11/02/2013
Trung Quốc với chiến lược 'đại hải phòng' trên Biển Đông
> Thế giới dậy sóng cùng tranh chấp chủ quyền Biển Đông
> Trung Quốc ngang nhiên công bố dự án 'khủng' về Tam Sa - Hoàng Sa
> Trung Quốc ngang nhiên công bố dự án 'khủng' về Tam Sa - Hoàng Sa
TP - Kiên định chiến lược phòng vệ biển quy mô lớn, Trung Quốc tích cực nâng cao năng lực tác chiến trên biển đảo.
Cùng với giá trị chiến lược và tiềm năng kinh tế ở biển
Đông ngày càng rõ nét, về nguyên tắc, khả năng Trung Quốc nhượng bộ và
thỏa hiệp là rất nhỏ. Thủ đoạn giải quyết các vấn đề liên quan của nước
này có thể sẽ càng linh hoạt.
| Ngày 27-12-2012, lần đầu tiên Trung Quốc triển khai trên biển Đông một tàu tuần tra được trang bị bãi đáp trực thăng. Con tàu này tên là Haixun 21 (Hải tuần) trực thuộc Sở An toàn hàng hải Hải Nam. Ảnh: China Daily. |
Ông Futai Lin, Phó giáo sư khoa học chính trị Học viện
Masachusetts (Mỹ), cho rằng, quyết tâm bảo vệ các đảo ở biển Đông và
quyền lợi biển liên quan của Trung Quốc là rất kiên định. Trung Quốc coi
biển Đông là phạm vi tác chiến của hải quân, lấy lực lượng quân sự để
bảo vệ biển Đông.
Có thể dùng biện pháp quân sự
Theo ông Lin, một mặt, cùng với sự tăng trưởng về thực
lực, Trung Quốc có khả năng sử dụng quân sự để giải quyết vấn đề biển
Đông.
Mặt khác, một Trung Quốc hùng mạnh có thể sẽ tăng sự tự
tin, vì vậy sẽ hiệu quả hơn khi lợi dụng các biện pháp phi quân sự để
giải quyết tranh chấp biển Đông.
Dự báo trong tương lai gần, Trung Quốc có thể có nhiều
chiến lược táo tợn hơn, sau khi thử nghiệm thành công tàu sân bay Liêu
Ninh.
Ông Lưu Mộng Hùng, Ủy viên Hội nghị Hiệp thương Chính
trị Nhân dân Trung Quốc cho rằng trong vấn đề biển Đông, “các nước liên
quan tạo nên xung đột”, Trung Quốc có thể thực thi “chống xung đột”.
Khi đối phương thường trú tại vùng biển do Trung Quốc
quản hạt, phía Trung Quốc có thể sử dụng biện pháp tập kích cắt lương
thực, cắt nguồn nước, buộc đối phương không thể bảo đảm được cuộc sống
mà phải tự động rút lui.
Vì thông tin là sự bảo đảm tất yếu của việc thường
trú, phía Trung Quốc có thể sử dụng những biện pháp quấy nhiễu không
định kì…
Đối với ngư dân Trung Quốc đánh bắt ở biển Đông, có thể
yêu cầu chính phủ cử quân hạm, tàu hộ tống để bảo vệ tàu cá, ông Lưu
nói.
Mặt khác, phải tăng cường khai thác dầu khí, cùng bắt
tay hợp tác với Đài Loan trong lĩnh vực thăm dò, khai thác tài nguyên
dầu khí ở biển Đông.
Đồng thời, phân chia các ngư trường tại vùng biển tranh
chấp cho ngư dân; đối với các đảo không người ở bị chiếm bởi các nước
xung quanh, chính phủ Trung Quốc nên bỏ kinh phí để khích lệ ngư dân lên
đảo định cư, ông Lưu đề xuất.
Khi xảy ra xung đột tại vùng biển tranh chấp, Trung
Quốc trước tiên gửi công hàm ngoại giao cứng rắn đến nước láng giềng
liên quan, sau đó gửi thông điệp cuối cùng hạn cho trong vòng hai tháng
phải rút khỏi toàn bộ các đảo đã xâm chiếm.
Sau khi đến hạn, Trung Quốc sẽ đưa ba đội tàu tổ hợp
từ ba hạm đội tinh nhuệ Bắc Hải, Đông Hải và Nam Hải tới quần đảo mà
nước này tuyên bố chủ quyền, ông Lưu nói.
Biến hóa chiến lược biển Đông
Năm 2012 là một năm biển Đông không ngừng dậy sóng.
Tham vọng độc chiếm biển Đông của Trung Quốc được thể hiện ngày càng
thực chất và rõ ràng.
Trung Quốc liên tục có hành động gây hấn ở biển Đông.
Các lực lượng hải quân, hải giám, hải tuần, thực thi luật pháp cùng nhau
tham gia hiện thực hóa chiến lược xuyên suốt, chủ trương dài hạn này
của chính phủ Trung Quốc, nhiều nhà quan sát kết luận.
Với những động thái gây hấn của Trung Quốc thời gian
qua, các nước trong khu vực có thể khẳng định một điều rằng, Trung Quốc
đang có những động thái thực chất nhằm hiện thực hóa tham vọng độc chiếm
Biển Đông với cái gọi là “đường 9 đoạn” hay còn gọi là “đường lưỡi bò”.
Xét về bản chất, chiến lược biển Đông của Trung Quốc thuộc chiến lược biển quốc gia với nội dung đa dạng.
Nhìn từ góc độ kinh tế là phát triển kinh tế biển;
nhìn từ góc độ chính trị là xây dựng liên minh chính trị ở biển Đông;
nhìn từ góc độ quân sự thì đó là việc bảo vệ và phát triển quyền lợi
biển. Vì thế, hai năm trở lại đây, chiến lược biển của Trung Quốc đã có
những điều chỉnh lớn.
Năm ngoái, Trung Quốc đã tuyên bố “vấn đề biển Đông là
lợi ích cốt lõi của Trung Quốc” và thông báo với thế giới rằng, nước này
có chủ quyền với hầu hết diện tích biển Đông.
Biển Đông dậy sóng
Ngày 19-7-2012, Trung Quốc chính thức quyết định thành
lập “Cơ quan chỉ huy quân sự” của cái gọi là “thành phố Tam Sa”, đặt
căn cứ trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Ngày 21-7-2012, Trung Quốc tổ chức bầu cử đại biểu Đại hội Đại biểu Nhân dân khóa I của cái gọi là “thành phố Tam Sa”.
Trung Quốc còn xuất bản trái phép bản đồ Tam Sa, với
phạm vi bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và vùng đặc quyền
kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam... Theo các nhà phân tích, những động
thái gây hấn này hiển nhiên đã làm tăng mức độ chấp pháp đối với biển
Đông về mặt hành chính, đồng thời cho thấy, vấn đề biển Đông sẽ trở
thành trọng điểm chiến lược quan trọng nhất của an ninh quốc gia Trung
Quốc.
| Hơn 10.000 tàu cá Trung Quốc từ tỉnh Triết Giang và Phúc Kiến đổ ra biển Đông ngày 16-9-2012, dưới sự hướng dẫn của tàu hải giám. Ảnh: Xinhua. |
Trong một động thái khác, ngày 23-6-2012, Tổng Công ty
Dầu khí Hải dương Trung Quốc thông báo chào thầu quốc tế tại 9 lô dầu
khí nằm trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt
Nam. Đối tượng mời thầu lại nhằm vào các công ty quốc tế.
Như vậy, Trung Quốc đã dùng công cụ kinh tế, ngang
nhiên mời thầu để một mặt để xác lập quyền chủ đạo của mình trên biển
Đông, mặt khác dùng sự hợp tác thương mại để đổi lấy sự ủng hộ về chính
trị.
Nằm trên “trận địa tuyến đầu” trong tranh chấp biển
Đông, tỉnh Hải Nam ngày 27-11-2012 thông qua “Điều lệ quản lý trị an
biên phòng ven biển tỉnh Hải Nam”, cấm thuyền bè nước ngoài xâm nhập phi
pháp vào vùng biển Đông, nơi mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền.
Đồng thời, lần đầu tiên, đưa ra một cách rõ ràng “các
biện pháp trừng phạt” bao gồm kiểm tra, giam giữ, trục xuất… Có thể nói,
đây là hành động đầu tiên mang tính cưỡng chế trong vấn đề biển Đông.
Tuy nhiên, sau đó, Bộ Ngoại giao Trung Quốc thông báo,
quy định mới của tỉnh Hải Nam có hiệu lực từ ngày 1-1-2013, nhưng chỉ
được áp dụng trong phạm vi 12 hải lý tính từ bờ biển đảo Hải Nam theo
luật Trung Quốc thông qua năm 1999.
Trước đó, Trung Quốc công bố đã phát hành phiên bản hộ
chiếu mới, đưa khu vực bao gồm các đảo tranh chấp ở biển Đông vào hình
bản đồ Trung Quốc in trong hộ chiếu, làm dấy lên sự phản ứng dữ dội của
nhiều nước trên thế giới.
Gần đây, Bộ Quốc phòng Trung Quốc thiết lập chế độ tuần tra chiến đấu bình thường ở biển Đông.
Theo các nhà phân tích, động thái quân sự này có ý
nghĩa sâu rộng về tương lai phát triển của tình thế biển Đông. Chế độ
tuần tra chiến đấu này nghĩa là luôn luôn sẵn sàng tham gia chiến đấu.
Hành động này không nói cũng hiểu, nó mang tính răn đe
đối với các nước láng giềng có tranh chấp chủ quyền biển đảo trên biển
Đông. Như vậy, Trung Quốc đã đưa việc sử dụng vũ lực vào phương án giải
quyết vấn đề biển Đông.
Theo các nhà phân tích, trước và sau năm 2012, chiến
lược “Tái cân bằng châu Á - Thái Bình Dương” của Mỹ ảnh hưởng tới các
nước láng giềng của Trung Quốc, làm cho nước này càng bất mãn. Vì thế,
Trung Quốc một mặt gay gắt chỉ trích Mỹ, mặt khác, áp dụng nhiều biện
pháp gây hấn nhằm vào Philipinnes và Việt Nam.
Trong thời gian diễn ra Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á
cuối năm 2012, Tổng thống Mỹ Barack Obama lần đầu tiên sau khi tái đắc
cử đã có những hoạt động ngoại giao quy mô lớn hướng vào các nước láng
giềng của Trung Quốc nằm xung quanh biển Đông.
Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton cũng đến du thuyết các
nước trong khu vực. Ngày cuối cùng của hội nghị, Thủ tướng Trung Quốc
Ôn Gia Bảo không ngần ngại nói trước Tổng thống Philippines Aquino III
rằng, bãi cạn Hoàng Nham/Scarborough mà hai bên đang tranh cãi kịch liệt
là của Trung Quốc.
Xuân Phúc
Tổng hợp từ báo chí Trung Quốc và Mỹ
Tổng hợp từ báo chí Trung Quốc và Mỹ
http://www.tienphong.vn/the-gioi/611953/Trung-Quoc-voi-chien-luoc-dai-hai-phong-tren-Bien-Dong-tpp.html
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét