của Trung Quốc bởi vì chúng có nhiều nhược điểm và những nước không đủ khả năng mua các loại máy bay tốt hơn nên họ buộc phải mua các máy bay chiến đấu của Trung Quốc. Nhưng nhiều nước châu Phi sẽ mua một số phương tiện thậm chí rẻ hơn và đơn giản hơn để dễ sử dụng. Triển lãm là nơi tạo thuận lợi cho Trung Quốc bán các máy bay chiến đấu/huấn luyện K-8. Ông Richard Bitzinger, cựu chuyên gia phân tích của CIA, khẳng định hầu hết các nước không có khả năng hoặc không thể hoạt động các loại máy bay hiện đại hơn có thể thực sự không cần chúng và loại máy bay hạng nhẹ K-8 của Trung Quốc sẽ đáp ứng nhu cầu của họ để trang bị cho lực lượng không quân. Các máy bay chiến đấu của Trung Quốc vẫn đang ở trong tình trạng: máy bay quá đắt đối với các nước thực sự nghèo và quá kém đối với các nước đang phát triển muốn có các hệ thống vũ khí của phương Tây. Cuộc triển lãm trưng bày nhiều loại máy bay như: máy bay ném bom tầm trung H-6; các loại máy bay trực thăng Z-8 và Z- 9; máy bay kiểm soát và cảnh báo sớm trên không KJ-200, Y-8 và các máy bay chiến đấu JF 17/FC-1 và J-10. Nhưng có một số bất ngờ trong cuộc triển lãm như sau.
Lần đầu tiên AVIC trưng bày một số mô hình máy bay mới như: máy bay tàng hình J-31; máy bay chiến đấu không người lái (UCAV) Wing Loong. Máy bay UCAV giống như máy bay không người lái MQ-9 Reaper của Mỹ. Cuộc triển lãm cũng trung bày 4 loại vũ khí chưa từng thấy trước đây: bom dẫn đường chính xác YZ-102A; tên lửa không đối đất BA-7 được điều khiển bằng tia lade bán tự động; bom điều khiển loại nhỏ LS-6/50 kg và bom được điều khiển bằng tia lade YZ- 121. Các phương tiện truyền thông của Trung Quốc cho biết các máy bay chiến đấu không người lái Loong Wing bán trên thị trường quốc phòng quốc tế với giá 1 triệu USD, trong khi mỗi máy bay Reaper của Mỹ bán với giá 37 triệu USD. Trung Quốc đã thử nghiệm máy bay UCAV một thời gian, bao gồm mô hình máy bay CH-4 của Tổ hợp Công nghệ và Khoa học Hàng không vũ trụ Trung Quốc (CASC). Máy bay CH-4 có thể bay ở độ cao trung bình và có thể mang bom điều khiển bằng tia lade không đối đất tầm ngắn AR-1. Một quan chức của CASC cho biết máy bay CH-4 có tầm bay 3.500 km, độ cao tối đa 8 km và có thể tiếp tục hoạt động trên không 30 giờ. Trong số danh mục máy bay mới tại cuộc triển lãm có mô hình và tài liệu của các loại máy bay UAV mới như Platypus, Avant Courier! và Bateleur của AVIC, nhưng không có sẵn thông tin về các máy bay này.
Các động cơ và máy bay không người lái mới: Trong thời gian kỷ niệm sáng kiến đổi mới UAV cúp quốc tế của AVIC ngày 14/11, Trung Quốc trình chiếu một cuộn băng video về máy bay UCAV Shark đang tấn công tàu sân bay Vikramaditya của hải quân Ấn Độ. Mặt dù có những cải tiến về khung máy bay và những tiến bộ đột biến về kỹ thuật sản xuất hàng không, nhưng ngành công nghiệp hàng không quân sự của Trung Quốc vẫn phụ thuộc vào các loại động cơ của Nga và Ucraina. Phần còn lại mà các nhà sản xuất của ngành công nghiệp hàng không Trung Quốc phải làm chủ là động cơ phản lực hiệu suất cao. Nhưng có nhiều dấu hiệu thay đổi về Vấn đề này. Trong thời gian diễn ra triển lãm Chu Hải, AVIC công bố các kế hoạch chế tạo động cơ phản lực cánh quạt đẩy để thay thế động cơ AI-22K-25 của Ucraina và trang bị trên các máy bay huấn luyện
chiến đấu hiện đại Hongdu L-15 Hunting Eagle. Các quan chức AVIC cũng tiết lộ các kế hoạch sửa đổi máy bay L-15 thành loại máy bay không người lái tấn công mục tiêu cơ động được gọi là máy bay không người lái Blue Fox. Được cung cấp lực đẩy bằng hai động cơ phản lực tuabin thu nhỏ, Blue Fox sẽ dựa trên cơ sở hình dạng khí động lực của máy bay L-15 và được thiết kế thông qua các sửa đổi thích nghi với thân máy bay, lượng không khí và đuôi thẳng đứng. Máy bay L-15 được dựa trên cơ sở máy bay Ya-130 của Nga.
Các loại tên lửa mới: Trong số những bất ngờ lớn nhất của triển lãm là các loại tên lửa mới xuất hiện của Trung Quốc. Phần lớn các tên lửa đó được sửa đổi từ các tên lửa không đối không thành đất đối không hoặc tên lửa chống bức xạ. Ví dụ, Trung Quốc có các tên lửa chống bức xạ không đối đất AVIC LD-10 có tầm bắn 60 km. Dựa trên cơ sở tên lửa không đối không tầm trung hiện đại SD-1 OA, tên lửa LD-10 có thể được trang bị trên các máy bay JF-17. Chưa biết tại sao tên lửa này chỉ được trang bị trên các máy bay JF-17, bởi vì máy bay này là một trong những máy bay chiến đấu có thể được xuất khẩu hàng đầu của Trung Quốc. Tên lửa đất đối không SD-10A không hề giống chút nào loại tên lửa LD-10. Thực tế, nó trông giống nhiều hơn các tên lửa Standard do công ty chế tạo vũ khí Raytheon của Mỹ sản xuất.
Đáng chú ý, điểm nổi bật của triển lãm Chu Hải là sự phát triển từ 2 lên 4 công ty Trung Quốc có thể sản xuất các loại vũ khí tấn công chính xác để trang bị trên các máy bay Trung Quốc. Các ngành công nghiệp miền Bắc (NORINCO) và các tập đoàn chế tạo vũ khí của miền Nam đã tham gia các ngành công nghiệp hàng không vũ trụ của Trung Quốc và tập đoàn Lạc Dương của AVIC để chế tạo các thế hệ bom chính xác, Các ngành công nghiệp phía Bắc và phía Nam đề nghị sản xuất loại vũ khí giống như vũ khí AGM-154 của tập đoàn Raytheon của Mỹ. NORINCO cũng cho biết họ đã sản xuất loại bom Tiange-1000 có trọng lượng 1.050 kg, được điều khiển bằng lade và có khả năng thâm nhập nhập sâu mục tiêu và hình dáng tương tự loại bom thâm nhập sâu GBU-28 có trọng lượng 2.132 kg của Mỹ. Loại bom này cũng là sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệp quốc phòng Trung Quốc, từ đó sẽ thách thức Mỹ và các đồng minh châu Á của Mỹ để nghiên cứu các biện pháp mới nhằm củng cố các căn cứ vững chắc.
***
TTXVN (Prêtôria 2/2)
Trang mạng AllAfrica có bài phân tích cho rằng mặc dù còn chập chững trong công nghệ chế tạo và vận hành tàu sân bay, những tiến bộ nhanh chóng của Trung Quốc trong lĩnh vực này có thể khiến Mỹ gặp khó khăn trong kế hoạch triển khai lực lượng tại Thái Bình Dương.
Cách đây mới vài tháng, thế giới hay tin Trung Quốc đưa tàu sân bay đầu tiên của họ – mang tên Liêu Ninh – vào thử nghiệm. Khi Liêu Ninh được hạ thủy, các chuyên gia hải quân quốc tế cho rằng nó sẽ phải nằm không ngoài biển một thời gian trước khi Hải quân Trung Quốc đủ sức tiến hành các cuộc cất cánh, chứ chưa nói gì đến việc hạ cánh, trên con tàu mới mẻ này.
Nhưng thật ngạc nhiên, mới đây, Tân Hoa xã – hãng tin chính thức của Trung Quốc – đã tuyên bố rằng một máy bay chiến đấu J-15 đã hạ cánh thành công xuống chiếc tàu sân bay đầu tiên của nước này sau khi cất cánh lần đầu tiên cũng từ chính con tàu này. Sau chuyến bay thử thành công, Đài truyền hình trung ương Trung Quốc đã hãnh diện phát đi những hình ảnh cả về hoạt động cất cánh lẫn hạ cánh nói trên. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên, các phương tiện thông tin đại chúng do nhà nước quản lý hôm đó cũng đã phải thông báo về cái chết của tổng công trình sư của J-15, ông La Dương, ngay sau khi quan sát cuộc hạ cánh lần đầu tiên trong lịch sử của chiếc máy bay do ông chế tạo xuống chiếc tàu sân bay này.
Theo tờ “The New York Times” và các nguồn tin khác, chiếc J-15 do Trung Quốc thiết kế và chế tạo là loại máy bay chiến đấu đa mục đích thế hệ đầu tiên phục vụ tàu sân bay và là loại có thể mang các loại tên lửa chống hạm, không đối không và không đối đất cũng như có thể thực hiện các cuộc ném bom chính xác nhờ hệ thống dẫn đường. Theo Tân Hoa xã, máy bay J-15 có thể sánh ngang với máy bay Su-33 của Nga hay F-18 của Mỹ. Cho đến khi bay thử thành công, các phi công lái máy bay chiến đấu của Trung Quốc đã bị quản thúc để thực hiện các cuộc hạ cánh mô phỏng trên tàu sân bay, được tiến hành trên các đường băng thiết kế trên mặt đất.
Theo các phi công trên tàu sân bay, việc cất cánh cũng như hạ cánh trên biển không hề giống như trên mặt đất. Trước tiên là việc mặt đất. không bồng bềnh như mặt biển và sau đó là việc phi công phải sử dụng rất nhiều chỉ dấu bằng mắt thường khi rađa không thể chỉ dẫn cho họ cách trở về căn cứ.
Hạ cánh xuống một tàu sân bay khó hơn nhiều so với việc cất cánh. Để có thể cất cánh, chiếc phi cơ bị khóa vào một thiết bị phóng hơi nước, nơi áp lực không khí được xác định một cách chính xác trong thiết bị này. Sau đó, viên phi công sẽ tăng ga để chuẩn bị cho việc cất cánh. Sau công đoạn này, chỉ cần để cho các quy luật vật lý thực hiện nốt các nhiệm vụ còn lại. Tuy nhiên, việc hạ cánh trở lại con tàu lại là một công việc phức tạp. Người ta sẽ phải bố trí sao cho máy bay có thể đáp xuống theo một góc độ không quá cao nhưng cũng không quá thấp, với tốc độ không quá nhanh nhưng cũng không quá chậm trong khi hướng một cách chính xác tới tọa độ định sẵn – và các thao tác này hầu như phải được thực hiện một cách đồng thời. Ngoài ra, việc hạ cánh trong chiến trận còn khó hơn cả hạ cánh về ban đêm.
Tuy nhiên, từ nay trở đi Trung Quốc sẽ bắt đầu bằng việc luyện tập nghiêm túc với “những đồ chơi mới” của họ – càng nhiều lần càng tốt – để mọi thứ phải hoạt động và vận hành ăn khớp với nhau. Theo Tân Hoa xã, chiếc tàu sân bay mới của họ vẫn đang ra khơi với nhiều cuộc thử nghiệm công nghệ từ cuối tháng 9 và đã thực hiện được hơn 100 cuộc huấn luyện và thao diễn.
Hồ sơ của Liêu Ninh cho thấy boong tàu được thiết kế theo kiến trúc bao-lơn đặc biệt nhằm cải thiện khả năng cất cánh. Nó được thiết kế lại từ con tàu mang tên Varyag, chưa hoàn thành và bị xếp xó dưới thời Liên Xô. Khi Trung Quốc mua con tàu này từ Ucraina, một trong những ý tưởng được đưa ra là biến nó thành một sòng bạc hay một khách sạn nổi chứ ít ai nghĩ sẽ biến nó thành một tàu sân bay.
Các chuyên gia quân sự cho rằng mặc dù Trung Quốc đã đạt được thành tựu to lớn, họ vẫn phải xây dựng được một đội ngũ phi công và kỹ thật viên có khả năng bảo đảm cho các máy bay chiến đấu trên tàu có thể hoạt động trong các điều kiện dại dương khác nhau. Họ cũng cần phải phát triển khả năng vận hành con tàu của mình dọc theo các con tàu khác trong một đội hình các chiến hạm. Liêu Ninh ở tình trạng hiện nay vẫn chưa thể tham chiến một cách thực sự. Ngoài ra, một tàu sân bay, xét cho cùng, chỉ là đồ trưng bày nếu nó chỉ có một máy bay để phục vụ. Trung Quốc cần phải có ba tàu sân bay mới có thể duv trì sự hiện diện thường xuyên trên biển. Theo một số báo cáo mới đây, Trung Quốc đang chế tạo thêm một số tàu sân bay nữa tại các nhà máy đóng tàu trong khu vực Thượng Hải.
Các nhà phân tích quân sự phương Tây cho rằng Hải quân Trung Quốc đang được hiện đại hoá với tốc độ nhanh hơn trong các binh chủng khác của quân đội nước này. Khi được trang bị đầy đủ, Liêu Ninh sẽ có thể chứa tới 50 máy bay phản lực và một số máy bay trực thăng khác. Ngoài ra, có vẻ gần như chắc chắn là Trung Quốc đã xác định rằng lực lượng hải quân của họ sẽ đóng vai trò then chốt trong kể hoạch triển khai lực lượng quân sự trong những thập kỷ tới, và địa bàn tác chiến chính của lực lượng này sẽ là Thái Bình Dương. Trong trường hợp đó, kẻ thù tiềm tàng số một của lực lượng này sẽ là Hải quân Mỹ. Mỹ hiện có 11 tàu sân bay khổng lồ đang trấn giữ tại các vùng có tầm quan trọng chiến lược. Anh, Ấn Độ, Braxin, Thái Lan, Tây Ban Nha, Nga và Pháp mỗi nước đều có một tàu sân bay, trong khi Italia có tới hai tàu. Tuy nhiên, Liêu Ninh là một con tàu lớn. Nó chỉ ngắn hơn khoảng 30 mét so với con tàu lớp Nimitz của Mỹ và lớn hơn nhiều so với tất cả những con tàu đang hoạt động không phải của Mỹ.
Cuộc cất cánh và hạ cánh thành công từ một tàu sân bay của Trung Quốc diễn ra giữa lúc Mỹ tiếp tục chính sách “chuyển hướng” sang Đông Á, xa rời cuộc can dự từ một thập kỷ nay tại Ápganixtan, đặc biệt là sau khi nước này thoát khỏi chiến dịch quân sự không mang lại kết quả nào tại Irắc. Khác với khu vực trên, Đông Á là khu vực có các nền kinh tế lớn thứ hai và thứ ba thế giới, nơi tồn tại một loạt bất đồng về lãnh thồ chưa được giải quyết trong đó có các cuộc tranh cãi về một loạt các quần đảo ở Biển Đông, các đảo nhỏ giữa Hàn Quốc và Nhật Bản, giữa Nhật Bản và Trung Quốc. Và cái chính là các nguồn tài nguyên chưa được khai thác như hải sản, dầu mỏ và khí đốt…
Trong mấy năm qua, hầu hết các nước láng giềng và một số nước gần Trung Quốc đã lên tiếng về tình trạng căng thẳng ngày một gia tăng trước những tham vọng của nước này. Tranh chấp xung quanh một số quần đảo như Senkaku/Điếu ngư đôi khi dẫn đến các hành động gay gắt, trong đó có cuộc biểu tình dẫn đến bạo lực ở Bắc Kinh chống lại việc làm ăn với Nhật Bản. Bất cứ sự căng thẳng nào như vậy đều có thể trở thành một vấn đề nan giải nếu xét đến sự kiên kết chặt chẽ giữa các cường quốc kinh tế như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và Trung Quốc.
Nghiên cứu lịch sử Trung Quốc, không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy rằng nguy cơ về một cuộc xung đột tại eo biển Đài Loan luôn nằm trong trọng tâm của chiến lược hiện đại hoá Hải quân Trung Quốc. Khả năng xảy ra xung đột dường như vẫn nằm ở vị trí trung tâm trong học thuyết chiến lược quân sự và kế hoạch của Trung Quốc. Nhưng ít nhất về mặt công khai, cả Trung Quốc lẫn Mỹ sẽ tiếp tục từ bỏ bất cứ mối quan tâm công khai nào trong cuộc ganh đua quân sự tại Thái Bình Dương. Là con nợ khổng lồ của Trung Quốc, Mỹ có thể sẽ gặp khó khăn trong kế hoạch triển khai lực lượng trong khu vực này.
Bốn năm tới có thể là khoảng thời gian quyết định để tạo ra một kiểu quan hệ mới giữa Mỹ và Trung Quốc. Rất may là hai nước này sẽ không phải đối chọi với các ý tưởng của một tổng thống như Mit Romney, người đang tỏ ra nôn nóng trong việc xử lý vấn đề tỷ giá hối đoái với Trung Quốc, điều có thể dẫn tới một cuộc xung đột lớn mang tính chất ăn miếng trả miếng về mặt thương mại giữa nền kinh tế số một và số hai của thế giới.
Ông Obama từng sống nhiều năm tại Inđônêxia và Haoai, và thích gọi mình là Tổng thống Thái Bình Dương đầu tiên của Mỹ. Trong khi đó, ông Tập Cận Bình đang trong quá trình thâu tóm quyền lực cả trong đảng lẫn trong chính quyền, một quá trình dự kiến sẽ kết thúc vào tháng 3/2013. Ông Tập cũng từng có kinh nghiệm đối với các vấn đề trong khu vực Thái Bình Dương, đặc biệt là về nền nông nghiệp Mỹ, khi ông còn làm một quan chức cấp tỉnh. Có thể, hai ông sẽ cùng chia sẻ nhiệm kỳ bốn năm tới để xây dựng một quan hệ chính trị vững chắc hơn, Và chắc hẳn là họ nên làm như thế.
***
TTXVN (Ángiê 2/2)
- Ngày 27/11/2012, Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc chính thức thông báo máy bay tiêm kích J-15 của lực lượng không quân hải quân đã hạ cánh thử nghiệm thành công xuống tàu sân bay Liêu Ninh, tức chưa đây hai tháng sau khi chiếc tàu này được bàn giao cho lực lượng hải quân. Đồng thời, kênh truyền hình Nhà nước CCTV phát đi một phóng sự dài cho thấy một chiếc J-15 hạ cánh rồi cất cánh và những hình ảnh đó được truyền đi khắp thế giới qua mạng Youtube. Tuy nhiên, theo chuyên gia phân tích Francis Daho của tạp chí “Đại Tây Dương”, đối với quân đội Trung Quốc, đây mới chỉ là bước đi đầu tiên trên một chặng đường dài.
Để phản bác lại những lời cáo buộc cho đây là hình ghép mỗi khi nước này công bố sáng chế hay tiến bộ công nghệ và máy bay tiêm kích J- 15 của Trung Quốc giống hệt loại Su-33 của Nga, CCTV nói rằng chiếc máy bay tiêm kích trên tàu Liêu Ninh là do “các kỹ sư Trung Quốc tự thiết kế và chế tạo” và sở hữu trí tuệ.
Và rõ ràng là để ám chỉ quyết tâm trong tương lai sẽ làm sao để tàu sân bay Liêu Ninh có khả năng triển khai sức mạnh và vai trò răn đe đối với tàu sân bay Mỹ có mặt ở vùng giáp ranh với Trung Quốc, CCTV nói rõ J-15 có thể thực hiện các phi vụ ngày cũng như đêm, và nói thêm rằng loại máy bay này có thể mang vũ khí hạt nhân.
Điều không thể phủ nhận là quãng thời gian rất ngắn giữa lễ tiếp nhận tàu Liêu Ninh và và vụ hạ cánh đầu tiên khiến phần lớn các nhà quan sát phải ngạc nhiên vì họ vốn nghi ngờ hiện trạng phát triến loại máy bay J-15, thậm chí cả về năng lực của phi công. Như vậy, cần phải tổng kết các tiến bộ của lực lượng không quân hải quân Trung Quốc và lường trước sẽ có thêm bước tiến nào khác, về kỹ thuật cũng như trong lĩnh vực thiết kế sử dụng tàu sân bay. Bối cảnh lúc này không phải là đơn giản. Việc kênh truyền hình Nhà nước quảng bá rộng rãi sự kiện này sẽ thúc đẩy
nhanh việc phát triển lực không  quân cho tàu sân bay. Tuy nhiên, các sự cố hay tai nạn – vốn không thể tránh khỏi trong quá trinh làm chủ tri thức và kỹ thuật phức tạp như vậy và cũng thường là khá giống nhào lộn – có nguy cơ làm suy yếu khả năng răn đe của loại công cụ mà Hải quân Trung Quốc muốn tạo ra.
Để xác định tính chất của những tiến bộ nhanh chóng mà lực lượng không quân hải quân Trung Quốc đạt được, ông Andrew Erickson, chuyên gia thuộc trường hải quân Mỹ, dân lời một sỹ quan Hải quân Mỹ nói trong một bài viết đăng trên tờ “Wall Street Journal”: “Đó là cây số đầu tiên trong cuộc chạy việt dã của một vận động viên mới tham gia thi chạy đường dài. Người ta có thể hoặc thấy có tiến bộ bắt đầu từ con số không, hoặc xem cần phải chạy nốt số 41 cây số còn lại như thế nào.” Con đường dẫn tới một đội tàu sân bay có khả năng tác chiến sẽ phải trải qua hai loại khó khăn: thiết lập một môi trường chung, không những về hậu cần (tổ chức hạm đội, duy trì năng lượng, tiếp chế) mà cả về chiến thuật (nghiên cứu học thuyết và khái niệm sử dụng), cộng với công tác đào tạo và huấn luyện đội thủy thủ và đội ngũ phi công.
Trong lĩnh vực cuối cùng nêu trên, nếu muốn đi nhanh có thể sẽ vấp phải đòi hỏi về an ninh và sự thận trọng do ban lãnh đạo chính trị áp đặt nhằm tránh để sảy ra tai nạn có thể gây ra hậu quả tiêu cực đối với hình ảnh -  lúc này vốn không phải không có tỳ vết – về lực lượng không quân hải quân mới mẻ của Trung Quốc. Nhưng tất cả các phi công trên tàu sân bay, dù họ là ai, đều biết rằng muốn đạt được tiến bộ về kỹ thuật hạ cánh
vốn rất nguy hiểm, nhất là vào ban đêm hay trong thời tiết xấu, phải sẽ phải trả giá cao về rủi ro và tai nạn, cộng với thiệt hại về người trong huấn luyện cao hơn rất nhiều so với thiệt hại trong các binh chủng đặc biệt khác.
Các nhà lãnh đạo Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc cũng phải nhanh chóng giải quyết mâu thuẫn giữa một bên là các mối nguy hiểm không thể tránh khỏi đi liền với nỗ lực đuổi kịp người đi trước và bên kia là sự thận trọng về chính trị để giữ gìn hình ảnh, nhưng lại không có lợi ở chỗ làm gia tăng khoảng cách giữa kỹ năng của phi công Trung Quốc và kỹ năng mà không quân hải quân Mỹ có được nhờ kinh nghiệm rút ra được sau nhiều thập kỷ cùng với nhiều thiệt hại về người trong huấn luyện và các chiến dịch tác chiến thật. Đối với các chỉ huy quân sự và các nhà lãnh đạo chính trị Trung Quốc, duy trì hướng đi trung dung có hiệu quả sẽ càng khó thực hiện hơn khi tàu sân bay phát triển trong thời bình. Đó là lúc dư luận ít có thiên hướng chấp nhận những thiệt hại liên tiếp về người hơn. Trong khi đó, các phương tiện tuyên truyền của đối phương sẽ chộp lấy cơ hội, mỗi khi xảy ra tai nạn, để đặt lại vấn đề đối với năng lực tác chiến của tàu sân bay của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, con át chủ bài của Hải quân và công cụ mang tính biểu tượng để Bắc Kinh nâng cao uy tín của mình trong khu vực và rộng hơn thế.
Vậy Trung Quốc cần có bao nhiêu tàu sân bay và để làm gì ? Trong môi trường căng thẳng với các cuộc tranh cãi về chủ quyền ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) hay với Nhật Bản, cộng với sự có mặt gây khó chịu của các tàu sân bay thiện chiến của Hải quân Mỹ, với những phi công đều đã thực hiện ít nhất 500 lần hạ cánh trong bốn năm đào tạo, lúc này có thế tàu sân bay Liêu Ninh, tuy trở thành nơi tiến hành thử nghiệm, cũng sẽ được sử dụng để khẳng định uy tín và sức mạnh của Trung Quốc. Loại sứ mệnh đó chỉ có thể thực hiện được khi toàn bộ số phi công của một phi đoàn máy bay trên tàu sân bay được đào tạo xong, nghĩa là có thể đủ tự tin để cất cánh từ tàu sân bay và hạ cánh xuống đây.
Bên cạnh các sứ mệnh nhằm biểu dương sức mạnh, với khả năng răn đe cũng có ý nghĩa đối với Đài Loan, Quân giải phóng nhân,dân Trung Quốc có thể còn nghĩ ra nhiều sứ mệnh mạo hiểm hơn. Đó có thể là gây sức ép đối với các nước ven biển Nam Trung Hoa, chủ yếu là Việt Nam và .. Philippin, và để cho các nước khác thấy rằng máy bay tiêm kích trên tàu sân bay từ trên không có thể đảm nhiệm việc yểm trợ các đơn vị đánh bộ được tung vào để đánh chiếm một hòn đảo nhỏ bị tranh chấp.
Nhưng những hành động phô trương hung hãn, ngược lại, cũng có thể chứa đựng nguy cơ mà ngay cả các lực lượng hải quân nhỏ như của Philippin và Hà Nội có thể gây ra cho tàu sân bay. Muốn khắc phục tính dễ bị tổn thương nội tại của một tàu sân bay phải có một biên đội nhỏ tàu ngầm và tàu nổi có khả năng đánh bại một cuộc tấn công từ trên không hay tên lửa hành trình. Một khó khăn khác là phải biết định lượng các hành động uy hiếp để tránh xảy ra việc làm quá đà. Ngày 11/4/2001, trong một sứ mệnh của không quân nhằm làm nhụt chí các chuyển bay tuần tiễu của máy bay do thám Mỹ gần không phận Trung Quốc, một máy bay tiêm kích J-8II của nước này đã đâm vào một máy bay trinh sát loại EP-3 của Mỹ, buộc chiếc máy bay này phải hạ cánh khẩn cấp xuống đảo Hải Nam.
Vấn đề quy mô của đội tàu sân bay tương lai của Trung Quốc mới đây đã được đề cập đến bởi Hồ Vấn Minh, Chủ tịch Tập đoàn đóng tàu quốc gia Trung Quốc (CSSC) với kế hoạch đóng 3 hay 4 chiếc tàu sân bay. Ông nhấn mạnh đến sự cần thiết đối với Trung Quốc phải vượt qua được kỹ thuật “sao chép” từ các tàu mua của Nga. Theo một thông tin không được khẳng định từ Đài Loan, hai chiếc tàu sân bay khác dường như đã được khởi công.
Hiện nay, các nhà quan sát thận trọng nhất vẫn tỉnh táo và không đưa ra những đánh giá quá mức gây hoang mang, Narushige Michishita, một chuyên gia Nhật Bản thuộc Viện nghiên cứu chính trị quốc gia Tokyo, mới đây giải thích việc đưa vào sử dụng tàu sân bay Trung Quốc là một chiến dịch nhằm khuấy động lòng yêu nước trong lúc diễn ra Đại hội 18 Đảng cộng sản Trung Quốc, hơn là một mối đe dọa liên quan đến cuộc tranh cãi xung quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư. Theo ông, những tiến bộ của không quân hải quân Trung Quốc chưa phá vỡ được cân bằng chiến lược trong khu vực.
***
Cuối mùa Hè và đầu mùa Thu vừa qua là thời kỳ có rất nhiều thông tin về các loại vũ khí tấn công và phòng thủ của Trung Quốc trong các lĩnh vực không quân và hải quân, trong bối cảnh tất cả các nhà quan sát đều quan tâm đến tình hình căng thẳng ở các biển Nam Trung Hoa (Biển Đông- TTXVN) và Hoa Đông, nơi tàu chiến và máy bay mới của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc sẽ được sử dụng trong trường hợp xảy ra xung đột. Theo đánh giá của chuyên gia Francis Daho trên tạp chí “Đại Tây Dương”, nỗ lực hiện đại hóa Hải quân Trung Quốc, được khởi động từ những năm 1980 bởi Đô đốc Lưu Hoa Thanh, nguyên Tư lệnh Hải quân Trung Quốc, ủy viên Bộ Chính trị cho đến năm 1997, đang mang lại kết quả, ít nhất là về chất lượng và số lượng vũ khí.
Nhưng trong lĩnh vực máy bay chiến đấu, cũng như lĩnh yực máy bay dân dụng, tiến bộ của Trung Quốc vẫn luôn vấp phải vấn đề không giải quyết được là chế tạo động cơ. Giới chuyên gia Trung Quốc thuộc lĩnh vực này và cả giới lãnh đạo chính trị đều cay đắng nhận thấy điều đó. Nhưng cũng từ đó mà có thể mọi việc sẽ được sắp xếp lại và dẫn đến một nỗ lực chưa từng thấy liên quan đến động cơ dùng cho dân sự và quân sự, vì công tác nghiên cứu quân sự là gốc rễ của quá trình hiện đại hóa.
Các nhà nghiên cứu thuộc tổ hợp quân sự-công nghiệp thế giới biết rằng thị trường Trung Quôc là rất hấp dẫn, được đánh giá vào khoảng 15.000 động cơ, hơn nữa lại sắp được cấp những khoản tiền lớn trong bối cảnh chính quyền nước này đã bắt đầu tiến hành cải tổ cơ cấu một lĩnh Vực rất manh mún và không đồng nhất như chế tạo động cơ máy bay dân dụng và quân sự. Điều đó chắc chắn sẽ thúc đẩy các nhà chế tạo nước ngoài hợp tác với Trung Quốc, với hy vọng giành được thị phần mới. Đây là một xu thế mà không một nhà chế tạo tầm cỡ nào trong lĩnh Vực này – dù đó là General Electric, Safran, Rolls Royce hay Pratt & Whitney – có thể cưỡng lại được, từ đó có thể tạo ra cơ hội chuyển giao công nghệ tiên tiến, dù có được các nhà chế tạo máy bay nước ngoài đồng ý hay không.
Dĩ nhiên là các nhà quan sát tập trung chú ý vào việc hạ thủy tàu Liêu Ninh vào ngày 25/9/2012 tại thành phố Đại Liên, chiếc tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc, và có thể sẽ có thêm hai hay ba chiếc nữa trong một tương lai gần, mặc dù tính hiệu quả tác chiến còn phụ thuộc vào những thời kỳ dài thử nghiệm và điều chỉnh. Ngày 23/11/2012, một chiếc J-15, phiên bản sao chép loại SU-23 của Nga, đã hạ cánh thành công trên tàu Liêu Ninh. Nhưng sẽ còn phải có nhiều cuộc hạ cánh như vậy và nhiều năm luyện tập nữa thì chiếc tàu sân bay, cho đến lúc này được Hải quân Trung Quốc dùng để huấn luyện và thử nghiệm, mới có thể được đưa vào tác chiến.
Nhưng có một điều mới có thể có ý nghĩa hơn trong thời gian trước mắt mà không được báo chí nói đến nhiều. Ngày 28/8/2012, tại nhà máy Trường Hung, gần Thượng Hải, diễn ra lễ hạ thủy vỏ chiếc tàu khu trục phóng tên lửa 6.000 tấn thử hai lớp Lữ Dương III. Tàu này được dự kiến đưa vào sử dụng vào năm 2014 và sẽ tăng đáng kể năng lực tác chiến của Hải quân Trung Quốc. Theo nguồn tin từ Đài Loan, 10 chiếc tàu loại này sẽ được đóng, từ đó cho thấy chương trình này được thúc đẩy nhanh và năng lực của ngành đóng tàu Trung Quốc đã được cải thiện nhiều. Chiếc tàu mới này có một số cải tiến quan trọng so với những chiếc thuộc lớp Lữ Dương II. Cụ thể là hệ thống phòng không – ngoài rađa bắt và theo dõi mục tiêu đã được đưa vào sử dụng trên các tàu lớp Lữ Dương II – còn có thêm 32 ống phóng đứng tên lửa phòng không HQ-9B đã được thử nghiệm năm 2006. Thêm vào đó là các phiên bản cho Hải quân loại tên lửa hành trình DH 10 có điều khiển nhờ hệ thống định vị không gian Compass của Trung Quốc hiện đã phủ sóng ở vùng châu Á.
Nếu như số lượng các tàu khu trục mới này là 10 như các nguồn tin từ Đài Loan khẳng định thì từ năm 2020 Hải quân Trung Quốc có thể có trong tay một số tàu chiến có giá trị tác chiến cao giúp hải quân nước này trở thành lực lượng hải quân đứng thứ hai trong vùng, sau của Mỹ. Ngoài ra còn phải nói đến 60 tàu cao tốc phóng tên lửa lớp Hầu Bắc được trang bị mỗi tàu 8 tên lửa hành trình chống tàu, khoảng 15 chiếc khinh hạm phòng không hiện đại lớp Giang Khải II, được đưa vào sử dụng năm 2007 và được trang bị tên lửa hải đối không HQ-16 cũng được phóng theo chiều thẳng đứng (5 chiếc khinh hạm loại này đang được đóng), 13 chiếc tàu ngầm cổ điển lớp Tống và 8 chiếc khác thuộc lớp Nguyên, hiện đại hơn và êm hơn, được trang bị hệ thống đẩy độc lập kiểu AIP. Đến năm 2015, Hải quân Trung Quốc sẽ được tăng cường thêm 5 chiếc tàu ngầm hạt nhân tấn công loại 095 (tên Trung Quốc là 09-V) dùng để bảo vệ các tàu sân bay tương lai, từ nay đến năm 2020. Như vậy, Trung Quốc sẽ sở hữu một hạm đội đáng kể mà chỉ có Nhật Bản và Mỹ có khả năng đối đầu và với năng lực răn đe tăng đáng kể.
Vào trung tuần tháng 11/2012, tại Triển lãm Chu Hài, được tổ chức hai nãm một lần, ngành hàng không Trung Quốc tỏ ra mập mờ về tiến bộ công nghệ của mình. Quả thực là cũng khó có thể đoán định được hạn chế của họ vì. như thường lệ, phiên bản mẫu và thật được bày lẫn lộn với nhau. Tại gian trưng bày của Tổng công ty công nghiệp hàng không Trung Quốc (AVIC) có một mô hình máy bay do thám biển được thiết ké theo loại MA 60 dân sự. Theo tài liệu hướng dẫn, loại máy bay này được trang bị thiết bị cảm ứng quang điện tử và rađa cảnh giới, nhưng lại có cửa ngang để thả hàng nằm đối diện với cánh quạt, do đó không thể sử dụng được trong các phi vụ cứu nạn trên biển. Lần đầu tiên người ta được chứng kiến hai máy bay trực thăng chiến đấu bay biểu diễn tại Chu Hải. Đây là hai loại nằm trong kế hoạch phát triển của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc: một là Z-19 được chế tạo tại Cáp Nhĩ Tân, nhẹ hơn và thuộc lớp Cobra, và một là WZ-10, nặng hơn và được chế tạo bởi công ty chế tạo máy bay Xương Hà đặt ở Cảnh Đức Trấn – Giang Tây (liên doanh với Augusta, với sự hỗ trợ của Sikorsky).
Giữa các loại máy bay không người lái thuộc đủ kích cỡ khác nhau – điều cho thấy sự cạnh tranh nội bộ giữa các nhà máy thuộc ngành công nghiệp vũ khí và mối quan tâm của Trung Quốc đối với loại máy bay không người lái – là bản mẫu loại WJ-600 được đặt tên là Dực Long, được chế tạo tại Thành Đô bởi Tổng công ty công nghiệp hàng không vũ trụ Trung Quốc (CASIC) và đã bay thử nghiệm lần đầu vào năm 2008. Máy bay không người lái WJ-600 trông khá giống loại MQ-9 “Reaper” của Mỹ, có khả năng mang hai tên lửa giống loại AGM-114, Hellfire, và có thể bay liên tục trong 3-5 giờ với tốc độ 900 km/giờ. Cũng tại triển lãm này vào năm 2010, loại WJ-600 tùng được trưng bày như một phần của tổng thể hệ thống hoàn chỉnh chống tàu (cảnh giới, phát hiện, bắt mục tiêu và tấn công), Tại đây, khách tham quan có thể thấy hình minh họa máy bay WJ- 600 tấn công một tàu khu trục phóng tên lửa của Mỹ, trong khi một tên lửa tầm trung được phóng đi từ đất liền hiển thị một cuộc tấn công vào một tàu sân bay của quân đội Mỹ. Nhưng tại triển lãm lần này, vũ khí của Mỹ không còn được dùng làm mục tiêu nữa.
Ngoài máy bay không người lái, điểm sáng quân sự tại Triển lãm Chu Hải 2012 là Công ty máy bay Thẩm Dương (SAC) với mầu máy bay tàng hình J-31 và chuyến bay đầu tiên của loại này kéo dài trong 10 phút ngày 31/10/2012. Có nhiều lời đồn đại về lý do khiến Trung Quốc chế tạo hai loại máy bay tàng hình, trong đó loại thứ nhất, được đặt tên là J-20, đã được tiết lộ vào tháng 1/2011. Có người cho rằng loại J-31 có thể được xuất khẩu để cạnh tranh với loại F-35 của Mỹ, nhưng điều này có vẻ ít có khả năng xảy ra. Người khác cho đó là loại máy bay tương lai được “hải quân hóa” vì có khả năng hạ cánh trên tàu sân bay. Trong bổi cảnh có ít thông tin, các chuyên gia đặt đang tự hỏi Trung Quốc có được những tiến bộ thực sự nào trong lĩnh vực vật liệu tàng hình và chế tạo động cơ.
Tuy đã tiến hành nghiên cứu và phát triển trong nhiều năm, song ngành hàng không Trung Quốc chưa bao giờ thành công trong việc thiết kế được một động cơ phản lực với tính năng tương đương với động cơ của phương Tây. Nguyên nhân trước hết là lĩnh vực này rất nặng nề và bị chia nhỏ thành nhiều cơ sở cạnh tranh nhau, sáng chế bị khập khiễng do nhãn quan quan liêu được chỉ đạo từ cấp trên và bị vướng nhiễu liên tục về chính trị. Đấy là chưa nói đến việc các ngành công nghiệp hàng không phương Tây ngày càng có nhiều kinh nghiệm, từ đó ngày càng dè dặt trong chuyển giao công nghệ, trong khi kỹ thuật “sao chép” từ động cơ mua được vấp phải vấn đề thiếu kinh nghiệm của Trung Quốc trong quy trình chế tạo và điều hợp.
Trong khi đó từ năm 2000, Trung Quốc tăng thêm 500 máy bay chiến đấu và giảm đáng kể số máy bay đã quá cũ. Động cơ AL-31FN Turbofan của Nga lắp trên máy bay SU-27, J-10 và máy bay mới của Trung Quốc khiến nước này bị thua thiệt trong việc làm chủ bầu trời ở eo biển Đài Loan nếu xảy ra xung đột. về phiên bản động cơ tương đương của Trung Quốc, loại WS-10A Thái Hàng được lắp trên máy bay J-11 B, theo đánh giá của chính giới kỹ sư Trung Quốc, không bằng các loại động cơ cũ nhất của Nga. Một trong những khiếm khuyết liên quan đến chất lượng cánh nhỏ của động cơ phản lực.
Tất cả các chuyên gia đều nói như vậy. Nếu không làm chủ được vấn đề chế tạo động cơ, ngành hàng không Trung Quốc, dù là dân sự hay quân sự, vẫn sẽ bị tụt hậu. Chính phủ Trung Quốc ý thức được điểm yếu đó và biết được giá trị chiến lược của lĩnh vực này, không những về quân sự mà cả trong lĩnh vực vận tải thương mại, vừa quyết định tăng cường năng lực cho ngành này, một hành động quen thuộc của Bắc Kinh khi muốn tránh tụt hậu.
Chiến lược này có hai vế: tăng đáng kế tài trợ cho nghiên cứu – có thể là 16 tỷ USD về trung hạn và 49 tỷ USD trong 20 năm tới – và tổ chức lại lĩnh vực này. Công ty chế tạo động cơ Tây An, một trong những công ty hàng đầu về động cơ quân sự ở Trung Quốc và hiện đang hợp tác với Safran, General Electric và Rolls Royce, có thể sẽ được giao nhiệm vụ điều phối công tác nghiên cứu. Do Công ty chế tạo động cơ Tây An có liên hệ với bên ngoài thông qua hợp tác với tất cả các nhà chế tạo động cơ trên thế giới, nên không khó để thấy rằng ngoài ý định tài chính và tổ chức lại, còn có một ẩn ý chuyển giao công nghệ hàng không tiên tiến cho Trung Quốc, bằng mọi cách.
Đối với Không quân Trung Quốc được giao nhiệm vụ thiết lập sức mạnh răn đe đáng tin cậy trên bầu trời eo biển Đài Loan, hành động trên có giá trị chiến lược hàng đầu. Nhưng một số chuyên gia phương Tây khẳng định mặc dù đưa ra những biện pháp trên, song Trung Quốc còn phải mất từ 10 đến 15 năm mới chế tạo được động cơ tương đương với của các nước phương Tây, như máy bay F-22 của Mỹ. Việc Trung Quốc mới đây đặt mua 123 động cơ của Nga khẳng định rằng bản thân các kỹ sư Trung Quốc không tin tưởng vào động cơ chế tạo trong nước vốn chỉ được lắp trên 20% số máy bay hiện đại của không quân. Máy bay dân sự được quảng bá rộng rãi tại Triển lãm Chu Hải đều được lắp động cơ của nước ngoài.
Khi triển lãm khai mạc, Trung Quốc nói đã ký được 50 hợp đồng bán loại máy bay C919 (168-190 chỗ) của hãng chế tạo máy bay COMAC, có thể cạnh tranh được với loại B 737 và Airbus A 320, và được lắp động cơ của CFM International, liên doanh giữa General Electric Aviation (Mỹ) và SNECMA (Pháp). Với lời hứa của các công ty Trung Quốc như Công ty hàng không Hà Bắc và Joy Air (mỗi công ty 20 chiếc) và GECAS, công ty thuê mua của General Electric có tham gia dự án C919 và là công ty duy nhất không phải của Trung Quốc ký hợp đồng mua chắc chắn, hứa mua thêm 10 chiếc cộng với 10 chiếc đã đặt hàng từ năm 2010, tổng số máy bay được ký hợp đồng mua lên tới 380 chiếc. Theo COMAC, một số công ty “giá rẻ” khác như Ryannair và IVAG.L của British Airways cũng quan tâm đến loại máy bay này.
Nhưng xem xét nguồn gốc các hợp đồng cho thấy bán được loại máy bay này không phải là dễ. Trong tổng số 380 chiếc được đặt hàng chắc chắn, 180 chiếc quả thực được đặt mua bởi 5 ngân hàng nhà nước Trung Quốc và 20 chiếc bởi một công ty thuê mua có trụ sở tại Hồng Công. Các đơn đặt hàng khác đều là của GECAS và một số công ty hàng không Trung Quốc, mỗi công ty đặt mua 20 chiếc dưới áp lực của ban lãnh đạo chính trị. Việc chế tạo máy bay đã bắt đầu từ năm 2009 với chuyến bay đầu tiên được dự kiến vào năm 2014 và các đợt giao hàng đầu tiên sẽ được thực hiện vào năm 2016. Theo đánh giá của Airbus, loại C919 sẽ không thể cạnh tranh được trên thị trường quốc tế trước năm 2020.
Loại máy bay thứ hai của COMAC, ARJ-21-700, loại máy bay tầm trung 70-90 chỗ với hai động cơ đuôi sao chép theo loại MD-90 và từng bay biểu diễn tại triển lãm, bị chậm nhiều trong khâu thiết kế kể từ khi được đưa vào chế tạo năm 2002. Chuyến bay khai trương đã diễn ra vào năm 2008, nhưng đến năm 2010, các cuộc thử nghiệm khí động lực cho thấy có vấn đề ở cánh. Tháng 6/2012, một lãnh đạo CEMAC thông báo máy bay này sẽ không được chứng nhận trước năm 2013, tức chậm 5 năm so với kế hoạch ban đầu. Những khiếm khuyết chính gặp phải là vết rạn xuất hiện trên cánh và trong hệ thống điều khiển điện tử.
Theo COMAC, số máy bay thương mại của thế giới sẽ tăng gấp đôi trong 20 năm tới, với nhịp độ tăng hàng năm là 7,2%. Đến năm 2031, tổng số sẽ có khoảng 31.739 máy bay với tổng giá trị lên tới 3.900 tỷ USD. Chỉ riêng các công ty Trung Quốc đã sử dụng tới 4.000-5.000 chiếc./.

https://anhbasam.wordpress.com/2013/02/08/trung-quoc-tang-cuong-suc-manh-quan-su/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét